Tình hình nghiên cứu
Phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu để xây dựng quốc gia thịnh vượng, với trọng tâm là thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp và thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước Nhận thức rõ điều này, Đảng và Nhà nước đã chú trọng tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh cởi mở, đặc biệt là cải cách thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Chính phủ đã thực hiện nhiều cải cách trong lĩnh vực này, thu hút sự quan tâm của học giả và nhà nghiên cứu, dẫn đến nhiều đề tài nghiên cứu quan trọng về vấn đề này trong các giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước.
- “Thực trạng thi hành pháp luật về cấp giấy chứng nhận đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2005”, Luận văn thạc s của Đặng Ngọc Bảo (Khoa Luật, năm
- “Pháp luật về thủ tục đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam”, Luận văn thạc s của Phan Thị Ngân Hà (Khoa Luật, năm 2011)
- “Thủ tục đăng ký và thẩm tra dự án đầu tư theo pháp luật đầu tư ở Việt
Nam”, Luận văn thạc s của Nguyễn Thị Phương Hồng (Khoa Luật, năm 2010)
- “Luật đầu tư và những bất cập” Hoàng Văn Dụ (Tạp chí khoa học)
- “Luật đầu tư năm 2005- Một số vấn đề bất cập” Ths Đoàn Trung Kiên (Tạp chí Luật học số 05/2008)
- “Quy định về đầu tư còn nhiều bất cập”, Luận văn thạc s của Phạm
Thanh Quang (Khoa Luật, năm 2016)
Các nghiên cứu trước đây chỉ phản ánh những tiến bộ và hạn chế trong thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư 2005, như tỷ lệ vốn điều lệ cần thiết để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam Tuy nhiên, với sự ra đời của Luật Đầu tư 2014, nhiều vấn đề trong các nghiên cứu này đã không còn phù hợp với thực tiễn thi hành hiện tại, do Luật Đầu tư 2014 có nhiều điểm mới và khác biệt so với Luật Đầu tư 2005.
Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực từ ngày 01/07/2015 đã mang lại nhiều thay đổi quan trọng, tuy nhiên nhiều nghiên cứu hiện tại vẫn chưa cập nhật đầy đủ những đổi mới trong thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Khóa luận này nhằm điểm lại những cập nhật và phát hiện về các mặt tích cực cũng như hạn chế của các quy định trong Luật Đầu tư 2014, từ đó đề xuất hoàn thiện quy trình cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư một cách đơn giản và hiệu quả, phù hợp với xu thế toàn cầu.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tập trung vào các quy định liên quan đến thủ tục đầu tư và các văn bản pháp luật hiện hành Đặc biệt, bài viết phân tích sâu các điều luật trong Luật Đầu tư 2014 nhằm thực hiện quy trình đầu tư một cách đơn giản và rút ngắn thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Khóa luận này phân tích thực trạng thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật liên quan và nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014.
Phương pháp nghiên cứu
Bài viết chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích tổng hợp và thống kê, cùng với việc thu thập thông tin từ các Bộ, ngành và Sở Kế hoạch và Đầu tư Mục tiêu là xem xét các điểm mới và hạn chế trong quy định về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, đồng thời đánh giá thực tiễn cấp Giấy chứng nhận này Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan.
4 luật và nâng cao hiệu quả hoạt động cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ.
Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu kết luận và phần tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ
Chương 2: Thủ tục và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ
KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƢ
Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ
1.1.1 Khái niệm pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ
Con người thường xuyên quan sát và rút kinh nghiệm từ những công việc thực hiện để cải thiện quy trình làm việc, từ đó hình thành các thủ tục hợp lý hơn Thủ tục, một thuật ngữ Hán - Việt phổ biến trong xã hội, được sử dụng rộng rãi trong các cơ quan và tổ chức Theo Từ điển tiếng Việt, thủ tục là “những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định” để thực hiện công việc chính thức Khái niệm thủ tục chỉ xuất hiện khi có nhiều hoạt động cần tiến hành theo thứ tự nhất định nhằm hoàn thành một công việc cụ thể.
