1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học vùng đồng bằng sông cửu long theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

208 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Đội Ngũ Giáo Viên Tiểu Học Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long Theo Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Hiện Nay
Tác giả Trần Hồng Thắm
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Xuân Tế, TS. Ngô Đình Qua
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản Lý Giáo Dục
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ Khoa Học Giáo Dục
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 3.3 Số lượng GVTH được tham gia bồi dưỡng sau thực nghiệm 145Bảng 3.4 Kết quả đảm bảo số lượng giáo viên tiểu học đặc thù theo Bảng 3.5 Kết quả tỉ lệ trường tiểu học đảm bảo số l

Trang 1

TRẦN HỒNG THẮM

QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC

VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THEO YÊU CẦU

ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 2

TRẦN HỒNG THẮM

QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC

VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THEO YÊU CẦU

ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 9140114

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS Nguyễn Xuân Tế

2 TS Ngô Đình Qua

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận án

Trần Hồng Thắm

Trang 4

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

MỞ ĐẦU

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học theo yêu

cầu đổi mới giáo dục 10

1.2 Các khái niệm cơ bản 27

1.3 Đội ngũ GVTH theo yêu cầu đổi mới GDTH 41

1.3.1 Một số định hướng đổi mới GDTH 42

1.3.2 Chuẩn trình độ đào tạo và chuẩn nghề nghiệp GVTH 47

1.3.3 Yêu cầu về ĐNGVTH theo định hướng đổi mới giáo dục 50

1.4 Quản lý ĐNGVTH theo yêu cầu đổi mới giáo dục 52

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 67

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI 2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL 68

2.2 Thực trạng quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục 82

2.2.1 Công tác quy hoạch ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục 82

Trang 5

đổi mới giáo dục 86 2.2.4 Một số nguyên nhân của thực trạng quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục 96

3.2 Một số giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục 112

3.2.1 Giải pháp 1: Hoàn thiện cơ sở pháp lý về quản lý nhà nước trong công tác quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giao duc 112 3.2.2 Giải pháp 2: Đổi mới công tác tuyển dụng và sử dụng ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới 117 3.2.3 Giải pháp 3: Đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng ĐNGVTH ở vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới 124 3.2.4 Giải pháp 4: Xây dựng các điều kiện hỗ trợ công tác quản lý ĐNGVTH ở vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục 131 3.2.5 Mối quan hệ giữa các giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục 134

3.3 Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các giải pháp quản lý đội ngũ GVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới 136

Trang 6

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

CNTT Công nghệ thông tin

CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

ĐNGVTH Đội ngũ giáo viên tiểu học

GV Giáo viên

KT - XH Kinh tế - Xã hội

NCKH Nghiên cứu khoa học

Trang 8

Bảng 2.5 Công tác tuyển dụng, sử dụng đội ngũ GVTH vùng

Bảng 2.6 Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GVTH theo yêu cầu

Bảng 2.7

Đánh giá kết quả của các khóa tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho GV theo yêu cầu đổi mới giáo dục do các cấp quản lý GD địa phương tổ chức

89

Bảng 2.8 Nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của GVTH

Bảng 2.9 Công tác đánh giá đội ngũ GVTH theo yêu cầu đổi mới

Bảng 2.10 Những điều kiện cần để quản lý GVTH vùng ĐBSCL theo

Bảng 2.11 Tác dụng của các chế độ chính sách hiện nay đối với việc

Trang 9

Bảng 3.3 Số lượng GVTH được tham gia bồi dưỡng sau thực nghiệm 145

Bảng 3.4 Kết quả đảm bảo số lượng giáo viên tiểu học đặc thù theo

Bảng 3.5 Kết quả tỉ lệ trường tiểu học đảm bảo số lượng GVTH đặc

Bảng 3.6 Kết quả tuyển dụng GVTH đạt chuẩn bằng cấp đáp ứng

yêu cầu dạy học 2 buổi/ngày ở thành phố Cần Thơ 147Bảng 3.7 So sánh xếp loại GVTH sau thực nghiệm giữa hai nhóm

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Mô hình 1.1 Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức của Leonard Nadle

Biểu đồ 2.1 Tình hình đội ngũ GVTH theo trình độ đào tạo 76

Biểu đồ 2.2 Ý kiến đánh giá của GV về sự cần thiết đáp ứng yêu cầu

Biểu đồ 2.3 Mức độ đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp theo đánh giá

Hình 3.1 Mối quan hệ giữa các giải pháp quản lý đội ngũ GVTH

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhân loại đã bước sang những thập niên đầu của thế kỷ XXI Đây là giai đoạn cuộc cách mạng KHCN phát triển với những bước tiến mạnh mẽ, đưa thế giới bước sang kỷ nguyên thông tin và nền kinh tế tri thức Sự hình thành và phát triển của nền kinh tế tri thức, xã hội thông tin sẽ tạo cơ hội cho sự phát triển giáo dục Đại hội

Đảng lần thứ XI đã đặt ra vấn đề cấp bách:“Đổi mới căn bản và toàn diện” nền

giáo dục nước nhà Quá trình đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt, liên quan trực tiếp đến vận mệnh của đất nước, của dân tộc trong giai đoạn mới Bởi vì, sức mạnh của một dân tộc, năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia đang chuyển mạnh từ nguồn lực tài nguyên, vốn, lao động chân tay sang tri thức, trí tuệ, nguồn nhân lực chất lượng cao Đó chính là sản phẩm của nền giáo dục tiên tiến, hiện đại Vì thế, nhiệm vụ đặt ra để chúng ta thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần

8 của BCH.TƯ Đảng khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,

đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” là đầu tư phát triển nguồn nhân

lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo đòi hỏi phải đổi mới từ gốc rễ

và đổi mới mọi mặt Căn bản (gốc rễ) của một nền giáo dục là việc xác định và thực hiện mục đích giáo dục Việc này có liên quan đến đội ngũ GV và việc quản lý đội ngũ ấy Bởi vì chính GV, người được giáo dục và các nhà quản lý là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động giáo dục theo mục đích đã được xác định Đổi mới toàn diện (mọi mặt) giáo dục - đào tạo tức là đổi mới tất cả các thành tố cấu trúc của hoạt động giáo dục bao gồm: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, nhà giáo dục, người được giáo dục, quản lý giáo dục

Sở dĩ phải đổi mới giáo dục là vì mục tiêu giáo dục chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của một xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó nền kinh tế đang chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mục tiêu của đổi mới căn bản,

Trang 11

toàn diện giáo dục là đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng được nguồn nhân lực có năng lực

để làm việc trong môi trường kinh tế thị trường có nền công nghiệp hiện đại, đáp ứng được các thách thức của thời đại, thừa nhận sự khác biệt, tận dụng cơ hội và thời cơ để cùng phát triển, cùng đấu tranh giải quyết những thảm họa của thiên nhiên, chống lại những hoạt động đi ngược lại sự tiến bộ của nhân loại

GDTH là bậc học nền tảng, hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển nhân cách con người Chất lượng GDTH tốt là tiền đề quan trọng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam XHCN Điều 27, Khoản 2, Luật Giáo dục năm 2009 sửa đổi cho biết: “GDTH nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng

cơ bản để HS tiếp tục học trung học cơ sở” [59] Do vậy, người GVTH có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, là nhân tố quyết định trong việc xây dựng bậc TH trở thành bậc học nền tảng, tạo điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí và trang bị những cơ sở ban đầu hết sức quan trọng để phát triển nhân cách con người Việt Nam trong thế

kỷ XXI GVTH là người giữ vai trò chủ yếu trong việc thực hiện phổ cập GDTH Đối với vùng cao, vùng sâu và hải đảo, GVTH là lực lượng trí thức của địa phương Khác với các bậc học khác, mỗi lớp TH chủ yếu có một GV làm chức năng tổng thể (dạy nhiều môn), tương ứng với nhiều GV ở các bậc học khác Đối với HSTH, GV là người có uy tín, là “thần tượng” đối với HS Lời thầy, cô giáo là

sự thuyết phục, cử chỉ của thầy, cô là mẫu mực, cuộc sống và lao động của thầy,

cô là tấm gương đối với trẻ em Điều 15 của Luật Giáo dục đã xác định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục” [59]

Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, đòi hỏi đội ngũ GV phổ thông trong đó có ĐNGVTH phải có những phẩm chất đạo đức và năng lực nghề nghiệp đáp ứng mục tiêu đổi mới Với xu thế phát triển giáo dục thế giới và yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, GV nói chung, GVTH nói riêng đang gặp khó khăn, thử thách trước yêu cầu mới về thay đổi vai trò, chức năng của GV: chuyển từ kiểu dạy tập trung vào GV sang kiểu dạy tập trung vào HS Do vậy, việc quản lý đội ngũ

Trang 12

GV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chất lượng ngày càng cao là một yêu cầu quan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng giáo dục Chỉ thị 40/CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 về việc nâng cao chất lượng nhà giáo và cán bộ quản lý đã chỉ rõ:

“Phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách

toàn diện Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài” [1] Đối chiếu với nhiệm vụ trên, ngành giáo dục đã có nhiều thành tựu to

lớn, tuy vậy vẫn còn một số bất cập trong việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản

lý đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đặc biệt là đội ngũ GVTH, nhất là GV ở vùng ĐBSCL Việc đổi mới quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo hướng đổi mới đào tạo, bồi dưỡng, và sử dụng cần gắn chuẩn trình độ đào tạo của GVTH với chuẩn nghề nghiệp để GV có đủ năng lực thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của bậc học Đồng thời, cần xác định và thực hiện nội dung đào tạo, bồi dưỡng thực hành ở trường TH trong các khóa đào tạo GV, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp giáo dục theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của BCH Trung ương Đảng khóa XI [4].Công tác quản lý ĐNGVTH theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay sẽ góp phần nâng cao chất lượng ĐNGVTH và nâng cao chất lượng GDTH Những năm qua, công tác quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Về số lượng, GVTH trong vùng cơ bản đáp ứng việc dạy học 1 buổi/ngày Chất lượng ĐNGVTH từng bước được cải thiện Tuy nhiên, ĐNGVTH trong vùng chưa đáp ứng yêu cầu dạy học 2 buổi/ngày; chưa đảm bảo thực hiện mục tiêu phổ cập GDTH mức độ 2… Mặt khác, trong quản lý đội ngũ GV, công tác quy hoạch đội ngũ chưa được chú trọng; việc giao quyền tự chủ cho Hiệu trưởng các trường

TH trong tuyển dụng GV chưa được thực hiện triệt để; đa số GV đạt chuẩn về trình

độ đào tạo nhưng chưa đáp ứng tốt yêu cầu Chuẩn nghề nghiệp GVTH và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục Vì thế, việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế quản lý ĐNGVTH trong quy hoạch, phân công, sử dụng hợp lý đội ngũ GV cần có các công trình nghiên cứu chuyên sâu

Trang 13

Xuất phát từ những cơ sở nói trên, đề tài: “Quản lý ĐNGVTH vùng đồng bằng

sông Cửu Long theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay” được tiến hành nghiên

cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng quản lý ĐNGVTH thuộc hệ thống các trường công lập vùng ĐBSCL, xây dựng và chứng minh hiệu quả của một số giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học thuộc hệ thống các trường công lập vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục

4 Giả thuyết khoa học

Trong những năm qua, Quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL bước đầu đã có những kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế ở một số khâu trong công tác quản lý đội ngũ, chưa đáp ứng các yêu cầu đổi mới giáo dục Vì vậy, nếu

đề xuất và triển khai có hiệu quả các giải pháp quản lý dựa trên cơ sở lý luận quản

lý đội ngũ nhân lực, lý luận phát triển nguồn nhân lực về các lĩnh vực như quy

hoạch phát triển đội ngũ; tuyển dụng, sử dụng; đào tạo và bồi dưỡng; kiểm tra và đánh giá; xây dựng và thực hiện chính sách ưu đãi đối với ĐNGVTH vùng ĐBSCL thì sẽ góp phần phát triển đội ngũ ĐNGVTH vùng ĐBSCL đáp ứng yêu cầu đổi mới

GD hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xây dựng cơ sở lý luận về công tác quản lý đội ngũ GVTH theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý đội ngũ GVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

Trang 14

5.3 Xây dựng và chứng minh hiệu quả của một số giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

6 Phạm vi nghiên cứu

Luận án này tập trung nghiên cứu:

- Các giải pháp quản lý ĐNGVTH thuộc hệ thống các trường công lập vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục giai đoạn 2013 - 2015 của cơ quan quản lý

là các Sở Giáo dục & Đào tạo, Phòng Giáo dục & Đào tạo thuộc Sở, Hiệu trưởng trường TH

- Chỉ nghiên cứu thực trạng công tác quản lý ĐNGVTH thuộc hệ thống các trường công lập theo yêu cầu đổi mới giáo dục tại thành phố Cần Thơ, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Trà Vinh và tập trung vào các chủ thể quản lý đã xác lập

- Thực nghiệm biện pháp quản lý ĐNGVTH thuộc hệ thống các trường công lập theo yêu cầu đổi mới giáo dục tại thành phố Cần Thơ

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận nghiên cứu

7.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc

Theo cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc, mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại dưới dạng một hệ thống với các yếu tố hợp thành, có liên hệ với nhau Hệ thống không tồn tại độc lập mà có liên hệ với các hệ thống khác

Vận dụng cách tiếp cận này vào đề tài, việc quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay có thể được xem như là một hệ thống với các yếu tố hợp thành như: chủ thể quản lý, mục tiêu quản lý, nội dung quản lý, biện pháp quản lý, chức năng quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý, kết quả quản

lý Hệ thống này còn có quan hệ với các hệ thống khác như: công tác quản lý tài chính, quản lý cơ sở vật chất, quản lý hoạt động chuyên môn,…

7.1.2 Quan điểm lịch sử - logic

Quan điểm lịch sử - logic trong khoa học giáo dục đòi hỏi người nghiên cứu phải thực hiện quá trình nghiên cứu đối tượng bằng phương pháp lịch sử, tức là tìm hiểu, phát hiện sự nảy sinh, phát triển của đối tượng trong những khoảng thời gian

Trang 15

và không gian cụ thể với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để phát hiện cho được quy luật tất yếu của quá trình giáo dục

Với cách tiếp cận này, nghiên cứu công tác quản lý ĐNGVTH ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2012 - 2015, theo yêu cầu đổi mới giáo dục Tiếp cận logic đòi hỏi phải thể hiện mối liên hệ giữa các phần của luận án cũng như mối liên hệ giữa các giải pháp quản lý và các biện pháp trong từng giải pháp quản lý

7.1.3 Quan điểm thực tiễn

Quan điểm thực tiễn đòi hỏi phải dựa vào thực tiễn để tìm kiếm các giải pháp

để giải quyết vấn đề của thực tiễn Đó là thực tiễn về nhận thức, thực trạng quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL, nguyên nhân của thực trạng công quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục

Các giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục được đề xuất cũng xuất phát từ thực tiễn và đảm bảo tính khả thi dựa trên điều kiện của vùng ĐBSCL cũng như yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

7.2.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết

Phương pháp này được sử dụng để phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu lý luận có liên quan đến công tác quản lý ĐNGVTH nhằm nhận xét, tóm tắt và trích dẫn phục vụ trực tiếp đề tài bao gồm:

- Các tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin, văn kiện của Đảng, có liên quan đến luận án Các tác phẩm về Tâm lý học, Giáo dục học, Khoa học quản

lý giáo dục, Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục, GDTH… trong và ngoài nước

- Các công trình nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục của các nhà lý luận, các nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo… có liên quan đến đề tài như: luận án, báo cáo khoa học, các chuyên khảo, các bài báo, tham luận khoa học

7.2.1.2 Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết

Trang 16

Phương pháp này được sử dụng để phân loại, sắp xếp các tài liệu lý luận về công tác quản lý ĐNGVTH theo thời gian, theo không gian, phục vụ cho việc trình bày phần Tổng quan nghiên cứu

7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

* Mục đích

Phương pháp này sử dụng nhằm thu thập ý kiến các nhóm khách thể về thực trạng công tác quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục Ngoài ra, cũng sử dụng phương pháp này để khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất trong đề tài

* Nội dung khảo sát

Khảo sát thực trạng công tác quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục

Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục

* Đối tượng khảo sát:

GV, CBQL giáo dục ở địa phương, cơ sở GDTH vùng ĐBSCL

Trang 17

* Mục đích:

Phương pháp này để chứng minh hiệu quả của biện pháp thực nghiệm quản

lý ĐNGVTH theo yêu cầu đổi mới giáo dục với mô hình thực nghiệm cụ thể

* Nội dung thực nghiệm

Áp dụng giải pháp “Đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GVTH”, trong đó tập trung vào hai biện pháp cụ thể: Lập kế hoạch hoạt động đào tạo, bồi dưỡng GVTH ở khu vực ĐBSCL và Đổi mới công tác tuyển dụng và sử dụng ĐNGVTH ở khu vực ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục

7.2.3 Nhóm phương pháp thống kê

Các phép toán thống kê được sử dụng gồm: tính trung bình cộng, tính tỉ lệ phần trăm, so sánh dựa trên trị số thống kê

8 Những đóng góp mới của luận án

Trên cơ sở đó, luận án đề xuất 4 giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL đáp ứng yêu cầu đổi mới GD bằng việc giải quyết các mâu thuẫn, tháo gỡ khó khăn

và khắc phục bất cập từ thực trạng quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL hiện nay,

đồng thời khẳng định và luận giải về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp

đã được đề xuất cùng với việc triển khai thực nghiệm hiệu quả thực tiễn của giải pháp lập kế hoạch hoạt động ĐT, BD ĐNGVTH và đổi mới công tác tuyển dụng, sử dụng ĐNGVTH vùng ĐBSCL góp phần nâng cao chất lượng GVTH trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC

THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học theo yêu cầu đổi mới giáo dục

1.1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học ở nước ngoài

1.1.1.1 Một số nghiên cứu về công tác phát triển GV, yêu cầu đối với người

GV trong hoạt động dạy học - giáo dục

Có thể nói, những nghiên cứu về công tác phát triển GV, yêu cầu đối với người GV trong hoạt động dạy học - giáo dục được triển khai ở nhiều quốc gia trên thế giới trong một khoảng thời gian dài Vì thế, việc chọn lọc những nghiên cứu về công tác phát triển GV, yêu cầu đối với GV trong hoạt động dạy học - giáo dục được nhìn nhận tổng thể dựa trên luận điểm đặt nó vào trong bối cảnh phát triển.Đầu tiên, có thể điểm qua những nghiên cứu về công tác phát triển GV, yêu cầu đối với GV trong hoạt động dạy học trên bình diện chung

