1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Người phụ nữ việt trong văn hóa miền tây nam bộ (qua tư liệu ca dao)

427 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Người Phụ Nữ Việt Trong Văn Hóa Miền Tây Nam Bộ (Qua Tư Liệu Ca Dao)
Tác giả Phan Thị Kim Anh
Người hướng dẫn PGS.TSKH Bùi Mạnh Nhị
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 427
Dung lượng 4,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • luan an.pdf

    • 2 Bìa trong LA_ 210x297mm

    • loi cam doan

    • MỤC LỤC sua ngay 1 thang 4

    • BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT

    • LA Ban sua ngay 1 thang 4 nam 2019 sua lan 2

  • Phụ Lục Luận Án.pdf

    • Bìa trong PL LA_ 210x297mm

    • MỤC LỤC cua Phu Lucok

    • 1 KHAO SAT CHUNG

    • 2 NPNV trong quan he voi gia đinh xa hôi

    • 3 Nguoi PN voi moi truong tu nhien

    • 4 NPN voi tam linh

Nội dung

Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Các công trình nghiên cứu về giới trong mối quan hệ với văn hóa

Nghiên cứu về giới có nhiều công trình tiêu biểu, trong đó nổi bật là tác phẩm "Tâm lý học xuyên văn hóa" của Knud S Larsen và Lê Văn Hảo (2015) Các tác giả đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của văn hóa trong việc hình thành và quy định các khuôn mẫu, giá trị về giới Họ cho rằng quan niệm chung về giới bắt nguồn từ những khác biệt sinh học giữa nam và nữ, mặc dù những khác biệt này có ý nghĩa quan trọng.

3 nhƣng những định khuôn và giá trị mà chúng ta gán cho nam hay nữ phần lớn đƣợc quy định bởi văn hóa” (Knud S Larsen & Lê Văn Hảo, 2015, tr.367)

Báo cáo của UNESCO về "Di sản văn hóa phi vật thể và giới" nhấn mạnh rằng con người học hỏi về vai trò giới từ khi còn nhỏ, nhưng những vai trò này không cố định Di sản văn hóa phi vật thể đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành, phổ biến và chuyển đổi các giá trị liên quan đến giới Việc tiếp cận và tham gia vào các biểu đạt di sản này thường bị ảnh hưởng bởi giới tính, ví dụ như nghề thủ công truyền thống thường liên quan đến sự phân công lao động theo vai trò giới Các tập quán xã hội và lễ hội có thể giúp giải quyết định kiến xã hội, bao gồm cả vấn đề về bất bình đẳng giới Trong các lễ hội như carnival, việc vượt qua vai trò giới tạo ra không gian nâng cao nhận thức và thách thức các chuẩn mực giới Mối quan hệ giữa các chuẩn mực giới và di sản văn hóa phi vật thể là tương hỗ, khi di sản cũng ảnh hưởng đến việc hình thành các chuẩn mực này.

Gần đây, vấn đề giới tính đã thu hút sự chú ý của các nhà ngôn ngữ học xã hội Trong tác phẩm "Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản" (1999), Nguyễn Văn Khang nhấn mạnh rằng các nhà nghiên cứu phong cách ngôn ngữ thường tập trung vào khảo sát "phong cách nữ tính" hay ngôn ngữ nữ tính Việc phân tích sự khác biệt giới tính trong ngôn ngữ luôn gắn liền với ngữ cảnh giao tiếp Theo đó, các yếu tố như nghề nghiệp, trình độ văn hóa, tuổi tác, tính cách và mục đích của người sử dụng ngôn ngữ đều có thể tác động đến phong cách nói của họ.

Bài viết “Đặc điểm văn hóa - giới tính thông qua tục ngữ Việt” của Đỗ Thị Kim Liên (2017) đã tiến hành khảo sát và khái quát sâu sắc về văn hóa giới tính được thể hiện qua tục ngữ, một thể loại văn học dân gian đặc trưng Tác giả đã chỉ ra những biểu hiện rõ nét của văn hóa giới tính trong các câu tục ngữ, từ đó làm nổi bật vai trò của chúng trong việc phản ánh và xây dựng nhận thức xã hội về giới tính.

Trong tập Kho tàng ca dao người Việt, có 16.311 phát ngôn tục ngữ, trong đó 1.124 phát ngôn (14,51%) liên quan đến giới tính, với 536 phát ngôn về nữ giới và 585 về nam giới Những phát ngôn này phản ánh văn hóa - giới tính của người Việt từ sớm, đồng thời thể hiện cách nhìn nhận về mối quan hệ nam nữ trong xã hội Bài báo này phân tích và lý giải văn hóa - giới tính trong tục ngữ Việt qua các khía cạnh như hình thức, thiên chức, trách nhiệm, quan niệm nghề nghiệp và phong tục tập quán liên quan đến nam và nữ.

Theo Trần Xuân Điệp, trong tiếng Việt, có hiện tượng ngôn ngữ thể hiện thái độ kỳ thị giới tính, bao gồm việc dán nhãn phụ nữ đã có chồng hoặc độc thân nhằm phục vụ mục đích phân biệt giới Ví dụ, việc sử dụng từ "bà" để chỉ "vợ của " như trong cụm "bà Duy" thể hiện sự phân biệt này Hơn nữa, trong nhiều ngôn ngữ, sự kỳ thị giới tính còn được thể hiện qua việc sử dụng không đồng đều các chức danh nghề nghiệp, điều này góp phần vào sự bất bình đẳng trong xã hội (Dẫn theo Đỗ Thị Kim Liên, 2017).

Hướng nghiên cứu về giới trong văn học Việt Nam đã thu hút sự quan tâm trong nhiều năm qua, với sự kiện nổi bật là hội thảo về giới trong văn học và ngôn ngữ do Khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức vào ngày 04/05/2009, đánh dấu khởi đầu cho nhiều hoạt động học thuật liên quan đến chủ đề này Một trong những công trình tiêu biểu là bài viết của Nguyễn Đăng Điệp, "Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại", trong đó tác giả đã sử dụng hai bài ca dao để làm rõ quan điểm của mình.

Trong văn hóa dân gian Việt Nam, hình ảnh người đàn ông luôn gắn liền với vai trò chinh phục, thể hiện qua những câu hỏi tinh tế hay thẳng thắn về tình cảm Sự chủ động này không chỉ được công nhận mà còn được thể hiện một cách tự tin, như trong hình ảnh ánh trăng sáng Bài thơ mô tả sinh thực khí của đàn ông như một cây cung, trong khi hình ảnh vịt trời đại diện cho nữ giới, cho thấy sự đối kháng trong mối quan hệ Tư thế mạnh mẽ của người đàn ông không chỉ thể hiện uy thế mà còn khẳng định vị trí của mình trong thế giới tình yêu.

Bài viết chỉ phản ánh một khía cạnh trong quan điểm của tác giả về vấn đề phái tính qua hai bài ca dao cụ thể, không thể khái quát toàn bộ tinh thần ca dao Việt Nam, vốn được coi là tâm hồn của người Việt Tuy nhiên, cách đặt vấn đề và dẫn chứng của Nguyễn Đăng Điệp lại rất thuyết phục.

Nhìn nhận vấn đề giới trong văn học sau đổi mới, Đoàn Ánh Dương trong bài

Bài viết "Trải nghiệm về giới sau đổi mới nhìn từ văn học nữ" đã chỉ ra rằng văn học nữ hiện đại phản ánh những cảm nhận độc đáo về giới và tính dục, điều mà văn học nam giới khó có thể thể hiện Mặc dù có sự phát triển tích cực trong văn học nữ liên quan đến các vấn đề giới, Đoàn Ánh Dương cũng thừa nhận rằng văn học nữ Việt Nam hiện nay vẫn chủ yếu tìm kiếm sự hài hòa hơn là chống lại "sự thống trị của đàn ông".

Trong nghiên cứu "Diễn ngôn tính dục trong văn xuôi hư cấu Việt Nam (từ đầu thế kỷ XX đến 1945)", Trần Văn Toàn đã tiến hành khảo sát sâu rộng về các vấn đề chính như: (1) Chủ thể của diễn ngôn tính dục trong văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX đến 1945; (2) Sự quyến rũ nhục dục - chuyển biến từ diễn ngôn đạo đức sang diễn ngôn khoa học về tính dục; (3) Sự chuyển mình từ diễn ngôn về cái tôi cá nhân đến thiên tính tự nhiên trong tính dục.

Diễn ngôn giai cấp về tính dục được đề cập trong tác phẩm của Nam Cao, đặc biệt trong truyện ngắn Chí Phèo, nơi tác giả Trần Văn Toàn (2015) khởi xướng cuộc thảo luận về phái tính và nữ quyền luận.

Dù có nhiều cách gọi khác nhau, vấn đề giới và ứng xử về giới trong văn học đã được các tác giả khai thác từ nhiều góc độ như phái tính, nữ quyền và tính dục Những tác phẩm này không chỉ phản ánh thực tại cuộc sống mà còn cho thấy sự quan tâm ngày càng tăng của xã hội đối với vấn đề giới và văn hóa giới trong bối cảnh hiện đại.

Nghiên cứu về giới đã sản sinh ra nhiều công trình quan trọng, tất cả đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu giới và mối quan hệ giữa văn hóa và giới Những công trình này chỉ ra các biểu hiện chung và riêng của mối quan hệ này trong các lĩnh vực cụ thể, cung cấp những gợi ý quý giá cho luận án của chúng tôi.

Nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện về vùng đất Nam Bộ và văn hóa miền Tây Nam Bộ Trong tác phẩm "Khu vực Nam Bộ và tình hình nghiên cứu khoa học Xã hội và Nhân văn Nam Bộ" (2007), Trần Ngọc Thêm đã phác thảo bức tranh tổng thể về lĩnh vực này Bài viết này sẽ bổ sung và nhấn mạnh một số công trình nghiên cứu quan trọng khác liên quan đến vùng đất và văn hóa miền Tây Nam Bộ.

Kỷ yếu Hội thảo khoa học toàn quốc Mấy đặc điểm văn hoá đồng bằng sông

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về "Người phụ nữ Việt trong văn hóa miền Tây Nam Bộ" thông qua thể loại văn học dân gian tiêu biểu nhằm khám phá những đặc điểm tính cách và văn hóa đặc thù của con người, đặc biệt là phụ nữ ở vùng đất này Luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về người phụ nữ miền Tây Nam Bộ mà còn đặt họ trong mối tương quan với các vùng miền khác của Tổ quốc Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong văn hóa miền Tây Nam Bộ, sử dụng ca dao Nam Bộ làm tư liệu khảo sát.

Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào ca dao người Việt, được thu thập từ 12 tỉnh và 1 thành phố thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Tài liệu khảo sát chủ yếu được lấy từ các bộ sưu tập ca dao nổi bật như: "Ca dao dân ca Nam Bộ" của Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh & Bùi Mạnh Nhị; "Văn học dân gian Bạc Liêu" do Chu Xuân Diên chủ biên; "Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long" của Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Cần Thơ; "Ca dao, dân ca Châu Đốc, An Giang" của Nguyễn Vạn Niên; và "Ca dao Đồng Tháp Mười" của Đỗ Văn.

Tân (Chủ biên) đã biên soạn tác phẩm "Ca dao, hò, vè Vĩnh Long" dưới sự chỉ đạo của Sở Văn hóa - Thông tin Vĩnh Long Luận án này không chỉ dựa vào tài liệu khảo sát mà còn khai thác một số bài ca dao từ các website, đặc biệt là từ trang http://e-cadao.com.

Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, luận án sử dụng phương pháp cấu trúc - hệ thống và hướng tiếp cận liên ngành là chủ yếu

Phương pháp cấu trúc - hệ thống giúp nhìn nhận đối tượng nghiên cứu như một chỉnh thể văn hóa, nơi mà các yếu tố tương tác chặt chẽ, chi phối và quy định lẫn nhau.

