Tình hình nghiên cứu
Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa đóng vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật hợp đồng tại Việt Nam Quy định về hợp đồng này đã được ghi nhận từ thời kỳ đầu của Bộ Quốc triều hình luật.
Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, bắt đầu từ Bộ luật Gia Long năm 1815, nhưng chỉ thực sự được định hình với Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 và các bộ luật dân sự sau này, đặc biệt là BLDS 2005 và BLDS 2015 Nhiều công trình nghiên cứu đã phân tích và đưa ra các kiến nghị về hợp đồng mua bán hàng hóa, tập trung vào việc xác định khái niệm và tiêu chí của loại hợp đồng này Các tài liệu tiêu biểu như Giáo trình Luật thương mại Việt Nam của TS Phan Duy Nghĩa (2002) và nhiều giáo trình khác từ các trường đại học như ĐH Luật TP.HCM đã làm rõ các tiêu chí quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa.
Các giai đoạn của giao kết hợp đồng MBHH đã được nhiều công trình nghiên cứu đề cập, trong đó nổi bật là Giáo trình Luật thương mại của Khoa Luật Đại học Quốc gia.
Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002, bài viết của Tòa án nhân tối cao:
Sửa đổi và bổ sung quy định về đề nghị giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự là cần thiết Quá trình giao kết hợp đồng được hiểu qua hai giai đoạn chính: đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị đó.
Nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học luật và sinh viên đã nghiên cứu về pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa (HĐ MBHH) Các bài viết này đề cập đến nhiều khía cạnh của pháp luật liên quan đến HĐ MBHH Chẳng hạn, luận văn thạc sỹ của Đinh Thị Thanh Huyền (2007) đã tổng hợp các quy định về HĐ MBHH theo Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật Tương tự, luận văn của Phạm Công Dân (2010) phân tích các điểm mới về giao kết hợp đồng trong BLDS 2005 và đề xuất các cải tiến Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nội dung của các luận văn này dựa trên BLDS 2005, hiện đã hết hiệu lực và được thay thế bởi BLDS 2015.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên các phương pháp chủ yếu như thu thập dữ liệu, phân tích - tổng hợp, thống kê chọn lọc và phương pháp luận so sánh Những phương pháp này được áp dụng trong nhiều phần khác nhau của đề tài, nhằm đảm bảo tính chính xác và khách quan trong quá trình nghiên cứu.
Phương pháp thu thập dữ liệu bao gồm việc khai thác thông tin từ các nguồn truyền thông như sách điện tử, báo giấy, báo mạng, truyền hình và internet Bên cạnh đó, tác giả còn thu thập dữ liệu từ thư viện của các trường đại học như Trường ĐH Luật TP.HCM và ĐH Công nghệ TP.HCM Ngoài ra, tác giả đã tham khảo ý kiến từ các giảng viên có chuyên môn trong Khoa Luật và tổ chức các buổi thảo luận nhóm với sinh viên có cùng đề tài nghiên cứu để bổ sung thêm kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực hợp đồng mua bán hàng hóa.
Phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu là bước quan trọng trong việc xử lý thông tin Qua việc phân tích kỹ lưỡng các vấn đề từ dữ liệu thu thập được, chúng ta có thể tổng hợp lại một cách hệ thống và dễ hiểu Điều này giúp người đọc tiếp cận thông tin một cách dễ dàng hơn.
Phương pháp luận so sánh là công cụ hữu ích trong việc phân tích các vấn đề cụ thể, giúp bài khóa luận trở nên phong phú với nhiều ý kiến đa dạng Việc áp dụng phương pháp này không chỉ tăng tính thuyết phục cho bài viết mà còn mang đến cho người đọc cái nhìn toàn diện về lĩnh vực được đề cập.
Kết cấu khóa luận
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì phần nội dung của bài khóa luận gồm 2 chương
Chương 1: Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
Chương 2 của bài viết tập trung vào pháp luật Việt Nam liên quan đến việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, phân tích thực tiễn áp dụng trong thương mại và đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật này Nội dung sẽ làm rõ các quy định hiện hành, những thách thức trong việc thực thi và đề xuất các giải pháp cải cách để nâng cao hiệu quả của hợp đồng mua bán hàng hóa trong bối cảnh thương mại hiện đại.
KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng
Trong những năm qua, nhiều quan điểm đã được đưa ra để định nghĩa về hợp đồng theo pháp luật của các quốc gia và các nhà nghiên cứu Hợp đồng hiện nay được coi là công cụ pháp lý quan trọng, phục vụ cho các giao dịch trong đời sống xã hội Tìm ra một thuật ngữ chính xác cho "hợp đồng" không hề dễ dàng, mặc dù thuật ngữ này có nguồn gốc từ tiếng La-tinh "contractus", có nghĩa là "ràng buộc", lần đầu tiên xuất hiện ở La Mã vào thế kỷ V-IV trước công nguyên Ban đầu, người La Mã không có khái niệm chung về "contractus" mà chỉ sử dụng các thuật ngữ riêng cho các loại hợp đồng cụ thể như mua bán, vay mượn, gửi giữ, và ủy thác Đến thời luật gia La-be-ôn, thuật ngữ "contractus" mới được sử dụng chính xác trong luật, và quan hệ hợp đồng được pháp luật công nhận dưới thời Justinnian Các nước phương Tây sau này đã kế thừa và phát triển quan niệm này, sử dụng thuật ngữ "hợp đồng" (contract trong tiếng Anh, contrat trong tiếng Pháp) Tại Việt Nam, nhiều thuật ngữ như khế ước, giao kèo, văn tự, và cam kết cũng được sử dụng để chỉ hợp đồng, với dấu ấn lịch sử từ các bộ luật cổ như Bộ Quốc triều Hình luật và các Bộ Dân luật Bắc Kỳ, Trung Kỳ, và Sài Gòn.
Trong bối cảnh pháp lý hiện nay, các nhà làm luật đã xem xét "khế ước" như một dạng "hiệp ước", thể hiện sự đồng nhất giữa hai khái niệm này Tuy nhiên, các văn bản pháp luật hiện tại không còn sử dụng thuật ngữ "khế ước" hay "hiệp ước" như trước đây Thay vào đó, Bộ luật Dân sự 2005 đã áp dụng các thuật ngữ mang tính chất "chức năng" và "công cụ", như hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, và hợp đồng thương mại.
1 Luận án tiến sỹ luật học (2010)- “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” – Lê Minh Hùng (Trang 8)
2 Luận án tiến sỹ luật học (2010)- “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” – Lê Minh Hùng (Trang 9)
Xét từ góc độ luật học ở Việt Nam thì pháp luật cũng quy định cụ thể trong
Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 24/11/2015 và có hiệu lực từ 01/07/2016, đã định nghĩa hợp đồng tại Điều 385 là sự thỏa thuận giữa các bên về quyền, nghĩa vụ dân sự Điểm mới là việc sử dụng cụm từ “hợp đồng” thay vì “hợp đồng dân sự” như trong BLDS 2005, thể hiện sự minh bạch và phù hợp với thực tiễn Sự thay đổi này không chỉ mang tính kỹ thuật lập pháp mà còn mở rộng phạm vi điều chỉnh đến các loại hợp đồng như hợp đồng thương mại, đầu tư và bảo hiểm.
Theo PGS.TS Dương Anh Sơn và PGS.TS Hoàng Vĩnh Long từ Trường Đại học Kinh tế-Luật, ĐHQG TP HCM, bản chất của hợp đồng từ góc độ kinh tế học cần làm rõ hai vấn đề quan trọng: thứ nhất, lý do pháp luật phải tôn trọng và công nhận thỏa thuận giữa các bên; thứ hai, trong những trường hợp và hoàn cảnh nào pháp luật không công nhận giá trị pháp lý của một hoặc một số thỏa thuận, cùng với lý do cho những quyết định đó.
Pháp luật của các quốc gia định nghĩa hợp đồng theo những cách khác nhau Cụ thể, Điều 420 BLDS Liên bang Nga (1994) nêu rõ hợp đồng là thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều bên nhằm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Tương tự, Điều 110 BLDS Pháp quy định hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên, trong đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao tài sản hoặc thực hiện, không thực hiện một công việc nào đó.
Các luật gia Hoa Kỳ, trong đó có luật sư Steven H Gifis, định nghĩa hợp đồng (contract) là một lời hứa có quy định biện pháp khắc phục (remedy) hoặc thực hiện các nghĩa vụ được pháp luật công nhận, thể hiện tính chất của một giao dịch pháp lý.
3http://baobinhphuoc.com.vn/Content/che-dinh-hop-dong-trong-bo-luat-dan-su-2015- 13514
4https://docs.google.com/document/d/1mHBZdfcCfCeRR1zHdmL9VGTPSQODaJCM n0CKtt2jY5A/edit (trang 1)
5 http://www.russian-civil- code.com/PartI/SectionIII/Subsection2/Chapter27.html
Bộ luật Dân sự Pháp (2005) quy định rằng hai hoặc nhiều cá nhân có quyền yêu cầu bên còn lại thực hiện nghĩa vụ của mình theo lời hứa đã cam kết.
Theo Mục §1-201(12) của Bộ luật thương mại mẫu (Uniform Commercial Code - UCC), hợp đồng được định nghĩa là tổng nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ thoả thuận của các bên, khác với “thoả thuận” Pháp luật Hoa Kỳ công nhận hợp đồng là một thoả thuận giữa hai hoặc nhiều bên có thẩm quyền, dựa trên những lời hứa lẫn nhau để thực hiện hoặc không thực hiện một hành động cụ thể hợp pháp Kết quả của thoả thuận này là những nghĩa vụ hoặc nhiệm vụ có thể được thi hành tại toà án.
Như vậy, dù ở góc độ nào đi chăng nữa thì hợp đồng cũng mang một số đặc điểm quan trọng sau:
Yếu tố cơ bản nhất của hợp đồng là sự thoả hiệp ý chí giữa các chủ thể, xuất phát từ nguyên tắc tự do ý chí và tự do hợp đồng Tuy nhiên, không phải mọi thoả thuận đều được coi là hợp đồng; chỉ những thoả thuận dựa trên ý chí đích thực và đáp ứng đủ điều kiện pháp luật mới hợp lệ Để thể hiện ý chí thực của các bên, pháp luật yêu cầu chủ thể tham gia phải có năng lực chủ thể Mặc dù tự do ý chí không tuyệt đối, pháp luật yêu cầu các chủ thể tôn trọng đạo đức xã hội và không vi phạm quy định pháp luật Trong trường hợp lợi ích công cộng và trật tự xã hội bị đe dọa, Nhà nước có quyền can thiệp vào việc ký kết và thực hiện hợp đồng, nhưng sự can thiệp này phải hợp lý và tuân thủ quy định pháp luật để tránh lạm dụng quyền lực.
7 Brown, Gordon.W., Sukys Paul A., Business law with UCC applications (9th edition), Glencoe, Mc GrawHill, NewYork, USA, 1993, p 94
8 Nguyễn Ngọc Bích, Buôn bán với Mỹ, Nxb Trẻ TP Hồ Chí Minh, 2002
9 Trường ĐH Công Nghệ TP.HCM (2016), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng, biên soạn – ThS Mai Xuân Minh
Một yếu tố cơ bản không thể thiếu trong mọi hợp đồng là đối tượng của hợp đồng Sự thống nhất ý chí của các bên tham gia hợp đồng phải hướng tới một đối tượng cụ thể, và mọi hợp đồng cần phải có đối tượng xác định Đối tượng này phải được nêu rõ ràng và hợp pháp, tức là không vi phạm các quy định của pháp luật liên quan đến giao dịch dân sự, kinh tế và thương mại.
Chủ thể tham gia hợp đồng phải có ít nhất hai bên, vì hợp đồng là giao dịch pháp lý song phương hoặc đa phương Mọi chủ thể khi giao kết và thực hiện hợp đồng cần có tư cách pháp lý, tức là phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về quan hệ dân sự.
Tóm lại, hợp đồng là hình thức pháp lý của các quan hệ trao đổi hàng hoá
Hợp đồng là một tập hợp các thỏa thuận và cam kết được hình thành dựa trên sự tự nguyện của các bên, nhằm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ cụ thể Hợp đồng có tính ràng buộc và phải được thực hiện bởi các bên tham gia Pháp luật công nhận và bảo vệ mọi cam kết hợp đồng được thiết lập hợp pháp.
Hàng hoá được định nghĩa là những sản phẩm được sản xuất nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc để trao đổi trên thị trường Quan điểm này phản ánh sự đa dạng trong cách hiểu về khái niệm hàng hoá.
Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC) có đưa ra khái niệm như sau:
Hàng hoá được định nghĩa là mọi vật, bao gồm cả hàng hoá sản xuất đặc biệt, là động sản tại thời điểm ký hợp đồng mua bán, ngoại trừ tiền, chứng khoán đầu tư và quyền vô hình Định nghĩa này mở rộng phạm vi đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá, bao gồm tất cả động sản hữu hình, kể cả những sản phẩm hình thành trong tương lai, và chỉ loại trừ tiền, chứng khoán và quyền vô hình.
Theo Luật mua bán hàng hoá của Anh (1893), được sửa đổi vào năm 1973, hàng hoá được định nghĩa là tất cả các động sản, ngoại trừ các quyền vô hình và tiền.
10 Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, Nxb Thống kê Hà Nội, [2001]
11 Luật mua bán hàng hóa của Anh năm 1893, sửa đổi năm 1973 (Điều 62.1)
Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
Để nhận diện một hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại, ngoài các đặc điểm chung của hợp đồng, cần phải đáp ứng những yếu tố riêng biệt sau:
Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại:
Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các thương nhân, tuy nhiên, các tổ chức và cá nhân không phải thương nhân cũng có thể tham gia vào hợp đồng này Điều này được quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật Thương Mại.
Năm 2005, các hoạt động của bên không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo Luật Thương mại 2005 khi bên này lựa chọn áp dụng Luật Thương mại 2005.
16 Phạm Duy Nghĩa (chủ biên), [2002], Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
17Trường ĐH Công Nghệ TP.HCM (2016), Giáo trình Luật thương mại, biên soạn – Khoa Luật.
18 Căn cứ theo khoản 1, Điều 6, LTM 2005
Theo Bộ luật Thương mại Pháp 1807, thương nhân được định nghĩa là người thực hiện các hành vi thương mại một cách thường xuyên Để trở thành thương nhân, cần đáp ứng hai điều kiện: thực hiện hành vi thương mại và thực hiện một cách thường xuyên, độc lập, dưới danh nghĩa cá nhân và vì lợi ích của mình.
Bộ luật Cộng hòa Liên bang Đức định nghĩa thương nhân một cách phức tạp, bao gồm các loại như thương gia đương nhiên, thương gia do đăng ký, thương gia theo hình thức pháp lý, thương gia nhỏ và thương gia giả tạo.
Còn theo Luật Thương mại Việt Nam hiện hàng năm 2005, quy định:
Thương nhân được định nghĩa là những cá nhân hoặc tổ chức có đăng ký kinh doanh và hoạt động thương mại một cách độc lập và thường xuyên Để trở thành thương nhân, một chủ thể cần đáp ứng đầy đủ các tiêu chí pháp lý quy định.
Để xác định một chủ thể có phải là thương nhân hay không, hoạt động thương mại là một tiêu chí cơ bản Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, hoạt động thương mại được định nghĩa là các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, và xúc tiến thương mại Phạm vi hoạt động thương mại theo luật này được giới hạn trong bốn nhóm chính, và các nhóm này được cụ thể hóa bằng danh sách các hoạt động thương mại Tuy nhiên, cách quy định này không khác nhiều so với Luật Thương mại 1997, và Luật Thương mại 2005 vẫn chưa thể hiện tính khái quát cao hơn trong việc xác định "hoạt động thương mại" Do đó, luật này thiếu tính khái quát khi chỉ liệt kê các hoạt động cụ thể mà chưa đưa ra tiêu chí chung để xác định một hoạt động có phải là thương mại hay không.
19Trường ĐH Công Nghệ TP.HCM (2016), Giáo trình Luật thương mại, biên soạn – Khoa Luật (trang 1)
Theo Điều 3, Khoản 9, 10, 11 của Luật Thương mại 2005, để được coi là thương nhân, một chủ thể phải thực hiện một hoặc một số hoạt động thương mại đã được quy định Điều này khác với quy định của nhiều quốc gia khác, nơi mà các hành vi nhằm mục đích sinh lợi được xem là hành vi thương mại tự nhiên, và những chủ thể thực hiện các hành vi này được coi là thương nhân Ngược lại, một số quốc gia xác định thương nhân dựa trên hình thức pháp lý của họ, và các hành vi của những thương nhân này được đánh giá là hành vi thương mại dựa vào hình thức.
Hoạt động thương mại phải được thực hiện một cách độc lập, tuy nhiên, pháp luật thương mại Việt Nam hiện chưa đưa ra tiêu chí cụ thể để xác định tính độc lập này "Hoạt động thương mại một cách độc lập" có thể hiểu là việc chủ thể thực hiện hoạt động nhân danh mình và vì lợi ích của chính mình, không bị chi phối bởi ý chí của bên khác Chủ thể có quyền quyết định, quy định nội dung và cách thức hoạt động, đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả Tính độc lập ở đây là độc lập pháp lý; sự phụ thuộc kinh tế hay tài chính không làm mất đi tính độc lập này Do đó, văn phòng đại diện và chi nhánh không được coi là thương nhân, trong khi các công ty con hay công ty liên kết lại được xem là thương nhân theo pháp luật thương mại.
Các hoạt động thương mại phải được thực hiện một cách thường xuyên bởi các chủ thể Mặc dù luật thương mại không xác định rõ tiêu chí cho tính chất thường xuyên này, nhưng có thể hiểu rằng "các hoạt động thương mại được tiến hành thường xuyên" là những hoạt động có kế hoạch lâu dài, liên tục và lặp đi lặp lại, mà các chủ thể xem là nghề nghiệp chính và nguồn thu nhập ổn định Yêu cầu về tính chất thường xuyên cũng được thể hiện qua quy định pháp luật, chẳng hạn như doanh nghiệp có thể bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nếu không hoạt động trong một năm kể từ ngày cấp giấy chứng nhận hoặc ngừng kinh doanh liên tục trong một năm mà không thông báo với cơ quan đăng ký.
Để trở thành thương nhân và được hưởng các quy chế pháp lý đặc biệt, các chủ thể cần phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam Đăng ký kinh doanh không chỉ là thủ tục pháp lý bắt buộc để xác lập tư cách pháp lý của thương nhân mà còn là cơ sở cho các hoạt động thương mại Thương nhân có trách nhiệm thực hiện việc đăng ký này để cơ quan có thẩm quyền có thể quản lý hiệu quả các hoạt động thương mại Mục tiêu chính của thủ tục đăng ký là thống kê và công khai các thông tin quan trọng liên quan đến thương nhân, như tên, địa chỉ, ngành nghề kinh doanh và vốn đầu tư, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan và đảm bảo môi trường kinh doanh ổn định và lành mạnh.
Theo pháp luật Việt Nam, để trở thành thương nhân, các chủ thể cần đáp ứng bốn điều kiện cơ bản và phải tồn tại dưới hình thức cá nhân hoặc tổ chức kinh tế hợp pháp Điều này cho thấy rằng Luật Thương mại 2005 đã mở rộng đối tượng áp dụng so với luật trước đó.
Về việc phân loại thương nhân dựa vào một số căn cứ dưới đây:
(1) Căn cứ vào tư cách pháp lý:
Thương nhân có tư cách pháp nhân tại Việt Nam bao gồm các loại hình như: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp nhà nước chưa chuyển đổi hình thức pháp lý theo Luật Doanh nghiệp, Hợp tác xã, liên hợp hợp tác xã, và Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa chuyển đổi hình thức pháp lý theo Luật Doanh nghiệp.
(ii) Thương nhân không có tư cách pháp nhân gồm: Doanh nghiệp tư nhân, Hộ kinh doanh
(2) Căn cứ vào hình thức tổ chức hoạt động:
(i) Thương nhân là doanh nghiệp các loại
(ii) Thương nhân là cá nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh
(iii) Thương nhân là hợp tác xã, liên hiệp hợp tã xã
(3) Căn cứ vào chế độ trách nhiệm:
(i) Thương nhân chịu trách nhiệm hữu hạn gồm: Công ty TNHH các loại, Công ty cổ phần, Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
24khoản 1, Điều 6, Luật Thương mại 2005
(ii) Thương nhân chịu trách nhiệm vô hạn: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Hộ kinh doanh 25
Quy định về chủ thể có thể trở thành thương nhân trong Luật Thương mại (LTM) 2005 đã thể hiện tính khái quát cao hơn so với LTM 1997 Trong khi LTM 1997 chỉ liệt kê thương nhân bao gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác và hộ gia đình, dẫn đến việc doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh không được công nhận, LTM 2005 đã khắc phục điều này LTM 2005 quy định các chủ thể có khả năng trở thành thương nhân một cách toàn diện, bao quát các dạng chủ thể hiện có trong nền kinh tế và dự đoán được những chủ thể kinh doanh sẽ xuất hiện trong tương lai.
Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại:
Hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa, với quy định đã được mở rộng hơn so với LTM 1997 Pháp luật các quốc gia và các điều ước quốc tế quy định khác nhau về hàng hóa trong hợp đồng mua bán, phù hợp với pháp luật và tập quán của mỗi nước Chẳng hạn, theo pháp luật Hoa Kỳ, hàng hóa bao gồm mọi thứ có thể dịch chuyển được vào thời gian xác định trong hợp đồng Trong khi đó, theo luật thương mại của nhiều quốc gia và các điều ước quốc tế như GATT, hàng hóa trong thương mại phải có hai thuộc tính cơ bản: có thể đưa vào lưu thông và có tính chất thương mại Như vậy, xu hướng chung là mở rộng đối tượng hàng hóa được phép lưu thông trong thương mại.
Thứ ba, hình thức thể hiện của hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại:
Phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
Hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại có những đặc điểm chung tương tự như hợp đồng mua bán tài sản trong lĩnh vực dân sự.
Hợp đồng ưng thuận được xác định khi các bên đã thống nhất các điều khoản cơ bản, và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phụ thuộc vào việc bàn giao hàng hóa Hành động bàn giao hàng hóa chỉ là cách thức để bên bán thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng mua bán đã có hiệu lực.
Bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và sẽ nhận lại một khoản tiền thanh toán tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận.
Hợp đồng song vụ trong mua bán hàng hóa yêu cầu mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời có quyền yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ Hai nghĩa vụ chính trong hợp đồng này là bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bên mua, và bên mua phải thanh toán cho bên bán.
Thứ hai, Điểm khác nhau lớn nhất giữa hai loại hợp đồng này đó là: dựa vào bảng so sánh phân tích sau:
Bảng so sánh giữa HĐ MBHH LTM 2005 và HĐ MBTS BLDS 2015
Tiêu chí HĐMBHH LTM 2005 HĐMBTS BLDS 2015
29khoản 15, Điều 3, LTM 2005 Đối tượng Theo quy định tại khoản 2 điều 3 Luật thương mại
2005 thì Hàng hoá bao gồm :
- Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai
- Những vật gắn liền với đất đai
Theo quy định tại điều 431 BLDS
Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015, đối tượng của hợp đồng mua bán bao gồm các tài sản được phép giao dịch như vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản, trong đó phạm vi đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản rộng hơn so với hợp đồng mua bán hàng hóa.
Trong quan hệ mua bán hàng hóa, chủ thể chính là thương nhân, được định nghĩa theo khoản 1 điều 6 Luật thương mại 2005 Thương nhân bao gồm các tổ chức kinh tế hợp pháp và cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
Ngoài thương nhân, chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là không phải thương nhân và hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận
Chủ thể trong hợp đồng mua bán tài sản bao gồm mọi tổ chức và cá nhân có đầy đủ năng lực và nhu cầu, mở rộng hơn so với chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
Mục đích chính của hoạt động kinh doanh là tạo ra lợi nhuận cho các thương nhân, đồng thời cũng đáp ứng một phần nhu cầu tiêu dùng và các mục đích khác cho cả thương nhân lẫn những cá nhân không phải thương nhân, tùy thuộc vào mong muốn và nhu cầu của họ tại từng thời điểm.
Có thể nhằm nhiều mục đích khác nhau như : kinh doanh, tiêu dùng, tặng, cho, làm từ thiện hoặc do sở thích,
Hình thức Ưu tiên hình thức văn bản nhằm giảm rủi ro, đảm bảo tính rõ ràng, và có bằng chứng khi xảy ra tranh chấp
Có thể đa dạng với nhiều hình thức tùy thuộc vào đối tượng, chủ thể và mục đích trong hợp đồng mua bán tài sản
Nội dung Nêu cao nghĩa vụ đảm bảo sở hữu trí tuệ trong hợp đồng mua bán (tại điều 46 Luật thương mại 2005)
Không có quy định cụ thể về vấn đề đảm bảo sở hữu trí tuệ trong hợp đồng mua bán tài sản.
Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
Pháp luật các nước trên thế giới quy định khác nhau về nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán Ở các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, hợp đồng mua bán chủ yếu yêu cầu thỏa thuận về đối tượng và giá cả, trong khi các nội dung khác có thể được xác định dựa trên tập quán thương mại nếu không có thỏa thuận cụ thể Ngược lại, các nước trong hệ thống luật Châu Âu lục địa, như Cộng hòa Pháp, yêu cầu hợp đồng mua bán phải thỏa thuận rõ ràng về đối tượng, chất lượng và giá cả Công ước Vienna 1980 không quy định cụ thể về nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa, nhưng các quốc gia thành viên có thể áp dụng luật của mình nếu có quy định về nội dung chủ yếu của hợp đồng.
Theo pháp luật Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa được hiểu là các điều khoản cụ thể do các bên thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ hợp đồng Luật Thương mại 2005 (LTM 2005) quy định rằng nội dung hợp đồng phải tuân thủ pháp luật và không có các nội dung bắt buộc mà các bên phải thỏa thuận Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, pháp luật sẽ được áp dụng để điều chỉnh Cách tiếp cận này thể hiện sự khác biệt giữa LTM 2005 và các quy định trước đó.
30Trường ĐH Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật thương mại tập 2, NXB.Công An Nhân Dân (trang 23)
LTM 1997, phản ánh sự thay đổi cơ bản của pháp luật thương mại phù hợp với tính chất của quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa
Pháp luật quy định nội dung hợp đồng nhằm giúp các bên tập trung vào các thỏa thuận quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện và ngăn ngừa tranh chấp Theo nguyên tắc tự do hợp đồng, pháp luật không giới hạn các điều khoản mà các bên có thể thỏa thuận, chỉ quy định nội dung chủ yếu hoặc các điều khoản khuyến nghị để định hướng Dựa trên các quy định của BLDS 2015 và LTM 2005, các điều khoản quan trọng trong hợp đồng mua bán hàng hóa thường bao gồm: đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng, trách nhiệm vi phạm và phương thức giải quyết.
Trong quan hệ hợp đồng, các bên không chỉ bị ràng buộc bởi các điều khoản đã thỏa thuận mà còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật Chẳng hạn, nếu hợp đồng không quy định về bồi thường thiệt hại khi vi phạm, bên vi phạm vẫn có nghĩa vụ bồi thường nếu hành vi đó gây thiệt hại cho bên đối tác Do đó, nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa không chỉ bao gồm các điều khoản thỏa thuận mà còn phải tuân theo các quy định pháp luật mà các bên có trách nhiệm thực hiện.
Nội dung hợp đồng được phân chia thành ba loại điều khoản chính: điều khoản chủ yếu, điều khoản thường lệ và điều khoản tùy nghi, mỗi loại đều mang ý nghĩa và vai trò riêng trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan.
Điều khoản chủ yếu trong hợp đồng xác định quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên, tạo nền tảng cho việc thực hiện hợp đồng Nếu thiếu các điều khoản này, quan hệ hợp đồng sẽ không được coi là đã được thiết lập.
Điều khoản thường lệ là những quy định đã được xác định trong các văn bản pháp luật Mặc dù không được ghi rõ trong hợp đồng, nhưng các bên liên quan vẫn phải thừa nhận và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Điều khoản tùy nghi là những điều khoản được đưa vào hợp đồng dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên, phù hợp với khả năng và nhu cầu của từng bên để xác định quyền lợi và nghĩa vụ.
Điều 398 BLDS 2015 bổ sung một số điều khoản mới, cho phép các bên trong hợp đồng có quyền lựa chọn và thỏa thuận về các hành vi cụ thể Điều này giúp làm rõ nội dung hợp đồng, tạo điều kiện cho việc thực hiện hợp đồng một cách nhanh chóng và tránh hiểu lầm trong quan hệ hợp đồng.
Phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
Hợp đồng có thể được giao kết qua hai phương thức: trực tiếp và gián tiếp Phương thức giao kết trực tiếp yêu cầu các bên hoặc đại diện hợp pháp gặp gỡ trực tiếp hoặc gọi điện thoại để thảo luận và thống nhất nội dung hợp đồng Ngược lại, phương thức giao kết gián tiếp cho phép các bên không cần gặp mặt trực tiếp mà chỉ cần trao đổi thông tin qua các phương tiện liên lạc như thư tín, điện tín hoặc Internet Trong chương tiếp theo, tác giả sẽ phân tích quy định của Pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng thông qua hình thức chào hàng và chấp nhận chào hàng.
Bản chất và nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
1.6.1 Bản chất giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
Bản chất pháp lý của việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại tương tự như hợp đồng dân sự theo quy định của BLDS 2015 Quá trình này bao gồm các chủ thể tham gia thực hiện thỏa thuận và thống nhất nội dung hợp đồng, đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập quan hệ hợp đồng và đảm bảo hiệu lực pháp lý của hợp đồng đã ký kết Điều này không chỉ ngăn ngừa vi phạm hợp đồng mà còn tạo lập mối quan hệ ổn định và lâu dài giữa các bên.
Hội thảo khoa học năm 2009 với chủ đề "Thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của BLDS 2005" do NCS Lê Minh Hùng chủ trì đã trình bày những khía cạnh quan trọng về hợp đồng Kỷ yếu của hội thảo này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý liên quan đến thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, góp phần nâng cao hiểu biết về lĩnh vực pháp luật dân sự.
Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được hiểu theo hai cách: theo nghĩa hẹp, đó là hành vi xác nhận của các bên về một hợp đồng đã hình thành, thường bị nhầm lẫn với "ký kết hợp đồng" Theo nghĩa rộng, giao kết hợp đồng là toàn bộ quá trình thể hiện ý chí của các bên về nội dung hợp đồng, có thể kéo dài hoặc diễn ra nhanh chóng tùy thuộc vào ý chí của các chủ thể Quá trình này bắt đầu khi bên đề nghị thể hiện ý chí muốn giao kết và kết thúc khi bên được đề nghị chấp nhận đề nghị từ bên đề nghị.
1.6.2 Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
Theo quy định tại BLDS 2015, khi giao kết hợp đồng các chủ thể phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội
BLDS cho phép mọi cá nhân và tổ chức có quyền "tự do giao kết hợp đồng" để đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần Quyền này chỉ áp dụng cho những chủ thể đủ tư cách, không ai có quyền ngăn cản họ tham gia vào bất kỳ hợp đồng dân sự nào Tuy nhiên, sự tự do này phải tuân thủ khuôn khổ pháp luật và đạo đức xã hội, bảo đảm quyền lợi của cả bản thân và người khác Mỗi chủ thể vừa có quyền tự do giao kết hợp đồng, vừa có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật và đạo đức xã hội Lợi ích cộng đồng và đạo đức xã hội được xem là giới hạn cho ý chí tự do trong việc giao kết hợp đồng và các hành vi khác.
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, tính cộng đồng và đạo đức xã hội hạn chế quyền tự do ý chí của cá nhân, nhằm ngăn chặn việc lợi dụng hợp đồng dân sự cho mục đích bóc lột.
Thứ hai, các bên tự nguyện và bình đẳng trong giao kết hợp đồng
Nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ dân sự yêu cầu các bên tham gia trao đổi phải có sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ Không ai được sử dụng lý do về thành phần xã hội, giới tính hay tôn giáo để làm biến dạng các quan hệ này Chỉ khi các bên có sự bình đẳng về mọi mặt, ý chí tự nguyện mới được đảm bảo Do đó, hợp đồng thiếu sự bình đẳng và tự nguyện sẽ không được pháp luật công nhận Tuy nhiên, việc xác định tính tự nguyện của các bên trong hợp đồng là một nhiệm vụ phức tạp và khó khăn trong thực tiễn.
Hợp đồng là sự thoả thuận thống nhất ý chí giữa các chủ thể tham gia, do đó, để xác định tính tự nguyện trong giao kết hợp đồng, cần xem xét sự thống nhất giữa ý chí và sự bày tỏ ý chí Ý chí là mong muốn chủ quan bên trong của mỗi chủ thể, và nó phải được thể hiện ra bên ngoài qua một hình thức nhất định Hai khái niệm này có mối quan hệ mật thiết; ý chí tự nguyện là sự kết hợp giữa mong muốn bên trong và cách bày tỏ ra ngoài Để đánh giá một hợp đồng dân sự có tuân theo nguyên tắc tự nguyện hay không, cần dựa vào sự thống nhất ý chí của người giao kết và cách thức thể hiện ý chí trong nội dung hợp đồng Chỉ khi hợp đồng phản ánh trung thực những mong muốn bên trong của các bên thì giao kết mới được coi là tự nguyện.
Tất cả các hợp đồng được ký kết do nhầm lẫn, lừa dối hoặc đe dọa đều không đáp ứng nguyên tắc tự nguyện, do đó sẽ bị coi là vô hiệu.
33http://luathopdong.com/thong-tin/kien-thuc-ve-hop-dong/1613-giao-ket-hop-dong- dan-su.html