Nền giáo dục quốc tế đang có những thành tựu đáng kể trong đổi mới từ cấp vĩ

mô như triết lý giáo dục, các xu hướng đào tạo nguồn nhân lực đến cấp vi mô như đổi mới từng cấp học trong hệ thống giáo dục, đổi mới cách tiếp cận trong thiết kế chương trình, đổi mới trong thiết kế các phương thức đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục theo hướng phân cấp Từ nửa cuối thế kỷ

XX, trên thế giới tồn tại hai mô hình đào tạo và quản lý GV chủ yếu là đào tạo GV trong các trường đại học đa ngành và đào tạo GV trong các trường đại học sư phạm Các trường đại học tổng hợp lớn như Oxford, Cambridge (Anh), Tokyo, Hiroshima (Nhật), Harvard, Stanford, Texas (Hoa Kỳ), Victoria (Canada), đại học Sydney, New-England (Australia), các trường đại học quốc gia ở Singapore, Hong Kong… đều có các khoa giáo dục đào tạo GV cùng với việc quản lý một cách khoa học nguồn nhân lực trong quá trình đào tạo Nét đặc trưng của mô hình này là đào tạo kiến thức chuyên môn từ 3 đến 5 năm, sau đó sinh viên được đào tạo các kiến thức

Trang 20

và kỹ năng nghiệp vụ sư phạm [37, tr.12] Những sinh viên tốt nghiệp được quản lý

gián tiếp trong sự phối hợp với nơi họ công tác và các hiệp hội nghề để tiếp tục bồi dưỡng, không ngừng phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu luôn đổi mới của nhiệm vụ giáo dục Đây là một kinh nghiệm trong công tác đào tạo, sau đào tạo ở một số quốc gia, trường đại học để đảm bảo chất lượng cho đội ngũ GV với thực tiễn nghề nghiệp

Ở các nước phát triển, yêu cầu và tiêu chí về chất lượng GV cũng được đặt ra trước xu thế phát triển giáo dục - đào tạo và nhu cầu tăng trưởng kinh tế Vì thế, nhiều nước trên thế giới rất quan tâm đến chất lượng đội ngũ GV và các biện pháp

để đào tạo - bồi dưỡng trong tiến trình quản lý Có thể đề cập đến một số công trình:Nghiên cứu của các nước thành viên OECD chỉ ra các phẩm chất cần có đối với GV, đó là: 1) Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình dạy; 2) Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; 3) Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; 4) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; 5) Có năng lực quản lý, kể

cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học [50] Rõ ràng, đây là những nội dung liên quan đến việc bồi dưỡng đội ngũ GV nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục Điều này trở thành kinh nghiệm quan trọng có thể sử dụng trong luận án

Michel Develay, trong tác phẩm Một số vấn đề về đào tạo GV đã quan niệm:

“Ðào tạo GV mà không làm cho họ có trình độ cao về năng lực tương ứng không chỉ với các sự kiện, khái niệm, định luật, lý thuyết, hệ biến hóa của môn học đó, mà

còn cả với khoa học luận của chúng là không thể được” [28, tr.69] Ở tác phẩm này,

Michel Develay đã bàn về các vấn đề như: quan niệm, nội dung, phương thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp của GV… Từ đây, có thể nhận thấy khuynh hướng nghiên cứu về quản lý đội ngũ GV là một trong những hướng nghiên cứu được quan tâm khá nhiều trên thế giới

Khi đề cập đến phát triển đội ngũ GV, một số nghiên cứu gần đây đề cao việc thúc đẩy phát triển bền vững và sự thích ứng nhanh của GV Với sự xuất hiện của

Trang 21

các công nghệ dạy học hiện đại, sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật thì yêu cầu về vai trò và chức năng của người thầy càng trở nên cấp thiết Vấn đề đặt ra

là GV phải thích ứng cao trước yêu cầu đổi mới Theo Daniel R.Beerens, Nhà giáo không chỉ là nhà chuyên môn, mà còn là nhà lãnh đạo (trong lãnh đạo hoạt động học tập của HS) [73] Luận điểm này cho thấy phát triển bền vững GV là trách nhiệm của bản thân nhà giáo nhưng đó cũng chính là trách nhiệm của những cơ sở

sử dụng nguồn nhân lực này nếu muốn đảm bảo hiệu quả giáo dục HS

Theo tổng kết của UNESCO sự thay đổi vai trò của người GV đang diễn ra theo hướng:

(1) Người GV phải đảm nhiệm nhiều chức năng hơn so với trước và có trách nhiệm nặng hơn trong việc lựa chọn các nội dung dạy học và giáo dục; (2) Vai trò của người GV đang chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học tập của HS; (3) Coi trọng hơn việc cá biệt hóa trong học tập của HS và thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò; (4) Yêu cầu người GV phải biết sử dụng rộng rãi các phương tiện dạy học hiện đại, do đó đặt ra yêu cầu trang bị thêm các kiến thức và kỹ năng cần thiết; (5) Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn các GV cùng trường, thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa các GV với nhau; (6) Yêu cầu thắt chặt hơn các mối quan hệ với cha mẹ HS và cộng đồng nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống; (7) Yêu cầu người GV phải tham gia các hoạt động rộng rãi trong và ngoài nhà trường; giảm bớt và làm thay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ đối với HS, nhất là đối với HS lớn và với cha mẹ HS [71]

Trên cơ sở này, có thể thấy việc quản lý đội ngũ GV nhằm phát triển GV là trách nhiệm của nhà quản lý trường học cũng như lực lượng khác có liên quan

Kế đến, vấn đề quản lý đội ngũ GV theo chuẩn nghề nghiệp cũng đã được nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau Đây cũng là một trong những khuynh hướng có liên quan chặt đến quản lý đội ngũ GV Vì nếu chuẩn nghề nghiệp trở thành công cụ quản lý thì bất kỳ sự vận động nào của chuẩn cũng kéo theo sự thay đổi nhất định trên bình diện quản lý đội ngũ GV

Trang 22

Tại Hoa Kỳ, sau Hội thảo Camegie về “Giáo dục và ảnh hưởng của nhiệm

vụ kinh tế vào trong giảng dạy” (1987), NBPTS (National Board of Professional Teaching Standards) đưa ra nguyên tắc định hướng nghề

nghiệp: Thầy giáo cần phải biết và cần phải làm cái gì? Theo đó, sứ mệnh tương lai nhà giáo cần đạt tới gồm 5 vấn đề cốt lõi là: kiến thức, kỹ năng,

phẩm chất, thái độ và niềm tin Đây là sự bảo đảm giá trị của một nhà giáo quốc gia Người thầy cần: biết tận tâm với HS và sự học hành; hiểu biết và làm chủ môn học, có sự liên hệ với các môn khác; có nền tảng tri thức, văn hóa chung để hiểu giới trẻ, biết ứng xử và bắt nhịp với thời đại Người thầy cần làm: giảng dạy, quản lý, kiểm tra đánh giá việc học của HS; khám phá phân loại khả năng và tôn trọng năng lực cá nhân trong dòng chảy chung của

sự phát triển cộng đồng và xã hội; thầy giáo phải là thành viên đáng tin cậy của cộng đồng học tập [47]

Có thể nói ý tưởng này là vấn đề khá quan trọng khi không chỉ ngay trong trường đào tạo GV mà đến khi công tác, quản lý đội ngũ cần quản lý các phẩm chất,

kỹ năng nghề nghiệp nếu muốn đảm bảo hiệu quả giáo dục

Tại Australia, các nhà nghiên cứu giáo dục đã lập ra hệ thống các tiêu chuẩn đối với GV với 12 tiêu chí: (1) Thiết lập những kinh nghiệm học linh động và sáng tạo cho các cá nhân và các nhóm; (2) Đóng góp vào việc phát triển ngôn ngữ, khả năng đọc viết và toán; (3) Xây dựng những kinh nghiệm học tập mang tính thử thách về mặt trí tuệ; (4) Xây dựng những kinh nghiệm học tập phù hợp, có mối liên kết với thế giới bên ngoài trường học; (5) Xây dựng những kinh nghiệm học tập mang tính tổng quát và có sự tham gia; (6) Kết hợp công nghệ thông tin và liên lạc

để tăng hiệu quả việc học của HS; (7) Đánh giá và báo cáo việc học của HS; (8) Hỗ trợ việc phát triển và tham gia xã hội của thanh niên; (9) Tạo ra môi trường học tập

an toàn và mang tính hỗ trợ; (10) Xây dựng những mối quan hệ với cộng đồng rộng lớn hơn; (11) Đóng góp vào những nhóm nghề; (12) Tham gia thực hiện những hoạt động nghề giáo Đây là cơ sở quan trọng để quản lý nghề giáo mà người GV cần không ngừng hoàn thiện để đáp ứng Chính vì thế, đội ngũ GV cần được vạch ra

Trang 23

chiến lược hay kế hoạch phát triển, phải thực thi hành động phát triển, kiểm tra việc phát triển cũng như đánh giá công tác phát triển này

Nhiều nghiên cứu cho thấy, công tác quản lý chất lượng đội ngũ GV nói riêng, đội ngũ lao động ở các ngành nghề khác nói chung đều dựa trên Chuẩn nghề nghiệp Chẳng hạn, ở Anh, Bỉ, Australia, Canada, Chuẩn nghề nghiệp đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố Các cơ quan quản lý sẽ căn cứ vào đó để xây dựng chương trình đào tạo GV, các trường học và GV sẽ căn cứ vào đó đưa ra chương trình bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu phát triển ở các nước đó [52]

Nhìn chung, các nghiên cứu nước ngoài đã đề cập đến việc phát triển đội ngũ

GV, yêu cầu đối với GV trong hoạt động dạy học - giáo dục Một trong những kinh nghiệm nổi bật là GV phải làm chủ được môn học (nội dung), thu hút được HS tham gia học tập (phương pháp), đánh giá được việc học của HS (mục tiêu) trong tiến trình phát triển nghề nghiệp Nói cách khác, việc phát triển đội ngũ GV được những nhà quản lý giáo dục cũng như bản thân nhà giáo phải tích cực thực hiện nhằm đáp ứng những yêu cầu của nghề nghiệp, của xã hội không ngừng phát triển

1.1.1.2 Một số nghiên cứu về quản lý GVTH

Trước hết, có thể đề cấp đến thực tiễn đào tạo và quản lý GVTH ở một số quốc gia để nhận thấy biện pháp quản lý GVTH được triển khai một cách cụ thể.Nhật Bản

Nhật Bản là quốc gia có sự phát triển kinh tế vượt bậc trong nhiều thập kỷ qua Những năm 1980, Nhật Bản đã đặt ra cho hệ thống giáo dục hai vấn đề lớn: 1) Giáo dục phải được phát triển như thế nào để bảo đảm vị trí siêu cường về kinh tế - kỹ thuật của Nhật Bản khi bước vào thế kỷ XXI; 2) Làm thế nào để giữ gìn và phát huy truyền thống Nhật Bản trong quá trình hiện đại hóa đất nước Để thực hiện hai vấn

đề trên, Nhật Bản đã có nhiều chính sách trong quản lý đội ngũ GVTH: thực hiện nhất quán chính sách ưu đãi và chăm lo đến cuộc sống và trình độ của GV GVTH

có một vị trí rất quan trọng trong đời sống xã hội, GV được quan tâm ưu đãi nhiều

về lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng, miễn các khoản đóng góp nghĩa vụ xã hội

Trang 24

GVTH được đào tạo, bao gồm GV dạy nhiều môn và GV dạy các môn đặc thù như nội trợ, âm nhạc Các nhà quản lý luôn tạo môi trường để GV cải thiện sự hiểu biết của bản thân như học tập, bồi dưỡng để nâng cao trình độ [38, tr.447] Kinh nghiệm

về việc nhà quản lý cần tạo môi trường để GV cải thiện sự hiểu biết, nghề nghiệp là điều dễ dàng nhận thấy để có thể bổ sung vào hành động của đội ngũ quản lý GDTH trong đề tài nghiên cứu này

Singapore

Singapore luôn dành cho GDTH một sự quan tâm đặc biệt, chính sách phát triển và nâng cao chất lượng ĐNGVTH là một minh chứng sinh động ĐNGVTH của Singapore hầu hết đạt trình độ đại học hoặc thạc sĩ Bộ Giáo dục trực tiếp quản

lý đội ngũ GV và đội ngũ quản lý nhà trường Trong đào tạo, GVTH được đào tạo

từ hai nguồn cơ bản: 1) Đào tạo trực tiếp từ các Viện Sư phạm; 2) Tuyển dụng từ các ngành nghề ngoài sư phạm để đào tạo GV Những người đã có bằng cấp về các ngành nghề khác muốn trở thành GV phải qua một khóa đào tạo sư phạm 3 năm Công tác bồi dưỡng GVTH được xác định là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của giáo dục Singapore nhằm không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất nghề nghiệp của GV Hàng năm, GVTH phải tham gia và hoàn thành khóa bồi dưỡng là 100 giờ GVTH phải luôn đổi mới phương pháp dạy học nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của các đối tượng HS từ các vùng miền khác nhau [57] Điều này cho thấy công tác bồi dưỡng GVTH ở Singapore trở thành một giải pháp thường xuyên để quản lý đội ngũ GVTH Nếu so sánh với định hướng nghiên cứu của đề tài, muốn đảm bảo quản lý đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục thì không những cần đảm bảo việc bồi dưỡng thường xuyên hàng năm mà cần đầu tư có trọng điểm, thật sự hiệu quả thì đội ngũ mới có thể đáp ứng được những yêu cầu mới về giáo dục

Pháp

Pháp đã tiến hành một loạt những cải cách về giáo dục nhằm làm cho giáo dục đáp ứng những yêu cầu mới của đất nước và phù hợp với xu thế toàn cầu hóa vào thế kỷ XXI GVTH là cấp học có tính chất bắt buộc Trong quản lý đội ngũ GV,

Trang 25

Pháp tập trung vào việc đổi mới phương pháp dạy học, người GV phải hướng vào việc giúp đỡ từng HS, cá biệt hóa trong dạy học, HS được rèn luyện theo đà phát triển phù hợp nhất với các nhu cầu và khả năng của từng em Trong đào tạo GVTH, các cấp quản lý quan tâm đến phát triển đại học nhằm mở rộng đào tạo GVTH có trình độ đại học [49, tr.253] Bên cạnh đó, cũng như các nước phát triển khác, chủ trương phân cấp, phân quyền trong quản lý giáo dục ở nước Pháp cũng được thể hiện rõ trong những thập niên gần đây Hiệu trưởng các trường có nhiều quyền quyết định và linh hoạt hơn trong công tác điều hành Địa vị của nhà giáo đã được nâng cao, GVTH rất tự hào về nghề nghiệp của mình [30] Đây là một trong những kinh nghiệm có thể ứng dụng trong đề tài nghiên cứu này vì nếu người quản lý ý thức được vai trò, vị trí cũng như quyền hạn của mình, công tác quản lý đội ngũ sẽ được tiến hành một cách có hiệu quả, có chất lượng trong sự tự tin, tự chịu trách nhiệm, có tư duy, sáng tạo.

Phần Lan

Nền giáo dục hiện đại của Phần Lan luôn được xếp vào nhóm hàng đầu thế giới Trong quản lý đội ngũ GVTH, Phần Lan đòi hỏi GV trong hệ thống giáo dục toàn diện phải đạt trình độ thạc sĩ trở lên GV dạy TH (từ lớp 1 đến lớp 6) phải có trình độ thạc sĩ giáo dục (Master of Education - M.Ed) GV đứng lớp ở TH được xã hội hết sức coi trọng Chính vì thế, GVTH ở Phần Lan được chọn từ những người thật sự đam mê, tâm huyết và đa tài, có kỹ năng sư phạm tuyệt vời GV không chỉ là nhà giáo đơn thuần mà còn là nhà nghiên cứu độc lập về giáo dục, GVTH được xem

là “người đem lại ánh sáng” cho cộng đồng Trong phân cấp, GVTH được giao quyền tự chủ cao trong soạn giảng, tự do sáng tạo trong nghề nghiệp, nhưng có trách nhiệm phát triển hơn nữa kinh nghiệm trong nghề dạy học Trong công tác bồi dưỡng GV, Phần Lan có nhiều cơ quan giáo dục tổ chức các khóa bổ túc và bồi dưỡng GV, nhằm đảm bảo GV liên tục được cập nhật kiến thức và phương pháp giảng dạy mới nhất để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ [30]

Như vậy, công tác quản lý đội ngũ GV theo chuẩn nghề nghiệp là xu hướng chung của các nước trên thế giới Quản lý theo chuẩn nghề nghiệp là quản lý năng

Trang 26

lực nghề nghiệp của GV trong cả quá trình từ khi được đào tạo đến suốt thời gian làm nghề dạy học Đặc biệt là tập trung vào việc đánh giá và tự đánh giá năng lực nghề nghiệp của GV theo chuẩn [51] Nói cách khác, thực chất của việc này là đánh giá khả năng tổ chức và thực hiện các hoạt động giảng dạy, giáo dục của GV sao cho phù hợp với mục tiêu và hiệu quả GDTH Đây cũng là công cụ để đo năng lực nghề nghiệp, là cơ sở để GV xây dựng kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng

* Quá trình đào tạo kết hợp với quản lý GV

Ở các nước phương Tây, quá trình đào tạo và quản lý được chia làm ba giai đoạn: đào tạo và quản lý ban đầu (initial teacher training), đào tạo và quản lý tập sự (induction training) và quản lý trong phát triển nghề nghiệp (continuing professtion development) Đào tạo ban đầu là thời kỳ học chính quy trong trường sư phạm theo thời gian quy định bắt buộc có sự quản lý chặt chẽ Đào tạo tập sự là thời kỳ thực tập quy định cho GV mới vào nghề từ 12 đến 24 tháng Sau đó SV được cấp chứng chỉ hành nghề dạy học Phát triển nghề nghiệp là giai đoạn từ khi bắt đầu làm GV đến khi không còn dạy học Đây là giai đoạn cần phải quản lý và phân công hợp lý nhằm phát huy tối đa khả năng của mỗi người

Song song với những kinh nghiệm về quản lý GVTH ở các nước trên thế giới,

có thể đề cập đến một số nghiên cứu có liên quan đến vấn đề quản lý ĐNGVTH thông qua các nghiên cứu cụ thể, các mô hình quản lý đội ngũ cụ thể:

Theo Michel Develay, muốn nâng cao chất lượng, công tác đào tạo - bồi dưỡng GV phải tuân thủ những yêu cầu nhất định Đào tạo phải dành sự quan tâm đến hoạt động nghề nghiệp của GV Nhiệm vụ chủ yếu của GV là giáo dục, giảng dạy Vì vậy, GV phải có kiến thức, kỹ năng tổ chức hoạt động học tập theo mục đích giáo dục Kết hợp chặt chẽ kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn, kiến thức thực tế với kiến thức về lý luận dạy học để chọn cách dạy, cách học phù hợp nhất với đối tượng của mình Công tác đào tạo phải chấp nhận nguyên tắc điều chỉnh, bổ sung để gắn chặt kiến thức kỹ năng đào tạo với các yêu cầu thực tiễn giảng dạy của GV, giúp họ có năng lực hoàn thành nhiệm vụ cơ bản trong giáo dục dạy học [28, tr.9]

Trang 27

Có thể nói đây là cơ sở quan trọng để điều chỉnh việc bồi dưỡng GV trong thực tiễn ở Việt Nam để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

Các quốc gia trên thế giới đều có nhiều mô hình quản lý GV theo những tiêu chuẩn cụ thể Tăng trưởng kinh tế cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học

và công nghệ đã làm biến đổi giáo dục một cách cơ bản Cơ cấu lao động xã hội thay đổi làm cho giáo dục cũng phải thay đổi Nội dung chương trình giảng dạy trong nhà trường phải có sự điều chỉnh cho phù hợp Cùng tham gia vào quá trình dạy học, các phương tiện, kỹ thuật dạy học hiện đại đã có những đóng góp không nhỏ vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học Những yêu cầu về đào tạo, bồi

dưỡng và cơ cấu lại ĐNGVTH theo hướng chuẩn hóa để có thể phát huy được hiệu

quả đang được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm Là bậc học đầu tiên, yêu cầu quản lý ĐNGVTH phải không ngừng cập nhật kiến thức mới, đòi hỏi của xã hội

để GVTH có thể làm tốt nhất chức năng giáo dục và dạy học [10]

Các nghiên cứu ngoài nước cho thấy công tác quản lý ĐNGVTH theo hướng nâng cao chất lượng đang được quan tâm nhằm đáp ứng yêu cầu mới về chức năng

và nhiệm vụ của GV Công tác quản lý ĐNGVTH không thể chỉ quản lý về hành chánh mà cần quản trị con người theo khuynh hướng phát triển Trên cơ sở này, quan niệm về quản lý ĐNGVTH theo định hướng phát triển tối đa về năng lực, hoàn thiện phẩm chất nghề nghiệp trong đó có chú trọng khai thác kinh nghiệm nghề nghiệp và kỹ năng tổ chức dạy học hiện đại được chú trọng

Tóm lại các nghiên cứu trên thế giới về quản lý đội ngũ GVTH được khai thác khá rộng nhưng trọng điểm của hướng nghiên cứu vẫn đề cập đến việc quản lý đội ngũ GVTH theo chuẩn nghề nghiệp, quản lý đội ngũ GVTH theo sự phát triển không ngừng của xã hội và nghề nghiệp Các nội dung trong quản lý đội ngũ GVTH được đề cập nhiều nhất vẫn là đào tạo - bồi dưỡng và kích thích nhu cầu tự đào tạo,

tự hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp không ngừng nâng cao, đổi mới

Trang 28

1.1.2 Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý đội ngũ GVTH ở trong nước

1.1.2.1 Một số nghiên cứu về quản lý đội ngũ GV

Lịch sử nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ GV gắn liền với lịch sử phát triển giáo dục Việt Nam Hơn năm mươi năm xây dựng và phát triển, nền giáo dục nước ta đã xây dựng được một hệ thống giáo dục liên thông và hoàn chỉnh từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, nhu cầu nhân lực và nhân tài của xã hội Vấn đề phát triển đội ngũ GV đã được Bác Hồ, Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục” Người còn chỉ rõ vai trò và ý nghĩa của nghề dạy học: “Có gì vẻ vang hơn là đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”, “các thầy cô giáo

có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc”, “các cô, các chú đã thấy trách nhiệm to lớn của mình, đồng thời cũng thấy khả năng của mình cần được nâng cao thêm lên mãi mới làm tròn nhiệm vụ” [53] Thực hiện tư tưởng của Hồ Chủ tịch, hơn nửa thế kỷ qua, Đảng và Nhà nước không ngừng quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ GV, trong đó tập trung vào các nghiên cứu về quản lý đội ngũ GV Nhiều nghiên cứu về quản lý đội ngũ GV triển khai dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đây cũng là một trong những mối quan tâm của toàn xã hội và là vấn đề trọng yếu trong chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nêu rõ nhận thức: “đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ công

nghiệp hóa, hiện đại hóa” [2, tr.20] Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam

2011-2020 khẳng định “phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” [26, tr.1]

Đầu thế kỉ XXI đến nay, nền giáo dục thế giới có những bước tiến lớn với nhiều thành tựu mọi mặt Hầu hết các quốc gia nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải đầu tư cho giáo dục Đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư có lãi nhất

Trang 29

cho tương lai của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng, mỗi gia đình và mỗi cá nhân Hai mươi năm gần đây đã có rất nhiều sách, báo, đề tài, luận án, luận văn nghiên cứu về giáo dục, dạy học ở các cấp từ TH đến đại học, trong đó có những công trình nghiên cứu về giáo dục - đào tạo trong các trường sư phạm Có thể đơn cử một số luận án

và đề tài nghiên cứu như: Luận án tiến sĩ giáo dục học “Các giải pháp phát triển đội ngũ GV THCS trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước” của Lê Khánh Tuấn (2005),

Trường ĐHSP Hà Nội [70]; Đề tài trọng điểm cấp Bộ của Nguyễn Thị Quy (2007)

“Các giải pháp bồi dưỡng để nâng cao chất lượng ĐNGVTH ĐBSCL”, Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường ĐHSP TP.HCM [61]; Luận án tiến sĩ giáo dục học

“Bồi dưỡng năng lực sư phạm cho GVTH dân tộc Khmer tỉnh Bạc Liêu” của Nguyễn Văn Tấn (2011), Đại học Sư phạm Hà Nội [65],…

Tác giả Trần Ngọc Giao thực hiện đề tài nghiên cứu cấp bộ “Các giải pháp cơ

bản đổi mới quản lý giáo dục” cũng đề xuất giải pháp đổi mới quản lý giáo dục phổ

thông, đặc biệt là đổi mới quản lý nguồn nhân lực phổ thông hiện nay [35]

Trong 25 năm trở lại đây các tac gia nghiên cứu về GV đã tập trung vào vấn đề

lý luận và tổng kết thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng GV, đánh giá thực trạng đội ngũ

GV về động lực của nhà giáo, về lao động của GV; trên cơ sở đó thiết kế các chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho GV các cấp học; đề xuất các biện pháp đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp bồi dưỡng GV, phương pháp đào tạo ở trường sư

phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông [7, tr.19] Bên cạnh

đó, nghiên cứu quản lý đội ngũ GV còn được thực hiện dưới góc độ quản lý giáo dục

ở cấp độ vĩ mô và vi mô Nhiều hội thảo khoa học, nhiều tài liệu về chủ đề quản lý đội ngũ GV dưới góc độ quản lý giáo dục theo ngành, bậc học đã được thực hiện Các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo trong tài liệu

“Quản lý giáo dục” đưa ra yêu cầu chung về xây dựng và phát triển đội ngũ GV Theo đó, các yêu cầu cần phải chú ý đến là: đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng

và đồng bộ về cơ cấu Tác giả phân tích các chức năng quản lý trong phát triển đội ngũ GV từ việc lập kế hoạch, tổ chức - chỉ đạo và kiểm tra phải đảm bảo các vấn đề

về số lượng, chất lượng và cơ cấu Chính việc quan tâm 3 vấn đề: số lượng, chất

Trang 30

lượng, cơ cấu của đội ngũ GV là điều kiện cần cho sự phát triển; và chú ý đến tính đồng thuận của đội ngũ GV mới tạo điều kiện đủ cho sự phát triển bền vững của đội

ngũ Các tác giả phân tích sâu về chất lượng và chất lượng giáo dục [39, tr.275] Song song đó, có thể đề cập đến một số bài viết đề cập đến quản lý công tác trường học trong đó trọng điểm là quản lý đội ngũ GV

Trong bài viết “Đổi mới quản lý nhà trường phổ thông theo phương thức lấy

nhà trường làm cơ sở”, Phạm Đỗ Nhật Tiến đề cập đến vị trí của nhà trường phổ

thông trong bối cảnh đổi mới quản lý giáo dục, xu thế chung trong bối cảnh đổi mới trường phổ thông Tác giả đã khẳng định, phương thức quản lý lấy nhà trường làm

cơ sở là bước đột phá trong đổi mới quản lý nhà trường phổ thông ở nước ta và đưa

ra các nguyên tắc cơ bản nhất thiết phải tuân theo khi thiết kế và triển khai phương thức quản lý nguồn nhân lực, đồng thời nêu những cơ hội, thách thức khi triển khai phương thức quản lý mới này [67]

Tác giả Nguyễn Sỹ Thư cho rằng chất lượng đội ngũ GV là tổng hòa những thuộc tính, những giá trị tạo nên đội ngũ GV Những thuộc tính này gắn bó với nhau trong một chỉnh thể thống nhất tạo nên giá trị và sự tồn tại của đội ngũ làm cho GV thực hiện được sứ mệnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của mình [66]

Các tác giả Bùi Văn Quân, Nguyễn Ngọc Cầu đã đưa ra 03 cách tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển đội ngũ GV: 1) Cách tiếp cận quản lý và phát triển nguồn nhân lực theo sơ đồ của Chirstan Batal; 2) Tiếp cận theo phương pháp quản lý bao gồm: phương pháp giáo dục, vận động tuyên truyền; phương pháp hành chính; phương pháp kinh tế; 3) Tiếp cận theo nội dung phát triển đội ngũ GV Theo các tác giả, việc lựa chọn cách tiếp cận nào là do ý thức lý luận và kết quả phân tích thực tiễn của nhà nghiên cứu quyết định [55] Luận điểm này là một điểm nhấn thú vị có thể khai thác và ứng dụng để tiếp tục phát triển ĐNGVTH nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong tình hình chung

Bên cạnh đó, những nhà nghiên cứu thực tiễn giáo dục và quản lý giáo dục còn rất quan tâm vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ GV

Trang 31

Trong bài viết “Chất lượng GV”, Trần Bá Hoành đề xuất cách tiếp cận chất

lượng GV từ các góc độ: đặc điểm lao động của người GV, sự thay đổi chức năng của người GV trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng GV, chất lượng từng GV và chất lượng đội ngũ GV Các thành tố tạo nên chất lượng GV là phẩm chất và năng lực Ba nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng

GV là: quá trình đào tạo - sử dụng - bồi dưỡng GV, hoàn cảnh, điều kiện lao động sư phạm của GV, ý chí thói quen và năng lực tự học của GV Tác giả

đề ra 3 giải pháp cho vấn đề GV: phải đổi mới công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng và đổi mới việc sử dụng GV [43]

Bài viết “Nghề và Nghiệp của người GV” đăng trong Kỷ yếu Hội thảo nâng

cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ 2, Nguyễn Thị Mỹ Lộc đề cập tính

chất nghề nghiệp của GV Tác giả nhấn mạnh đến vấn đề “lý tưởng sư phạm”, cái tạo nên động cơ cho việc thực hành nghề dạy học của GV, thôi thúc GV sáng tạo, thúc đẩy GV không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ Từ

đó, cần phải xây dựng tập thể sư phạm theo mô hình “đồng thuận” ở đó GV trong quan hệ với nhau có sự chia sẻ “bí quyết nhà nghề”; đồng thời, những yêu cầu về năng lực chuyên môn của người GV là nền tảng của mô hình đào tạo GV thế kỷ XXI: sáng tạo và hiệu quả [48]

Trong bài viết “Chất lượng GV và những chính sách cải thiện chất lượng

GV” đăng trên tạp chí Phát triển giáo dục số 2 năm 2003, tác giả Nguyễn

Thanh Hoàn trình bày khái niệm chất lượng GV bằng cách phân tích kết quả nghiên cứu về chất lượng GV các nước thành viên OECD Tác giả đưa ra những đặc điểm và năng lực đặc trưng của một GV qua phân tích 22 năng lực trên góc độ tiếp cận năng lực giảng dạy và giáo dục Tác giả cũng đề cập chính sách cải thiện và duy trì chất lượng GV ở cấp vĩ mô và vi mô; từ đó, nhấn mạnh đến 3 vấn đề quyết định chất lượng GV: bản thân người GV, nhà trường, môi trường chính sách bên ngoài [42]

Tác giả Trần Kiều khi bàn về chiến lược phát triển giáo dục đã coi chất lượng đội ngũ GV là yếu tố quan trọng hàng đầu Ông cho rằng, muốn nâng cao chất

Trang 32

lượng giáo dục không thể không chú ý chất lượng đội ngũ GV Theo đó, GV phải

đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và tay nghề ngày càng được nâng cao [46]

Khi đề cập đến các giải pháp phát triển đội ngũ GV THCS trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước, Lê Khánh Tuấn đã xác định GV là yếu tố cơ bản, là

“tế bào” của đội ngũ Tác giả đặt ra yêu cầu đối với GV là phải được chuẩn

hóa, hiện đại hóa để đạt những tiêu chuẩn về cá nhân Trong phát triển đội

ngũ phải đảm bảo tính xã hội hóa, tức là cần có sự tham gia của các lực lượng xã hội vào công tác bồi dưỡng, đào tạo GV; đồng thời phải bảo đảm tính dân chủ hóa để phát huy trí tuệ của mỗi cá nhân trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, tự tu dưỡng cá nhân [70]

1.1.2.2 Một số nghiên cứu về quản lý đội ngũ GVTH

Trong thực tế, có khá nhiều nghiên cứu về quản lý đội ngũ GVTH Những nghiên cứu này đề cập đến các chức năng quản lý đội ngũ, nội dung quản lý đội ngũ GVTH Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, có thể đề cập đến một số công trình sau:

Đầu tiên, đó là bài viết tại các hội thảo: Hội thảo “Nâng cao chất lượng đào

tạo GVTH đáp ứng yêu cầu phát triển GVTH giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Hội thảo “Nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục - Trường Đại học sư phạm Hà Nội” [7]

Kế đến, các bài viết tập trung các giải pháp phát triển đội ngũ GV trong đó có GVTH Các giải pháp nâng cao chất lượng GV được tựu trung vào giải pháp đào tạo và bồi dưỡng GV của một số tác giả như:

Đặng Huỳnh Mai trong bài viết “Một số vấn đề về đổi mới quản lý GDTH vì

sự phát triển bền vững”, đã nhấn mạnh GVTH là người góp phần quyết định trong việc thực hiện hoạt động dạy và học có chất lượng, thực hiện phổ cập GDTH Chính vì thế, nhà quản lý phải chăm lo nâng cao chất lượng đội ngũ GVTH Trước yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, tác giả đặt

ra những đòi hỏi mới về phẩm chất đạo đức, năng lực nghề nghiệp của

GVTH; nhấn mạnh bồi dưỡng GVTH theo hướng chuẩn hóa, đáp ứng chuẩn

nghề nghiệp là một giải pháp tích cực trong việc xây dựng đội ngũ GVTH

Trang 33

Đồng thời, tác giả cho rằng quản lý chất lượng ĐNGVTH theo chuẩn là cách nhìn mới trong quản lý giáo dục nước ta, là xu hướng chung trên thế giới [52, tr.18].

Việc đánh giá GV theo chuẩn là yêu cầu mới cần tiếp tục nghiên cứu trong thực tiễn quản lý giáo dục Tác giả Nguyễn Trí cho rằng, xây dựng và quản lý

ĐNGVTH theo chuẩn trình độ đào tạo sang xây dựng và quản lý ĐNGVTH theo chuẩn nghề nghiệp đang là nhu cầu hiện nay Đây là quá trình đưa ĐNGVTH nước

ta lên trình độ khu vực, thế giới trong tiến trình hội nhập [69, tr.24]

Liên quan đến công tác quản lý ĐNGVTH về nâng cao năng lực nghề nghiệp,

Đỗ Đình Hoan cùng các cộng sự nghiên cứu xây dựng chương trình dạy học năm

2000 Đỗ Đình Hoan, Nguyễn Hữu Dũng, Đặng Vũ Hoạt nghiên cứu về lý luận dạy học nêu lên phương hướng triển vọng của việc đổi mới phương pháp dạy học và cơ

sở lý luận của việc vận dụng những phương pháp dạy học mới ở trường TH [41]

Kế đến, có thể đề cập nghiên cứu cấp Bộ về công tác đào tạo bồi dưỡng GV:

“Nghiên cứu định hướng công tác đào tạo bồi dưỡng GV cho các giai đoạn 2007 -

2010 và 2011 - 2020”, B2007-17-78, ĐHSP Hà Nội; đề tài “Giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ GV”, mã số: B2004-CTGD-07, Bộ GD&ĐT Hoặc Trung

tâm nghiên cứu giáo dục dân tộc và Viện nghiên cứu giáo dục với “Nghiên cứu về

giáo dục và GV dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Khmer nói riêng”.

Công tác xã hội hóa trong bồi dưỡng, đào tạo GVTH cần được tiếp tục nghiên cứu nhằm huy động thêm các nguồn lực xã hội để nâng cao chất lượng đội ngũ Nguyễn Ngọc Dũng đã đề cập đến nội dung chuẩn về quản lý, chuẩn về GV, chuẩn

về xã hội hóa, chuẩn về chất lượng giáo dục trong trường TH [29]

Trong chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành quản lý giáo dục, nhiều tác giả luận án, luận văn đã chọn đề tài nghiên cứu về vấn đề quản lý đội ngũ GV

nói chung và quản lý GVTH nói riêng Luận án tiến sĩ Giáo dục học: “Cơ sở lý luận

và thực tiễn về phân cấp quản lý trường trung học phổ thông Việt Nam” của

Nguyễn Tiến Hùng đã nghiên cứu một số cơ sở lý luận và kinh nghiệm về phân cấp quản lý trường trung học phổ thông, từ đó phân tích thực trạng những khó khăn

Trang 34

chính tồn tại trong hệ thống phân cấp quản lý trường trung học phổ thông Việt Nam Tác giả nghiên cứu ở phạm vi vĩ mô, những giải pháp phân cấp quản lý trường THPT do tác giả đề xuất chỉ được khảo nghiệm [44] Kinh nghiệm đề tài là

cơ sở quan trọng để luận án của chúng tôi xem xét về các giải pháp quản lý ĐNGVTH đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, đảm bảo khai thác sức mạnh của các cấp quản lý dù sự phân cấp quản lý được đảm bảo khoa học, logic

Luận án tiến sĩ quản lý giáo dục “Phát triển đội ngũ GV tin học THPT theo

quan điểm chuẩn hoá và xã hội hoá”, Vũ Đình Chuẩn đã đề cập đến việc vận dụng

lý luận quản lý giáo dục, quản lý nhân lực vào giải quyết một vấn đề thực tiễn của công tác quản lý phát triển đội ngũ GV tin học ở các trường THPT theo quan điểm chuẩn hóa và xã hội hóa [27] Luận án này cũng đã đề cập đến cơ sở khoa học của việc phát triển đội ngũ GV theo quan điểm luận, một cách tiếp cận có thể ứng dụng trong công tác quản lý ĐNGVTH theo yêu cầu đổi mới giáo dục

Ngoài ra, các luận án, luận văn sau cũng góp phần củng cố hướng nghiên cứu

về quản lý ĐNGVTH theo yêu cầu đổi mới giáo dục: Luận văn Thạc sĩ của Trần Thị Lan (2010), “Thực trạng và một số giải pháp xây dựng đội ngũ GVTH của một

số trường tiểu học ở quận 4 thành phố Hồ Chí Minh”; Luận án Tiến sĩ của Vũ Thị

Thu Huyền (2015), “Quản lý công tác bồi dưỡng GVTH theo chuẩn nghề nghiệp”; Luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục của Nguyễn Thị Huyền Trang (2016), “Quản lý nhà nước về phát triển đội ngũ GV các trường tiểu học trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội”; Đây là những đóng góp làm cho hướng nghiên cứu dày thêm, tích lũy kinh nghiệm nhiều hơn để áp dụng cho đề tài luận án này

Riêng vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ GV, giảng viên và cán bộ quản lý ngành giáo dục và đào tạo vùng ĐBSCL cũng được nhiều tác giả quan tâm: Nguyễn

Thị Quy với đề tài “Các giải pháp bồi dưỡng để nâng cao chất lượng GVTH vùng

ĐBSCL”; từ thực tế khảo sát thực trạng ĐNGVTH tại một số tỉnh ĐBSCL, tác giả

nhấn mạnh muốn nâng cao năng lực GV trong vùng cần thực hiện được hai vấn đề

cơ bản là GV phải có mức lương đủ sống để không phải làm thêm nghề khác và GV được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thiết thực để nâng cao tay nghề; cần có

Trang 35

chính sách thỏa đáng đối với GV vùng sâu, vùng xa, đó là được hưởng chính sách như GV miền núi, dân tộc [61] Có thể nói, các đặc trưng của GVTH vùng ĐBSCL

và các giải pháp bồi dưỡng để nâng cao chất lượng GVTH vùng ĐBSCL là kinh nghiệm quan trọng luận án của chúng tôi xem xét Lẽ nhiên, đề tài nghiên cứu này nhìn nhận từ góc độ nhà quản lý sẽ quản lý ĐNGVTH nên cách tiếp cận không trùng lặp nhưng có thể tận dụng những kết quả nghiên cứu trên

Đề tài luận án tiến sĩ quản lý giáo dục “Phát triển đội ngũ giảng viên các

trường đại học ở vùng ĐBSCL đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học”, tác giả

Nguyễn Văn Đệ đã tiếp cận và cụ thể hóa một số nội dung, quan điểm của lý thuyết quản lý nguồn nhân lực vào việc nghiên cứu, quy hoạch, dự báo hoạt động phát triển đội ngũ giảng viên phù hợp với bối cảnh đổi mới của giáo dục đại học Việt Nam và vùng ĐBSCL nói riêng [31] Hơn thế nữa, kinh nghiệm tiếp cận các yêu cầu đổi mới giáo dục đại học để đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên

sẽ là kinh nghiệm quan trọng luận án này có thể xem xét, học tập và phát triển

Tác giả Phạm Minh Giản với đề tài luận án tiến sĩ: “Quản lý phát triển đội

ngũ GV THPT các tỉnh ĐBSCL theo hướng chuẩn hóa” đề cập đến việc xây dựng,

quản lý phát triển đội ngũ GV THPT các tỉnh vùng ĐBSCL theo hướng chuẩn hóa, xem đó là một trong những giải pháp phát triển vững chắc giáo dục - đào tạo các tỉnh trong vùng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL [34] Đề tài này

đã tiếp cận lý thuyết về phát triển đội ngũ GV luận án này có thể tiến hành so sánh

Có thể đề cập đến Nguyễn Văn Tấn với luận án tiến sĩ: “Bồi dưỡng năng lực

sư phạm cho GVTH dân tộc Khmer tỉnh Bạc Liêu” đã khảo sát, đánh giá năng lực

sư phạm đặc thù của GVTH theo chuẩn nghề nghiệp để đề xuất các biện pháp bồi dưỡng phù hợp, hiệu quả đối với GVTH dân tộc Khmer của tỉnh [65] Kết quả nghiên cứu về biện pháp bồi dưỡng năng lực sư phạm cho GVTH dân tộc Khmer của đề tài này là cơ sở quan trọng để luận án có thể xem xét và phát triển cho công tác quản lý ĐNGVTH theo yêu cầu đổi mới giáo dục vùng ĐBSCL

Nhìn chung, mỗi công trình đề cập đến những khía cạnh khác nhau nhưng điểm chung là khẳng định vai trò của công tác quản lý ĐNGVTH trước yêu cầu

Trang 36

nâng cao chất lượng giáo dục theo yêu cầu đổi mới Đồng thời, yêu cầu quản lý ĐNGVTH không chỉ đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng mà phải đồng bộ về

cơ cấu Quản lý ĐNGVTH theo yêu cầu thực tiễn đang là xu thế chung của thời đại,

là giải pháp cấp thiết để nâng cao chất lượng GDTH, đáp ứng yêu cầu thực tế Trước tình hình về đổi mới giáo dục mà GDTH cũng không nằm ngoài cuộc, vấn đề quản lý ĐNGVTH cần tiếp tục nghiên cứu trong thực tiễn: yêu cầu đổi mới Nói cách khác, trước yêu cầu đổi mới giáo dục và đổi mới GDTH, công tác quản lý ĐNGVTH cần được nhìn nhận trong bối cảnh mới để đảm bảo hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng GDTH cũng như chất lượng giáo dục phổ thông hiện nay.Tóm lại, các nghiên cứu chuyên sâu trên từng lĩnh vực trong cái nhìn tổng thể

về ĐNGVTH và quản lý GVTH đã thực hiện Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đề cập trực tiếp đến quản lý ĐNGVTH đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay phù hợp với đặc điểm vùng miền, điều kiện kinh tế - xã hội của vùng miền đó Vì thế, đề tài luận án không trùng lặp nhưng có thể tiếp cận những kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước để có cái nhìn tương tác và tích lũy kinh nghiệm Việc tiến hành đề tài quản lý ĐNGVTH đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

có thể dựa trên kinh nghiệm tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước đảm bảo các nguyên tắc tiếp cận lịch sử và logic để tiến hành hiệu quả

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý giáo dục

Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Quản lý diễn

ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Vì vậy, quản lý

là khái niệm được xem xét hai góc độ: (1) Theo góc độ chính trị - xã hội: quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với lao động, vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý cho phù hợp; (2) Theo góc độ hành động: quản lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành [64, tr.40]

Theo tác giả Trần Khánh Đức, ở góc độ quản lý nguồn nhân lực thì: “Quản lý

là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các

Trang 37

nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất” [32]

Như vậy, quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan.Quản lý giáo dục được hiểu ở hai cấp độ: cấp vĩ mô quản lý một hoặc một loạt đối tượng có quy mô lớn bao quát toàn bộ hệ thống; cấp vi mô quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường gồm hoạt động có định hướng của hiệu trưởng đến các hoạt động giáo dục, con người, các nguồn lực, các ảnh hưởng ngoài nhà trường một cách hợp quy luật nhằm mục đích giáo dục Quản lý giáo dục là phạm trù xã hội, còn quản lý nhà nước được tiến hành trên cơ sở quyền lực nhà nước nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân thông qua quy phạm pháp luật

1.2.2 Đội ngũ GVTH

Đội ngũ là tập hợp gồm số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp tạo

thành một lực lượng Từ điển GDH: “Đội ngũ GV là tập hợp những người đảm

nhận công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định” [36].

Trong lĩnh vực giáo dục, thuật ngữ đội ngũ cũng được sử dụng để chỉ những tập hợp người được phân biệt với nhau về chức năng trong hệ thống giáo dục Ví dụ: đội ngũ GV, đội ngũ cán bộ quản lý trường học Đội ngũ GV được nhiều tác giả nước ngoài quan niệm như là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, nắm vững tri thức, hiểu biết về dạy học và giáo dục, có khả năng cống hiến toàn bộ sức lực và tài năng của họ đối với giáo dục Ở Việt Nam, khái niệm đội ngũ GV được dùng để chỉ một tập hợp lực lượng GV [72]

GVTH đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điều khiển và lãnh đạo các tác động giáo dục - đào tạo nhằm làm phát triển các thuộc tính nhân cách cho trẻ em lứa tuổi nhi đồng theo đúng mục tiêu GDTH Như vậy, ĐNGVTH tập hợp những người đảm nhận công tác giáo dục và dạy học cho HS TH có đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ theo quy định

Trang 38

Có thể xem xét nhiệm vụ của GVTH dựa vào một số căn cứ sau:

Điều lệ trường TH mới đã quy định nhiệm vụ người GVTH như sau:

- Giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học; soạn bài, lên lớp, kiểm tra, đánh giá, xếp loại HS; quản lý HS trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục

- Trau dồi đạo đức, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, uy tín, nhà giáo; gương mẫu trước HS, thương yêu, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách HS; bảo vệ các quyền lợi chính đáng của HS; đoàn kết giúp đỡ đồng nghiệp

- Tham gia công tác phổ cập TH ở địa phương

- Rèn luyện sức khoẻ, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục

- Thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành, các quyết định của Hiệu trưởng; nhận nhiệm vụ do Hiệu trưởng phân công, chịu

sự kiểm tra của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục

- Phối hợp với Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, với gia đình HS và các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng dạy và GD [6, tr.17], [11]

Theo thông tư liên tịch Số: 21/2015/TTLT-BGDĐT-BNV, nhiệm vụ của GVTH hạng IV - Mã số V.07.03.09 được quy định:

- Giảng dạy, giáo dục HS theo chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học tiểu học;

- Tham gia phát hiện, bồi dưỡng HS năng khiếu, phụ đạo HS yếu kém cấp tiểu học;

- Vận dụng các sáng kiến kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng vào thực tế giảng dạy, giáo dục và làm đồ dùng, thiết bị dạy học cấp tiểu học;

Trang 39

- Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới tổ chức lớp học, tổ chức hoạt động dạy học và đánh giá kết quả học tập theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực, hình thành năng lực và phương pháp tự học của HS;

- Hoàn thành các chương trình bồi dưỡng; tự học, tự bồi dưỡng trau dồi đạo đức, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ; tham gia các hoạt động chuyên môn; tham gia phổ cập GDTH, xóa mù chữ;

- Phối hợp với Đội TNTP HCM, gia đình HS và các tổ chức, đoàn thể liên quan để tổ chức, hướng dẫn các hoạt động giáo dục, tham gia tư vấn tâm lý

HS TH;

- Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và các hội thi cho HS TH;

- Chấp hành sự phân công, kiểm tra, đánh giá của các cấp quản lý giáo dục;

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do hiệu trưởng phân công [14, tr.5]

Theo chúng tôi, các nhiệm vụ được mô tả ở Thông tư liên tịch này có phần đầy đủ, cụ thể hơn nếu dựa trên mức độ hạng của ngạch GVTH từ hạng 4 đến hạng

2 Trên cơ sở sự chi tiết hóa các nhiệm vụ cụ thể của GVTH, có thể nhận thấy theo yêu cầu đổi mới giáo dục và đổi mới GDTH hiện nay, người GVTH cần có nhiều

cơ hội để hoàn thành nhiệm vụ đặc trưng của mình Từ đó, người cán bộ quản lý giáo dục cần quản lý đội ngũ để tạo điều kiện phát triển đội ngũ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Có thể khẳng định phải quản lý ĐNGVTH theo hướng nâng cao chất lượng, đặc biệt phải coi trọng đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chuẩn hoá và hiện đại hóa mới có thể đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong tình hình hiện nay

1.2.3 Quản lý đội ngũ GVTH

1.2.3.1 Quản lý đội ngũ GV

Quản lý đội ngũ GV là hoạt động gồm tuyển chọn, sử dụng, phát triển, động viên, tạo những điều kiện thuận lợi để đội ngũ GV hoạt động có hiệu quả nhằm đạt mục tiêu cao nhất của tổ chức và sự bất mãn ít nhất của đội ngũ trong tổ chức Nội dung quản lý đội ngũ GV bao gồm: (1) Dự báo nhu cầu và lập kế hoạch đào tạo đội ngũ GV; (2) Tuyển dụng, bố trí, sắp xếp đội ngũ GV; (3) Đào tạo và

Trang 40

bồi dưỡng đội ngũ GV; (4) Xây dựng và thực hiện các giải pháp quản lý phát triển năng lực nghề nghiệp đội ngũ GV [51].

1.2.3.2 Quản lý đội ngũ GVTH

Quản lý ĐNGVTH là hoạt động bao gồm tuyển chọn, sử dụng, phát triển, động viên, tạo những điều kiện thuận lợi để ĐNGVTH hoạt động có hiệu quả nhằm đạt mục tiêu cao nhất của tổ chức và sự hài lòng của ĐNGVTH trong tổ chức Nói cách khác, quản lý ĐNGVTH là hoạt động áp dụng các nguyên tắc pháp định như: công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đánh giá, đào tạo, trả lương và thực hiện các chế độ động viên khuyến khích vật chất, tinh thần cho GV (kể cả CBQL) nhằm nâng cao hiệu quả đội ngũ [15, tr.8]

Có thể xem xét nội dung quản lí đội ngũ GVTH theo nhóm công việc: (1) Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển đội ngũ GVTH; (2) Phân công, phân nhiệm cho GVTH; (3) Đánh giá, xếp loại GVTH; (4) Tạo động lực phát triển cho GVTH; (5) Bồi dưỡng phát triển chuyên môn cho GVTH [15]

1.2.3.3 Lý thuyết phát triển nguồn nhân lực trong quản lý đội ngũ GVTH

a Thuật ngữ quản lý đội ngũ GVTH

Theo tác giả Trần Kiểm thì quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức hiệu quả cao nhất [45]

Tác giả Nguyễn Lộc quan niệm: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên tổ chức, và sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được các mục tiêu của nó” [49]

Những quan điểm trên đều có các dấu hiệu chung: Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức, một nhóm xã hội Hoạt động quản lý là những hoạt động có tính hướng đích Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức

Ngày đăng: 11/07/2021, 16:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ (2015), Thông tư liên tịch số 21/2015/TTLT-BGD-ĐT ngày 16/9/2015 ban hành Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học công lập, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 21/2015/TTLT-BGD-ĐT ngày 16/9/2015 ban hành Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học công lập
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
15. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên CBQL trường tiểu học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên CBQL trường tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2017
16. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Chương trình Giáo dục phổ thông mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Giáo dục phổ thông mới
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2017
17. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Báo cáo Giáo dục toàn quốc năm 2012 – 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Giáo dục toàn quốc năm 2012 – 2013
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
18. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và đổi mới quản lý giáo dục tiểu học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và đổi mới quản lý giáo dục tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
19. Bộ Nội vụ (2006), Quy chế đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non và giáo viên phổ thông công lập, ban hành kèm theo Quyết định số 10/2006/QĐ- BNV ngày 21/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non và giáo viên phổ thông công lập
Tác giả: Bộ Nội vụ
Nhà XB: Bộ Nội vụ
Năm: 2006
22. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2005), Những xu thế quản lý hiện đại và việc vận dụng vào quản lý giáo dục, Bải giảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu thế quản lý hiện đại và việc vận dụng vào quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Bải giảng
Năm: 2005
24. Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2001), Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
26. Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2011), Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
27. Vũ Đình Chuẩn (2008), Phát triển đội ngũ giáo viên tin học trung học phổ thông theo quan điểm chuẩn hóa và xã hội hóa, Luận án Tiến sĩ khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển đội ngũ giáo viên tin học trung học phổ thông theo quan điểm chuẩn hóa và xã hội hóa
Tác giả: Vũ Đình Chuẩn
Nhà XB: Luận án Tiến sĩ khoa học giáo dục
Năm: 2008
28. Develay, M. (1994), Một số vấn đề về đào tạo giáo viên, (Bản dịch của Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Phan Hữu Chân - 1998), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đào tạo giáo viên
Tác giả: Develay, M., Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Phan Hữu Chân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
29. Nguyễn Ngọc Dũng (2003), Thực trạng và giải pháp xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia ở Tây Ninh, Luận án tiến sĩ giáo dục học, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia ở Tây Ninh
Tác giả: Nguyễn Ngọc Dũng
Nhà XB: Trường ĐHSP Hà Nội
Năm: 2003
30. Nguyễn Tiến Đạt (2000), Kinh nghiệm và thành tựu phát triển giáo dục và đào tạo trên thế giới, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm và thành tựu phát triển giáo dục và đào tạo trên thế giới
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
31. Nguyễn Văn Đệ (2010), Phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học ở vùng ĐBSCL đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học, Luận án tiến sĩ quản lý giáo dục, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học ở vùng ĐBSCL đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Văn Đệ
Nhà XB: Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
32. Trần Khánh Đức (2004), Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO & TQM, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO & TQM
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
33. Trần Khánh Đức (2010), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
35. Trần Ngọc Giao (2005), Các giải pháp cơ bản đổi mới quản lý giáo dục, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Học viện quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp cơ bản đổi mới quản lý giáo dục
Tác giả: Trần Ngọc Giao
Nhà XB: Học viện quản lý giáo dục
Năm: 2005
36. Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo, Bùi Hiển (2002), Từ điển Giáo dục học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Giáo dục học
Tác giả: Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo, Bùi Hiển
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2002
37. Nguyễn Công Giáp (2006), Chất lượng đội ngũ cán bộ QLGD thực trạng và giải pháp, Kỉ yếu Hội thảo khoa học Bộ GD&ĐT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng đội ngũ cán bộ QLGD thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Công Giáp
Nhà XB: Kỉ yếu Hội thảo khoa học Bộ GD&ĐT
Năm: 2006
38. Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nghiêm Đình Vỳ (2002), Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nghiêm Đình Vỳ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm