SỰ CẦN THIẾT CỦA ðỀ TÀI
Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam, đang đối mặt với vấn nạn ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm do chất thải rắn, trong bối cảnh phát triển kinh tế nhanh chóng trong những năm gần đây.
Hiện nay, hoạt động sản xuất công nghiệp và sinh hoạt hàng ngày đang tạo ra một khối lượng lớn chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại Thành phố có 13 khu công nghiệp và khu chế xuất cùng với 1 khu công nghệ cao, tập trung chủ yếu ở các quận như Bình Tân, Bình Chánh, Nhà Bè, Tân Phú, Hóc Môn, Củ Chi, Thủ Đức, quận 2, quận 7, quận 9 và quận 12 Bên cạnh đó, còn có 30 cụm công nghiệp phân bố ở 24 quận, huyện, với khối lượng chất thải phát sinh trên địa bàn thành phố đang được ước tính.
Bảng 1 Khối lượng chất thải rắn phỏt sinh trờn ủịa bàn TP.HCM
TT Loại chất thải Khối lượng (tấn/ngày)
1 Chất thải rắn sinh hoạt 6.400-6.700
2 Chất thải rắn công nghiệp không nguy hại
(Nguồn: Bỏo cỏo hiện trạng chất thải rắn phỏt sinh trờn ủịa bàn TPHCM của Sở
Tài nguyên và Môi trường, 2011)
Quản lý chất thải nguy hại (CTNH) đã trở thành một vấn đề quan trọng trong những năm gần đây, bắt đầu từ việc ban hành Quy chế quản lý chất thải nguy hại theo Quyết định số Việc này nhằm đảm bảo an toàn môi trường và sức khỏe cộng đồng.
155/1999/Qð-TTg ngày 16 tháng 7 năm 1999 của Thủ Tướng Chính phủ Từ năm
Từ năm 2004 đến 2006, thành phố có khoảng 12 đơn vị hành nghề vận chuyển chất thải nguy hại (CTNH) và 4 đơn vị xử lý, tiêu hủy CTNH được cấp phép theo quy chế 155 của Thủ tướng Chính phủ Đến năm 2006, CTNH bắt đầu được quản lý theo Luật Bảo vệ Môi trường.
Năm 2005, Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT và Quyết định số 23/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quy định các đơn vị hành nghề thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại Đến tháng 12/2010, thành phố hiện có khoảng 51 đơn vị hành nghề vận chuyển chất thải nguy hại.
Tại TP.HCM, hiện có 13 đơn vị hành nghề xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại (CTNH) được cấp phép, cùng với khoảng 5-7 đơn vị vận chuyển từ các tỉnh thành khác để thu gom CTNH Ngày 14/4/2011, Thông tư 12/2011/TT-BTNMT được ban hành nhằm quản lý chặt chẽ hơn các đơn vị thu gom và xử lý CTNH, cho thấy sự quan tâm ngày càng tăng đối với chất thải công nghiệp nguy hại Điều này đã thu hút sự cạnh tranh đầu tư từ các tổ chức và cá nhân cung cấp dịch vụ thu gom và xử lý CTNH Theo số liệu từ Sở TN&MT đến tháng 12/2012, số lượng xe vận chuyển CTNH đã tăng lên 260 chiếc.
Hoạt động thu gom và xử lý chất thải nguy hại (CTNH) tại thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu do các công ty tư nhân thực hiện, với chỉ một công ty nhà nước tham gia là Công ty TNHH Một thành viên Môi trường đô thị thành phố Tuy nhiên, chi phí tài chính cho hoạt động này không phụ thuộc vào ngân sách nhà nước Hầu hết các đơn vị vận chuyển và xử lý CTNH trên địa bàn TP.HCM thực hiện thu gom và vận chuyển liên tỉnh, từ các tỉnh vào TP.HCM và ngược lại Hiện trạng hoạt động thu gom và xử lý CTNH đang diễn ra khá phức tạp và khó kiểm soát về số lượng CTNH tập trung.