Trong luận án, phương pháp Văn hoá học được xác định là trọng tâm trong hướng tiếp cận liên ngành, kết hợp với các phương pháp phân tích văn bản Văn học, Folklore học, Mỹ học, và Dân tộc học/ Nhân học Nghiên cứu hình ảnh người phụ nữ Việt ở Tây Nam Bộ từ góc nhìn giới giúp xem xét đối tượng trong mối liên hệ loại hình Cách tiếp cận này được áp dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu để khám phá văn hóa người phụ nữ Việt ở miền Tây Nam Bộ trong bối cảnh văn hóa Việt Nam nói chung.

Ca dao và dân ca, cùng với văn học dân gian, có đặc trưng nguyên hợp, phản ánh chân thực đời sống và tâm tư của con người Chúng không chỉ là hình thức nghệ thuật mà còn là phương tiện lưu giữ văn hóa và truyền thống dân tộc.

Hình tượng người phụ nữ trong ca dao không chỉ phản ánh đặc trưng văn học mà còn mang tính lịch sử, hiện thực và chứa đựng tri thức văn hóa phong tục, tín ngưỡng Việc phân tích ca dao về người phụ nữ giúp khám phá tâm thức, cách ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội, từ đó nhận diện tính cách đặc trưng Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu chính là người phụ nữ Tây Nam Bộ, không phải ca dao Nghiên cứu này chấp nhận sự khúc xạ của quy luật sáng tạo văn học và tính hình tượng cùng những ẩn dụ trong nghệ thuật ngôn từ, khác với các khảo sát mô tả người phụ nữ trong đời sống thực tế.

Luận án áp dụng các phương pháp thống kê và phân loại để nhóm ca dao theo chủ đề và nội dung nghiên cứu Đồng thời, phương pháp so sánh được sử dụng nhằm khám phá những điểm tương đồng và khác biệt của hình ảnh người phụ nữ trong văn hóa miền Tây Nam Bộ so với các vùng miền khác trong cả nước.

Các thao tác diễn dịch và quy nạp giúp giải thích và kết luận các hiện tượng, kết hợp với phân tích và tổng hợp để rút ra những đặc điểm quy luật của ca dao về người phụ nữ TNB.

Luận án nghiên cứu cho rằng ca dao Nam Bộ, đặc biệt là trong vùng Trà Ninh Bến Tre, là nguồn tư liệu phong phú phản ánh hình ảnh người dân Việt Nam tại đây Qua ca dao, các đặc trưng về tâm lý, tình cảm, cùng với cách ứng xử của người dân đối với môi trường tự nhiên, xã hội và tâm linh được thể hiện một cách chân thực và sinh động.

Đóng góp mới của luận án

Luận án khẳng định tính khả dụng của nghiên cứu văn hóa văn học trong folklore, đặc biệt là thơ ca trữ tình dân gian, và mối quan hệ giữa văn hóa và văn học qua ca dao Ca dao người Việt TNB thể hiện sự gắn bó chặt chẽ với văn hóa dân tộc, phản ánh tinh hoa văn hóa người Việt NB Luận án cũng đóng góp vào nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên và học viên sau đại học.

Bài viết này khám phá hai khía cạnh lịch sử về người phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là những đặc trưng văn hóa của phụ nữ Tây Nam Bộ Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu hệ thống ca dao như một sản phẩm sáng tạo của chính chủ thể, nhằm làm rõ những nét riêng của người phụ nữ Việt Nam, từ đó cung cấp cái nhìn cụ thể hơn về đặc điểm chung của phụ nữ trong vùng TNB.

Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án bao gồm 4 chương:

Chương một của bài viết tập trung vào cơ sở lý luận và thực tiễn, khám phá mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, văn hóa vùng, cũng như giới và văn hóa giới Đặc biệt, nội dung chương này phân tích hình ảnh người phụ nữ Việt trong ca dao qua lăng kính giới và sự phân biệt giới.

Chương hai của bài viết khám phá mối quan hệ giữa người phụ nữ Việt Nam ở Tây Nam Bộ với môi trường tự nhiên Nội dung chương này tập trung vào hai vấn đề chính: nhận thức và ứng xử của người phụ nữ Việt đối với môi trường xung quanh Luận án làm rõ những khía cạnh như nhận thức của phụ nữ về môi trường, sự hào phóng của thiên nhiên và vùng đất mới, cũng như các phương thức mưu sinh, ẩm thực, trang phục, nơi cư trú và giao thông của họ.

Chương ba khám phá mối quan hệ của người phụ nữ Việt Tây Nam Bộ với môi trường xã hội và văn hóa tâm linh Nội dung chương này tập trung vào các mối quan hệ gia đình và thân tộc, bao gồm mối quan hệ giữa vợ và chồng, cũng như giữa cha mẹ và con cái, đồng thời nhấn mạnh vai trò của họ trong cộng đồng làng xóm.

- nước; các ứng xử trong văn hóa tâm linh của người phụ nữ Việt ở TNB;

Chương bốn của luận án tập trung vào việc phân tích và nhận diện các đặc trưng tính cách văn hóa của người phụ nữ Việt Nam ở Tây Nam Bộ Những tính cách nổi bật được nhấn mạnh bao gồm tính bao dung, sự bộc trực và thẳng thắn trong giao tiếp, lòng trọng nghĩa tình, tính cởi mở và phóng khoáng, cùng với sự thiết thực trong cuộc sống hàng ngày.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Quan hệ văn hóa - văn học và hướng nghiên cứu văn hóa - văn học

Văn học là một thành tố quan trọng trong văn hóa, nhưng văn hóa và văn học là hai phạm trù tách biệt, mỗi phạm trù mang những đặc điểm riêng Chúng tương tác và hỗ trợ lẫn nhau, góp phần hình thành tri thức tổng thể của một cộng đồng cụ thể.

1.1.1 Quan hệ văn hóa - văn học

Văn học, theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và hình tượng để phản ánh đời sống và xã hội con người Nó không chỉ tái hiện các vấn đề xã hội mà còn thể hiện tư tưởng và nội dung thông qua sự hư cấu Như Maxim Gorki đã nói, “Văn học là nhân học”, và Jean-Paul Sartre cũng nhấn mạnh rằng nhà văn hướng tới mọi người, phản ánh tính chủ quan của một xã hội luôn thay đổi Văn học gần gũi với con người, giúp phát triển nhân cách và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau Theo Đoàn Văn Chúc, văn hóa hiện diện mọi nơi, cho thấy mọi sáng tạo của con người trong thế giới tự nhiên đều mang tính văn hóa Trần Ngọc Thêm khẳng định rằng văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra qua hoạt động thực tiễn và tương tác với môi trường Tóm lại, văn hóa là tổng thể các giá trị mà con người sáng tạo trong suốt lịch sử để đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần.

Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học được Đỗ Lai Thúy (2006) nhận định là tương hỗ, với cả hai hình thái ý thức xã hội đều phản ánh một cơ sở hạ tầng chung Nghiên cứu văn hóa coi văn học như một nguồn tài liệu, trong khi nghiên cứu văn học khám phá các chủ đề văn hóa Điều này cho thấy văn hóa và văn học không chỉ hỗ trợ nhau trong nghiên cứu mà còn trong các góc nhìn và phương pháp tiếp cận Gần đây, sự chú ý đến mối quan hệ này đã gia tăng, với nhận thức rằng văn hóa là một hệ thống tổng thể bao gồm nhiều yếu tố, trong đó văn học đóng vai trò quan trọng Văn hóa chi phối văn học như một hệ thống toàn thể chi phối bộ phận.

Vì vậy, nhiều giá trị văn học đã đƣợc hình thành trên cơ sở các giá trị của văn hóa

Mikhail Bakhtin nhấn mạnh rằng văn học là một phần không thể tách rời của văn hóa, cần được hiểu trong bối cảnh văn hóa tổng thể của một thời đại cụ thể Ông cũng chỉ ra rằng sự sống động của văn hóa diễn ra ở những biên giới và lĩnh vực riêng biệt, chứ không chỉ ở những nơi tập trung các đặc trưng riêng của từng lĩnh vực.

Văn học đóng vai trò quan trọng trong văn hóa, thể hiện hai khía cạnh chính Thứ nhất, văn học là một bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối quyết định từ văn hóa Thứ hai, văn học còn là “tấm gương soi” cho văn hóa, phản ánh và tác động tích cực trở lại đối với nó Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học là hữu cơ, đặc biệt là sự gắn bó chặt chẽ với các lĩnh vực văn hóa truyền thống.

1.1.2 Hướng nghiên cứu văn hóa - văn học

Khi nghiên cứu văn học trong bối cảnh văn hóa, tác giả Cao Kim Lan nhấn mạnh rằng cần áp dụng một phương pháp phê bình kết hợp các yếu tố khả thi của hai xu hướng, điều này có nghĩa là phải xem xét tác phẩm văn học trong ngữ cảnh văn hóa của nó.

Cao Kim Lan (2010) nhấn mạnh rằng việc tìm kiếm "một cái gì đó" trong bản thân có thể tạo ra những góc nhìn mới Tương tự, Phan Ngọc (1999) cho rằng văn học là một phần quan trọng của văn hóa, và để đánh giá văn học Việt Nam, cần phải đặt nó trên nền tảng văn hóa Việt Nam vững chắc hơn Đỗ Lai Thúy cũng chia sẻ quan điểm tương tự trong bài viết của mình.

Văn học, như một phần của hệ thống văn hóa, chịu sự chi phối và quy định từ văn hóa, không chỉ đơn thuần là mối quan hệ nhân quả Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hóa trong việc định hình và ảnh hưởng đến văn học.

Các quan niệm về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa đều thống nhất rằng chúng có sự liên kết chặt chẽ Việc nghiên cứu văn học trong bối cảnh văn hóa và ngược lại mang lại những kết quả thú vị, làm nổi bật các giá trị văn hóa và văn học trong sự thống nhất Có thể tiếp cận văn hóa thông qua văn học và phê bình văn học từ góc độ văn hóa, giúp hiểu biết từ cái đã biết đến cái chưa biết, từ tổng thể đến bộ phận Liên kết này tạo ra sự khác biệt và cho phép nhìn nhận đối tượng ở những chiều sâu rộng hơn Trong công trình "Con mắt thơ," Đỗ Lai Thúy đã xem Thơ Mới như sản phẩm của văn hóa đô thị, phân tích các đặc điểm văn hóa đô thị qua không gian, thời gian và con người, từ đó làm nổi bật sự khác biệt với văn hóa nông thôn và hỗ trợ việc tìm hiểu bức tranh văn học thời kỳ đó.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Tri Nguyên (2010) nhấn mạnh rằng văn học là phương diện trung tâm phản ánh các khía cạnh vật chất của văn hóa, đồng thời là hình thức biểu đạt giúp văn hóa trở nên dễ quan sát Nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng văn học truyền miệng để khám phá lịch sử văn hóa qua các huyền thoại, cho thấy mối quan hệ tương tác sâu sắc giữa văn học và văn hóa học.

Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng văn học dân gian phản ánh ký ức văn hóa và diện mạo văn hóa của dân tộc trong quá khứ Sự tương tác giữa văn học và văn hóa luôn diễn ra một cách chặt chẽ, bất kể ở hình thức nào.

Tác giả Huỳnh Như Phương (2009) khẳng định rằng văn học không chỉ biểu hiện mà còn phản ánh văn hóa, với hình ảnh văn hóa được thể hiện qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn Ngược lại, văn hóa cũng ảnh hưởng sâu sắc đến văn học, không chỉ ở đề tài mà còn ở bầu không khí tinh thần bao quanh hoạt động sáng tạo Nhà văn, với thế giới nghệ thuật của mình, là một sản phẩm văn hóa, và không gian văn hóa này chi phối cách xử lý đề tài, thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật, cùng với việc sử dụng các thủ pháp nghệ thuật trong quá trình sáng tác.

Nghiên cứu văn hóa qua văn học có cơ sở khoa học vững chắc, vì văn học không chỉ là một phần của văn hóa mà còn phản ánh các giá trị bản sắc văn hóa Nó thể hiện sự đa dạng của đời sống trong bối cảnh văn hóa dân tộc, thời đại và nhân loại Nhà văn, như một sản phẩm của văn hóa, đóng vai trò quan trọng trong việc kết tinh văn hóa qua ngôn ngữ và nghệ thuật Sáng tạo văn học đồng thời là một hình thức sáng tạo văn hóa, do đó, việc tiếp cận văn hóa từ góc độ văn học và ngược lại là những phương pháp hiệu quả để hiểu sâu sắc văn hóa của cộng đồng.

Văn hóa vùng và vùng văn hóa miền Tây Nam Bộ

1.2.1 Văn hóa vùng và vùng văn hóa

Văn hóa lãnh thổ hay văn hóa vùng, theo Ngô Đức Thịnh, là một dạng thức văn hóa hình thành trong một không gian địa lý xác định, nơi các cộng đồng người sống trong môi trường tự nhiên tương đồng và có điều kiện phát triển xã hội giống nhau Quá trình lịch sử đã tạo ra những đặc trưng văn hóa chung, cho thấy rằng văn hóa vùng là một hình thức liên văn hóa Để một khu vực trở thành vùng văn hóa, cần có một quá trình và các yếu tố nhất định.

Văn hóa Việt Nam và văn hóa Nhật Bản (NB) đã trải qua quá trình hình thành và phát triển, tạo nên những đặc trưng và sắc thái riêng biệt Trần Ngọc Thêm định nghĩa vùng văn hóa là không gian văn hóa liên tục với một chủ thể văn hóa thống nhất, hoạt động đồng hướng trong một thời gian dài, từ đó hình thành hệ thống giá trị đặc thù Ông cũng phân biệt văn hóa vùng theo nghĩa rộng và hẹp; theo nghĩa rộng, văn hóa vùng là văn hóa của cộng đồng cư dân trong không gian giới hạn bởi các tiêu chí khác nhau, còn theo nghĩa hẹp, nó là văn hóa của cộng đồng trong một không gian có sự thống nhất về đặc trưng văn hóa.

1.2.2 Miền Tây Nam Bộ như một vùng văn hóa

Việc xác định Nam Bộ (NB) thành hai vùng văn hóa là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ ngày càng nhận được sự đồng thuận cao Điều này không chỉ phù hợp với hệ thống phân vùng sinh thái, kinh tế - xã hội, quân sự và giáo dục, mà còn tương thích với Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Văn hóa vùng miền Tây Nam Bộ (TNB) phản ánh tọa độ văn hóa, nơi mà chủ thể văn hóa, đặc biệt là người phụ nữ, không chỉ là kết quả mà còn là hiện thân của văn hóa Tọa độ văn hóa này được hình dung qua các yếu tố cơ bản như không gian văn hóa, thời gian văn hóa và chủ thể văn hóa.

Không gian văn hóa: Vùng TNB có13 tỉnh, thành phố, bao gồm:An Giang,

Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang, Long An, Kiên Giang, Sóc Trăng, Tiền Giang, Vĩnh Long, Thành phố Cần Thơ và Trà Vinh tạo thành một vùng đất rộng lớn, chiếm 12% diện tích và 19% dân số cả nước Khu vực này nổi bật với mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc, mang lại lợi thế lớn cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, du lịch và năng lượng.

Đồng bằng sông Cửu Long là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất Việt Nam, đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây cả nước Khu vực này chiếm 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu, với vị trí giao thương thuận lợi với các nước ASEAN và Tiểu vùng sông Mê Kông Theo Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ, Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều đặc điểm nổi bật, bao gồm diện tích lớn nhất cả nước (40.548,2 km2), hệ thống sông rạch dài nhất, vựa lúa lớn nhất Đông Nam Á, vùng đất nhiều trái cây nhất, diện tích nuôi và đánh bắt thủy sản lớn nhất, và rừng ngập mặn lớn nhất cả nước.

Môi trường sông nước là đặc trưng nổi bật của thiên nhiên Việt Nam, và vùng Đồng bằng sông nước Nam Bộ (NB) thể hiện điều này một cách rõ nét Tuy nhiên, NB không chỉ nổi bật với sông ngòi và kênh rạch mà còn có văn hóa biển độc đáo, khác biệt so với Trung Bộ Biển NB ít khi bị bão lớn và không có cảnh quan núi đá hay cồn cát như ở Trung Bộ, mà thường gắn liền với rừng ngập mặn, rừng đước và rừng sác Vùng TNB được chia thành nhiều “miệt” như Miệt vườn, Miệt cù lao, Miệt giồng, Miệt kinh, và Miệt thứ, tạo nên một không gian văn hóa phong phú, đa dạng, mở và đan xen Dưới đây là bảng so sánh không gian Đông NB với TNB để làm nổi bật những nét đặc thù của miền đất TNB.

B NH DI N ĐÔNG NAM BỘ TÂY NAM BỘ Địa hình - tài nguyên

Cao - dầu khí: phù hợp cho xâydựng cơ bản và phát triển công nghiệp

Đồng bằng châu thổ với địa hình thấp rất phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp và thủy sản Đất nâu kết hợp với khí hậu điều hòa tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng cây, trong khi đất phù sa cùng với lượng mưa dồi dào hỗ trợ tốt cho việc trồng cây ăn quả.

25 công nghiệp trái và sản xuất lương thực

Có nhiều ngư trường lớn và bãi biển đẹp: tiềm năng thủy sản và du lịch biển

Kênh rạch nhiều, chằng chịt, vùng ngập mặn, biển: tiềm năng thủy sản và du lịch sinh thái

Môi trường thiên nhiên TNB khuyến khích con người khám phá và thích nghi, tạo ra tiền đề cho mối quan hệ tương trợ và lối sống chân chất, phóng khoáng Điều này thúc đẩy nhu cầu chia sẻ tri thức, kinh nghiệm và tình cảm giữa NPN Việt và các tộc người khác ở TNB và NB.

Chủ thể văn hóa: Chủ thể chính sáng tạo văn hóa dân gian ở NB là người

Theo Trần Văn Giàu, nguồn gốc của những lưu dân vào Nam chủ yếu có ba loại: Thứ nhất là những người dân nghèo khổ từ khắp nơi, thứ hai là những người có tiền và quyền lực, họ chiêu mộ dân nghèo ở miền Trung để vào Nam khai hoang theo chính sách của nhà Nguyễn Cuối cùng, không thể không nhắc đến các lính tráng và tội đồ bị triều đình điều động vào Nam để lập đồn điền, vừa bảo vệ biên cương vừa mở rộng đất đai quanh các cứ điểm quân sự.

Cộng đồng TNB bao gồm nhiều thành phần với nguồn gốc đa dạng, thể hiện sự phong phú về tín ngưỡng và tôn giáo Mỗi nhóm dân cư trong khu vực này có những đặc điểm riêng biệt về lối sống, phong tục tập quán và trình độ văn hóa khác nhau.

Tính chất “tứ xứ” là một đặc trưng nổi bật của chủ thể văn hóa ở Nhật Bản, phản ánh sự hình thành tính cách khảng khái, bộc trực và tinh thần đoàn kết, tương trợ trong bối cảnh cùng chung mục đích mưu cầu cuộc sống ổn định và phát triển tại miền đất mới Tính cách này thể hiện sự cởi mở, không bị giới hạn trong những khuôn khổ nhất định.

“làng”, phạm vi dòng họ, hoặc kiểu gia đình “tứ đại đồng đường”, của các cộng đồng dân cƣ nơi đây

Thời gian văn hóa: Về sự hình thành và phát triển cộng đồng người Việt tại

NB nói chung và miền TNB nói riêng được lý giải: Công cuộc mở đất phương Nam,

Vùng văn hóa phương Nam đã được khẳng định và định hình rõ ràng từ các cuộc di dân lớn của người Việt vào thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII Quá trình chuyển cư này đã thúc đẩy sự gần gũi giữa các nhóm dân cư và cộng đồng tộc người, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các tiếp xúc văn hóa Điều này đã góp phần hình thành tính chất địa văn hóa và địa kinh tế của vùng châu thổ phương Nam, tạo nên một nền văn hóa trẻ trung, phong phú với đa dạng về dân tộc, tôn giáo và sắc màu văn hóa (Hồ Tĩnh Tâm, 2009).

Khi Pháp chiếm đóng Nam Kỳ, họ đã thiết lập bộ máy cai trị chính thức và ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa nơi đây (Huỳnh Lứa & nhiều tác giả khác, 2005, tr.164) Sự hiện diện của người Pháp đã mang lại các giá trị văn hóa truyền thống phương Tây, trong khi sự can thiệp của Mỹ sau này đã đưa đến cho Nam Bộ những yếu tố văn hóa đa dạng và hiện đại hơn.

Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, miền Nam - Bắc trở thành một vùng đất giao thoa văn hóa với tốc độ nhanh chóng Hệ quả là, không còn hiện tượng văn hóa nào tại đây giữ nguyên bản sắc thuần Việt, mà luôn có sự ảnh hưởng từ các nền văn hóa khác đã hội tụ trong suốt hơn ba thế kỷ qua (Lý Tùng Hiếu, 2009).

Tiếp cận vấn đề giới và văn hóa giới

“Giới” và “Giới tính” là hai khái niệm liên quan nhưng khác biệt Giới tính đề cập đến các đặc điểm sinh học của nam và nữ, phân biệt chúng từ khi sinh ra Nam giới có khả năng thụ thai, trong khi phụ nữ có thể sinh con và cho con bú Nhận thức về giới tính có thể bao gồm nam, nữ hoặc cả hai.

Giới tính không chỉ đơn thuần là nam hay nữ, mà còn là sự nhận thức cá nhân của mỗi người về bản thân mình Nhận thức giới tính khác với cách thể hiện giới tính; ví dụ, một người đàn ông có giới tính sinh học là nam nhưng có thể thể hiện hành vi và cử chỉ nữ tính Không phải ai cũng thể hiện giới tính mà họ tự xác định do áp lực xã hội và quy tắc văn hóa, dẫn đến sự hình thành của văn hóa giới.

1.3.1 Khái niệm giới và văn hóa giới

“Giới” là tập hợp các đặc tính vật lý, sinh học, tâm thần và hành vi liên quan đến sự khác biệt giữa nam và nữ, đồng thời phản ánh các hoạt động và thuộc tính xã hội được xem là chuẩn mực cho mỗi giới Nhiều người thường nhầm lẫn giữa “giới” và “giới tính”, dẫn đến việc đồng nhất vai trò giới với sự khác biệt sinh học Thực tế, “giới” là khái niệm mới mẻ, phát triển từ các phong trào nữ quyền từ những năm 1970, nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ Thuật ngữ này liên quan đến các đặc tính và cơ hội kinh tế, xã hội, văn hóa và tâm lý của từng giới Trong hầu hết các xã hội, nam và nữ không chỉ khác nhau về sinh học mà còn phải đối diện với những mong đợi và định kiến xã hội về ngoại hình, hành vi và công việc phù hợp với giới tính của họ.

Bảng: Phân biệt giữa Giới và Giới tính (Nguồn: Peter Chown, 2008)

Giới mô tả chúng ta thể hiện nam tính hoặc nữ tính

Giới tính mô tả chúng ta là nam hay nữ

Xã hội xây dựng nên các vai trò, trách nhiệm và hành vi mà nam và nữ được kỳ vọng thực hiện trong một nền văn hóa cụ thể.

 Văn hóa - những yếu tố của giới khác nhau giữa các nền văn hóa và bên trong các nền văn hóa

 Những vai trò về giới là đƣợc học tập - chúng phát triển và thay đổi theo thời gian

 Sinh học - đó là những đặc tính thể chất đã có từ khi chúng ta sinh ra

 Phổ biến - những đặc tính về tình dục giống nhau trên toàn thế giới - nam giới có dương vật và phụ nữ có âm đạo

 Bạn đƣợc sinh ra với giới tính của bạn - điều này không thể thay đổi

Vấn đề giới đã du nhập vào Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ trước và nhanh chóng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, xã hội học Tuy nhiên, có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về vấn đề này, đặc biệt là vai trò của nam nữ, người già và người trẻ trong các mối quan hệ gia đình và họ tộc Những quan điểm về sự sắp xếp cá nhân trong xã hội thường phụ thuộc vào đặc điểm sinh học hoặc bị ảnh hưởng bởi môi trường văn hóa xã hội, phản ánh hai trường phái tư tưởng khác nhau.

Những người ủng hộ quan điểm quyết định luận sinh học tin rằng sự phân công xã hội được hình thành bởi các yếu tố do chọn lọc tự nhiên Vũ Mạnh Lợi.

(2000) phân tích vấn đề này nhƣ sau:

Các khác biệt giữa nam và nữ trong vai trò xã hội, cấu trúc thứ bậc xã hội, quan hệ quyền lực và phân công lao động trong gia đình cũng như trong xã hội có thể được giải thích bởi những khác biệt sinh học đã được lập trình giữa hai giới tính.

Sự khác biệt giữa nam và nữ thể hiện rõ qua các chiến lược tái sinh sản, hóc môn, kích thước và hình dạng não bộ, cũng như các nhịp sống theo thời gian trong ngày và đồng hồ sinh học liên quan đến các giai đoạn phát triển trong chu trình sống.

Theo quan điểm này, nam giới thường được cho là vượt trội về trí tuệ và khả năng nhận thức, dẫn đến việc họ nắm quyền thống trị trong xã hội Ngược lại, nữ giới sở hữu những khả năng tình cảm đặc biệt Những hành vi tiêu cực như ngoại tình, hiếp dâm, phân biệt chủng tộc và sự không chung thủy ở nam giới được cho là có nguồn gốc từ di sản sinh học của con người.

Các nhà nghiên cứu khoa học xã hội nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hóa học hỏi mang tính xã hội Họ cho rằng những suy luận từ nghiên cứu động vật và việc áp dụng các đặc điểm tâm lý từ loài này sang loài khác thường thiếu khách quan và dễ dẫn đến kết quả sai lệch.

Vũ Mạnh Lợi (2000) trích dẫn Epstein (1988) chỉ ra rằng:

Những người phản đối quyết định luận sinh học xã hội cho rằng mặc dù các yếu tố sinh học có ảnh hưởng đến cuộc sống con người, nhưng chúng cũng bị tác động bởi môi trường xã hội và văn hóa Nhiều nghiên cứu so sánh giữa các nền văn hóa cho thấy sự đa dạng lớn trong tổ chức gia đình, điều này không thể được giải thích chỉ bằng quan điểm sinh học Các bằng chứng từ nhân chủng học xã hội chỉ ra rằng có nhiều xã hội nơi phụ nữ không phụ thuộc vào đàn ông và tham gia bình đẳng trong phân công lao động, với việc phụ nữ chủ động trong việc chọn bạn đời và khởi xướng hành vi tình dục là điều phổ biến.

Chúng tôi không phủ nhận rằng các đặc tính sinh học như cơ thể và sức mạnh góp phần vào sự bất bình đẳng giới Thực tế cho thấy, những khác biệt sinh học này mang lại cho nam giới những lợi thế về thể chất và sức mạnh.

Vai trò của nam và nữ trong xã hội không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh thể chất mà còn bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các yếu tố văn hóa, thiết chế xã hội, phong tục tập quán và cấu trúc gia đình Điều này quyết định cách nhìn nhận và đánh giá vai trò của phụ nữ trong xã hội Chúng tôi sẽ phân tích cá tính của NPN TNB và vai trò của họ thông qua các mối quan hệ trong gia đình, gia tộc và cộng đồng làng xã.

Văn hóa giới đề cập đến sự khác biệt về giới giữa các nền văn hóa và trong nội bộ các nền văn hóa Việc thể hiện giới tính và vai trò giới là những chuẩn mực hành vi được xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm phân chia công việc, vai trò và vị trí xã hội Từ khi lý thuyết nữ quyền ra đời, văn hóa giới được nhìn nhận từ góc độ nhân bản, nhấn mạnh sự cần thiết phải hiểu và tôn trọng sự đa dạng trong vai trò và quyền lợi của cả hai giới.

Nam giới thường được xem là phái mạnh, có trách nhiệm gánh vác công việc nặng nhọc và gia đình, đồng thời xung phong ra chiến trường Tuy nhiên, các quy chuẩn về vai trò giới thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử và sự phát triển xã hội, đồng thời còn khác biệt giữa các vùng địa lý, quốc gia, tôn giáo và sắc tộc Do đó, văn hóa giới cũng biến đổi theo thời gian và các hệ quy chiếu này.

Khái quát về ca dao Tây Nam Bộ

Ca dao, như một tiếng lòng của nhân dân, phản ánh sinh động đời sống tình cảm và là một thể loại quan trọng trong kho tàng văn học dân gian Mặc dù ca dao có mặt trong hầu hết các nền văn hóa dân tộc, nhưng vẫn còn nhiều quan niệm và định nghĩa chưa thống nhất về thể loại này Luận án không nhằm thao tác hóa khái niệm, nhưng việc nêu rõ quan điểm là cần thiết, bao gồm các khái niệm và định nghĩa từ các nhà nghiên cứu trước đây.

Theo Dương Quảng Hàm trong "Việt Nam văn học sử yếu", ca dao được định nghĩa là những bài hát ngắn, không có chương khúc, thường phản ánh tính cách và phong tục của người dân bình thường Nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, và Nguyễn Khắc Phi cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của ca dao trong việc gìn giữ văn hóa dân gian.

Ca dao, còn gọi là phong dao, được định nghĩa là những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian, có hoặc không có khúc điệu Theo Lê Bá Hán và các tác giả khác, ca dao đồng nghĩa với dân ca và thường được sáng tác bằng thể văn vần dân tộc, chủ yếu là lục bát, để diễn đạt tình cảm và ý nghĩa Vũ Ngọc Phan cho rằng ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được và xây dựng thành các làn điệu dân ca Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên bổ sung rằng ca dao là lời của các bài dân ca đã được tước bỏ những tiếng đệm hoặc là những câu thơ có thể chuyển thành làn điệu dân ca.

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của Vũ Ngọc Phan rằng ca dao là một thể loại thơ dân gian có khả năng được ngâm như các thể loại thơ khác và có thể được phát triển.

Ca dao không chỉ bao gồm lời thơ mà còn cả nhạc điệu, thể hiện mối quan hệ chặt chẽ trong quá trình diễn xướng Khi tách phần lời ra, ca dao vẫn giữ được tính độc lập tương đối như một thể thơ dân gian.

1.4.1 Nhận diện ca dao Tây Nam Bộ

Tiếp cận ca dao Tây Nam Bộ (TNB) từ góc nhìn văn hóa học, chúng tôi nhận thấy ca dao phản ánh sâu sắc đời sống văn hóa tình cảm của người dân nơi đây Ca dao TNB không chỉ là nguồn tư liệu phong phú mà còn giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về tư tưởng và cảm xúc của cộng đồng Luận án khẳng định rằng ca dao TNB được sáng tạo và lưu truyền bởi người dân vùng này, mặc dù tính dị bản và sự tương đồng trong motif giữa các vùng có thể gây khó khăn trong việc xác định nguồn gốc cụ thể của từng bài ca dao Tuy nhiên, vẫn có thể nhận diện ca dao TNB qua những đặc điểm nhất định.

Ca dao địa danh là những câu ca dao gắn liền với các địa điểm như tên đất, làng, núi, sông, phản ánh đời sống tinh thần và vật chất của người dân địa phương Địa danh không chỉ là các địa điểm lao động và giao thông mà còn là những nơi diễn ra sinh hoạt xã hội và văn hóa tín ngưỡng Đối với người TNB, sông nước là không gian đặc biệt trong ca dao địa danh, thể hiện tình cảm và sinh hoạt của người dân nơi đây Ca dao phản ánh rõ nét các địa danh và cảnh quan của từng vùng miền, như trong câu thơ: “Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ/ Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu…” (Vũ Ngọc Phan, 1978, tr.275).

Bơi xuồng qua kinh Mới và dọc kinh Ngang, tình cảm của em dành cho anh thể hiện qua những lời nói dịu dàng Em trách anh vì không mai mối, khiến cho tình yêu của chúng ta lỡ dở.

Các huyện nổi tiếng như Mỏ Cày ở Miền Tây không chỉ nổi bật với nghề làm kẹo dừa mà còn với hình ảnh con gái khéo léo và ngoan hiền Ca dao về Mỏ Cày, như câu thơ "Kẹo Mỏ Cày vừa thơm vừa béo/ Gái Mỏ Cày vừa khéo vừa ngoan", phản ánh di sản văn hóa phong phú của miền TNB, thể hiện sự gắn bó với cuộc sống lao động và xây dựng quê hương Những giá trị này không chỉ tồn tại trong quá khứ mà còn tiếp tục ảnh hưởng đến hiện tại và tương lai của người dân nơi đây.

Sản vật thiên nhiên có ảnh hưởng sâu sắc đến cách biểu đạt trong ca dao miền Nam Bộ (NPN), thể hiện qua sự phong phú và đa dạng của sản vật từng vùng Miền TNB nổi bật với những sản phẩm như gạo lức, gạo vàng và các loại trái cây nhiệt đới như chôm chôm, măng cụt, sầu riêng, và nhiều loại hoa, lá đặc trưng Đặc biệt, vùng đất này không chỉ là vựa lúa mà còn là nơi sinh sống lý tưởng cho nhiều loài động vật và thực vật phong phú Những sản vật này không chỉ là nguồn sống mà còn là nguồn cảm hứng cho ca dao, phản ánh nét văn hóa độc đáo của miền TNB.

Nhận diện vẻ đẹp của người phụ nữ qua trang phục là điều đặc trưng tại mỗi vùng miền Ở Bắc Bộ, nét đẹp của người phụ nữ miền núi được thể hiện qua khăn mỏ quạ, nón quai thao, áo lụa và áo tứ thân Trong khi đó, miền Nam lại có những trang phục riêng, phản ánh văn hóa và phong cách sống của nơi đây.

Khăn rằn, nón lá và áo bà ba là ba trang phục biểu trưng cho vẻ đẹp thuần khiết của người NPN Việt Nam Những hình ảnh này tạo thành một liên kết "tam vị nhất thể", góp phần xây dựng chân dung văn hóa đặc sắc của NPN ở mỗi vùng miền.

Chiếc áo bà ba, khăn rằn và nón lá không chỉ là trang phục mà còn là biểu tượng của vẻ đẹp vĩnh cửu của người phụ nữ Nam Bộ Với thiết kế giản dị và màu sắc thanh tao, áo bà ba đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người, thể hiện sự tần tảo và chịu thương chịu khó của những người phụ nữ nơi đây Sự kết hợp giữa áo bà ba ôm khít, quần đen nền nã và nón lá không chỉ tôn vinh nét dịu dàng, nữ tính mà còn khắc họa hình ảnh năng động, khỏe khoắn trong lao động và sinh hoạt Áo bà ba, mặc dù đơn giản, nhưng luôn làm say đắm lòng người, khẳng định giá trị văn hóa đặc trưng của vùng đất Nam Bộ.

Phương ngữ Nhật Bản (NB) đã hình thành và phát triển theo thời gian, phản ánh nếp sống, cách suy nghĩ và cách giao tiếp của người Nhật Bản.

Sự giao thoa văn hóa mạnh mẽ giữa các tộc người như Khmer, Chăm, Hoa đã làm phong phú thêm hệ thống phương ngữ của tiếng Việt Những phương ngữ này không chỉ thể hiện tính chung của ngôn ngữ Việt mà còn mang đậm bản sắc riêng của từng vùng miền.

NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT TÂY NAM BỘ NHÌN TỪ MỐI QUAN HỆ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN

NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT TÂY NAM BỘ NHÌN TỪ MỐI QUAN HỆ VỚI MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA TÂM LINH

NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT TÂY NAM BỘ NHÌN TỪ ĐẶC TRƯNG TÍNH CÁCH VĂN HÓA

Ngày đăng: 11/07/2021, 16:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w