Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam, với đường bờ biển dài hơn 3200 km và vùng đặc quyền kinh tế trên biển rộng 1 triệu km², có nhiều lợi thế để phát triển ngành công nghiệp thủy sản, đặc biệt là nghề nuôi tôm Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi đã giúp Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất và xuất khẩu tôm hàng đầu khu vực, cùng với Indonesia và Thái Lan Xuất khẩu tôm hiện nay đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, với các loài tôm chủ yếu được nuôi như tôm sú (Peneaus monodon), tôm nương (P orientailis), tôm thẻ chân trắng (P vannamie) và tôm rằn (P semisucatus).
Trong những năm gần đây, tôm thẻ chân trắng đã trở thành đối tượng nuôi phổ biến tại Việt Nam, mang lại hiệu quả kinh tế cao và ít rủi ro Để đảm bảo thành công cho mỗi vụ nuôi, việc cung cấp thức ăn chất lượng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu sinh trưởng của tôm thẻ là điều thiết yếu.
Lý do chọn đề tài này là vì nếu thức ăn không cung cấp đủ protein cho cá, sẽ dẫn đến tình trạng cá chậm lớn, ngừng tăng trưởng hoặc thậm chí giảm trọng lượng Nghiên cứu cho thấy mức tiêu thụ protein có mối liên hệ chặt chẽ với sự thay đổi khối lượng cơ thể động vật Khi cung cấp quá nhiều protein, cơ thể cá không thể hấp thu hết và sẽ chuyển hóa thành năng lượng hoặc thải ra ngoài, gây tốn thêm năng lượng cho quá trình tiêu hóa Điều này dẫn đến sự giảm sinh trưởng của cá Hơn nữa, lượng protein dư thừa trong thức ăn cũng làm tăng chi phí không cần thiết.
Từ vấn đề đã nêu, tôi thực hiện nghiên cứu về “Đánh giá chất lượng các loại nguyên liệu cung cấp protein trong thức ăn cho vật nuôi thủy sản.”
Tình hình nghiên cứu
- Trên thế giới: Tôm thẻ chân trắng nuôi trong mô hình bán thâm canh và biofloc cần cho ăn thức ăn với hàm lượng protein khoảng 33.0 và 30.3%,
Nghiên cứu của Adolfo Jatobá (2014) cho thấy, ở mức protein tối ưu, chỉ tiêu tăng trọng và năng suất tôm đạt cao nhất với chi phí sản xuất thấp nhất Trong chế độ ăn cho thủy sản nuôi, bột cá thường được sử dụng làm nguồn protein chính Tuy nhiên, do giá bột cá ngày càng tăng, bột đậu nành đã trở thành một nguyên liệu phổ biến để thay thế một phần bột cá trong khẩu phần ăn cho cá và tôm (Suárez et al., 2009; Rana et al., 2009; FAO, 2013).
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Anh và cộng sự (2013) cho thấy rằng protein bột cá có khả năng thay thế 30% protein rong mền và 45% protein rong bún trong thức ăn viên cho cá tai tượng (Osphronemus goroamy).
Mục tiêu đề tài
- Đánh giá chất lượng một số loại nguyên liệu cung cấp protein trong khẩu phần ăn của tôm thẻ chân trắng
- Xác định chất lượng và tỉ lệ thay thế của Dabomb-P và Fermented Soy Bean Meal (FSBM) trong khẩu phần của tôm thẻ chân trắng thông qua tăng trưởng.
Nội dung nghiên cứu
- Chất lượng nguyên liệu cung cấp protein (vật lý, hóa học, vi sinh, cảm quan)
- Tỷ lệ thay thế bột cá trong khẩu phần
- Đánh giá khả năng tăng trưởng của tôm thẻ (khả năng tăng trọng và tỷ lệ sống của tôm
- Khả năng thay thế protein bột cá trong khẩu phần
Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích thành phần hóa học trong nguyên liệu, thức ăn chế biến: độ ẩm, protein thô, lipid thô, xơ thô và tro
- Phân tích thành phần acid amin trong các loại thức ăn khảo sát
Phương pháp cân trọng lượng và tính toán tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn, cùng với tỷ lệ hiệu quả sử dụng protein là những yếu tố quan trọng trong việc đánh giá hiệu suất chăn nuôi Việc áp dụng những chỉ số này giúp tối ưu hóa quy trình nuôi trồng, nâng cao năng suất và đảm bảo sức khỏe cho vật nuôi.
- Dữ liệu tính toán và thống kê bằng cách sử dụng phần mềm Statgraphic
Kết quả đạt được của đề tài
- Đánh giá được chất lượng của một số loại nguyên liệu cung cấp protein trong thức ăn tôm thẻ chân trắng
- Xác định được tỷ lệ thay thế protein bột cá thích hợp trong khẩu phần thức ăn
- Kết luận về tăng trưởng của tôm khi thay thế protein bột cá và khả năng thay thế bột cá của các loại nguyên liệu cung cấp protein.
Kết cấu của đồ án tốt nghiệp
Đồ án tốt nghiệp bao gồm 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan (Đặc điểm dinh dưỡng của tôm thẻ, một số nguyên liệu cung cấp Protein)
Chương 2 trình bày về vật liệu và phương pháp nghiên cứu, bao gồm nguyên liệu và vật liệu sử dụng trong nghiên cứu, cùng với các phương pháp xác định chất lượng nguyên liệu và tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả và độ tin cậy của nghiên cứu, từ đó cung cấp những thông tin cần thiết cho việc phát triển ngành nuôi tôm.
- Chương 3: Kết quả và thảo luận (xác định chất lượng nguyên liệu, tỷ lệ thay thế, đánh giá tăng trưởng và khả năng thay thế protein bột cá)
- Chương 4: Kết luận và kiến nghị
TỔNG QUAN
Đặc điểm dinh dưỡng của tôm thẻ chân trắng
1.1 Giới thiệu về tôm thẻ chân trắng
1.1.1 Hệ thống phân loại và hình thái cấu tạo
Hình 1.1: Tôm thẻ chân trắng
Tôm thẻ chân trắng hay còn gọi là White Leg Shrimp, tên khoa học Penaeus vannamie.(Boone, 1931)
Tôm chân trắng, còn được gọi là tôm Bạc, có đặc điểm vỏ mỏng và màu trắng đục Thông thường, chúng có màu xanh lam, trong khi chân bò của chúng có màu trắng ngà, tạo nên tên gọi tôm chân trắng.
Cơ thể chia làm 2 phần: đầu ngực (Caphalotharax) và phần bụng (Abdomen)
Phần đầu ngực có 14 đôi phần phụ bao gồm:
+ Chùy tôm gồm có 2 răng cưa ở phần bụng và 8-9 răng cưa ở lưng Chuỳ là phần kéo dài tiếp với bụng
+ 1 đôi mắt kép có cuống mắt
Tôm thẻ chân trắng, loài bản địa ở Đông Thái Bình Dương từ Mexico đến Bắc Peru, hiện nay chủ yếu được cung cấp từ Ecuador, Mexico và Brazil Loài tôm này đang được nuôi rộng rãi trên toàn thế giới, đặc biệt là tại các quốc gia Đông Nam Á và Đông Á như Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam Tại Việt Nam, tôm thẻ chân trắng chủ yếu được nuôi ở các tỉnh từ Quảng Ninh đến Bình Thuận và Đồng bằng sông Cửu Long, chiếm 94% diện tích nuôi tôm của cả nước.
Tôm chân trắng là loài tôm sống ở vùng biển tự nhiên, thích nghi với môi trường đáy bùn ở độ sâu khoảng 72m Chúng có thể tồn tại trong phạm vi độ mặn từ 5 – 50 ‰, nhưng phát triển tốt nhất ở độ mặn 28 – 34 ‰, với pH từ 7,7 đến 8,3 và nhiệt độ lý tưởng từ 25 – 32 độ C Là loài ăn tạp, tôm chân trắng không yêu cầu thức ăn có hàm lượng đạm cao và có tốc độ sinh trưởng nhanh.
Tôm chân trắng trưởng thành sớm, con cái có khối lượng từ 30 - 45 g/con là có thể tham gia sinh sản
Hoạt động giao phối của tôm thẻ chân trắng diễn ra chủ yếu vào ban đêm trong mùa đẻ trứng, từ tháng 12 đến tháng 4 Lượng trứng trong mỗi vụ đẻ phụ thuộc vào kích thước của tôm mẹ; tôm mẹ có trọng lượng từ 30 đến 45 gram sẽ sản xuất khoảng 100.000 trứng.
250000 trứng, đường kính trứng 0.22 mm
1.2 Nhu cầu dinh dưỡng của tôm thẻ chân trắng
Nhu cầu protein là lượng protein tối thiểu có trong thức ăn nhằm thõa mãn yêu cầu các acid amin để đạt tăng trưởng tối đa (NRC, 1993)
Protein là một thành phần dinh dưỡng thiết yếu trong thức ăn cho tôm, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành mô và cơ quan trong cơ thể, cũng như thực hiện các chức năng như vận chuyển và bảo vệ Nhu cầu protein thô của tôm thẻ chân trắng trong thức ăn dao động từ 30% đến 44%, và tỷ lệ này thay đổi tùy thuộc vào giai đoạn phát triển của tôm.
13 protein cao như tôm sú Theo nghiên cứu của Kureshy and Davis (2002) là 32%
Bảng 1.1 Nhu cầu dinh dưỡng của tôm thẻ chân trắng qua các giai đoạn
Hàm lượng đạm có khả năng tiêu hoá không thấp hơn (%)
Hàm lượng lipid thô không thấp hơn (%)
Hàm lượng xơ thô không cao hơn (%) Độ ẩm không cao hơn (%)
Tôm giai đoạn Zoae đến Mysis 40 6 – 8 3 10
Tôm giai đoạn PL1 đến PL15 40 6 – 8 3 10
Tôm giai đoạn 3 (từ 1 đến 3 gr) 38 5 – 7 4 11
Nguồn: Thông tư số: 73 /2009/TT-BNNPTNT
Giáp xác chứa nhiều enzyme tiêu hóa carbohydrate như amylase, maltase, kitinase và cellulase, giúp chúng tiêu hóa cellulose từ thực vật, rong và tảo Tuy nhiên, thức ăn giàu chất xơ có thể gây hại do hệ thống tiêu hóa ngắn của tôm, dẫn đến thời gian tiêu hóa hạn chế Mặc dù vậy, chất xơ vẫn đóng vai trò quan trọng trong quá trình lên men của vi sinh vật trong ống tiêu hóa, đồng thời cung cấp nước, giúp duy trì dịch ruột và tăng cường hấp thu chất dinh dưỡng.
Chất béo là nguồn dinh dưỡng chính cung cấp năng lượng cho tôm Khi năng lượng trong thức ăn quá thấp, tôm sẽ phải sử dụng protein như một nguồn năng lượng thay thế, dẫn đến tăng chi phí thức ăn Ngược lại, nếu năng lượng trong thức ăn quá cao, khả năng hấp thụ thức ăn sẽ giảm, làm cho lượng protein tiêu hóa không đủ cho sự phát triển của tôm Đặc biệt, hàm lượng lipid trong thức ăn vượt quá 10% có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng và tăng tỷ lệ tử vong ở tôm.
Vitamin là một chất dinh dưỡng thiết yếu đối với tôm thẻ, ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và tỷ lệ sống của chúng Việc cung cấp đủ vitamin là cần thiết để tôm thẻ phát triển khỏe mạnh, và nhu cầu vitamin sẽ thay đổi tùy thuộc vào kích cỡ, tuổi, tốc độ sinh trưởng và từng giai đoạn phát triển Do đó, trong chế độ ăn, cần bổ sung hàm lượng vitamin phù hợp để đáp ứng nhu cầu của tôm thẻ chân trắng.
Vào năm 2010, sản lượng tôm toàn cầu đạt khoảng 2,7 triệu tấn, và con số này tăng lên khoảng 4 triệu tấn vào năm 2012 Các quốc gia nuôi tôm chủ yếu bao gồm Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Brazil, Belize, Việt Nam và Malaysia Dự kiến, sản lượng tôm thẻ chân trắng sẽ đạt khoảng 6 triệu tấn vào năm 2015.
Hình 1.2 Sản lượng tôm thẻ chân trắng trên thế giới
Vào đầu năm 2008, khi thị trường toàn cầu đang gia tăng tiêu thụ tôm chân trắng từ Thái Lan và Trung Quốc, Bộ NN&PTNT Việt Nam đã cho phép nuôi tôm chân trắng Quyết định này nhằm đa dạng hóa sản phẩm thủy sản xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong khu vực cũng như trên thế giới.
Tôm chân trắng đang trở thành đối tượng phát triển quan trọng, với diện tích thả giống tăng 15,5%, đạt khoảng 38,2 nghìn ha và sản lượng thu hoạch tăng 3,2%, đạt 177,8 nghìn tấn Loại tôm này có giá đầu tư thấp, mùa vụ nuôi ngắn, khả năng thích ứng tốt trong điều kiện nuôi mặn, mang lại năng suất cao và kích cỡ phù hợp với nhu cầu thị trường.
16 cầu tiêu thụ của thế giới… là những điều kiện để tôm chân trắng chiếm được vị trí ưu tiên trong nuôi trồng thuỷ sản tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, phong trào nuôi tôm thẻ xuất khẩu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã phát triển mạnh mẽ, đóng góp đáng kể vào nguồn ngoại tệ cho đất nước Ngành tôm thẻ đã trải qua sự tăng trưởng nhanh chóng trong gần một thập kỷ qua, trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành thủy sản Việt Nam Hiện nay, cả nước có khoảng 40.000 ha diện tích nuôi tôm, với ĐBSCL là khu vực trọng điểm Năm 2012, kim ngạch xuất khẩu tôm thẻ chân trắng đạt 609 triệu USD, chiếm hơn 43,7% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản.
%) tổng giá trị xuất khẩu thủy sản
❖ Diện tích và Sản lượng:
Bảng 1.1 Diện tích, sản lượng và năng suất tôm thẻ chân trắng qua các năm
Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Năng suất bình quân
Nguyên liệu cung cấp protein
2.1.1 Một số loại bột cá
Bột cá là nguồn cung cấp protein động vật chất lượng cao, giàu axit amin thiết yếu, khoáng chất và vitamin quan trọng như vitamin B12.
D, E Hiện nay, hàng năm nước ta sản xuất được khoảng 6000 - 9000 tấn bột cá, phần lớn các cơ sở sản xuất bột cá đều tập trung ở các tỉnh phía Nam như: Kiên
Giang, Cà Mau, Vũng Tàu và đã cung cấp cho thị trường nhiều loại bột cá: bột cá
Ba Hòn, Tô Châu, bột cá Đà Nẵng, bột cá Cà Mau, bột cá Minh Hải, bột cá Kiên
Nguồn bột cá trong nước hiện nay chưa đủ cả về chất lượng lẫn số lượng để đáp ứng nhu cầu của ngành chăn nuôi và chế biến thức ăn.
Bảng 1.2 Nguyên liệu một số bột cá trong nước
Bột cá Cà Mau có chứa các thành phần dinh dưỡng đa dạng, với tỷ lệ protein cao nhất là 9,86% và các chỉ số khác như lipid 18,81% và tro 1,59% Bột cá Cà Mau 2 có protein 8,26% và lipid 22,36%, cho thấy sự khác biệt trong thành phần dinh dưỡng Bột cá Cà Mau 5,4 có chỉ số protein 64,70% và lipid 22,12%, thể hiện giá trị dinh dưỡng cao Bột cá Bến Tre đạt 7,03% protein và 29,89% lipid, trong khi Bột cá Tiền Giang có protein 7,68% và lipid 27,56% Bột cá Kiên Giang có protein 8,75% và lipid 23,69%, còn Bột cá Vũng Tàu đạt 8,74% protein và 28,37% lipid Cuối cùng, Bột cá lạt Vĩnh Long có tỷ lệ protein cao nhất là 9,98% nhưng lipid chỉ đạt 39,72%.
Nguồn: Tài liệu nguyên liệu thức ăn thủy sản – viện nghiên cứu thủy sản II
Bảng 1.3 Các chỉ tiêu của nguyên liệu cung cấp protein :
Loại 1 Loại 2 Đạm (%) 60 % Min 55 % Ẩm (%) 8- 10 % Max 10 %
Vi sinh vật gây bệnh Không Không
Nguồn: Tài liệu nguyên liệu thức ăn thủy sản – viện nghiên cứu thủy sản II
Bảng 1.4 Thành phần axit amin của một số loại bột cá
Chỉ tiêu Quảng Bình Cà Mau Malasysia Chilê
*Phân tích tại Viện công nghệ sau thu hoạch (Degussa AG, 1996)
Bảng 1.5 Các đặc tính cảm quan của một số bột cá
Stt Đặc tính cảm quan Lọai bột cá
Màu Mùi Vị Cấu trúc
1 Bột cá Kiên Giang 65% protein
Nâu vàng thơm Hơi mặn
2 Bột cá Kiên Giang 60% protein
Xám đen Thơm nhẹ Hơi mặn
3 Bột cá Kiên Giang 55% protein
Nâu đen Hơi tanh mặn Không đồng đều, tơi
4 Bột cá Vũng Tàu 55% protein
Nâu đen Hơi tanh mặn Không đồng đều, tơi
5 Bột cá Phan Thiết 65% protein
Nâu vàng thơm Hơi mặn
6 Bột cá Malaysia 60% protein nâu đen Thơm nhẹ mặn Tơi, không đồng đều
Vàng nhẹ thơm mặn Mịn, đồng đều
**viện nghiên cứu, nuôi trồng thủy sản II ,2004
Bột gan mực, được sản xuất từ các phụ phẩm trong chế biến mực như gan, lòng, đầu và da mực, hoặc từ những con mực nhỏ không đạt tiêu chuẩn, là nguồn cung cấp protein cao cho thức ăn thủy sản Sản phẩm này có mùi thơm hấp dẫn, thu hút tôm cá Trong sản xuất thức ăn cho tôm, bột nhuyễn thể và bột gan mực thường được sử dụng với tỷ lệ 3-5% để kích thích sự bắt mồi của tôm (Lê Thanh Hùng, 2008).
Trong da và nội tạng của mực có chứa các hợp chất sinh học chưa được xác định, nhưng chúng có khả năng kích thích sự tăng trưởng nhanh chóng của tôm và cải thiện hiệu quả tiêu hóa thức ăn Đây là nguồn nguyên liệu đạm rất tốt cho việc sản xuất thức ăn cho tôm ấu trùng và tôm giống.
Hình 1.6 Bột khô dầu đậu nành
Thường là sản phẩm phụ bả ép còn lại sau khi ép dầu trong công nghiệp sản xuất dầu đậu nành đem nghiền mịn thành khô dầu đậu nành
Khô dầu đậu nành là nguồn đạm thực vật tối ưu, mang lại hiệu quả kinh tế tương đương với protein động vật Sản phẩm này chứa 37% protid, 18% lipid, cùng với nhiều muối khoáng và vitamin, đặc biệt là các vitamin tan trong chất béo.
Thành phần hóa học của khô dầu đậu nành khá ổn định Hàm lượng protein thô phụ thuộc vào chất lượng đậu nành
• Khô dầu đậu nành tách vỏ 48%
• Bã đậu nành nguyên béo 36%
Hàm lượng đạm trong thức ăn thường dao động từ 20-45%, với mức tối đa không nên vượt quá 50% Sử dụng khô dầu đậu nành có thể dẫn đến sự thiếu cân đối các amino acid trong khẩu phần ăn.
Đậu nành là nguồn thực phẩm quan trọng cho tôm, chứa methionine và lysine, giúp giảm khả năng tạo viên của thức ăn Lecithin trong đậu nành kích thích tăng trưởng và tăng tỷ lệ sống của tôm Ngoài ra, đậu nành và bột đậu nành còn giàu các nguyên tố vi lượng như Canxi (Ca), Magie (Mg), Kẽm (Zn) và Đồng (Cu).
Bảng 1.6 Thành phần hóa học bột khô dầu đậu nành
Bảng 1.7 Thành phần hóa học của khô dầu đâu nành, đậu nành nguyên hạt
Nguyên liệu Thành phần hóa học Ẩm Protein Lipid Xơ Tro Ca Phospho
Khô dầu đậu nành 6,46 50,97 0,90 7,08 6,61 0,29 0,66 Đậu nành nguyên hạt 6,14 39,25 16,17 9,14 5,16 0,24 0,61
Chú thích :Nguồn Tài liệu về nguyên liệu thức ăn thủy sản – Viện nghiên cứu thủy sản II
Bảng 1.8.Thành phần dinh dưỡng của một số nguồn protein thực vật.[12]
Thành phần Bánh dầu đậu nành
2.2.2 Nguyên liệu bã đậu nành lên men
Hình 1.7 Fermented Soy Bean Meal
Bột đậu nành lên men (FSBM) là sản phẩm thủy phân từ đậu nành khử chất béo, được lên men bởi Bacillus subtilis với mật độ 1 tỷ cfu/g Sản phẩm này đóng vai trò như probiotic, giúp tăng cường khả năng phân hủy và hấp thu thức ăn, từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh chóng ở vật nuôi, đặc biệt là tôm.
Bảng 1.9 Thành phần của FSBM Đạm thô (%) Ẩm (%) Tro(%) Lipid thô (%) Xơ (%)
Nguồn : http://www.cjingrediet.com/product/soytide.asp
Nguyên liệu này không chỉ chứa hàm lượng đạm thô cao (trên 55%) có thể thay thế một phần protein động vật như bột cá, mà còn giàu acid amin như Arginine, Histidine, Isoleucine, và Methionine Probiotic trong nguyên liệu giúp duy trì cân bằng hệ vi sinh vật trong đường ruột, củng cố số lượng vi khuẩn có lợi và giảm vi khuẩn gây bệnh, từ đó tăng khả năng chống lại bệnh do vi khuẩn, virus và ký sinh trùng ở các loài thủy sản Việc tăng cường vi khuẩn có lợi trong đường ruột cải thiện quá trình tiêu hóa dinh dưỡng và năng lượng, kích thích sự phát triển của tôm thẻ tốt hơn.
DaBomb-P là sản phẩm thủy phân từ 100% đậu nành, được chế biến lên men bởi lactobacillus thuần chủng, giúp cải thiện khả năng tiêu hóa Với khả năng hòa tan protein cao, Dabomb cho thấy hiệu quả tiêu hóa tốt trong ruột non Các polypeptide và amino acid tự do trong sản phẩm kích thích vị giác, trong khi hương vị độc đáo từ peptide, acid amin, lactic acid, galactose và fructose làm tăng sự thèm ăn cho chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản Liên kết peptit mạnh mẽ trong Dabomb hỗ trợ việc ép viên thức ăn, đặc biệt cho tôm, cải thiện độ ổn định viên trong nước và tạo phức với khoáng chất vi lượng, giúp hấp thụ khoáng chất trước khi vào ruột, đảm bảo sức khỏe tốt cho tôm.
Dabomb-P là sản phẩm chế biến từ đậu nành, được sản xuất bởi công ty Suchiang Đài Loan Đây là nguyên liệu protein thực vật, được sử dụng để thay thế protein bột cá, mang lại lợi ích dinh dưỡng cho các sản phẩm thực phẩm.
Bột cá là một giải pháp hiệu quả giúp giảm chi phí sản xuất thức ăn cho tôm và hạn chế việc khai thác nguồn thủy sản Sản phẩm Dabomb-P cung cấp 50% protein cùng với các acid amin thiết yếu, đặc biệt là lysine và methionine, góp phần nâng cao chất lượng dinh dưỡng cho tôm.
- Trong sản phẩm các chất ức chế enzym trypsin được loại trừ ở mức tối đa nhờ quy trình sản xuất đặc biệt
Dabomb-P là nguồn đạm thực vật chất lượng cao, chứa hơn 95% các acid amin dễ tiêu hóa, không chứa histamine, gizzarosin, chất phi protein hay độc tố vi sinh vật.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian và địa điểm
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 11 năm 2014
Một số cơ sở lớn được sử dụng để làm các nghiên cứu, bao gồm cả các:
- nghiên cứu thực nghiệm- trung tâm công nghệ sau thu, nằm tại 139/1552 Lê Đức Thọ, Phường 13, Quận Gò Vấp, TP HCM
- Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II, tọa lạc tại 116 Nguyễn Đình Chiểu, Quận
Thiết bị và vật liệu nghiên cứu
- Máy phân tích xơ bán tự động
- Thiết bị sấy chân không
Có 21 bể kính với dung tích 150 lít được đánh số, mỗi bể có khả năng chứa 70 lít nước Điều kiện môi trường trong các bể này được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo sự sinh trưởng bình thường của đối tượng thí nghiệm Mỗi bể thí nghiệm được trang bị hệ thống lọc tuần hoàn.
- 2 bể composite 1000 L (1 bể chứa nước biển và 1 bể pha nước biển)
- Hệ thống ánh sáng duy trì 12 giờ/ngày
Gồm 4 nguyên liệu Dabomb, FSBM, Bột cá Chile, Bột cá Vietnam thể hiển bảng 2.1
Bảng 2.1 Nguyên liệu dùng trong thí nghiệm
1 Dabomb-P - Màu sắc : Màu vàng nhạt, hay trắng mịn
- Mùi : Đặc trưng của đậu nành
- Cấu trúc : Mịn, khi chà các hạt bột có độ rít
- Cấu trúc : mịn, đồng đều
3 Fish meal, Peru - Màu : Vàng nhẹ
- Cấu trúc : Mịn, đồng đều
4 Bột cá Vietnam - Màu : Xám đen
Minh Tam, Kien Giang, Vietnam
Tôm thẻ chân trắng được chọn có khối lượng từ 4,63 đến 4,91 g, đảm bảo kích cỡ đồng đều và màu trắng trong đặc trưng Những con tôm này có ngoại hình đẹp, các phụ bộ nguyên vẹn và không bị xay xát, phù hợp cho việc tiến hành thí nghiệm.
Bảng 2.2 Nguồn gốc, xuất xứ các nguyên liệu và phụ gia trong thức ăn
STT Nguyên liệu, phụ gia Đặc tính Xuất xứ
1 Bột gan mực - Màu sắc : Nâu đậm
- Mùi : mùi thơm của mực
- Cấu trúc : Mềm , vón cục nhỏ
Korea Oil and Fats Co., Ltd, Hàn Quốc
- Mùi : thơm đặc trưng của sản phẩm
- Cấu trúc : Mịn, có lẫn tạp chất nhỏ
Bungee Co., Ltd,, Việt Nam
3 Bột gluten - Màu sắc : trắng sữa
- Cấu trúc : mịn, đồng đều
Bột Gluten: Vital Wheat Gluten, Roquette, Pháp
4 Bột mỳ - Màu sắc : Trắng Uniflour, Uni President
- Cấu trúc: mềm, mịn, đồng nhất
Vietnam Co., Ltd Việt Nam
5 Mono Ca-P - Màu sắc : trắng ngà
- Cấu trúc : Dạng bột mịn
Yunnan Xinlong Mineral Animal Feed Co., Ltd Trung Quốc
- Cấu trúc : Mềm, vón cục nhỏ
Growmix Shrimp, Bayer Agritech Vietnam Co., Ltd
7 Dầu cá - Màu sắc : Vàng nhạt, trong
- Cấu trúc : Lỏng sệt, sánh
Chilean Stabilized Salmon Fishoil, Pesquera Pacific Star S.A, Chile
8 Lecithin - Màu sắc : Nâu vàng , trong
- Mùi : Thơm mùi đặc trưng của sản phẩm
- Cấu trúc : Lỏng sệt, hơi quánh , sánh
Soy Lecithin AGD, Aceitera General Deheza, Argentina
9 Cholesterol - Màu sắc : Màu vàng nhạt
- Cấu trúc : Dạng bột mềm, hạt có kích thước khá lớn
Cholesterol SF, Dishman, Hà Lan
- Cấu trúc : Dạng bột mềm, mịn
11 Methionine - Màu sắc : trắng ngà
- Cấu trúc : Dạng bột mềm, mịn
- Cấu trỳc : Dạng hạt ( ỉ 1mm )
Choline Chloride 60% Corn Cob, Be-Long Co., Ltd, Trung Quốc
13 Chống mốc - Màu sắc : Trắng
- Cấu trúc : Dạng bột mịn
- Cấu trúc : Dạng bột mịn
2.45 Thức ăn cho thí nghiệm
Bảng 2.3 Công thức thức ăn của 7 nghiệm thức thí nghiệm
Nguyên liệu Cơ bản FSBM
FSBM 0.00 5.08 10.15 15.21 0.00 0.00 0.00 Dabom-B 0.00 0.00 0.00 0.00 5.36 10.73 16.10 Bột mực 5.00 5.00 5.00 5.00 5.00 5.00 5.00 Khô dầu đậu nành 47%
Bột gluten 4.00 4.13 4.26 4.40 4.17 4.35 4.52 Bột mì 26.00 24.94 23.88 22.83 24.62 23.21 21.82 Mono Na-P 0.30 0.30 0.30 0.30 0.30 0.30 0.30 Vitamin bổ sung khoáng
Dầu cá 2.00 2.35 2.71 3.06 2.35 2.71 3.06 Lecithin 1.00 1.00 1.00 1.00 1.00 1.00 1.00 Cholesterol 0.10 0.10 0.10 0.10 0.10 0.10 0.10 Lysine(Lys) 0.10 0.10 0.10 0.10 0.10 0.10 0.10 Methionine(Met) 0.30 0.30 0.30 0.30 0.30 0.30 0.30
2.5.2 Quy trình phối trộn chế biến thức ăn
Các nguyên liệu thô được xay mịn và rây qua rây 0,5mm trước khi phối trộn Đầu tiên, cân các nguyên liệu khô như bột cá, bột mực, bột đậu nành, bột gluten, bột mì, dicalcium phosphate (CaHPO4), trộn khoáng/vitamin, cholesterol, methionine, lysine, choline chloride, stay C, chất chống mốc và chống oxi hóa Sau đó, lắc và trộn đều các nguyên liệu trong khoảng 10 phút, rồi xay lại hỗn hợp để đảm bảo độ đồng nhất.
Trước khi thêm lecithin và dầu gan mực, cần cho 36 g bột mịn và trộn thêm 5 phút Tiếp theo, thêm khoảng 30% nước cất, nhào và trộn đều, sau đó hấp trong 30 phút Sau khi hấp, từ từ cho thêm 25% nước cất đã đun sôi, trộn đều và nhồi cho đến khi hỗn hợp đặc lại; nén thành từng cục Sử dụng máy xay thịt TJ12-B để ép viên thức ăn với mặt sàng 2 mm, thực hiện ép 02 lần Sau đó, sấy khô ở 60°C trong 24 giờ, kiểm tra độ ẩm, nếu dưới 10% là đạt yêu cầu Cuối cùng, cắt thức ăn thành viên khoảng 5mm và bảo quản ở -20°C cho đến khi sử dụng Các sản phẩm sau khi sản xuất phải đạt tiêu chuẩn cảm quan theo TCVN 10325:2014 cho tôm thẻ chân trắng.
Bảng 2.4 .Tiêu chuẩn về cảm quan thức ăn cho tôm thẻ chân trắng
STT Chỉ tiêu Yêu cầu
- Đối với thức ăn dạng viên: có hình trụ, bề mặt mịn, kích cỡ đáp ứng từng số liệu của thức ăn quy định trong bảng 2.5
2 Màu sắc Nâu vàng đến nâu
3 Mùi Có mùi đặc biệt của nguyên liệu
Nguồn: TCVN 10325:2014- Tổng cục Thủy Sản Việt Nam
Bảng 2.5 Tiêu chuẩn lý hóa của thức ăn cho tôm thẻ chân trắng
Chỉ tiêu Loại thức ăn
-Đường kính viên (mm) không lớn hơn 1.8 2.2 2.5
-Tỉ lệ chiều dài so với đường kính viên 1.5 – 2.0
2.Độ ẩm (%), không lớn hơn 11 11 11
3.Hàm lượng protein thô, % không nhỏ hơn
4.Hàm lượng lipid thô, %, trong khoảng 4 - 6 4 – 6 4 - 6
5.Hàm lượng xơ thô, %, không lớn hơn 4 4 4
6.Độ bền trong nước(thời gian quan sát kể từ khi cho thức ăn vào nước), giờ, trong khoảng
7.Hàm lượng lysin, %, không nhỏ hơn 1.6 1.5 1.5
8 Hàm lượng methionin, %, không nhỏ hơn
9 Hàm lượng tro thô, % , không lớn hơn 15 16 16
Nguồn: TCVN 10325:2014- Tổng cục Thủy Sản Việt Nam
Tôm được thuần hóa ở độ mặn thấp (5 ‰), sau khi tôm đạt trọng lượng 4.63 – 4.9g/ con thì tiến hành thí nghiệm
Thí nghiệm tỉ lệ bột cá thay thế trong khẩu phần
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn với 7 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Trong đó :
- NT 1 : Khẩu phần thức ăn thương mại (TM) được sử dụng phổ biến trên thị trường được xem là nghiệm thức đối chứng dương T1
- NT 2 : FSBM đang nghiên cứu mã số T2 với hàm lượng 15 %
- NT 3 : FSBM đang nghiên cứu mã số T3 với hàm lượng 30 %
- NT 4 : FSBM đang nghiên cứu mã số T4 với hàm lượng 45 %
- NT 5 : Dabomb-P đang nghiên cứu mã số T5 với hàm lượng 15 %
- NT 6 : Dabomb-P đang nghiên cứu mã số T6 với hàm lượng 30 %
- NT 7 : Dabomb-P đang nghiên cứu mã số T7 với hàm lượng 45 %
- Ngoài ra tôm còn được nuôi trên bể compsite 1000 L ở độ mặn 5 ‰ để đánh giá ảnh hưởng của độ mặn cao lân tôm so với các công thức thí nghiệm
Thí nghiệm được thực hiện trong các bể kính, mỗi bể được trang bị hệ thống lọc nước riêng biệt và chế độ sục khí liên tục 24 giờ mỗi ngày Mật độ cá thả là 30 con mỗi bể, và quá trình thí nghiệm kéo dài liên tục trong 12 tuần.
Bảng 2.6 Thí nghiệm tăng trưởng
1 T1 Cơ bản 1 Khẩu phần đối chứng
2 T2 FSBM15 Thay thế 15% FM với FSBM
3 T3 FSBM30 Thay thế 30% FM với FSBM
4 T4 FSBM45 Thay thế 45% FM với FSBM
5 T5 Dabom15 Thay thế 15% FM với Dabomb-P
6 T6 Dabom30 Thay thế 30% FM với Dabomb-P
7 T7 Dabom45 Thay thế 45% FM với Dabomb-P
Hình 2.1 : Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Tôm được cho ăn bốn lần trong ngày vào các khung giờ 9 AM, 11 AM, 2 PM và 4 PM, với lượng ăn tối đa Trong tuần đầu tiên, lượng thức ăn được cung cấp là 15% trọng lượng thân, chia thành bốn lần, mỗi lần lại chia làm hai phần: 50% rải vào giữa bể và 50% quanh thành bể Sau 2 giờ, cần kiểm tra lượng thức ăn thừa; nếu thức ăn vừa hết hoặc thừa ít, giữ nguyên lượng ăn cũ Nếu còn thừa nhiều, giảm 10-20%, và nếu hết trước thời gian quy định, tăng thêm 10% cho lần cho ăn kế tiếp Cần theo dõi và ghi nhận lượng ăn hàng ngày để điều chỉnh phù hợp.
Thức ăn chế biến trong phòng thí nghiệm
Phân tích thành phần dinh dưỡng
- Xác định tốc độ tăng trưởng đặc trưng (SGR
- Xác định tỷ lệ sống (SR (%))
- Xác định hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR)
Nuôi tôm thẻ để đánh giá tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn (cân trước khi tiến hành thí nghiệm)
Xác định tăng trọng, tỷ lệ sống, hiệu quả sử dụng thức ăn, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn
Kết luận chất lượng,và khả năng thay thế protein bột cá
Nguyên liệu sử dụng chế biến thức ăn
Để có kết quả chính xác hơn, hãy kiểm tra định kỳ lượng thức ăn thừa ở đáy bể bằng phương pháp siphon Khi cho cá ăn, nên tắt hệ thống lọc trong vòng 1 giờ.
Trong quá trình thí nghiệm theo dõi tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm, việc cân và đếm số lượng tôm được thực hiện vào đầu và cuối thí nghiệm Các thông số môi trường như DO, pH và nhiệt độ được ghi nhận hàng ngày bằng máy đo điện tử HANA, trong khi độ mặn được kiểm tra bằng khúc xạ kế.
Kết thúc thí nghiệm, các thông số môi trường nuôi, ion kim loại, tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ sống đã được tổng hợp bằng phần mềm Excel Sau đó, phần mềm Stagraphic được sử dụng để thiết lập bảng ANOVA, nhằm so sánh sự khác biệt thống kê giữa các số liệu trung bình của nghiệm thức với mức độ tin cậy 95%.
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thực nghiệm
Hình 2.3 Bố trí thí nghiệm
2.7.1 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu cơ bản
❖ Xác định độ ẩm (Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4295 – 86)
Nguyên tắc của phương pháp này là sử dụng sức nóng để làm bay hơi toàn bộ nước có trong mẫu Bằng cách cân trọng lượng mẫu trước và sau khi sấy khô, chúng ta có thể tính toán được phần trăm nước có trong mẫu một cách chính xác.
❖ Xác định hàm lượng tro (Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4295 – 86)
• Nguyên tắc : Dùng sức nóng loại bỏ hết cất hữu cơ trong mẫu Cân trọng lượng trước và sau khi nung, từ đó tính phần trăm tro của mẫu
❖ Xác định hàm lượng protein thô (Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3705-
Chất hữu cơ được phân hủy bằng acid sulfuric với sự có mặt của các chất xúc tác Sau khi phản ứng, sản phẩm được kiềm hóa, chưng cất và chuẩn độ lượng amoniac giải phóng Từ đó, tính hàm lượng Nitơ và nhân với hệ số quy ước để xác định hàm lượng protein thô.
❖ Xác định hàm lượng acid amin (Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8764:2012)
• Nguyên tắc: Protein tinh khiết bị thủy phân bằng HCl 6N ở 110 o C trong 24h (80-95% protein bị thủy phân) hoặc 150 o C trong 1 giờ
❖ Xác định hàm lượng lipid ( Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8103-2009)
• Nguyên tắc : Mẫu được chiết xuất bằng ether dầu hỏa ở nhiệt độ từ 30 – 60
% Loại bỏ dung môi bằng cách chưng cất và làm khô Đem cân phần thu được
❖ Xác định hàm lượng xơ thô (Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4329 –
Nguyên tắc xử lý mẫu thử bao gồm việc sử dụng acid sulfuric loãng sôi để tách cặn, sau đó thực hiện lọc, rửa, sấy khô và cân Tiếp theo, cặn được xử lý bằng dung dịch kali hydroxit loãng sôi trước khi tro hóa Khối lượng hao hụt từ quá trình tro hóa sẽ tương ứng với khối lượng xơ thô có trong mẫu thử.
2.7.2 Phương pháp đánh giá tăng trưởng.(Trần Thị Thanh Hiền,
Phương pháp đánh giá tăng trưởng của tôm ta dùng phương pháp thủ công thông qua cân nặng của tôm giai đoạn thu hoạch so với giai đoạn đầu
Trong đó: W1, W2: khối lượng cá lúc bắt đầu và kết thúc thí nghiệm
- Tốc độ tăng trưởng đặc trưng SGR (Specific growth rate) x 100
- Hiệu quả sử dụng PER (Protein efficiency ratio)
- Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR)
2.8 Phương pháp xử lý số liệu
Dữ liệu được trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn (SD) Tất cả các số liệu đã được phân tích bằng phương pháp ANOVA một nhân tố Sự khác biệt giữa các nghiệm thức được so sánh thông qua ANOVA trên phần mềm Stagraphic.
Sự sai khác có ý nghĩa được xem xét khi P < 0,05.