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu, hoạt động đầu tư ngày càng được mở rộng và đóng vai trò quan trọng Thủ tục đầu tư được quy định trong Luật Đầu tư 2014, xác định rõ các quy trình và yêu cầu cần thiết cho các nhà đầu tư.
Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực như tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và tài sản vật chất để tái sản xuất kinh tế Theo cách hiểu rộng, đầu tư liên quan đến việc hy sinh nguồn lực hiện tại để thu về kết quả lớn hơn trong tương lai Nguồn lực có thể bao gồm tiền, tài nguyên, sức lao động và trí tuệ, với kết quả đạt được là sự gia tăng tài sản tài chính, vật chất và trí tuệ Trong khi đó, đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ tập trung vào việc sử dụng nguồn lực hiện tại để mang lại kết quả kinh tế - xã hội vượt trội hơn so với nguồn lực đã bỏ ra.
Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, vật chất, lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong thời gian dài, nhằm mang lại lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội.
1.1.1.2 Khái niệm thủ tục đầu tư
Khi triển khai một dự án, nhà đầu tư cần thực hiện các thủ tục như quyết định chủ trương đầu tư và cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tùy thuộc vào từng dự án cụ thể Trong quá trình thực hiện, nhà đầu tư có thể cần thực hiện các thủ tục liên quan đến việc giãn tiến độ hoặc tạm ngừng hoạt động của dự án Tất cả những thủ tục này được gọi chung là thủ tục đầu tư.
Mục đích của việc quy định các thủ tục đầu tư là nhằm đảm bảo quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh, tránh lãng phí, thất thoát và nâng cao hiệu quả đầu tư Đồng thời, những quy định này cũng giúp Nhà nước thừa nhận tính hợp pháp của hoạt động đầu tư, tạo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư.
1.1.1.3 Khái niệm Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
“Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là văn bản, bản điện tử ghi nhận thông tin đăng ký của nhà đầu tư về dự án đầu tư” 2
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là tài liệu quan trọng ghi nhận thông tin đăng ký của nhà đầu tư về dự án đầu tư, được cấp và điều chỉnh bởi Sở Kế hoạch và Đầu tư Cá nhân và tổ chức xin cấp Giấy chứng nhận này nhằm mục đích thực hiện các hoạt động đầu tư hợp pháp ra nước ngoài.
Khi đầu tư và thành lập công ty ở nước ngoài, nhà đầu tư cần có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư để đảm bảo quản lý hiệu quả hoạt động và nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài.
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ bao gồm những nội dung chủ yếu sau 3 :
- Mã số dự án đầu tƣ;
1 Nguyễn Thành Đức (2017), Tài liệu học tập pháp luật về đầu tư, NXB trường Đại học Công Nghệ
2 Khoản 6 Điều 3 Luật Đầu tƣ 2014 Giải thích từ ngữ
3 Điều 39 Luật Đầu tƣ 2014 Nội dung cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
- Tên, địa chỉ của nhà đầu tƣ;
- Tên dự án đầu tƣ;
- Địa điểm thực hiện dự án đầu tƣ, diện tích sử dụng đất;
- Mục tiêu, quy mô dự án đầu tƣ;
- Vốn đầu tƣ của dự án; tiến độ góp vốn và huy động các nguồn vốn;
- Thời hạn hoạt động của dự án;
- Tiến độ thực hiện dự án;
- Ƣu đãi, hỗ trợ đầu tƣ, các điều kiện đối với nhà đầu tƣ thực hiện dự án
Hình 1.1: Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ
(Nguồn: plf.com.vn: Mẫu Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ)
1.1.1.4 Khái niệm pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Từ những cơ sở đã nêu ở trên nên có khái niệm pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ nhƣ sau:
Pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư quy định những điều kiện và quy trình mà nhà đầu tư cần tuân thủ theo yêu cầu của cơ quan nhà nước.
8 có thẩm quyền (Sở Kế hoạch và Đầu tƣ) để đƣợc cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ
1.1.2 Đặc điểm của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ Đòi hỏi phải có số vốn nhất định Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như: máy móc, thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tàinguyên khác Vốn đầu tư có thể là vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn và ngắn hạn
Thời gian đầu tư thường kéo dài từ 02 năm trở lên, tùy thuộc vào quy mô và phạm vi dự án Trong một số trường hợp, thời gian này có thể lên đến 50 năm, nhưng tối đa không vượt quá khoảng thời gian này.
