1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc thiện chí khi thực hiện hợp đồng theo quy định của công ước vienna 1980

65 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 780,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI CẢM ƠN

  • LỜI CAM ĐOAN

  • DANH MỤC VIẾT TẮT

  • PHẦN MỞ ĐẦU

    • 1.Lý do chọn đề tài

    • 2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

    • 3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    • 4.Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tà

    • 5.Phương pháp nghiên cứu

    • 6.Bố cục đề tài

  • CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN TẮC THIỆN CHÍ KHI TH

    • 1.1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán hà

      • 1.1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

      • 1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

    • 1.2. Nghĩa vụ thực hiện hợp đồng theo CISG

      • 1.2.1. Nghĩa vụ bên bán

      • 1.2.2.Nghĩa vụ bên mua

    • 1.3. Nguyên tắc thiện chí khi thực hiện hợp đồng t

      • 1.3.1. Khái niệm và đặc điểm của Nguyên tắc thiện

      • 1.3.2. Vai trò của nguyên tắc thiện chí khi thực h

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG I

  • CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN, ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT VIỆC ÁP D

    • 2.1. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc thiện chí thông

      • 2.1.1. Phân tích “nguyên tắc thiện chí” trong vụ k

      • 2.1.2 Phân tích “nguyên tắc thiện chí” trong vụ ki

      • 2.1.3. Phân tích “nguyên tắc thiện chí” trong vụ k

    • 2.2. Đánh giá và đề xuất áp dụng “nguyên tắc thiện

      • 2.2.1. Đánh giá quy định nguyên tắc thiện chí khi

      • 2.2.2. Kiến nghị việc áp dụng nguyên tắc thiện chí

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG II

  • KẾT LUẬN CHUNG

  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đối với đề tài “Nguyên tắc thiện chí khi thực hiện hợp đồng theo quy định

Hiện tại, chưa có nhiều nghiên cứu về Công ước Vienna 1980 tại Việt Nam, có thể do Việt Nam mới tham gia vào Công ước trong những năm gần đây Sự quan tâm đến nguyên tắc thiện chí trong Công ước này vẫn còn hạn chế, và chủ yếu chỉ xuất hiện dưới dạng bài viết tạp chí, văn bản học thuật, sách giáo trình, hoặc là một phần nhỏ trong các nghiên cứu khác.

Nguyên tắc thiện chí đã được thảo luận rộng rãi trong các ngành Luật tại Việt Nam và trên toàn cầu, nhưng nghiên cứu về nguyên tắc này trong một Công ước chung quốc tế vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là việc thiếu một thuật ngữ chung để định nghĩa Mặc dù vậy, có nhiều luận văn đáng chú ý, như luận văn thạc sĩ của Obaid Khalfan Almutawa về vai trò của thiện chí trong Công ước Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, và nghiên cứu của John Felemegas về Điều 7 của Công ước này cùng với các bài viết bình luận khác, cho thấy sự quan tâm ngày càng tăng đối với nguyên tắc thiện chí trong bối cảnh quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ nguyên tắc thiện chí trong việc giao kết hợp đồng theo Công ước Vienna 1980, tác giả đã áp dụng một số phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp bình luận pháp lý : nghiên cứu tổng hợp các khái niệm để phân tích, bình luận với mục tiêu cuối cùng là đưa ra đề xuất.

Phương pháp so sánh được áp dụng để khám phá ý nghĩa và ứng dụng của nguyên tắc thiện chí trong các nguồn luật như PECL và Nguyên tắc UNIDROIT Bài viết tìm hiểu nguyên tắc thiện chí ở cả cấp quốc gia và quốc tế, giúp làm rõ khái niệm này trong CISG, một phần quan trọng của luật thương mại quốc tế Đồng thời, khóa luận sử dụng các phương pháp liệt kê và thu thập bản án từ các tòa án quốc tế, so sánh quy định về nguyên tắc thiện chí giữa các quốc gia lớn, từ đó diễn giải và tổng hợp để làm sáng tỏ quy định này.

Bố cục đề tài

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài được xây dựng gồm 2 chương:

Chương 1: Tổng quan về nguyên tắc thiện chí khi thực hiện hợp đồng theo quy định của Công ước Vienna 1980.

Chương 2: Thực tiễn về áp dụng nguyên tắc thiện chí khi thực hiện hợp đồng theo quy định của Công ước Vienna 1980.

TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN TẮC THIỆN CHÍ KHI THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC VIENNA 1980

Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Sự toàn cầu hóa kinh tế và các khuôn khổ pháp lý về thương mại đã mở rộng hoạt động mua bán hàng hóa ra khỏi biên giới quốc gia, tạo điều kiện cho giao dịch quốc tế Mua bán hàng hóa quốc tế là phương tiện pháp lý chủ yếu cho cá nhân và tổ chức thực hiện các giao dịch này, bao gồm nhiều lĩnh vực như thương mại hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ và đầu tư Trong đó, thương mại hàng hóa luôn là lĩnh vực sôi động nhất và giữ vai trò trung tâm trong các giao dịch thương mại quốc tế.

Trong lĩnh vực thương mại hàng hóa quốc tế, các giao dịch chủ yếu được thực hiện qua hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tuy nhiên, hiện nay chưa có khái niệm thống nhất về loại hợp đồng này trong khoa học pháp lý, dẫn đến sự thiếu rõ ràng trong việc xác định tính quốc tế của hợp đồng Việc làm rõ khái niệm “hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến việc xác định luật áp dụng cho quan hệ giữa các bên Nếu hợp đồng thuộc loại hợp đồng nội địa, sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật trong nước Ngược lại, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ phải tuân theo pháp luật thương mại quốc tế, có thể là luật của các quốc gia khác nhau, các điều ước quốc tế và cả tập quán thương mại quốc tế, do đó cần lựa chọn luật phù hợp để áp dụng cho hợp đồng.

Võ Sĩ Mạnh (2015) chỉ ra rằng việc vi phạm hợp đồng theo Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cần được xem xét kỹ lưỡng, đồng thời cần hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam liên quan Việc xác định pháp luật áp dụng cho quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng là rất quan trọng Do đó, cần có một khái niệm rõ ràng và thống nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế để đảm bảo tính nhất quán trong việc áp dụng các quy định này.

Một số tác giả đã định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên các yếu tố khác nhau Theo Trương Văn Dũng, hợp đồng này là thỏa thuận bắt buộc giữa các bên có địa điểm kinh doanh ở các quốc gia khác nhau, trong đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng và bên mua có nghĩa vụ nhận và thanh toán Tuy nhiên, Tiến sĩ Võ Duy Mạnh cho rằng khái niệm này chưa làm rõ cơ sở pháp lý cho "hiệu lực bắt buộc," vì nhiều nguồn luật khác nhau có thể điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Hơn nữa, sự thỏa thuận giữa bên mua và bán phải tuân thủ quy định của pháp luật để trở thành bắt buộc đối với các bên, do đó nhấn mạnh "hiệu lực bắt buộc" là không cần thiết.

Theo Điều 56 Luật mua bán hàng hóa năm 1979 của Anh, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng giữa các bên có địa điểm kinh doanh hoặc nơi cư trú tại các quốc gia khác nhau Hợp đồng này phải đáp ứng các điều kiện: thứ nhất, hàng hóa được chuyên chở từ lãnh thổ của một quốc gia sang lãnh thổ của quốc gia khác tại thời điểm ký kết; thứ hai, chào hàng hoặc chấp nhận chào hàng diễn ra trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau; thứ ba, việc giao hàng được thực hiện tại lãnh thổ khác với nơi chào hàng hoặc chấp nhận chào hàng.

Theo pháp luật Anh, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một dạng hợp đồng mua bán hàng hóa, trong đó người bán có trách nhiệm chuyển giao hàng hóa cho người mua.

2 LS Đặng Bá Kỹ, Tổng quan về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Nguồn: http://www.luatyenxuan.com/tong-quan-ve-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te.html

Võ Sĩ Mạnh (2015) đã chỉ ra rằng vi phạm hợp đồng theo Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cần được hoàn thiện trong quy định pháp luật Việt Nam Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xác định dựa trên ba yêu cầu tại Điều 56 của Luật mua bán hàng hóa năm 1979, bao gồm việc các bên có địa điểm kinh doanh ở các quốc gia khác nhau Hoạt động mua bán hàng hóa phải diễn ra giữa các lãnh thổ quốc gia khác nhau, và việc chào hàng cũng như chấp nhận chào hàng phải được thực hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau Tại Hoa Kỳ, Bộ luật thương mại thống nhất năm 1952 không định nghĩa trực tiếp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhưng đã xác định giao dịch quốc tế là giao dịch với các quốc gia khác, trong đó việc mua bán là chuyển giao quyền sở hữu từ người bán sang người mua để nhận tiền.

Quy định của Hoa Kỳ và Anh về chuyển giao sở hữu hàng hóa từ người bán sang người mua đều yêu cầu cả hai bên phải có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia khác nhau Trong phạm vi quốc tế, Công ước Vienna không định nghĩa rõ ràng về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhưng Điều 1 của Công ước đã xác định rằng hợp đồng này áp dụng cho các bên có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia khác nhau, đồng thời chỉ ra rằng việc có địa điểm kinh doanh khác quốc gia không được xem xét nếu không liên quan đến hợp đồng hoặc các mối quan hệ đã hình thành giữa các bên.

Công ước Vienna xác định địa điểm kinh doanh là yếu tố quan trọng để phân loại hợp đồng giữa các bên là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Khi có nhiều địa điểm kinh doanh, các bên giao dịch cần xem xét kỹ lưỡng để xác định tính chất của hợp đồng.

4 Luật mua bán hàng hóa của Anh (1979), Điều 56.

5 Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ (1952), Điều 301.

Công ước Vienna 1980 quy định rằng trong trường hợp xác định trụ sở có mối quan hệ chặt chẽ nhất với hợp đồng, nếu một bên không có địa điểm kinh doanh, thì nơi cư trú thường xuyên sẽ được sử dụng để xác định tính chất quốc tế của hợp đồng theo Điều 10 của CISG.

Nếu các bên không chứng minh được địa điểm kinh doanh theo quy định, hợp đồng giữa họ sẽ không được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Hơn nữa, Công ước Vienna không dựa vào yếu tố quốc tịch hay quy chế dân sự, thương mại để xác định tính chất của hợp đồng này.