TP HCM ủể xử lý
Quản lý chất thải công nghiệp nguy hại tại TP.HCM đang gặp nhiều khó khăn và bất cập Các đơn vị tham gia dịch vụ thường không tuân thủ quy định về quản lý chất thải nguy hại trong vận chuyển và xử lý Mặc dù thành phố đã có quy định cụ thể tại Quyết định số 85/2007/QĐ-UBND về việc quản lý phương tiện thu gom và vận chuyển chất thải, nhưng nguồn lực quản lý tại các sở ngành và quận, huyện vẫn còn yếu kém Với tốc độ tăng trưởng công nghiệp hiện nay, các vấn đề như xử lý chất thải không đúng quy định, không kiểm soát được lượng chất thải và tình trạng xử lý không triệt để vẫn tiếp tục diễn ra, gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng.
Đánh giá hiện trạng quản lý hệ thống thu gom và xử lý chất thải công nghiệp nguy hại trên địa bàn là cần thiết để nhận diện các vấn đề tồn tại Việc đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý không chỉ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường mà còn bảo vệ sức khỏe cộng đồng Cần thực hiện các biện pháp như tăng cường công tác kiểm tra, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và cải thiện cơ sở hạ tầng thu gom xử lý Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và doanh nghiệp để đảm bảo quy trình quản lý chất thải được thực hiện hiệu quả và bền vững.
Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá năng lực của các chủ thu gom và xử lý chất thải nguy hại (CTNH) tại TP.HCM, đồng thời chỉ ra những bất cập trong công tác quản lý của các cơ quan nhà nước đối với hệ thống dịch vụ hiện tại Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống dịch vụ chất thải nguy hại.
ðỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Cơ sở sản xuất được xác định là các đơn vị sản xuất phát sinh từ hoạt động công nghiệp, với số lượng CTRCN-CTNH được thống kê Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT, ban hành ngày 14 tháng 04 năm 2011, đã có những quy định quan trọng liên quan đến vấn đề này.
Kể từ khi Nghị định 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường có hiệu lực, các cơ sở sản xuất phát sinh chất thải nguy hại (CTNH) bắt buộc phải đăng ký với Sở Tài nguyên và Môi trường Việc kết hợp số liệu khảo sát hàng năm với số liệu đăng ký tại Sở sẽ giúp đánh giá khả năng tiếp nhận và xử lý CTNH của các đơn vị thu gom và xử lý một cách chính xác hơn, phù hợp với thực trạng hiện tại.
Các đơn vị vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại (CTNH) tại thành phố Hồ Chí Minh phải được cấp phép bởi Cục Bảo vệ môi trường hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường Những đơn vị này chịu sự quản lý trực tiếp của Sở Tài nguyên và Môi trường và có trách nhiệm báo cáo về công tác thu gom và xử lý CTNH.
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ðỀ TÀI
Luận văn tổng hợp kiến thức khoa học về kỹ thuật môi trường chuyên ngành lĩnh vực chất thải nguy hại (CTNH), đánh giá khoa học và thực tiễn với độ tin cậy cao để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống dịch vụ thu gom và xử lý CTNH, nhằm quản lý hiệu quả CTNH trên địa bàn TP.HCM.
Cần có một nghiên cứu sâu sắc về hệ thống dịch vụ hiện tại để đưa ra các giải pháp quản lý hiệu quả hơn, phù hợp với định hướng quản lý chất thải rắn của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện tại và tương lai.
TÍNH MỚI CỦA ðỀ TÀI
Hiện nay, có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến quản lý chất thải nguy hại, bao gồm quy hoạch hệ thống quản lý chất thải rắn công nghiệp tại TP.HCM (2008), cơ sở khoa học xác định chi phí xử lý chất thải công nghiệp (2008), ứng dụng công nghệ e-manifest và e-card trong quản lý chất thải nguy hại tại TP.HCM (2009), và thiết kế hệ thống quản lý phương tiện vận chuyển chất thải rắn đô thị (2010) Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả, đề tài hiện tại chưa có sự trùng lặp với bất kỳ đề tài nào đã được thực hiện trước đây.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a Phương phỏp ủiều tra, khảo sỏt thu thập thụng tin: kết hợp với chương trỡnh ủiều tra khảo sỏt của Sở Tài nguyờn và Mụi trường năm (2007, 2008, 2009,
Vào năm 2010 và 2011, chúng tôi đã thu thập dữ liệu liên quan đến chất thải nguy hại từ các ngành nghề sản xuất và quản lý chất thải tại nguồn, cũng như quá trình chuyển giao chất thải Phương pháp phân tích và tổng hợp thông tin được áp dụng xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài, đặc biệt trong việc đánh giá những ưu điểm, hạn chế và rút ra kết luận trong lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại Chúng tôi cũng đã thu thập thông tin liên quan đến thành phố Hồ Chí Minh Phương pháp thống kê được sử dụng để thu thập số liệu từ các Phòng Tài nguyên và Môi trường quận, huyện, Ban quản lý các khu công nghiệp-khu chế xuất, và số liệu thống kê từ quá trình cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại cùng với cấp phép quản lý chất thải nguy hại.
Sở Tài nguyên và Môi trường cùng với Cục Bảo vệ Môi trường áp dụng phương pháp ủng hộ nhanh nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, việc trao đổi trực tiếp với các chuyên gia liên quan đến các vấn đề môi trường cũng là một phương pháp quan trọng để thu thập ý kiến và kiến thức chuyên sâu.
Phân tích SWOT đánh giá
Hiện trạng hệ thống quản lý nhà nước ðề xuất các giải pháp
- Hiện trạng phát triển công nghiệp trờn ủịa bàn TP.HCM
Hiện trạng hệ thống thu gom,vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải nguy hại.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Mục tiêu của bài viết là đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống dịch vụ thu gom và xử lý chất thải nguy hại (CTNH) tại TP.HCM, nêu rõ các mặt tích cực và hạn chế của hệ thống hiện tại Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống và xây dựng các chính sách quản lý thích hợp cho thời gian tới.
(1) Tìm hiểu về tổng quan phát triển công nghiệp tại Tp.HCM; Số liệu các ngành nghề sản xuất trờn ủịa bàn thành phố
- Thu thập và thống kê số liệu CTNH phát sinh theo 24 loại hình ngành nghề;
- Dự bỏo thành phần, số lượng CTNH ủến năm 2015
(2) Hiện trạng của hệ thống quản lý thu gom, xử lý CTNH
- Chất thải phát sinh từ các cơ sở sản xuất; phân loại, thu gom, lưu giữ CTNH; cách thức chuyển giao CTNH
- Các phương tiện vận chuyển CTNH: số lượng các phương tiện vận chuyển; khả năng ủỏp ứng yờu cầu về vận chuyển CTNH
- Hệ thống quản lý nhà nước: hệ thống quản lý kỹ thuật và hệ thống quản lý ủiều hành
(3) đánh giá hệ thống dịch vụ thu gom, xử lý CTNH trên ựịa bàn TP.HCM
- Khả năng ủỏp ứng của hệ thống thu gom, xử lý CTNH
- Những mặt tích cực và hạn chế của hệ thống dịch vụ
- Những hạn chế của cơ quan quản lý nhà nước
(4) ðề xuất cỏc giải phỏp ủể quản lý hiệu quả hệ thống thu gom, xử lý CTNH trờn ủịa bàn TP.HCM.
HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
Tính đến tháng 12/2012, thành phố Hồ Chí Minh có hơn 1.700 nhà máy lớn và gần 6.700 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, nằm trong 13 khu công nghiệp, khu chế xuất, 1 khu công nghệ cao và 30 cụm công nghiệp Các loại hình công nghiệp tại TP Hồ Chí Minh được phân chia thành 24 loại hình khác nhau.
1.1.1 Cỏc loại hỡnh cụng nghiệp trờn ủịa bàn TP.HCM
1 Thuốc bảo vệ thực vật
Ngành sản xuất thuốc bảo vệ thực vật bao gồm các cơ sở chuyên sản xuất, phân phối và đóng gói thuốc bảo vệ thực vật, cũng như sản xuất phân bón vi sinh, phân bón hữu cơ, và các loại phân bón như N, P, K.
Ngành công nghiệp xi mạ gồm các cơ sở gia công xi mạ các mặt hàng nhựa, kim loại và hợp kim các loại
Ngành công nghiệp thuộc da gồm các cơ sở thuộc da, gia công xử lý các loại da, gia công phụ liệu da,
Ngành công nghiệp hóa chất bao gồm các nhà máy sản xuất đa dạng hóa chất như hóa chất tẩy rửa, chất giữ màu, và các sản phẩm như vôi, bột màu, nhang trừ muỗi, bình xịt muỗi, cồn gas, giấy decal, keo polymer, băng keo và keo dán công nghiệp.
Ngành công nghiệp sản xuất pin và ắc qui bao gồm các cơ sở sản xuất bình acquy và pin các loại
6 Kim loại và gia công cơ khí
Ngành kim loại gia công cơ khí bao gồm các hoạt động sản xuất và chế tạo như chế tạo máy, lắp ráp ô tô, gia công các sản phẩm từ sắt, thép, khuôn mẫu, ốc vít, và phụ tùng cho xe máy, xe ủi, cũng như sửa chữa máy móc.
Ngành cụng nghiệp ủiện tử bao gồm cỏc cơ sở sản xuất, lắp rỏp, phõn phối linh kiện ủiện tử, dõy cỏp và mặt hàng ủiện gia dụng
Ngành công nghiệp giấy bao gồm các cơ sở sản xuất, gia công và phân phối nhiều loại sản phẩm giấy như giấy tập, giấy in, bao bì carton, hộp giấy và giấy cuộn.
Ngành công nghiệp dệt nhuộm bao gồm các cơ sở dệt, nhuộm các loại vải, sợi, mùng, khăn, vớ, vải lưới, tem,
Ngành công nghiệp dầu mỏ bao gồm các cơ sở kinh doanh và phân phối dầu thô, dầu nhờn
Ngành công nghiệp in và mực in bao gồm các lĩnh vực như in báo, in thiệp, in vải, in bao bì, in lụa trên decal, in ống cuộn và sản xuất nhiều loại mực in khác nhau.
Ngành công nghiệp sơn bao gồm sản xuất sơn nước, bột trét tường, sơn tĩnh điện, sơn dung môi, sơn xe, sơn hoa văn và các loại sơn dầu khác nhau.
13 Xà bông và Mỹ phẩm
Ngành công nghiệp xà phòng mỹ phẩm bao gồm các nhà máy sản xuất đa dạng sản phẩm như xà phòng giặt, nước rửa chén, nước xả vải, nước lau nhà và nước súc miệng.
Ngành công nghiệp thủy tinh bao gồm các hoạt động gia công và trang trí sản phẩm thủy tinh, sản xuất kính ôtô, cung cấp thủy tinh bao bì dân dụng, chế tạo chai lọ, kinh doanh kiếng xây dựng và mài kiếng.
15 Nhựa và sản phẩm nhựa
Ngành công nghiệp nhựa bao gồm việc sản xuất đa dạng các sản phẩm nhựa như hạt nhựa, hàng gia dụng và công nghiệp, dụng cụ học sinh, văn phòng phẩm, ống và phụ tùng ống cấp thoát nước, bao bì, túi nhựa, chai nhựa, ép nút chai, khuôn mẫu, phụ tùng xe, đồ chơi trẻ em, và dây nhựa.
Ngành công nghiệp xây dựng bao gồm các cơ sở sản xuất gạch, bê tông, bê tông tươi, cọc bờ tường, bột trộn tường, nghiền phụ gia, ủng gúi xi măng và các vật liệu xây dựng khác.
Ngành công nghiệp giày da bao gồm các cơ sở sản xuất giày dép các loại
18 Sửa chữa và bảo trì phương tiện
19 Gỗ và sản phẩm gỗ
Ngành công nghiệp chế biến gỗ bao gồm các cơ sở gia công sản xuất đồ gỗ như bàn, ghế, tủ, giường và các sản phẩm trang trí nội thất, cùng với việc sản xuất ván ép.
Ngành công nghiệp dược phẩm gồm các cơ sở sản xuất và kinh doanh dược phẩm, thuốc y học dân tộc, thuốc sát trùng, dược phẩm thú y-hải sản
Ngành công nghiệp chế biến cao su bao gồm sản xuất vỏ và ruột xe máy, ô tô, các sản phẩm cao su kỹ thuật, dây thun, sơ chế mũ cao su, nệm mousse, bong bóng, ủ giày dộp, và đồ chơi trẻ em bằng cao su.
Ngành công nghiệp may mặc gồm các cơ sở gia công may, sản xuất và xuất khẩu mặc hàng quần áo, nón, chỉ may, chỉ thêu, balô, túi xách
Ngành công nghiệp thực phẩm bao gồm các cơ sở chế biến đa dạng như thủy hải sản, hủ tiếu, ép dầu thô, sản xuất nước tương, bột mì, nước nắm, mì ăn liền, sữa và các sản phẩm từ sữa.
Với 24 loại hỡnh cụng nghiệp ủang hoạt ủộng trờn ủịa bàn thành phố, tổng số lượng cỏc nhà mỏy sản xuất 8.163, trong ủú ngành nghề kim loại và gia cụng cơ khí chiếm số lượng lớn Trong khu công nghiệp, số lượng các cơ sở sản xuất khoảng 1134 ủơn vị, Ngoài khu là 7.210 ủơn vị Số lượng cỏc nhà mỏy ủược thể hiện ở bảng 1.2 như sau:
Bảng 1.1 Tổng số nhà máy theo từng loại hình công nghiệp
Trong khu công nghiệp& khu chế xuất
Lớn SMEs TC Lớn SMEs TC Lớn SMEs TC
Kim loại & gia công cơ khí 185 2290 2475 105 61 166 290 2351 2641
Nhựa & các sản phẩm nhựa 120 493 613 79 21 100 199 514 713
Thuốc bảo vệ thực vật 4 8 12 9 8 17 13 16 29
Sửa chữa bảo trì phương tiện giao thông
Gỗ & các sản phẩm gỗ 44 535 579 15 17 32 59 552 611
Dầu & sản phẩm dầu mỏ 5 5 10 0 1 1 5 6 11
0 6483 8163 (Nguồn : Tổng hợp của tác giả và nhóm Sở Tài nguyên và Môi trường – Phòng
Quản lý Chất thải rắn, 2011)
HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT THẢI NGUY HẠI TRÊN ðỊA BÀN TP.HCM
1.2.1 Hiện trạng hệ thống quản lý nhà nước về quản lý chất thải nguy hại
1.2.1.1 Cấu trúc tổ chức về quản lý chất thải nguy hại ðặc thù của TP HCM là có Phòng Quản lý chất thải rắn là phòng quản lý chuyên trách về lĩnh vực chất thải rắn của toàn thành phố thực hiện chức năng xây dựng và triển khai thực hiện các quy hoạch và quản lý kỹ thuật hệ thống công trình, giám sát chất lượng thuộc lĩnh vực chất thải rắn, bao gồm thu gom, trung chuyển và vận chuyển, tái sử dụng và tái chế, xử lý và chôn lấp vệ sinh chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn xây dựng, chất thải rắn y tế, chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại, và lĩnh vực mai táng, quản lý nghĩa trang Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát công tỏc vận hành hệ thống quản lý chất thải rắn ủảm bảo chất lượng vệ sinh
Về hoạt ủộng quản lý chất thải rắn cụng nghiệp-chất thải nguy hại:
Phòng quản lý Chất thải rắn hợp tác với Ban quản lý các KCX-KCN (Hepza) và các phòng Tài nguyên và Môi trường của các quận huyện để quản lý chất thải phát sinh từ các cơ sở sản xuất, đơn vị thu gom và xử lý chất thải nguy hại.
Quản lý chất thải nguy hại tại thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện thông qua việc cấp Sổ đăng ký quản lý chất thải nguy hại tại Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng thời, cấp phép cho các chủ vận chuyển và chủ xử lý hoạt động trong lĩnh vực này nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả trong công tác quản lý chất thải nguy hại.
Sơ ủồ quản lý ủược thể hiện ở hỡnh 1.5
Hỡnh 1.10 Sơ ủồ hiện trạng tổ chức quản lý chất thải rắn cụng nghiệp và chất thải nguy hại của thành phố Hồ Chí Minh
Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực chất thải, Cảnh sát môi trường TP.HCM, trực thuộc Công an TP.HCM, đã được thành lập vào năm 2007 Cơ quan này có chức năng thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh chống tội phạm cũng như các vi phạm pháp luật liên quan đến môi trường theo quy định của pháp luật Cấu trúc tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại cũng được xác định rõ ràng.
Sở Tài nguyên và Môi trường
Phòng quản lý chất thải rắn
Phòng Tài nguyên và môi trường
Các công ty hạ tầng KCN-KCX
Cỏc ủơn vị thu gom, tái chế chất thải
Cỏc ủơn vị VC-XL CTNH
Các CSSX trong KCN-KCX
Quan hệ trực tiếp mang tớnh chỉ ủạo/quản lý Ủy ban nhân dân quận huyện Ủy ban nhân dân Tp.HCM
Quan hệ trực tiếp mang tính phối hợp Quan hệ hỗ tương
Trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại tại thành phố, phường Quản lý chất thải rắn đảm nhận hai chức năng chính: quản lý chính sách và quản lý điều hành Quản lý chính sách tập trung vào việc xây dựng và thực thi các quy định, hướng dẫn liên quan đến việc xử lý và quản lý chất thải, nhằm đảm bảo an toàn môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Công tác quản lý chính sách của Phòng bao gồm việc hướng dẫn và tập huấn thực hiện các văn bản pháp lý của Chính phủ Ngoài ra, Phòng còn tham mưu cho Ủy ban Nhân dân ban hành hoặc đề xuất các văn bản pháp quy thuộc thẩm quyền của Thành phố và Sở, nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại Các công việc này bao gồm xây dựng chiến lược, định hướng quy hoạch, chương trình và kế hoạch quản lý chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại, dựa trên các chiến lược quốc gia, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch ngành và các nghị quyết, chương trình hành động của trung ương và địa phương.
Bao gồm các công việc sau:
- Tổ chức kiểm tra giỏm sỏt hoạt ủộng quản lý chất thải nguy hại
- Cải tiến các qui trình, thủ tục giải quyết hồ sơ như:
• Qui trình cấp Sổ chủ nguồn thải
• Qui trình cấp giấy phép quản lý chất thải nguy hại
• Qui trình hướng dẫn phương án xử lý tiêu hủy hàng hóa, chất thải
- Phối hợp với cỏc ủơn vị, trung tõm nghiờn cứu ủể tiến hành giỏm sỏt chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại
1.2.1.2 Nhân lực và cơ sở vật chất
Hiện nay, việc quản lý 8.163 nhà máy và cơ sở sản xuất trong và ngoài khu công nghiệp đang gặp khó khăn, chưa tính đến các nguồn thải từ bệnh viện, trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm Phòng Quản lý chất thải rắn chỉ có 21 nhân sự, cùng với khoảng 4 người từ HEPZA Ngoài ra, phòng Cảnh sát môi trường có khoảng 30 người thuộc Công an Thành phố, trong khi phòng Tài nguyên và Môi trường tại các quận huyện chỉ có từ 1-3 nhân sự mỗi quận.
Để giải quyết vấn đề quản lý chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại, các đơn vị cần được trang bị đầy đủ hơn là chỉ những phương tiện cơ bản như máy tính và hệ thống mạng nội bộ Hiện tại, việc thống kê thông tin và số liệu vẫn chủ yếu dựa vào phương pháp thủ công và giấy tờ, thiếu các công cụ tin học hỗ trợ và hệ thống mạng liên kết giữa các cơ quan chức năng.
Quản lý chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại tại thành phố cần tuân thủ các quy định pháp luật, tiêu chuẩn và chiến lược đã được ban hành Các hoạt động này phải được thực hiện theo quy chế, quy định và kế hoạch hành động cụ thể để đảm bảo hiệu quả và an toàn cho môi trường.
- Chiến lược Bảo vệ mụi trường quốc gia giai ủoạn 2000-2015, tầm nhỡn 2020;
- Chiến lược quản lý mụi trường thành phố Hồ Chớ Minh ủến 2015, tầm nhỡn 2020;
- Chiến lược quản lý chất thải rắn tại cỏc ủụ thị và khu cụng nghiệp Việt Nam ủến
2020 (ban hành theo Quyết ủịnh số 152/1999/Qð/TTg ngày 10/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ)
Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, với tầm nhìn đến năm 2050, đã được phê duyệt theo Quyết định số 2419/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ Chiến lược này nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
- Luật Bảo vệ mụi trường sửa ủổi ủược Quốc hội thụng qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2006 thay thế Luật Bảo vệ môi trường năm 1992
- Nghị ủịnh số 80/2006/Nð-CP ngày 9/8/2006 của Chớnh phủ về qui ủịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số ủiều của Luật bảo vệ mụi trường
- Nghị ủịnh số 117/2009/Nð-CP ngày 31/12/2009 của Chớnh phủ về xử phạt vi phạm pháp luật về Bảo vệ môi trường
Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường Nghị định này nhằm nâng cao hiệu quả quản lý môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
- Nghị ủịnh số 59/2007/Nð-CP ngày 09/4/2007 của Chớnh phủ về quản lý chất thải rắn
Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT, ban hành ngày 14/4/2011, của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hướng dẫn các điều kiện hành nghề, thủ tục lập hồ sơ, đăng ký và cấp phép hành nghề liên quan đến quản lý chất thải nguy hại.
- Quyết ủịnh số 23/2006/Qð-BTNMT ngày 26//12/2006 của Bộ Tài nguyờn và Môi trường về việc ban hành Danh mục CTNH
Quyết định số 85/2007/QĐ-UBND ngày 14/6/2007 của Ủy ban nhân dân thành phố quy định về tuyến và thời gian vận chuyển chất thải nguy hại (CTNH) trên địa bàn thành phố, nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả trong quá trình quản lý chất thải Quy định này góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc xử lý chất thải nguy hại.
- Và các văn bản khác có liên quan
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6705-2000 về chất thải rắn không nguy hại - Phân loại;
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6706-2000 về Chất thải nguy hại - Phân loại;
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6707-2009 về chất thải nguy hại - Dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa;
- Qui chuẩn Việt Nam 07:2009/BTNMT về Ngưỡng chất thải nguy hại
1.2.2 Hiện trạng quản lý kỹ thuật về thu gom xử lý chất thải rắn công nghiệp – chất thải nguy hại
Tại Việt Nam, công tác quản lý chất thải nguy hại (CTNH) đã được chú trọng từ năm 1999 với việc ban hành Quy chế quản lý CTNH theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Mặc dù đã có quy định về quản lý CTNH vào năm 2009, nhiều cơ sở sản xuất vẫn không tuân thủ các quy định này do thiếu các quy định xử phạt vi phạm Đến năm 2005, Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác quản lý CTNH.
Quản lý chất thải nguy hại lần đầu tiên được đưa vào văn bản pháp luật của Việt Nam, được quy định chi tiết tại Chương VIII, mục 2 của Luật Bảo vệ Môi trường.