Trong 70 năm qua, các hoạt động ngắn hạn, thường kéo dài trong vòng 01 năm tài chính, không được xem là đầu tư Thời hạn đầu tư phải được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư, và nó còn được coi là thời gian sống của dự án.
Đầu tư phát triển mang lại giá trị sử dụng lâu dài với hai lợi ích chính: tài chính và kinh tế - xã hội Lợi ích tài chính, thể hiện qua lợi nhuận, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nhà đầu tư, trong khi lợi ích kinh tế - xã hội tác động đến quyền lợi của cộng đồng Để đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội mong muốn từ đầu tư, cần thực hiện tính toán toàn diện các yếu tố kinh tế, kỹ thuật, xã hội, môi trường, pháp lý và các yếu tố liên quan khác.
Vai trò của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ
1.2.1 Vai trò của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ đối với cơ quan nhà nước
Trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển toàn diện của mỗi quốc gia Tính phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và các lĩnh vực khác đã trở thành một đặc điểm nổi bật của thế giới hiện đại Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đầu tư phát triển kinh tế đã vượt ra ngoài phạm vi quốc gia, tạo ra những cơ hội và thách thức mới cho các dân tộc.
Theo Bùi Xuân Phong, thời gian thương có thể kéo dài từ 02 năm trở lên, và có thể lên đến 50 năm, nhưng không được vượt quá 70 năm Nguồn: Quantri.vn.
Chín yêu cầu phát triển khách quan mang tính quy luật là vấn đề cốt lõi trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên toàn cầu.
Đầu tư nước ngoài đã trở thành một xu hướng phổ biến trên toàn cầu, đặc biệt tại các quốc gia có nền kinh tế thị trường đang phát triển Tại Việt Nam, hình thức và nội dung của đầu tư nước ngoài vẫn còn được xem là mới mẻ.
Mục tiêu của các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư là lựa chọn các dự án đầu tư hiệu quả và thiết lập cơ chế quản lý, giám sát phù hợp sau khi đầu tư.
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước về đầu tư, giúp theo dõi và kiểm tra việc thực hiện các ưu đãi từ các cơ quan liên quan.
Khi xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư cần giải trình về mục tiêu, quy mô, địa điểm thực hiện dự án, tiến độ và nhu cầu sử dụng đất Quy trình cấp Giấy chứng nhận này là một phần quan trọng trong quản lý đầu tư của cơ quan chức năng Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư không chỉ xác nhận tư cách pháp lý của nhà đầu tư mà còn ghi nhận các thông tin liên quan đến dự án như mục tiêu, quy mô, vốn đầu tư, tiến độ thực hiện và các ưu đãi đầu tư (nếu có).
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là công cụ quan trọng giúp cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư tại thời điểm cấp giấy Nó xác định rõ nhà đầu tư sẽ kinh doanh gì, ở đâu và đảm bảo nhà đầu tư có đủ năng lực trước khi dự án được thực hiện Mỗi mức vốn đầu tư và lĩnh vực kinh doanh sẽ có yêu cầu cụ thể về hồ sơ cần nộp cho cơ quan quản lý nhà nước.
Quy định các thủ tục đầu tư nhằm đảm bảo sự quản lý hiệu quả của nhà nước đối với hoạt động đầu tư, từ đó ngăn chặn tình trạng thất thoát, lãng phí và nâng cao hiệu quả trong quá trình đầu tư.
1.2.2 Vai trò của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ đối với nhà đầu tƣ
Trong nhiều năm qua, hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là pháp luật liên quan đến đầu tư, đã liên tục được hoàn thiện nhằm cải cách và điều chỉnh cơ chế, chính sách cho phù hợp với các quy định quốc tế, đồng thời chú trọng cải thiện môi trường đầu tư.
Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư bằng cách đơn giản hóa thủ tục qua cơ chế một cửa, giảm thiểu các quy định mang tính "xin-cho" và loại bỏ những phê duyệt không cần thiết Mục tiêu là thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, khuyến khích hoạt động kinh doanh tự do và giảm bớt phiền hà cho các nhà đầu tư.
Luật Đầu tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm mục tiêu đơn giản hóa thủ tục hành chính, bao gồm việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ cấp Giấy chứng nhận này cho nhà đầu tư khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định pháp luật và trong thời gian quy định Nhà đầu tư sẽ nhận được hướng dẫn cụ thể và giải đáp kịp thời các vướng mắc trong quá trình xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hiện nay không chỉ là một thủ tục xin cho mà đã trở thành chứng nhận hoạt động đầu tư, giúp nhà đầu tư thực hiện các thủ tục ưu đãi một cách dễ dàng hơn Đây là cơ sở để các cơ quan như thuế, hải quan, tài nguyên và môi trường tiến hành giải quyết ưu đãi cho nhà đầu tư Nhà đầu tư chỉ cần đến Sở Kế hoạch và Đầu tư, thay vì phải đến nhiều cơ quan khác nhau như trước đây.
Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về thủ tục đầu tƣ
Chủ trương hợp tác đầu tư nước ngoài nhằm thu hút vốn, công nghệ, và kinh nghiệm quản lý, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu, đóng góp vào quá trình công nghiệp hóa đất nước.
Hiện đại hóa đã được xác định rõ ràng trong các văn kiện của Đảng trong thời kỳ đổi mới Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, được ban hành vào cuối năm 1987, đã thể chế hóa đường lối của Đảng, mở đầu cho việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Điều này nhằm đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, đồng thời góp phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.
Nhờ vào các chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, cùng với sự chỉ đạo tích cực của Chính phủ, đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền kinh tế Việt Nam, tạo đà cho sự phát triển và khai thác tiềm năng kinh tế Điều này càng khẳng định vai trò thiết yếu của Luật Đầu tư trong việc đạt được những thành tựu này.
“Xin-cho” là một di sản của thời kỳ bao cấp, phản ánh mối quan hệ giữa “bên xin” (cấp dưới, người dân, doanh nghiệp) và “bên cho” (cấp trên, cơ quan nhà nước) Việc xóa bỏ cơ chế này là cần thiết để thúc đẩy sự phát triển và minh bạch trong xã hội.
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là một đạo luật quan trọng, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động đầu tư nước ngoài, góp phần vào quá trình hội nhập quốc tế và phát huy hiệu quả các nguồn lực trong nước Bài khóa luận này sẽ trình bày lịch sử hình thành pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, bắt đầu từ Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977, quy định về đầu tư nước ngoài, sau đó được nâng cấp thành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 Luật này đã trải qua hai lần sửa đổi vào năm 1990 và 1992, và vào năm 1996, Quốc hội thông qua Luật Đầu tư nước ngoài, tiếp tục được sửa đổi và bổ sung vào năm 2000.
Năm 2014, Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư mới, áp dụng chung cho cả đầu tư trong nước và nước ngoài, đánh dấu sự thay đổi lớn nhất trong các đạo luật trong thời gian ngắn Sự thay đổi này không chỉ thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mà còn đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong nước và quốc tế Luật nhằm hướng tới việc hoàn thiện khung pháp lý, phù hợp với xu thế hội nhập và nâng cao khả năng thu hút, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài.
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987
Vào những năm 1980, Việt Nam đối mặt với khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng do cơ chế tập trung, quan liêu và bao cấp, dẫn đến lạm phát cao lên tới 774,7% vào năm 1986 Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1986-1990 chỉ đạt 3,9%.
Vào ngày 18/4/1977, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định 115/CP cùng với Điều lệ đầu tư nước ngoài, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc khuyến khích và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Đây là văn bản pháp quy đầu tiên về đầu tư nước ngoài, phản ánh đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, được các nhà đầu tư quốc tế đón nhận như một dấu hiệu mở cửa của nền kinh tế Việt Nam.
Đại hội IV Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định cải tạo Xã hội Chủ nghĩa với mục tiêu xây dựng chế độ làm chủ tập thể và sản xuất lớn Tuy nhiên, những mục tiêu quá lớn đã dẫn đến sự thiếu cân đối trong nền kinh tế, đặc biệt trong kế hoạch 5 năm lần thứ III (1981-1985), gây ra khủng hoảng trầm trọng Sản xuất đình trệ trên mọi lĩnh vực, lạm phát tăng nhanh với mức 30-50% hàng năm vào đầu những năm 80, và lên đến 587,2% vào cuối năm 1985, đạt đỉnh cao siêu lạm phát 774,7% vào năm 1986, khiến đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Nguồn: “https://sites.google.com/
Trong bối cảnh kinh tế xã hội khó khăn, nhiều doanh nghiệp quốc doanh và hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp hoạt động cầm chừng hoặc đóng cửa, dẫn đến hàng trăm ngàn công nhân rời bỏ dây chuyền sản xuất và tình trạng đổ vỡ tín dụng diễn ra phổ biến Các ngành có ưu thế như công nghiệp chế biến và gia công lắp ráp lại không nhận được sự quan tâm đầy đủ từ Nhà nước, trong khi cơ sở kỹ thuật lạc hậu và thiếu vốn nghiêm trọng Để đối phó với tình hình này, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI vào tháng 12 năm 1986 đã đề ra những chính sách đúng đắn, mở ra công cuộc đổi mới toàn diện, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Đảng đã xác định cần mở rộng giao lưu quốc tế để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, dẫn đến việc thực hiện Nghị quyết số 19 của Bộ Chính trị và thông qua Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thu hút đầu tư vào Việt Nam.
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 được xây dựng dựa trên Điều lệ đầu tư năm 1977, kết hợp thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế Với nội dung hấp dẫn, cấu trúc đơn giản và phù hợp với luật pháp quốc tế, luật này đã đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài Luật bao gồm 6 chương và 42 điều.
Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, sau hơn hai năm thực hiện, đã chứng minh tính phù hợp với xu thế chung và mục tiêu khuyến khích đầu tư từ các tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam Luật này nhấn mạnh việc tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, tuân thủ pháp luật và đảm bảo lợi ích bình đẳng cho tất cả các bên liên quan.
Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực ban đầu, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế do tình hình chính trị quốc tế và khu vực cũng như những thiếu sót trong việc thi hành Luật của Nhà nước Bên cạnh đó, nội dung của luật cũng chưa hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của đất nước và yêu cầu thực tiễn Do đó, vào ngày 30/6/1990, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VIII, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã được thông qua, bao gồm 2 điều, sửa đổi và bổ sung 15 điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987.
Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1992
Sau khi sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài năm 1990, tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, từ 213 dự án với tổng vốn 1,793 tỷ USD vào năm 1990 lên 459 dự án với tổng vốn 5,28 tỷ USD chỉ sau 2 năm Điều này cho thấy những thay đổi trong luật đã tác động tích cực đến tâm lý của nhà đầu tư, tạo sự yên tâm và thu hút thêm nhiều nhà đầu tư quan tâm đến thị trường Việt Nam Tuy nhiên, Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990 chỉ giải quyết được 3 vấn đề lớn trong số nhiều vấn đề nổi cộm, và sau 2 năm thực hiện, nhiều vấn đề pháp lý mới đã phát sinh, cản trở hoạt động đầu tư Để đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội, việc tiếp tục sửa đổi và hoàn thiện Luật Đầu tư nước ngoài là cần thiết Đến năm 1992, việc này càng trở nên cấp bách do cạnh tranh thu hút vốn đầu tư ngày càng gay gắt, thực tiễn hợp tác đầu tư cho thấy sự cần thiết phải khuyến khích tài chính để thu hút nhiều vốn hơn, và tình hình kinh tế của nước ta đã có nhiều biến chuyển tích cực, đòi hỏi một khung pháp lý hoàn chỉnh hơn để phát triển các thành phần kinh tế.
1992 đã tạo cơ sở pháp lý mới cho việc mở rộng hợp tác với bên ngoài, cụ thể
8 Đỗ Nhất Hoàng (22/03/2008), “Quá trình hình thành và phát triển của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam” Nguồn: http://fia.mpi.gov.vn/
Theo Điều 22 Hiến pháp 1992, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền liên doanh, liên kết với cá nhân và tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo quy định pháp luật Điều 24 nhấn mạnh phát triển quan hệ kinh tế với mọi quốc gia và tổ chức quốc tế Điều 25 khẳng định rằng nhà nước khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp của các tổ chức, cá nhân nước ngoài, đồng thời không cho phép quốc hữu hóa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Sau khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, thực tiễn đầu tư đã xuất hiện nhiều cơ hội và nhu cầu mới, đòi hỏi phải điều chỉnh hành lang pháp lý về đầu tư nước ngoài cho phù hợp với tình hình hiện tại.
THỦ TỤC VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƢ
Nội dung điều chỉnh và thủ tục đầu tƣ, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ
2.1 Nội dung điều chỉnh và thủ tục đầu tƣ, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ
2.1.1 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ
2.1.1.1 Nguyên tắc thực hiện thủ tục đầu tư
Thủ tục đầu tƣ thực hiện một số nguyên tắc nhƣ sau: 10
Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký đầu tư, Cơ quan đăng ký đầu tư có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ Nhà đầu tư phải đảm bảo tính hợp pháp, chính xác và trung thực của hồ sơ cũng như các văn bản gửi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Cơ quan đăng ký đầu tư không được phép yêu cầu nhà đầu tư nộp thêm tài liệu ngoài các giấy tờ đã quy định trong hồ sơ đăng ký đầu tư theo Luật Đầu tư.
2014 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP
Khi yêu cầu sửa đổi hoặc bổ sung hồ sơ đăng ký đầu tư, Cơ quan đăng ký đầu tư sẽ thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư về các nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho mỗi bộ hồ sơ Thông báo này cần nêu rõ yêu cầu sửa đổi, bổ sung và lý do cụ thể cho việc yêu cầu đó.
Trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính về đầu tư, cơ quan có trách nhiệm phải trả lời ý kiến trong thời hạn quy định tại Luật Đầu tư 2014 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP Nếu quá thời hạn mà không có phản hồi, sẽ được coi là đồng ý với nội dung dự án đầu tư thuộc phạm vi quản lý của cơ quan đó.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư về việc từ chối cấp hoặc điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và các thủ tục hành chính liên quan, đồng thời nêu rõ lý do theo quy định của Luật Đầu tư 2014 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP.
10 Điều 6 Nghị định 118/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư
Cơ quan đăng ký đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước không có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các nhà đầu tư cũng như giữa nhà đầu tư với các tổ chức, cá nhân liên quan trong quá trình hoạt động đầu tư.
2.1.1.2 Ngôn ngữ trong hồ sơ đăng ký đầu tư
Theo quy định pháp luật hiện hành, hồ sơ đăng ký đầu tư tại Việt Nam phải được lập bằng tiếng Việt Nếu sử dụng tài liệu tiếng Anh, nhà đầu tư cần nộp kèm bản dịch tiếng Việt hợp lệ.
“Điều 4 Ngôn ngữ sử dụng trong hồ sơ đăng ký đầu tư
1 Hồ sơ đăng ký đầu tư, các văn bản, báo cáo gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền được làm bằng tiếng Việt
2 Trường hợp hồ sơ đăng ký đầu tư có tài liệu bằng tiếng nước ngoài thì nhà đầu tư phải có bản dịch tiếng Việt hợp lệ kèm theo tài liệu bằng tiếng nước ngoài
3 Trường hợp giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đăng ký đầu tư được làm bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài thì bản tiếng Việt được sử dụng để thực hiện thủ tục đầu tư
4 Nhà đầu tư chịu trách nhiệm trong trường hợp có sự khác nhau giữa nội dung bản dịch hoặc bản sao với bản chính và trong trường hợp có sự khác nhau giữa bản tiếng Việt với bản tiếng nước ngoài.” 11
2.1.1.3 Mã số dự án đầu tư
Mã số dự án đầu tư là dãy 10 chữ số, được hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài tự động tạo ra và được ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Mỗi dự án đầu tư được cấp một mã số duy nhất, không thay đổi trong suốt quá trình hoạt động và không được cấp cho dự án khác Mã số này sẽ hết hiệu lực khi dự án chấm dứt hoạt động Đối với các dự án thực hiện theo Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Giấy phép đầu tư hoặc các giấy tờ tương đương, mã số dự án chính là số của các giấy tờ này.
11 Điều 4 Nghị Định 118/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư
Khi Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc các giấy tờ tương đương khác được điều chỉnh, dự án đầu tư sẽ được cấp mã số mới.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thống nhất mã số dự án đầu tư nhằm quản lý và trao đổi thông tin hiệu quả về các dự án đầu tư.
Hình 2.1: Mã số dự án đầu tƣ
(Nguồn: dautunuocngoai.com.vn: Thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nước ngoài)
2.1.1.4 Xử lý hồ sơ không chính xác, giả mạo
Giả mạo hồ sơ sẽ dẫn đến việc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014 Luật này nêu rõ các trường hợp mà Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư có thể bị thu hồi.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tƣ
Để thu hút vốn đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư là yếu tố quan trọng hàng đầu Điều này bao gồm việc tạo ra cơ chế chính sách và hành lang pháp lý thuận lợi, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cũng như đơn giản hóa thủ tục hành chính Những biện pháp này nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tư hoạt động hiệu quả.
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đã được quy định từ Luật Đầu tư 2005, đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước về đầu tư Luật Đầu tư 2014 đã đơn giản hóa thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn lực Tuy nhiên, vẫn tồn tại những bất cập trong quy định về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, cần được sửa đổi và bổ sung để phù hợp với thực tiễn, nhất là trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính và cải thiện môi trường đầu tư hiện nay.
Trong quá trình xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, các nhà làm luật cần chú trọng đến việc tạo ra sự thông thoáng, rõ ràng và đơn giản hóa quy trình đầu tư Điều này nhằm mục tiêu thu hút và phục vụ các nhà đầu tư cả trong nước lẫn quốc tế.
Cần tăng cường phối hợp giữa các Bộ, ngành trong quá trình soạn thảo văn bản pháp luật, vì các quy định về thủ tục đầu tư thường liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau Việc tham gia đầy đủ của các cơ quan liên quan ngay từ đầu sẽ giúp thống nhất ý chí và tạo tiền đề cho việc triển khai, áp dụng các quy định pháp luật một cách đồng bộ Bộ Kế hoạch và Đầu tư thường đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.
Việc tăng cường phối hợp giữa các Bộ như Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, và Bộ Công thương trong quá trình soạn thảo quy định sẽ giúp hạn chế sự chồng chéo và bất cập, từ đó nâng cao tính khả thi trong thực tế.
Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chuyên viên về cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là rất quan trọng Các khóa tập huấn sẽ giúp hướng dẫn nhà đầu tư về thủ tục đầu tư và giải đáp những vướng mắc mà họ gặp phải trong thực tiễn, từ đó nâng cao hiệu quả trong công tác đầu tư.
Cần tăng cường việc lấy ý kiến từ các nhà đầu tư, vì họ là đối tượng chịu ảnh hưởng lớn nhất từ các văn bản pháp luật liên quan đến thủ tục đầu tư Việc này không chỉ giúp bổ sung những thiếu sót và giảm thiểu mâu thuẫn mà còn tạo ra sự đồng thuận và hưởng ứng từ phía nhà đầu tư sau khi pháp luật được ban hành Hơn nữa, đây cũng là một phương pháp hiệu quả để tuyên truyền và phổ biến pháp luật.
Cần thực hiện việc thống kê và rà soát thường xuyên các quy định về thủ tục đầu tư để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật Hoạt động này giúp phát hiện những mâu thuẫn và chồng chéo trong các quy định liên quan đến đầu tư, đặc biệt là quy định về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Điều này nhằm ngăn chặn việc ban hành và áp dụng các ưu đãi, hỗ trợ đầu tư không phù hợp với quy định pháp luật.