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là thỏa thuận giữa các bên có địa điểm kinh doanh ở các quốc gia khác nhau, theo đó bên bán có trách nhiệm giao hàng và chuyển giao chứng từ cùng quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua, trong khi bên mua phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán và nhận hàng.

Bên cạnh Công ước Vienna, PICC cung cấp các quy phạm chung cho hợp đồng thương mại quốc tế, với khái niệm hợp đồng thương mại được hiểu rộng rãi, không chỉ giới hạn trong giao dịch hàng hóa và dịch vụ, mà còn bao gồm các hợp đồng đầu tư và ủy thác, cũng như các dịch vụ chuyên môn Tính quốc tế của hợp đồng thương mại được xác định qua nhiều yếu tố, từ trụ sở hay nơi cư trú của các bên đến các tiêu chí tổng quát hơn Mặc dù PICC không chỉ rõ tiêu chí nào, nhưng tính quốc tế của hợp đồng cần được hiểu một cách rộng rãi, trừ những trường hợp không có yếu tố quốc tế nào, tức là khi tất cả các yếu tố liên quan chỉ thuộc về một quốc gia.

Võ Sĩ Mạnh (2015) đã chỉ ra rằng có những vi phạm cơ bản trong hợp đồng theo Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Bài viết cũng đề xuất hướng hoàn thiện các quy định liên quan trong pháp luật Việt Nam nhằm nâng cao tính hiệu quả và sự tuân thủ trong thương mại quốc tế.

I don't know!

Nghĩa vụ thực hiện hợp đồng theo CISG

Theo Điều 30 của Công ước Vienna 1980, bên bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có hai nghĩa vụ chính: thứ nhất là nghĩa vụ giao hàng, và thứ hai là chuyển giao các giấy tờ liên quan đến hàng hóa cùng quyền sở hữu hàng hóa theo đúng quy định của hợp đồng và Công ước.

Thứ nhất,bên bán nghĩa vụ giao hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng:

Giao hàng là nghĩa vụ cơ bản nhất của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, và các nghĩa vụ khác của người bán đều nhằm hoàn thành nghĩa vụ này Việc thực hiện giao hàng đúng đối tượng, đúng chất lượng, tại địa điểm và thời gian đã thỏa thuận trong hợp đồng là rất quan trọng.

Một là, Giao hàng đúng số lượng và chất lượng Tại Điều 35 Công ước Vienna

Theo quy định năm 1980, bên bán phải giao hàng đúng số lượng và chất lượng như đã thỏa thuận trong hợp đồng, đồng thời sử dụng bao bì phù hợp Hàng hóa phải đảm bảo chất lượng, nếu không có quy định cụ thể trong hợp đồng, hàng hóa sẽ bị coi là không đạt yêu cầu nếu không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường, không đáp ứng được mục đích mà người bán đã thông báo cho người mua, hoặc không giống với mẫu hàng đã cung cấp Ngoài ra, hàng hóa cũng cần được đóng gói theo cách thông thường để bảo vệ chất lượng của sản phẩm.

20 Giáo trình Pháp luật Kinh doanh quốc tế, Đại học Ngoại thương HN, NXB Đại học Hà Nội, 2012, Trang224.

Hai là, Giao hàng đúng địa điểm Theo quy định tại Điều 31 của Công ước

Theo Công ước Vienna 1980, bên bán phải giao hàng tại địa điểm đã thỏa thuận trong hợp đồng Nếu không có thỏa thuận, bên bán phải giao hàng cho người vận chuyển đầu tiên trong trường hợp hợp đồng liên quan đến vận chuyển Nếu không, bên bán phải đặt hàng hóa dưới quyền định đoạt của bên mua tại nơi sản xuất hoặc địa điểm kinh doanh của bên bán Điều này cũng được quy định trong Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2016 Cụ thể, Điều 6.1.6 của Bộ nguyên tắc quy định rằng nếu địa điểm thực hiện nghĩa vụ không được xác định trong hợp đồng, nghĩa vụ sẽ được thực hiện tại trụ sở của bên có quyền đối với nghĩa vụ thanh toán hoặc tại trụ sở của bên có nghĩa vụ đối với nghĩa vụ khác Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa Bộ nguyên tắc UNIDROIT và Công ước Vienna 1980 là Bộ nguyên tắc không đề cập đến trường hợp giao hàng có người vận chuyển.

Ba là, Giao hàng đúng thời hạn Theo quy định tại Điều 33 Công ước Vienna

Theo Công ước Vienna 1980, người bán phải giao hàng đúng thời gian quy định trong hợp đồng hoặc trong khoảng thời gian hợp lý sau khi hợp đồng được ký kết Điều 33 của Công ước này cho phép bên bán lựa chọn thời điểm giao hàng trong khoảng thời gian đã ấn định, trừ khi có tình huống đặc biệt yêu cầu bên bán phải chọn một ngày khác Ngược lại, Điều 6.1.1 của Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2016 quy định rằng bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ vào bất kỳ thời điểm nào trong khoảng thời gian xác định, nhưng quyền lựa chọn thời điểm này thuộc về bên có quyền, tức là bên mua Do đó, trong cùng một hoàn cảnh, Công ước Vienna 1980 trao quyền thay đổi thời điểm giao hàng cho bên bán, trong khi Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2016 lại trao quyền này cho bên mua.

Thứ hai, nghĩa vụ chuyển giao các giấy tờ liên quan đến hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa:

Các loại giấy tờ cần thiết bao gồm hóa đơn, B/L và Giấy chứng nhận sở hữu hàng hóa Theo Điều 34 Công ước Vienna 1980, bên bán phải giao giấy tờ liên quan đến hàng hóa cho bên mua đúng thời hạn trong hợp đồng Tuy nhiên, bên bán có thể giao trước thời hạn nếu việc này không gây bất tiện hoặc tốn kém cho bên mua Nếu việc giao giấy tờ gây thiệt hại cho bên mua, bên bán sẽ phải bồi thường.

Bên bán có trách nhiệm bảo đảm quyền sở hữu cho người mua đối với hàng hóa đã bán, ngăn chặn tranh chấp từ bên thứ ba Đồng thời, bên bán cũng phải đảm bảo rằng hàng hóa không bị ràng buộc bởi bất kỳ quyền hạn nào của bên thứ ba liên quan đến sở hữu công nghiệp hoặc sở hữu trí tuệ khác.

Theo Điều 53 Công ước Vienna 1980, bên mua có hai nghĩa vụ chính khi nhận hàng, bao gồm việc thanh toán tiền hàng và tiếp nhận hàng hóa.

Việc giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hóa là trách nhiệm của bên bán, trong khi bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán Quyền và nghĩa vụ của người mua luôn liên quan chặt chẽ đến quá trình nhận hàng và thực hiện thanh toán trong hợp đồng.

Thứ nhất,nghĩa vụ thanh toán:

Theo Điều 55 Công ước Vienna 1980, người mua có nghĩa vụ thanh toán giá hàng hóa đã thỏa thuận trong hợp đồng với người bán Nếu hợp đồng không quy định cụ thể về giá, giá sẽ được xác định dựa trên mức giá đã được ấn định cho mặt hàng tương tự trong điều kiện thương mại tương tự Điều này cũng được quy định trong Điều 5.1.7 của Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2016, nơi các bên được coi là đã đồng ý về giá cả nếu hợp đồng không xác định rõ giá hoặc phương thức xác định giá.

21 LS Đặng Bá Kỹ, Tổng quan về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Nguồn: http://www.luatyenxuan.com/tong-quan-ve-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te.html

Công ước Vienna 1980, Điều 53, đã đề cập đến việc áp dụng mức giá thông thường tại thời điểm giao kết hợp đồng trong cùng ngành hàng và hoàn cảnh tương tự Nếu không có mức giá này, mức giá hợp lý sẽ được xem xét Tuy nhiên, Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2016 đã tiến xa hơn khi quy định rằng nếu mức giá do một bên ấn định rõ ràng là phi lý, một mức giá hợp lý sẽ được áp dụng thay thế, bất chấp các điều khoản trong hợp đồng.

Hai là, nghĩa vụ thanh toán đúng địa điểm quy định Theo quy định tại Điều

Theo Công ước Vienna 1980, người mua có trách nhiệm thanh toán tiền hàng tại địa điểm đã thỏa thuận trong hợp đồng Nếu hợp đồng không chỉ định rõ địa điểm thanh toán, người mua phải thanh toán tại trụ sở của người bán, nơi giao hàng, hoặc nơi giao chứng từ, đặc biệt nếu việc thanh toán diễn ra cùng lúc với việc giao hàng hoặc chứng từ.

Theo Điều 58 của Công ước Vienna 1980, bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng đúng thời hạn quy định trong hợp đồng Nếu hợp đồng không chỉ rõ thời gian giao hàng, bên mua phải thanh toán khi bên bán chuyển giao hàng hoặc các giấy tờ liên quan Trong trường hợp hợp đồng có quy định về vận chuyển, bên bán có thể gửi hàng đi nhưng chưa giao hàng hoặc giấy tờ nếu bên mua chưa thanh toán Do đó, bên mua cần thanh toán trong thời gian hợp lý để nhận được hàng.

Việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tạo ra quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia Các bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo đúng quy định trong hợp đồng và luật áp dụng Nếu không thực hiện nghĩa vụ, bên vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm.

Thứ hai,nghĩa vụ nhận hàng:

Nhận hàng là quá trình mà người mua tiếp nhận hàng hóa từ bên bán, đồng thời có nghĩa vụ thực hiện các công việc hợp lý để hỗ trợ bên bán trong việc giao hàng Nếu người mua không nhận hàng theo thỏa thuận, họ sẽ vi phạm hợp đồng Người mua cần chuẩn bị cơ sở vật chất như phương tiện bốc dỡ và kho bãi để tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhận hàng, thể hiện sự tận tâm với nghĩa vụ của mình Khi hàng được giao đến địa điểm quy định, người mua phải thực hiện nghĩa vụ tiếp nhận hàng hóa Ngoài ra, người mua còn có quyền lợi liên quan đến việc nhận hàng.

Kiểm tra chất lượng hàng hóa: là một bước không thể thiếu khi người mua nhận hàng.

Nguyên tắc thiện chí khi thực hiện hợp đồng theo quy định Công ước

1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của Nguyên tắc thiện chí khi thực hiện hợp đồng.

Thiện chí, theo nghĩa đen, là ý định tốt trong việc thực hiện một hành vi nào đó Theo từ điển Cambridge, một hành động được coi là có thiện chí khi nó được thực hiện một cách chân thành và trung thực.

Phần lớn các văn bản pháp lý liên kết khái niệm trung thực với thiện chí, trong đó thiện chí được xác định chủ quan bởi mỗi cá nhân Mối quan hệ giữa thiện chí và trung thực có thể được làm rõ qua từ điển pháp lý, đặc biệt là trong lĩnh vực hợp đồng, nơi giao ước ngụ ý rằng các bên tham gia sẽ đối xử với nhau một cách trung thực, công bằng và thiện chí để duy trì sự tin cậy trong giao dịch.

23 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại quốc tế, sđd, tr 253.

25 Từ điển Cambridge, nguồn: https://dictionary.cambridge.org/dictionary/english/good-faith

Hiện nay, trên thế giới có ba hệ thống pháp luật phổ biến: dân luật, thông luật và luật tôn giáo, trong đó Luật Canon là một phần quan trọng của luật tôn giáo Luật tôn giáo bao gồm ba loại chính: Sharia trong Hồi giáo, Halakha trong Do Thái giáo và luật Canon trong các quốc gia theo Công giáo Khái niệm thiện chí gắn liền với sự trung thực, tức là tính đáng tin cậy và không có hành vi lừa dối hay không giữ lời hứa Thực tế, thiện chí và trung thực có mối liên hệ chặt chẽ, với hành động thiện chí đòi hỏi sự trung thực, và người trung thực cũng là người hành động với thiện ý Cả hai khái niệm này đều mang tính đạo đức, điều này gây khó khăn trong việc xác định ý nghĩa và chức năng của chúng.

Việc xác định phạm vi của "trung thực" có thể gặp phải những khó khăn tương tự như khi xác định thuật ngữ "thiện chí", vì thực chất chỉ là sự thay thế giữa hai thuật ngữ.

Pháp luật hợp đồng thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật toàn cầu, vì hầu hết các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế đều liên quan đến loại hợp đồng này Hợp đồng được hiểu là thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của họ, thể hiện ý chí của các bên Thiện chí là nguyên tắc nền tảng trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng, giúp tạo thuận lợi trong quá trình giao kết Tuy nhiên, nguyên tắc này chưa được thống nhất trong các hệ thống pháp luật khác nhau.

Theo hệ thống Common Law, các bên trong giai đoạn đàm phán hợp đồng không bắt buộc phải tuân thủ nguyên tắc trung thực và thiện chí, cho phép họ tự do rút lui mà không phải chịu trách nhiệm về chi phí của bên kia Tuy nhiên, một ngoại lệ quan trọng là thuyết promissory estoppel, bảo vệ bên đàm phán có niềm tin hợp lý rằng các bên sẽ đạt được thỏa thuận cuối cùng.

Trái với hệ thống Common Law, trách nhiệm tiền hợp đồng được áp dụng rộng rãi trong các hệ thống pháp luật, đặc biệt là ở các nước theo hệ thống Châu Âu lục địa Trong hệ thống Civil Law, culpa in contrahendo - một hình thức của trách nhiệm tiền hợp đồng - đóng vai trò quan trọng trong luật hợp đồng và nghĩa vụ ngoài hợp đồng, yêu cầu các bên phải hành xử một cách thận trọng và có trách nhiệm trong quá trình thương thảo hợp đồng.

In his 2015 thesis, "The Role of Good Faith in the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG)," Obaid Khalfan Almutawa emphasizes the importance of the principles of honesty and good faith during contract negotiations He argues that these principles are not only relevant in the execution phase of contracts but also play a critical role throughout the negotiation process, particularly within Civil Law systems.

Nguyên tắc thiện chí trong pháp luật Anh bắt nguồn từ các thương nhân thời kỳ trước, khi họ sử dụng luật tập quán để giải quyết tranh chấp thương mại Tòa án thương gia, với quyền tài phán rộng rãi, đã hình thành nguyên tắc này và tồn tại song song với luật thông thường Mặc dù sau này quyền tài phán của các thương gia được chuyển giao cho các tòa án hoàng gia, nguyên tắc thiện chí đã tạm thời biến mất trong luật chung do sự thiếu vắng một Bộ luật dân sự hoặc Luật thương mại Tuy nhiên, điều này không phản ánh hoàn toàn luật Anh hiện đại, mà chỉ cho thấy sự cẩn trọng trong kinh doanh của các bên Luật hợp đồng Anh không có một học thuyết chung về nguyên tắc thiện chí, nhưng vẫn cung cấp giải pháp cho các vấn đề hợp đồng một cách chi tiết, đồng thời nâng cao nguyên tắc thiện chí trong quá trình đàm phán thông qua nghĩa gián tiếp Luật pháp Anh tập trung vào việc giải thích khách quan các điều khoản hợp đồng, thay vì dựa vào ý định hay động cơ chủ quan của các bên, mặc dù hiện tại đã xuất hiện khái niệm thiện chí trong luật pháp.

28 John Felemegas [Australia], February 2001, The United Nations Convention on Contracts for the

Bán hàng hóa quốc tế: Điều 7 và việc giải thích thống nhất Theo phần 61 (3) của Đạo luật Bán hàng hóa năm 1979, hành động được coi là thực hiện với mục đích tốt khi nó được thực hiện một cách trung thực, bất kể có sự cẩu thả hay không Tuy nhiên, luật pháp Anh không có khái niệm thiện chí chung như trong luật dân sự, mà chỉ yêu cầu thiện chí trong các tình huống cụ thể.

Trước đây, các thương nhân đã hình thành các tập quán pháp và thông lệ dựa trên thiện chí trong mua bán hàng hóa Tuy nhiên, theo thời gian, những luật tập quán này đã được hợp nhất với luật chung, dẫn đến việc không có định nghĩa cụ thể về nguyên tắc thiện chí Thay vào đó, thiện chí được thể hiện qua các trường hợp cụ thể trong giao dịch.

Nguyên tắc thiện chí trong luật pháp Hoa Kỳ có những điểm khác biệt so với hệ thống pháp luật Anh Trong luật chung của Mỹ, khái niệm thiện chí đã được công nhận trong nhiều thập kỷ, với Bộ luật thương mại thống nhất và đạo luật Retatement of contracts áp dụng cho các bên tham gia hợp đồng một nghĩa vụ thiện chí Cụ thể, Mục 1-203 của Bộ luật thương mại quy định rằng các bên phải hành xử thiện chí trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Mọi hợp đồng theo Đạo luật này đều yêu cầu một nghĩa vụ thiện chí trong việc thực hiện và thực thi Mục 205 của Retatement of contracts (phần 2) cũng nhấn mạnh rằng mọi hợp đồng đều áp đặt nghĩa vụ thiện chí và đối xử công bằng Mặc dù hầu hết các hệ thống pháp luật thông thường không công nhận nghĩa vụ thiện chí trước thỏa thuận, nhưng luật gia Mỹ có những định nghĩa rõ ràng về thiện chí, khác với luật gia người Anh Bộ luật thương mại thống nhất cũng đưa ra hai định nghĩa về sự trung thực áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa, trong đó định nghĩa chung tại Mục 1-201 (19)(261 262) mô tả thiện chí là sự trung thực trong hành vi hoặc giao dịch liên quan.

29 John Felemegas [Australia], February 2001, The United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods: Article 7 and Uniform Interpretation.

30 Retatement of contracts: tổng cộng có 4 phần, trong đó có phần 2 quy định về hợp đồng.

In the context of the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, Article 7 emphasizes the importance of good faith in commercial transactions Specifically defined in Section 2-103 for merchants, "good faith" refers to the genuine honesty in practice and adherence to reasonable commercial standards of fair trade.

Pháp luật Hoa Kỳ có những quy định cụ thể về nguyên tắc thiện chí trong hợp đồng, bao gồm cả định nghĩa rõ ràng về thiện chí, trong khi pháp luật Anh lại thiếu những quy định và định nghĩa này.

THỰC TIỄN, ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT VIỆC ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC THIỆN CHÍ KHI THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC VIENNA 1980

QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC VIENNA 1980

2.1 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc thiện chí thông qua một số tranh chấp:

Nguyên tắc thiện chí đã được công nhận và áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực thương mại quốc tế, đặc biệt là trong Công ước Vienna 1980, nhưng vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về nguyên tắc này Tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, các cơ quan giải quyết tranh chấp trên thế giới thường áp dụng nguyên tắc thiện chí một cách linh hoạt Bài viết này sẽ nêu ra một số trường hợp thực tiễn liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế áp dụng nguyên tắc thiện chí để giải quyết tranh chấp, cùng với những bình luận về cách các bên thực hiện nguyên tắc này.

2.1.1 Phân tích “nguyên tắc thiện chí” trong vụ kiện số 1:

Tên vụ kiện: Trường hợp “học thuyết về hoàn cảnh không thể dự đoán được”,

Người bán: Pháp (Bị đơn)

Người mua: Hà Lan (Nguyên đơn)

Tranh chấp giữa một công ty Pháp (người bán) và một công ty Hà Lan (người mua) phát sinh từ hợp đồng mua bán ống thép không có điều khoản điều chỉnh giá Sau khi ký hợp đồng, giá thép tăng 70%, khiến người bán muốn thương lượng giá mới nhưng bị người mua từ chối Người mua yêu cầu giao hàng theo giá đã thỏa thuận, dẫn đến việc người bán không giao hàng và người mua khởi kiện tại Tòa án Bỉ Luật áp dụng cho tranh chấp này là Công ước Vienna năm 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG).

Quan điểm của các Tòa:

Phán quyết của Tòa sơ thẩm ngày 25/1/2005: Tòa sơ thẩm cho rằng người mua ở trong tình thế áp dụng “học thuyết về hoàn cảnh không thể dự đoán được”

Theo Tòa, học thuyết về imprévision không được điều chỉnh bởi CISG, vì vậy việc xem xét lại giá bán hợp đồng dựa trên học thuyết này bị từ chối áp dụng.

Phán quyết của Tòa phúc thẩm:

Phán quyết sơ bộ ngày 29/6/2006: Tòa phúc thẩm công nhận người mua ở trong hoàn cảnh của “học thuyết về hoàn cảnh không thể dự đoán được”, tuy nhiên

Tòa sơ thẩm đã sai khi từ chối xem xét lại giá bán, vì CISG không quy định vấn đề này Hơn nữa, Tòa cũng không xem xét luật áp dụng theo các quy tắc tư pháp quốc tế để xác định xem liệu luật đó có loại trừ việc xem xét lại giá bán hay không.

Phán quyết chung thẩm ngày 15/2/2007 khẳng định rằng CISG không quy định điều chỉnh giá trong các trường hợp bất thường, nhưng việc điều chỉnh giá không vi phạm nguyên tắc của CISG Tòa xác định luật áp dụng là luật Pháp theo Điều 7.1 của CISG, cho phép các bên thương lượng lại hợp đồng dựa trên nguyên tắc thiện chí Việc người bán từ chối giao hàng nếu giá không được điều chỉnh hợp lý không vi phạm hợp đồng, mà chính người mua đã vi phạm nguyên tắc thiện chí khi từ chối thương lượng lại giá bán.

Vào ngày 19/6/2009, Tòa Tối cao đã bác bỏ việc áp dụng luật nội địa của Pháp, cho rằng Tòa phúc thẩm đã diễn giải sai Điều 7 của CISG Tòa nhấn mạnh sự cần thiết phải đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng Công ước và tôn trọng thiện chí trong thương mại quốc tế Đối với các vấn đề không được quy định trong Công ước, Tòa khẳng định rằng chúng sẽ được giải quyết theo các nguyên tắc chung mà Công ước dựa vào, và chỉ khi không có nguyên tắc phù hợp thì mới áp dụng luật theo các nguyên tắc của tư pháp quốc tế.

Tòa Tối cao đã áp dụng các nguyên tắc chung của luật thương mại quốc tế, cụ thể là Nguyên tắc Hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT, cho phép bên bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi hoàn cảnh yêu cầu đàm phán lại hợp đồng Sự thay đổi này phải không thể dự đoán và làm tăng gánh nặng thực hiện hợp đồng một cách không cân xứng Tòa cũng cho rằng sự tăng giá thép là một sự kiện không lường trước, gây thiệt hại nghiêm trọng cho người bán nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng như hiện tại, do đó yêu cầu các bên đàm phán lại hợp đồng Hơn nữa, Tòa Tối cao nhận định rằng việc người bán từ chối giao hàng nếu giá không được điều chỉnh không vi phạm hợp đồng, trái với nguyên tắc pacta sunt servanda trong Điều 7.1 của CISG.

Qua việc phân tích vụ kiện trên, người viết đưa ra một số bình luận sau:

Người viết đồng ý với phán quyết của Tòa án, cho rằng hành động của người bán trong việc hủy hợp đồng khi giá cả hàng hóa tăng là hợp lý và thể hiện thiện chí Người bán đã chủ động đề nghị đàm phán lại giá để phù hợp với thị trường, nhằm giảm thiểu thiệt hại, nhưng bên mua đã không chấp nhận đề nghị này Hành động của người mua cho thấy sự thiếu thiện chí khi cố tình từ chối đàm phán để hưởng lợi từ việc tăng giá Nếu bên mua đồng ý thương thảo lại, thiệt hại có thể đã được ngăn chặn và uy tín của các bên được bảo vệ Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của nguyên tắc thiện chí trong thực hiện hợp đồng, cho thấy rằng việc tuân thủ nguyên tắc này có thể giúp giảm thiểu thiệt hại xảy ra.

2.1.2 Phân tích “nguyên tắc thiện chí” trong vụ kiện số 2:

Tên vụ kiện: Trường hợp măng tây đóng hộp (8 tháng 11 năm 2002)

Người bán: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Bị đơn)

Người mua: Đức (Nguyên đơn)

46 Source: http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-cases-07.html

Hàng hóa: Măng tây đóng hộp

Vào ngày 3 tháng 4 năm 2001, một công ty Đức đã ký hai hợp đồng mua măng tây đóng hộp từ một nhà cung cấp Trung Quốc và phát hành hai thư tín dụng (L/C) cho toàn bộ số tiền Sau khi ký hợp đồng, nhà cung cấp tin tưởng vào khả năng thực hiện hợp đồng và ký kết hợp đồng cung cấp hàng hóa với Công ty Thực phẩm Sơn Tây Tuy nhiên, sau khi nhận L/C vào ngày 26 tháng 4 năm 2001, nhà cung cấp phát hiện giá hàng hóa đã tăng và từ chối giao hàng, mặc dù người mua đã yêu cầu nhiều lần Kết quả là, người mua phải tìm nguồn hàng thay thế từ nhà cung cấp khác Vào ngày 6 tháng 11 năm 2001, người mua yêu cầu bồi thường chênh lệch giá nhưng bị nhà cung cấp từ chối Do đó, người mua đã quyết định khởi kiện nhà cung cấp ra trọng tài vì thiệt hại do việc từ chối giao hàng.

Quan điểm của Trọng Tài Trung Quốc

Do không có quy định về luật áp dụng trong hai hợp đồng, Tòa án Trọng tài xác định rằng Trung Quốc, nơi hình thành và thực hiện hợp đồng, có mối quan hệ gần gũi nhất với hợp đồng, vì vậy luật pháp Trung Quốc sẽ được áp dụng Ngoài ra, do địa điểm kinh doanh của cả người mua và người bán nằm trong các quốc gia CISG, Công ước sẽ được áp dụng nếu có bất kỳ mâu thuẫn nào với luật pháp Trung Quốc Dựa trên tài liệu và sự kiện từ các bên, Tòa Trọng tài kết luận rằng các yêu cầu về tài liệu trong L/C không phải là lý do chính khiến Người bán từ chối giao hàng.

Tòa án Trọng tài đã xác định rằng các "điều khoản mềm" trong hai Hợp đồng không đủ cơ sở để cho rằng Bên mua vi phạm hợp đồng và từ chối giao hàng Hành vi vi phạm hợp đồng của Bên bán đã đủ điều kiện để yêu cầu hủy bỏ Hợp đồng Do đó, yêu cầu hủy bỏ Hợp đồng của Bên mua là hợp lý và được chấp nhận, dựa trên các dữ liệu chứng cứ và quy định pháp luật liên quan.

47 China 8 November 2002 CIETAC Arbitration proceeding (Canned asparagus case).

Trong bài viết này, việc không thực hiện nghĩa vụ giao hàng theo quy định trong hợp đồng đã dẫn đến hành vi vi phạm Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ các điều khoản hợp đồng để tránh các tranh chấp pháp lý.

Do đó, Người bán phải chịu trách nhiệm về các tổn thất của Người mua do vi phạm Hợp đồng 48

Qua việc phân tích vụ kiện trên, người viết đưa ra một số bình luận sau:

Người mua đã thể hiện thiện chí đối với Người bán bằng cách cố gắng khắc phục hậu quả bằng cách hợp tác với một Công ty khác để có đủ nguyên liệu Tuy nhiên, Người mua vẫn phải chịu tổn thất dù đã nỗ lực khắc phục Hành động này của Người mua là yếu tố quan trọng khi đưa vụ việc ra Trọng tài giải quyết.

Người bán không nên tự ý ngừng thực hiện hợp đồng trừ khi có lý do bất khả kháng, vì vi phạm này sẽ dẫn đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người mua Trong trường hợp hai bên đã đồng ý thực hiện hợp đồng, việc người bán ngừng thực hiện do giá hàng hóa tăng lên thể hiện sự thiếu thiện chí trong giao kết hợp đồng Hành động này cho thấy người bán quá chú trọng vào lợi nhuận ngắn hạn, dẫn đến việc hợp đồng không được thực hiện là hoàn toàn do lỗi của họ.

Hợp đồng có thể được đàm phán lại nếu Người bán thể hiện thiện chí và chủ động liên lạc với Người mua trước khi mở tín dụng Nếu không, Người bán vẫn có thể thực hiện hợp đồng và sau đó thương thảo về việc tăng giá cho các hợp đồng sau nhằm bù đắp cho khoản lỗ, điều này sẽ tạo điều kiện cho mối quan hệ kinh doanh lâu dài Tuy nhiên, sự thiếu hợp tác của Người bán có thể dẫn đến mâu thuẫn với nguyên tắc thiện chí và trung thực trong thương mại quốc tế, điều này sẽ bất lợi cho Người bán trong quá trình khiếu nại, kiện tụng, đặc biệt khi Tòa trọng tài Trung Quốc áp dụng CISG, nơi nguyên tắc thiện chí là yếu tố quan trọng trong giải quyết tranh chấp.

48 China 8 November 2002 CIETAC Arbitration proceeding (Canned asparagus case).

Source: http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/wais/db/cases2/021108c1.html

2.1.3 Phân tích “nguyên tắc thiện chí” trong vụ kiện số 3:

Tên vụ kiện: Phân phối sản phẩm thời trang giữa Công ty tại Hoa Kỳ và nhà sản xuất là Công ty Ý

Người bán: Hoa kỳ (Nguyên đơn)

Nhà sản xuất: Ý (Bị đơn)

Hàng hóa: Phân phối sản phẩm thời trang

Ngày đăng: 11/07/2021, 17:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. May 2003 thesis on "four corners methodology" by Bruno Zeller [Australia] Sách, tạp chí
Tiêu đề: four corners methodology
2. Use of the Principles of European Contract Law to help interpret CISG article 7 Khác
3. Chronology of development of Article 7 at the 1980 Vienna Diplomatic Conference Khác
4. Comments on Article 7 from seminal 1986 text by Peter Schlechtriem [Germany] Khác
5. Comments on Article 7 by Michael Joachim Bonell [Italy] in 1987 Bianca-Bonell Commentary on the International Sales Law Khác
6. Comments on Article 7 by John O. Honnold [U.S.] in the 3rd ed. (1999) of the most frequently cited text on the CISG: Uniform Law for International Sales Khác
7. Comments on Article 7 in December 2000 text by Joseph Lookofsky [Denmark / U.S.] Khác
8. February 2001 thesis on Article 7 by John Felemegas [Australia] Khác
9. Peter Huber [Germany], excerpt from Some Introductory Remarks on the CISG, Internationales Handelsrecht (December 2006) 229-230, 234-235 Khác
10. Commentarios al Articulo 7 sobre textos de 2001 por Pilar Perales [Espaủa] Khác
12. Paul J. Powers [U.S.], Defining the Indefinable: Good Faith and the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, 18 Journal of Law and Commerce (1999) 333-353 Khác
13. Disa Sim [Singapore], The Scope and Application of Good Faith in the Vienna Convention on Contracts for the International Sale of Goods (September 2001) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm