II- Nhiệm vụ và nội dung: i Điều tra đánh giá đa dạng sinh học của VQG U Minh Hạ + Đánh giá đa dạng sinh học của hệ thực vật + Điều tra đánh giá đa dạng sinh học của hệ động vật Đối tư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
-
PHAN THỊ THANH THỦY
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI VƯỜN QUỐC GIA U MINH HẠ VÀ
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO TỒN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường
Mã ngành: 60520320
Tp Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
-
PHAN THỊ THANH THỦY
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI VƯỜN QUỐC GIA U MINH HẠ VÀ
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO TỒN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường
Mã ngành: 60520320 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ HAI
Tp Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2016
Trang 3Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã đƣợc
sửa chữa (nếu có)
Trang 4PHÒNG QLKH – ĐTSĐH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TP HCM, ngày … tháng… năm 20 …
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Phan Thị Thanh Thủy Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 03/03/1989 Nơi sinh: Quảng Ngãi
I- Tên đề tài:
Đánh giá tài nguyên đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia U Minh Hạ và đề xuất một
số biện pháp bảo tồn
II- Nhiệm vụ và nội dung:
(i) Điều tra đánh giá đa dạng sinh học của VQG U Minh Hạ
+ Đánh giá đa dạng sinh học của hệ thực vật
+ Điều tra đánh giá đa dạng sinh học của hệ động vật (Đối tượng chính là các
lớp thú, bò sát, lưỡng cư)
+ Điều tra đánh giá đa dạng sinh học của quần xã thủy (nhóm )
(ii) Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng sinh học tại khu vực nghiên
cứu;
(iii) Đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển triển khu vực
theo hướng bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
III- Ngày giao nhiệm vụ: 20/8/2015
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ:
V- Cán bộ hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Hai
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
Trang 5
NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ
(Nhận xét của CB hướng dẫn )
Họ và tên học viên: Phan Thị Thanh Thủy
Đề tài luận văn: Đánh giá tài nguyên đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia U Minh
Hạ và đề xuất một số biện pháp bảo tồn
Chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường
Người nhận xét:
Cơ quan công tác:
Ý KIẾN NHẬN XÉT 1-Về nội dung và đánh giá thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
2-Về phương pháp nghiên cứu, độ tin cậy của các số liệu:
Trang 6
4-Về kết quả thực tiễn của luận văn:
5-Những thiếu sót và vấn đề cần làm rõ:
6-Ý kiến kết luận (mức độ đáp ứng yêu cầu đối với LVThS):
Sau thời gian hướng dẫn học viên thực hiện đề tài, tôi nhận thấy nội dung luận văn của học viên đã đáp ứng các yêu cầu của một Luận văn Thạc sĩ Do đó tôi đồng ý cho học viên………bảo vệ trước Hội đồng đánh giá Luận văn
TP HCM, ngày tháng năm 20…
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN (Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
Phan Thị Thanh Thủy
Trang 8LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành theo chương trình đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Kỹ thuật môi trường tại Trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, tác giả xin chân thành biết ơn:
Ban Giám hiệu trường Đại học Công nghệ Tp Hồ Chí Minh, Phòng Đào tạo sau đại học và các Thầy Cô đã tận tình giảng dạy trong suốt chương trình đào tạo Thạc sĩ
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Hai – Giảng viên khoa Công nghệ Sinh học thực phẩm và Môi trường – trường Đại học Công nghệ Tp Hồ Chí Minh đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt và giúp
đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý báu trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và cán bộ công nhân viên Vườn quốc gia U Minh Hạ - tỉnh Cà Mau đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp
đỡ cho tôi trong quá trình thu thập số liệu ngoài hiện trường và thực hiện đề tài Tác giả cũng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến lãnh đạo Phân viện ĐTQHR Nam Bộ và một số cơ quan tại Cà Mau đã tạo điều kiện và cho phép tác giả thu thập, kế thừa nhiều kết quả nghiên cứu
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Cha, Mẹ đã sinh thành cũng như vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống để có được sự thành công của con ngày hôm nay; cảm ơn toàn thể gia đình và các Anh, Chị, Em, bạn bè xa gần đã động viên cũng như sát cánh cùng tác giả trong những ngày ở giảng đường đầy kỉ niệm những lời thân thương nhất
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2016
Tác giả: Phan Thị Thanh Thủy
Trang 9TÓM TẮT
Đề tài "Đánh giá hiện trạng tài nguyên đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia U Minh Hạ và đề xuất một số biện pháp bảo tồn" được tiến hành từ tháng 8
năm 2015 đến tháng 3 năm 2016
- Mục tiêu chính của đề tài là:
+ Xác định được mức độ đa dạng sinh học của rừng U Minh Hạ qua một số chỉ tiêu về đa dạng sinh học hệ thực vật và một số nhóm động vật (thú, bò sát, lưỡng cư, cá)
+ Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu;
+ Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu thu được, đề xuất được biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học theo hướng phát triển bền vững và bảo vệ môi trường cho rừng
U Minh Hạ
- Phương pháp nghiên cứu chính của đề tài là điều tra thu thập số liệu trên thực địa Điều tra theo tuyến và bố trí các ô tiêu chuẩn điển hình để điều tra nghiên cứu đa dạng sinh học thực vật Đối với hệ động vật, tiến hành điều tra, khảo sát thực địa kết hợp với phỏng vấn cán bộ và người dân trong vùng
- Kết quả thu được của đề tài bao gồm:
+ Về các loài thực vật, đã xác định được 249 loài thực vật thuộc 82 họ tại
vườn Quốc gia U Minh Hạ Năm họ có số loài nhiều nhất là: họ cói (Cyperaceae,
29 loài), họ cỏ (Poaceae, 27 loài), họ cúc (Asteraceae, 19 loài), họ cà phê (Rubiaceae, 10 loài), họ dền (Amaranthaceae, 8 loài)
+ Về phân loại các loại thảm thực vật, có thảm thực vật rừng Tràm, thảm thực vật đầm lầy (trảng trống), thảm thực vật đồng cỏ (trảng cỏ), thảm thực vật trên các kênh và dòng chảy tự nhiên Trong đó, thảm thực vật rừng Tràm và thảm thực vật trảng trống có tính đa dạng cao nhất, tiếp theo là thảm thực vật đồng cỏ, cuối cùng là thảm thực vật kênh rạch và dòng chảy tự nhiên
+ Về đa dạng sinh học phân theo các dạng sống, các loài thực vật thân thảo
Trang 10và dây leo chiếm tỷ lệ cao nhất với sự xuất hiện của 68 loài, tiếp theo là các loài thực vật thủy sinh (13 loài) và ít nhất là thực vật thân gỗ và cây bụi (8 loài)
+ Về thú, kết quả đã thống kê các loài thú thường xuất hiện gồm 36 loài thú thuộc 13 họ với 8 bộ khác nhau
+ Về các loài lưỡng cư (Amphibia) và bò sát (Reptilia), kết quả khảo sát đã
ghi nhận được 10 loài lưỡng cư và 37 loài bò sát Tât cả các 10 loài lưỡng cư đều
thuộc Bộ không đuôi (Amura) với 3 họ; 37 loài bò sát thuộc 2 bộ là bộ có vẩy (Squamata) và bộ rùa (Testudinata) với 14 họ khác nhau
+ Về thủy sản (cá), kết quả ghi nhận được 37 loài cá thuộc 19 họ Nhiều loài cá hiện diện trong VQG có giá trị kinh tế cao
+ Xác định và đánh giá được các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu là: xâm nhập mặn, phèn hóa, cháy rừng, chuyển đổi mục đích
sử dụng đất rừng, việc quản lý không hiệu quả và khai thác các nguồn tài nguyên quá mức, các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng,
+ Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất được một số biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học theo hướng phát triển bền vững và bảo vệ môi trường cho Vườn Quốc gia U Minh Hạ
Trang 11ABSTRACT
The thesis "Assessing biodiversity of U Minh Hạ National Park with Recommendations for Management" has been carried out from August 2015 to March 2016
Scientific Advisor: Dr Nguyen Thi Hai
- The thesis has been executed with main objectives as below:
+ Assessing biodiversity of U Minh Ha National Park relying on the biodiversity of flora and some group of fauna (animals, amphibians, reptilians, fish)
+ Determinating the threats to biodiversity of U Minh Ha national park + Based on the results of the study, propose some biodiversity conservation measures to protect environment and sustainable development
- The main research methods of the thesis are measuration and collection of data in the study fields Survey routes and sampling plots were used to investigate flora's biodiversity Survey the fields and interview local people, staff of U Minh Ha national park to investigate fauna
The main research results are summarized as follows:
1 The total of 249 flora species belong to 82 families were recorded Five
families have large species are Cyperaceae (29 species), Poaceae (27 species), Asteraceae (19 species), Rubiaceae (10 species), Amaranthaceae (8
species
2 The result of classification of vegetation types, there are four communities that were investigated in U Minh Ha National park such as: Melaleuca forest, grasslands, open swamps, streams and canals Comparison between vegetation types indicates that Melaleuca forest and open swamp are the most diversity, grasslands in second, streams and canals place is the lowest diversity
3 The biodiversity of type plants, herb and climb plants have the highest
Trang 12proportion with the presence of 68 species, followed by aquatic plants (13 species) and the tree and shurb plants is the lowest (8 species)
4 There are 36 animal species belong to 66 families and 8 classes were recorded
5 The result of amphibians and reptilians, there are 10 amphibian species and
37 reptilian species All 10 amphibian species are in Amura belong to 3
families; 37 reptilian species are in squamat and testudinata belong to 14
8 Based on the results of the study, we propose some biodiversity conservation
measures to protect environment and sustainable development
Trang 13MỤC LỤC
TÓM TẮT iii
ABSTRACT v
MỤC LỤC vii
ix
DANH SÁCH CÁC BẢNG xi
DANH SÁCH CÁC HÌNH xii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích, ý nghĩa của luận văn 2
2.1 Mục đích của luận văn 2
2.2 Ý nghĩa của luận văn 2
3 Mục tiêu 2
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn 3
4
1.1 Tổng quan về đa dạng sinh học 4
1.1.1 Khái niệm về đa dạng sinh học 4
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học 4
1.1.3 Nghiên cứu về thảm thực vật và ĐDSH ở vùng đồng bằng sông Cửu Long6 1.1.4 Đa dạng sinh học vườn quốc gia U Minh Hạ 12
1.2 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu 14
1.2.1 Vị trí địa lý, diện tích tự nhiên 14
1.2.2 Địa mạo, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng 16
1.2.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 16
1.3 Đặc điểm dân sinh, kinh tế - xã hội 18
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Nội dung nghiên cứu 25
2.2 Phương pháp nghiên cứu 25
Trang 142.2.1 Điều tra đánh giá đa dạng sinh học của VQG U Minh Hạ 25
2.2.2 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu 29
2.2.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển triển khu vực theo hướng bảo vệ môi trường và phát triển bền vững 29
30
3.1 Kết quả đánh giá đa dạng sinh học của một số nhóm sinh vật tại Vườn Quốc gia (VQG) U Minh Hạ 30
3.1.1 Đa dạng sinh học thực vật 30
69
73
3.2.1 Những tác động đe dọa tài nguyên đất và nước 73
3.2.2 Những tác động đe dọa tài nguyên rừng và đa dạng sinh học 74
3.2.3 Ảnh hưởng của sự thay đổi tài nguyên đa dạng sinh học đến cuộc sống của người dân 77
3.2.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ĐDSH khu vực nghiên cứu 79
80
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Kiến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC i
Phụ lục 1 Danh sách các loài thực vật ghi nhận tại VQG U Minh Hạ i
Phụ lục 2 Danh sách các loài thú ghi nhận tại VQG U Minh Hạ x
Phụ lục 3 Danh sách các loài lưỡng cư, bò sát ghi nhận tại VQG U Minh Hạ xii
Phụ lục 4 Phiếu điều tra, quan sát động vật xiv
Phụ lục 5 Phiếu phỏng vấn cán bộ kỹ thuật/ người dân xv
Phụ lục 5 Phiếu phỏng vấn nông hộ xvi
Trang 16WB (World Bank) Ngân hàng Thế giới
CARE (CARE International) Tổ chức CARE
GEF (Global Environment Fund) Quỹ môi trường toàn cầu
WWF (World Wildlife Fund) Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã
Birdlife (Birdlife International) Tổ chức Bảo tồn chim quốc tế
IV (Important Value Index) Chỉ số giá trị quan trọng IV của loài
ACB (ASEAN Centre for Biodiversity) Trung tâm đa dạng sinh học Asean SIDA (Swedish International Development Cooperation Agency) Cơ quan
Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển
Sub FIPI (Southern Sub-Institute of Forest Inventory and Planning) Phân viện
Điều tra Quy hoạch rừng Nam BộRAMSAR (The Ramsar Convention on Wetlands) Công ước về các vùng đất
ngập nước có tầm quan trọng quốc tế IUCN (International Union for Conservation of Nature and Natural Resource)
Tổ chức quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural Oganization)
Chương trình Giáo dục Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc
CR = Critically endangered: Rất nguy cấp
EN = Endangered: Nguy cấp
VU = Vulnerable: Sắp nguy cấp, Bị đe dọa
LR/NT = Low-risk / Near-threatened: Sắp bị đe dọa
R = Rare: Hiếm
T = Threatened: Bị đe dọa
K = Insufficiently known: Thiếu dữ liệu
Trang 17DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích Vườn quốc gia U Minh Hạ 15
Bảng 1.2 Dân số và mật độ dân số 19
Bảng 1.3 Dân số trung bình từ năm 2010 - 2013 19
Bảng 1.4 Số hộ phân theo huyện từ năm 2010 - 2013 19
Bảng 1.5 Diện tích, dân số các xã vùng U Minh Hạ 20
Bảng 1.6 Thống kê tỷ lệ hộ nghèo một số xã vùng U Minh Hạ năm 2012 22
Bảng 3.1 Số lượng loài của các họ thực vật có mặt tại VQG U Minh Hạ 30
Bảng 3.2 Chỉ số IV của loài trong quần xã rừng Tràm trồng trên đất sét 32
Bảng 3.3 Chỉ số đa dạng của các ô điều tra 34
Bảng 3.4 Chỉ số IV của loài trong rừng Tràm trồng trên đất than bùn mỏng 37
Bảng 3.5 Chỉ số đa dạng của các ô điều tra 39
Bảng 3.6 Chỉ số IV của loài trong quần xã rừng Tràm tự nhiên trên đất than bùn 42
Bảng 3.7 Chỉ số đa dạng của các ô điều tra 44
Bảng 3.8 Chỉ số đa dạng của các quần xã điều tra 47
Bảng 3.9 Chỉ số IV của loài trong quần xã Đồng cỏ 49
Bảng 3.10 Chỉ số đa dạng của các ô điều tra 51
Bảng 3.11 Chỉ số IV của loài trong quần xã Trảng trống 54
Bảng 3.12 Chỉ số đa dạng của các ô điều tra 55
Bảng 3.13 Chỉ số IV của loài trong quần xã Kênh và các dòng chảy tự nhiên 59
Bảng 3.14 Chỉ số đa dạng của các ô điều tra 61
Bảng 3.15 Chỉ số đa dạng của các quần xã điều tra 63
Bảng 3.16 Chỉ số IV của các loài thực vật thân gỗ và cây bụi VQG U Minh Hạ 65
Bảng 3.17 Chỉ số IV của các loài thực vật thân thảo và dây leo VQG U Minh Hạ 66 Bảng 3.18 Chỉ số IV của các loài thực vật thủy sinh tại VQG U Minh Hạ 67
Bảng 3.19 Một số loài thú quan sát được trong đợt điều tra 69
ườn quốc gia U Minh Hạ 70
Bảng 3.21 Một số loài lưỡng cư và bò sát quan sát được trong đợt điều tra 72
Bảng 3.22 Danh sách các loài lưỡng cư 72
Trang 18DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Lập ô đo đếm 26
Hình 3.1 Rừng Tràm trồng trên đất sét 32
Hình 3.2 Sơ đồ nhánh các quần xã ở các mức tương đồng 36
Hình 3.3 Rừng Tràm trồng trên đất than bùn mỏng 37
Hình 3.4 Sơ đồ nhánh các quần xã ở các mức tương đồng 40
Hình 3.5 Rừng Tràm tự nhiên trên đất than bùn 42
Hình 3.6 Sơ đồ nhánh các quần xã ở các mức tương đồng 46
Hình 3.7 Đồ thị so sánh chỉ số đa dạng Shannon (H’), độ tương đồng Pielou (J’) và chỉ số ưu thế Simpson giữa các quần xã 48
Hình 3.8 Sơ đồ nhánh các quần xã ở các mức tương đồng 53
Hình 3.9 Trảng trống bèo tai tượng 58
Hình 3.10 Trảng trống súng ma 58
Hình 3.11 Trảng trống bèo tai chuột 58
Hình 3.12 Trảng trống rau dừa 58
Hình 3.13 Sơ đồ nhánh các quần xã ở các mức tương đồng 57
Hình 3.14 Sinh cảnh trên bờ kênh và lòng kênh phủ kín lục bình, bèo tai chuột 59
Hình 3.15 Sơ đồ nhánh các quần xã ở các mức tương đồng 62
Hình 3.16 Đồ thị so sánh chỉ số đa dạng Shannon (H’), độ tương đồng Pielou (J’) và chỉ số ưu thế Simpson giữa các quần xã 64
Trang 19MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Việt Nam được coi là một trong những nước thuộc vùng Đông nam Á giàu về
đa dạng sinh học (xếp thứ 16/25 nước có mức độ ĐDSH cao trên thế giới) (Nguồn SoE, 2005, trích dẫn bởi Viên Ngọc Nam, 2005) Một dải rộng các thảm thực vật bao gồm nhiều kiểu rừng phong phú đã được hình thành ở các độ cao khác nhau như các rừng thông chiếm ưu thế ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới, rừng hỗn loại lá kim và lá rộng, rừng khô cây họ Dầu ở các tỉnh vùng cao, rừng họ Dầu địa hình thấp, rừng ngập mặn cây Đước chiếm ưu thế ở ven biển châu thổ sông Cửu Long và sông Hồng, rừng Tràm ở đồng bằng Nam bộ và rừng hỗn loại tre nứa ở nhiều nơi
Mặc dù có những tổn thất về diện tích rừng trong một thời kỳ kéo dài nhiều thế
kỷ nhưng hệ thực vật rừng Việt Nam vẫn còn phong phú về chủng loại Phạm Hoàng
Hộ (1991-1993) đã thống kê được 10.484 loài thực vật bậc cao có mạch, khoảng 800 loài rêu và 600 loài nấm Theo dự đoán của các nhà thực vật học, số loài thực vật bậc cao có mạch ít nhất sẽ lên đến 12.000 loài, trong đó có khoảng 2.300 loài đã được nhân dân dùng làm nguồn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh dầu và nhiều nguyên vật liệu khác (Phạm Hoàng Hộ, 1999) Nhiều năm qua, công tác bảo tồn ĐDSH đã được quan tâm đáng kể, nhất là ĐDSH trên cạn thông qua việc xây dựng các khu bảo tồn (rừng đặc dụng), vườn quốc gia với mục đích lưu mẫu chuẩn HST quốc gia, nguồn gen sinh vật Hiện Việt Nam đã có một hệ thống rừng đặc dụng gồm 126 khu, với tổng diện tích hơn 2,5 triệu hécta, chiếm khoảng 7,6% diện tích lãnh thổ (Nguồn: Cục kiểm lâm, 2003) Với việc thành lập hệ thống khu bảo tồn, hầu hết các HST đặc trưng (rừng ngập mặn, rừng tràm, các kiểu rừng á nhiệt đới núi thấp và trung bình, rừng thưa lá rụng ), các loài động thực vật quý hiếm, đặc hữu (bò tót, voi, bò rừng, sao la, mang lớn ; thông lá dẹt, hoàng đàn, đinh, trai, nghiến, cẩm lai, sâm Ngọc Linh ) đã được bảo vệ
U Minh Hạ là vùng rừng tràm trên đất than bùn rất nổi tiếng ở đồng bằng sông Cửu Long Đây là dạng đất ngập nước độc đáo, có tính đa dạng sinh học cao, là nơi cư trú của nhiều loài động thực vật hoang dã, quý hiếm, có giá trị bảo tồn cao, đã và đang
Trang 20được các tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế quan tâm bảo vệ Chính vì những vai trò quan trọng đó nên ngày 20 tháng 1 năm 2006 Chính phủ đã phê duyệt luận chứng khoa học thành lập VQG U Minh Hạ theo Quyết định số 112/QĐ-TTg Bên cạnh đó, công tác phục hồi, bảo vệ và phát triển rừng tại VQG U Minh Hạ được chú trọng và đã có những chuyển biến đáng kể Trong những năm qua, nhiều chương trình bảo tồn và phát triển đã được thực hiện ở nhiều vườn quốc gia cũng như các khu đất ngập nước Tuy nhiên, việc đánh giá tài nguyên đa dạng sinh học làm cơ sở để xây dựng một chương trình bảo tồn và phát triển bền vững vẫn chưa được thực hiện tại vườn quốc gia U Minh Hạ; đặc biệt là từ năm 2010 trở lại đây.Chính vì vậy, học viên tiến hành
thực hiện đề tài "Đánh giá hiện trạng tài nguyên đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia U Minh Hạ và đề xuất một số biện pháp bảo tồn"
2 Mục đích, ý nghĩa của luận văn
2.1 Mục đích của luận văn
Xác định được mức độ đa dạng sinh học ở rừng U Minh Hạ và các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng sinh học để có biện pháp quản lý phù hợp theo hướng phát triển bền vững và bảo vệ môi trường
2.2 Ý nghĩa của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn cung cấp các số liệu định hướng cho việc bảo tồn đa dạng sinh học của vườn quốc gia U Minh Hạ
Về thực tiễn: Các dữ liệu cơ bản về tài nguyên đa dạng sinh học thu thập được tại khu vực nghiên cứu sẽ làm cơ sở để theo dõi và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên của khu vực theo không gian và thời gian
Trang 21Trên cơ sở các số liệu thu thập, đề xuất được biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học theo hướng phát triển bền vững và bảo vệ môi trường cho rừng U Minh Hạ
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá đa dạng sinh học trong vùng lõi của VQG U Minh Hạ với diện tích 8.527 ha Do thời gian và điều kiện không cho phép nên luận văn chỉ giới hạn phân tích đa dạng thực vật (đối tượng là thực vật bậc cao có mạch); động vật (đối tượng là các lớp thú, bò sát, lưỡng cư) và đa dạng sinh học của
Trang 22Chương 1
1.1 Tổng quan về đa dạng sinh học
1.1.1 Khái niệm về đa dạng sinh học
Thuật ngữ đa dạng sinh học xuất hiện từ giữa những năm 1980 nhằm nhấn mạnh sự cần thiết trong các hoạt động nghiên cứu về tính đa dạng và sự phong phú của
sự sống trên trái đất Nguồn gốc của thuật ngữ đa dạng sinh học xuất phát từ 2 bài báo được xuất bản năm 1980 (Lovejoy, 1980; Norse và Mc Manus, 1980) Lovejoy (1980) cho rằng đa dạng sinh học hay đa dạng của sự sống được xác định bằng tổng số các loài sinh vật Norse và McManus (1980) định nghĩa đa dạng sinh học bao hàm hai khái niệm có liên quan với nhau là đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong quần xã sinh vật) (trích dẫn bởi Trương Quang Học và ctv, 2005)
Có rất nhiều định nghĩa về đa dạng sinh học Định nghĩa do Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã (WWF, 1989) đề xuất như sau: “Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của
sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” (trích dẫn bởi Võ Quý và ctv, 1999)
Các nhà sinh học thường xem xét ĐDSH ở 3 mức độ: đa dạng di truyền,
đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học
Công tác bảo tồn tính đa dạng sinh học và các sinh cảnh nhạy cảm là vô cùng quan trọng, mang tính cấp bách và cần thiết Chính vì vậy, trên thế giới và Việt Nam
có rất nhiều công trình, chương trình nghiên cứu về đa dạng sinh học theo thời gian
Trên thế giới, đặc biệt là các nước ở Bắc Mỹ, châu Âu và các vùng khác trên thế giới đã nhận thức được tầm quan trọng của sinh học bảo tồn từ hàng thập kỷ, thậm chí hàng thế kỷ nay Ở nước Mỹ, các nhà triết học như Emersonvà Thoreaucho rằng thiên nhiên là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành phẩm giá và tinh thần đạo đức của con người (Callicott, 1990; trích dẫn bởi Viên Ngọc Nam, 2005)
Trang 23Perman và Adelson (1997) đã nhấn mạnh rằng đa dạng sinh học dần trở nên hết sức phổ biến trong các hoạt động về khoa học và môi trường và ngày càng phổ biến trong các chương trình giáo dục đại học
quan trọng bậc nhất hiện nay
Ở Việt Nam, đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học cũng đã được một số nhà khoa học nghiên cứu từ những thập kỷ trước và đã công bố nhiều công trình Tiêu biểu là một số tác giả như Võ Quý, Đặng Huy Huỳnh, Phạm Bình Quyền, Trương Quang Học, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn, Phạm Nhật, Lê Quốc Huy (trích dẫn bởi Viên Ngọc Nam, 2005)
Phùng Ngọ
, nhưng chỉ mang tính chất định tính
Nhìn chung, cũng giống như một số nghiên cứu trên thế giới, các nghiên cứu trong nước thường đi vào thống kê thành phần họ, chi, loài và mô tả định tính các quần
xã, quần thể, thảm thực vật
Do đó, cần có phương pháp đánh giá đa dạng sinh học theo tiêu chuẩn cụ thể vì vậy phương pháp định lượng đa dạng sinh học đã ra đời Cách tiếp cận chung nhất của phương pháp này là ô tiêu chuẩn nghiên cứu Các số liệu được xử lý dễ dàng hơn thông qua các phần mềm máy tính chuyên dùng Thuận lợi của phương pháp này là bổ sung việc liệt kê loài với sử dụng chỉ số đa dạng và có thể đánh giá đa dạng theo không gian, thời gian, giữa các lâm phần hay các yếu tố khác Sử dụng phương pháp này là cơ sở thiết lập những căn cứ trong nghiên cứu sinh thái bảo tồn Đây là nhận định của báo cáo “Thiết lập chỉ số cơ sở để định lượng đa dạng sinh học các sinh cảnh phục hồi bằng cách xử lý những ô tiêu chuẩn” của Alan Feest (2006) Báo cáo đã nêu một số nội dung cần có trong đánh giá đa dạng sinh học là danh sách loài; tổng số cá thể quan sát được trong ô nghiên cứu; các chỉ số đa dạng như tần số, độ tương đồng Pielou, chỉ số đa dạng Shannon – Weiner, chỉ số ưu thế Simpson, chỉ số Berger – Parker; mật độ, sinh khối
Trang 241.1.3 Nghiên cứu về thảm thực vật và ĐDSH ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
(1) Các quần thể rừng cây, rú bụi;
(2) Các quần thể đồng cỏ, trảng cỏ
(3) Các quần thể ở lung, bàu, trấp
Các quần thể thực vật bao gồm những quần hệ thực vật khác nhau
(1) Các quần thể rừng cây, rú bụi: Trong hệ sinh thái rừng úng phèn này, nhiều loài cây không cao lớn lắm chỉ đạt đến 20 – 25 m là cùng, đường kính tối đa cũng chỉ đến 0,4 m, bao gồm: (i) quần hệ Vồ Mốp; (ii) rừng Tràm cừ; (iii) rú bụi Tràm gió và (iv) rừng ven sông nước lợ (2) Các quần hệ cây thân thảo ngập nước chua phèn: Đây
là những quần hệ thứ sinh, sau khi rừng bị tiêu hủy, không phục hồi lại được do các tác nhân phá hoại Các quần hệ này nhiều khi mọc thành các quần hợp một loài cỏ, xâm chiếm một diện tích rộng lớn, bao gồm: (i) Bãi sậy; (ii) Đồng cỏ Bàng; (iii) Đồng cỏ Năng; (iv) Đồng cỏ Mồm; (v) Đồng cỏ Lác.(3) Lung, Bàu, Trấp: trong các lung, bàu thường có Sen, Súng và đặc biệt trong hệ sinh thái rừng úng phèn trên đồng bằng sông Cửu Long, còn có Lúa Mạ (hay Lúa Nổi); trấp là chỗ ngập úng nhưng có lớp cỏ mọc rất dày và nổi lềnh bềnh trên nước có thể đi qua nhanh mà không bị lún xuống sâu
Trần Triết và ctv (2004) khi nghiên cứu về thực vật và thảm thực vật vùng lõi VQG U Minh Thượng đã phân thảm thực vật ở vùng lõi VQG U Minh Thượng thành bốn nhóm chính là: Rừng; Trảng cỏ (Đồng cỏ); Trảng trống (Đầm lầy); Kênh và dòng chảy tự nhiên Tương ứng mỗi nhóm chính có các loại thảm thực vật khác nhau (bao gồm 10 loại thảm thực vật) Trong nhóm rừng có rừng Tràm trên than bùn, rừng Tràm
Trang 25trên đất sét và rừng đầm lầy hỗn giao Trong nhóm Trảng cỏ có Trảng cỏ ưu thế bởi
sậy (Phragites vallatoria) và Trảng cỏ ưu thế bởi năng (Eleocharis dulcis) Các loại Trảng trống có Đầm lầy súng ma (Nymphaea nouchali) và Đầm lầy bèo cái (Pistia
stratiotes)/ bèo tai chuột (Salvinia cucullata)
Phùng Trung Ngân (1979), khi nghiên cứu thực vật vùng đất phèn đã phân ra thành các nhóm thực vật:
(1) Rừng lầy hỗn hợp (nay còn ít) có ba tầng
- Tầng cây thân gỗ cao khoảng 15 – 25 m, gồm nhiều loại mọc hỗn hợp, xen lẫn nhau, không có tầng nào chiếm ưu thế, gồm các loại: gáo, sắn, trâm sẻ, cà na, chiếc, ô đước, bầu, tràm, gừa, mù u, săn máu, ninh, mớp, nhum
- Tầng cây thấp khoảng 3 – 6 m gồm các loại: dứa gai, cách, xương cá, cù đèn, trâm bột, cơm rượu, dấu dầu, mua làng
- Tầng cỏ có khi cao đến 2 m gồm có: sậy, dề, năng, đưng, cỏ mồm, ráng đại, chủy tử tán phòng
- Tầng dây leo: choại, thuốc dò, dây vác, bông bông, tơ xanh
(2) Rừng lầy tràm: Trên là tràm, dưới là tầng cỏ, có các loại bàng, năng ngọt, năng nỉ, hoàng đầu ấn, cỏ mồm Hai loại rừng này bây giờ ở đất phèn Nam Bộ không còn nữa mà chỉ còn lại vết tích của nó mà tác giả đã dựng lại để cho ta hình dung thảm thực vật thời kỳ đất phèn mới hình thành chưa bị khai phá
(3) Thực vật chỉ thị ở vùng phèn tiềm tàng:
Nếu là vùng tiềm tàng giữa đất mặn và đất phèn thì gồm các loại: Chà là thường mọc thành bụi dày ở vùng cao, có độ ngập thủy triều lúc cao nhất là 10 – 20 cm và có thể có rải rác cả những vùng thấp hơn một ít hoặc dọc các kênh rạch Ráng đại mọc ở vùng thấp hơn, độ ngập thủy triều lúc cao nhất là 25 – 30 cm, có khi mọc xen với chà
là và các cây lùm bụi khác, khi chết cho nhiều xác bã tạo mùn, xốp cho đất Lác biển mọc tốt ở những vùng đất thấp ngập nước thường xuyên Ngoài ra, còn có một số loại nữa như cỏ lào và một số dây leo khác
Nếu là vùng đất phèn tiềm tàng sâu trong nội địa: cũng là vùng trũng nước ngập
Trang 26gần như quanh năm, gồm có các loại thủy sinh mọc chìm dưới nước, hoặc chìm trong
nước một phần, còn lá và hoa mọc khỏi mặt nước, như: súng co (Nymphea stellata), sen (Nelumbium nelumbo), năng nỉ (Eleocharis ochorostachys), nhị cán tròn, nhị cán vàng, cỏ bấc (Sacciolepis mynnos), lúa ma (Oryza rufipogm – Leersia hexandra), rau muống thân tím lá cứng dòn, rau dừa (Jussieuae repens), nghễ (Polygonum ciliatum)
(4) Thực vật chỉ thị vùng đất phèn nhiều: Trước hết phải kể đến năng ngọt
(Eleocharis dulcis), tiếp theo là năng kim (Eleocharis ochrostachyo), bàng (Lopiromia articulata), sậy (Phragmites karka),
(5) Thực vật chỉ thị cho vùng phèn ít và trung bình: Gồm các loài năng ngọt, cỏ ống, lác,
Nghiên cứu về hội đoàn cỏ dại vùng đất phèn, Phùng Trung Ngân và Nguyễn Văn Vương cho biết, hội đoàn cỏ dại Việt Nam chủ yếu là năng ngọt và những vùng
sâu hơn 50 cm, có thêm năng nỉ (Eleocharis ochorostachys) với các cây cỏ thuộc các loài sau: Ráng gạc nai (Ceratopteris halictroides); cú ma (Ciperus polystachyos); lác quý (Cyperus procerus); nhẫn trục (Pseudenaphis brunoniana), nhĩ cán vàng
(Utricularia aurea), súng lam (Nymphaea stellata), rong (Microspora sp) Cũng theo
tác giả, hội đoàn cỏ dại ở Việt Nam có khác với một số nước ở Đông Nam Á Ở đó,
thường có những loài cỏ lông vực, cỏ cháo (Cyperus difformis), luân thảo ấn, rau chóc,
cú cơm, cỏ chác
(6) Rong tảo vùng đất phèn: Trong các vùng nước phèn đứng yên hay trong ruộng lúa bón nhiều phân hữu cơ hay vùng sình lầy nhiều hữu cơ, bắt gặp các loại Rêu
(Oedogonium sp) và Nấm (Microspora sp), những loài này rất nguy hiểm Nếu đất
khô, chúng sống lẫn vào trong bùn dưới dạng bào tử và sợi mảnh Nhưng đến khi có nước, trong điều kiện pH thấp, chúng phát triển rất nhanh, và các loại này thường gây hại, gây nguy hiểm cho lúa
Theo Lê Huy Bá (2003), thảm thực vật tự nhiên ở Đồng Tháp Mười có thể có ba dạng đồng cỏ:
(1) Đồng cỏ địa hình thấp gồm cỏ năng (Eleocharis dulcis), cỏ mồm
(Isechaemum aristatum),
Trang 27(2) Đồng cỏ địa hình thấp hơn có bàng (Lepironia aticulata),
(3) Đồng cỏ sậy (Phragmites karka) và đế (Saccharum spontacum) thường xuất
hiện ở những vùng cao hơn
Dưới các kênh rạch mùa nước lớn có những đám rong cao 1 – 2 m dày đặc Rừng tràm nguyên thủy không còn nữa Hiện nay, các rừng tràm trồng thường ở dọc các kênh, hoặc khu Láng Biển (căn cứ cách mạng), khu Bình Thành, Hưng Thạnh
Nghiên cứu tài nguyên thực vật ở Cà Mau, Đặng Trung Tấn (2001) trong “Báo cáo đánh giá tổng quát về tài nguyên thực vật Cà Mau” cho rằng, Cà Mau có hai hệ sinh thái chính, đó là rừng ngập mặn và rừng Tràm Việc nghiên cứu các hệ sinh này
đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm Trong các nội dung nghiên cứu thì tài nguyên thực vật là một thành phần quan trọng Các nghiên cứu cơ bản nhất tập trung vào một số công trình sau: “Rừng ngập nước Việt Nam” của Nguyễn Văn Thôn và Lâm Bỉnh Lợi, 1972; “Hệ sinh thái rừng ngập mặn Cà Mau” của Phan Nguyên Hồng; “Tài liệu rừng ngập nước Việt Nam” của Phùng Trung Ngân và Châu Quang Hiền, 1987 Riêng về tài nguyên thực vật, cuốn “Sổ tay cây cỏ rừng ngập Cà Mau” của Hà Quốc Hùng (lưu hành nội bộ) là một công trình tập hợp hầu hết các nguồn tài liệu nghiên cứu về hệ thực vật rừng ngập Cà Mau với khoảng 215 loài thuộc
74 họ Báo cáo của Đặng Trung Tấn (2001) dựa trên công trình của Hà Quốc Hùng đồng thời có một số bổ sung Tác giả đã lên danh mục và mô tả 239 loài thuộc 76 họ ở rừng ngập Cà Mau Đây là công trình nghiên cứu công phu về thực vật Việc nghiên này là rất quan trọng và cần thiết, cung cấp những dẫn liệu về hệ sinh thái rừng ngập
Cà Mau làm cơ sở cho công tác bảo tồn và nghiên cứu về sau
Theo Nguyễn Chí Thành (2007), hiện nay ở đồng bằng sông Cửu Long có các kiểu rừng Tràm với cấu trúc khác nhau:
- Bụi rậm Tràm gió, xuất hiện nhiều ở Mộc Hóa, Tân Thạnh, Đức Huệ (tỉnh Long An), trên vùng đất phèn nặng, ít ngập và rất khô vào mùa nắng Bụi Tràm thường cao khoảng 1 – 1,5 m, mọc xen lẫn với các bụi mua và các loài cỏ bàng, năng, đưng, mồm mốc
- Rừng hỗn hợp ngập nước vùng U Minh ngày nay chỉ còn là vết tích nguyên
Trang 28thủy Cấu trúc của rừng này gồm một tầng cây cao (10 – 15 m) có các loài bùi, tràm, trâm khế, bí bái, dấu dầu, ba lá, và một tầng cây thấp ở bên dưới với các loài mật cật, mua, dớn, choại, các loài dây leo như mây nước, dây vác, bòng bòng, dây cương, dây gáo, nắp bình, mọc thành một lơp thảm mục dày
- Rừng Tràm trên đất than bùn, là kiểu thoái hóa của rừng hỗn hợp do tác động của lửa rừng và sự chặt phá của con người, chỉ còn Tràm là loài cây thích nghi được với lửa nên trở thành loài cây ưu thế đơn thuần Đây là trạng thái rừng chính trên vùng rừng Tràm ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay
- Bụi rậm Tràm trên đất than bùn, là giai đoạn thoái hóa tiếp theo của rừng Tràm đơn thuần Tràm chỉ còn là những cây bụi lẻ tẻ xen lẫn giữa các đám dớn, choại Đây cũng là trạng thái rừng phổ biến hiện nay trên vùng rừng Tràm ở đồng bằng sông Cửu Long
- Rừng Tràm trên đất sét, do lớp than bùn bị cháy hết còn lại lớp đất sét bên dưới, rừng Tràm đơn thuần trở thành cấu trúc Tràm – sậy hoặc Tràm – sậy – năng trên đất sét, với tầng cây Tràm cao 10 – 15 m ở trên, ở dưới là sậy trên đất phèn nhẹ hoặc sậy – năng trên đất phèn nhiều Nếu các tác động tàn phá của lửa rừng và sự chặt phá của con người cứ tiếp tục xảy ra thì các khu rừng Tràm sẽ trở thành những cánh đồng sậy và cánh đồng cỏ năng
Nghiên cứu về đa dạng sinh học
Trong khuôn khổ Dự án Bảo Tồn Và Phát Triển Cộng Đồng VQG U Minh Thượng, cuốn “Đa dạng sinh học Vườn quốc gia U Minh Thượng (Trần Triết và ctv, 2004)” đã trình bày một cách rất đầy đủ và chi tiết về ĐDSH ở VQG U Minh Thượng, bao gồm ĐDSH ở mức độ cảnh quan, mức độ HST và mức độ chủng loài Đây là công trình nghiên cứu lớn, tốn nhiều thời gian và kinh phí, có ý nghĩa tham khảo rất lớn của chuyên đề Trong cuốn sách này, báo cáo của Trần Triết và ctv về thực vật và thảm thực vật đã trình bày khá đầy đủ và chi tiết về thảm thực vật và các loài thực vật ở VQG U Minh Thượng, đây có lẽ là tài liệu duy nhất nghiên cứu về ĐDSH ở vùng U Minh mà luận văn tham khảo được Trong báo cáo này, một bộ khóa phân loại các dạng thảm thực vật tự nhiên ở vùng lõi VQG U Minh Thượng được tác giả xây dựng
Trang 29Theo tác giả, thảm thực vật ở vùng lõi VQG U Minh Thượng có bốn nhóm chính là: Rừng; Trảng cỏ (Đồng cỏ); Trảng trống (Đầm lầy); Kênh và dòng chảy tự nhiên Trong mỗi nhóm chính có các loại thảm thực vật khác nhau (bao gồm 10 loại thảm thực vật) Trong nhóm rừng có rừng Tràm trên than bùn, rừng Tràm trên đất sét và rừng đầm lầy hỗn giao Rừng Tràm trên than bùn là kiểu thảm thực vật đặc thù của
vùng U Minh Tràm (Melaleuca cajuputi) là loài cây ưu thế Kiểu rừng này đặc trưng bởi sự phong phú của dương xỉ với hai loài phổ biến là Choại (Stenochleana palustris)
và Dớn (Nephrolepis falcata) Các loài thực vật khác như: Mốp (Alstonia spathulata), Bùi (Ilex cymosa), Dấu dầu ba lá (Euodia lepta ) và Trâm (Syzygium cumini) Rừng
Tràm trên đất sét, thường xuất hiện ở ngoài rìa của đĩa than bùn, là rừng thứ sinh sau
các trận cháy rừng Tràm (Melaleuca cajuputi) là loài cây duy nhất Dưới tán rừng còn
có Sậy (Phragmites vallatoria) và Năng (Eleocharis dulcis) Rừng hỗn giao trên đầm lầy than bùn, có các loài thực vật như Mốp (Alstonia spathulata), Bùi (Ilex cymosa), Tràm (Melaleuca cajuputi), Trâm (Syzygium cumini), Dấu dầu ba lá (Euodia lepta
), Trong nhóm Trảng cỏ có Trảng cỏ ưu thế bởi sậy (Phragites vallatoria) xuất hiện
bên trong vùng lõi, cao đến 4 m và Trảng cỏ ưu thế bởi năng (Eleocharis dulcis) phân
bố ở những nơi thấp, ngập nước, nhiễm phèn cao Các loại Trảng trống có Đầm lầy
súng ma (Nymphaea nouchali), là Trảng trống ngập nước, không có các loài cây gỗ lớn, Đầm lầy bèo cái (Pistia stratiotes)/ bèo tai chuột (Salvinia cucullata) là những
thực vật tạo thành các mảng dày đặc che phủ mặt nước trong VQG và Đầm lầy bồn
bồn (Typha domingensis) Nhóm kênh và dòng chảy tự nhiên có kênh (kênh đào) và
dòng chảy tự nhiên (lung) Về các loài thực vật ở VQG U Minh Thượng, tác giả đã xác
định được tổng cộng 243 loài thuộc 84 họ, trong đó có năm họ chính là: Poaceae (42 loài), Cyperaceae (28 loài), Asteraceae (12 loài), Fabaceae (11 loài), Rubiaceae (7
loài) Một mẫu tiêu bản thực vật của 80 loài được hoàn tất Một danh sách cây trồng trong vùng đệm của VQG cũng được hình thành Kết quả nghiên cứu đã nâng cao một cách đáng kể những hiểu biết vốn có về khu hệ thực vật của vùng đất ngập nước U Minh So với các nghiên cứu trước về hệ thực vật của vùng U Minh bao gồm U Minh Thượng và U Minh Hạ (theo Safford và cộng sự, 1998; Phùng Trung Ngân & Châu Quang Hiền, 1987), thì nghiên cứu này phát hiện thêm nhiều loài mới cho khu hệ thực vật đầm lầy than bùn ở đồng bằng sông Cửu Long Có thể nói, nghiên cứu của Trần
Trang 30Triết đã cung cấp những dẫn liệu về khu hệ thực vật VQG U Minh Thượng làm cơ sở cho công tác bảo tồn và nghiên cứu đa dạng sinh học về sau tại VQG U Minh Thượng nói riêng cũng như đồng bằng sông Cửu Long nói chung
1.1.4 Đa dạng sinh học vườn quốc gia U Minh Hạ
Hệ thực vật
Thảm thực vật rừng ở VQG U Minh Hạ thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa
ẩm nhiệt đới, kiểu phụ thổ nhưỡng úng nước phèn Hình thành trong điều kiện ngập nước, đất chua Đây là quần thể thực vật rừng lá cứng sau rừng ngập mặn, trong đó có
loài tràm (Melaleuca cajuputi) thuộc họ Sim (Myrtaceae) là cây bản địa của vùng
Đông Nam Á
Khu vực Vồ Dơi có khoảng 79 loài cây cỏ tự nhiên thuộc 65 chi, 36 họ thực vật khác nhau Thành phần loài trong rừng tràm đơn giản, các loài cây gỗ tiêu biểu gồm: tràm, bùi, trâm khế, móp, trâm sẻ; cây bụi gồm: mua lông, mật cật gai, bòng bong, Dầu dấu ba lá, bí bái; thảm tươi gồm: sậy, năng, dây choại, dớn, mây nước (Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Nam Bộ, 2005)
Hệ động vật
Thảm thực vật ngập nước đã tạo nơi cư trú thuận lợi cho nhiều loài động vật hoang dã Các kết quả nghiên cứu của Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật về hệ động vật hoang dã ở rừng Tràm trên đất than bùn ở vùng U Minh từ năm 2000 đến năm 2006 đã thống kê được 32 loài thú, thuộc 13 họ, trong 8 bộ, gồm bộ thú ăn sâu bọ
có 1 loài; bộ thú nhiều răng có 1 loài; bộ dơi 7 loài; bộ Linh trưởng 1 loài; bộ thú ăn thịt 10 loài; bộ móng guốc chẵn 1 loài; bộ tê tê 1 loài; bộ gặm nhấm 10 loài (dẫn theo Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Nam Bộ, 2005)
Các loài thú có giá trị khoa học là Tê tê (Manis javanica); Rái cá vuốt bé (Aony
cinerea); Rái cá lông mũi (Lutra sumatrana); Cầy giông (Viverra zibetha); Cầy giông
đốm lớn (V.megaspila); Cầy hương (Viverricula indica); Mèo rừng (Prionailurus
bengalensis); Mèo cá (P viverius); Dơi chó tai ngắn (Cynoterus branchyotis); Dơi
ngựa lớn (Pteropus vampirus)
Nghiên cứu của Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật (dẫn theo Phân viện
Trang 31Điều tra Quy hoạch rừng Nam Bộ, 2005) cũng đã xác định được 74 loài chim với mức
đa dạng rất cao Các loài chim nước cũng đặc biệt phong phú như các loài cò lùn
(Ixobrychus, Dupetor) gà lôi nước cánh vàng và chích ( Porphyrio porphyrio)
Các loài chim nước di cư gồm: diệc, cò bợ, choi choi, choắt, rẽ là những loài
có vùng làm tổ ở phương Bắc như Nhật, Trung Quốc, Nga Các loài cò, diệc, lele, choi choi thường xuất ven kênh rạch, đầm nước, bãi trống trong vùng
Già đẫy Java và Hạc cổ trắng (Khoang cổ) (Cionia episcopus) phân bố tại các
vùng mở rộng sang phía các LNT Trần Văn Thời và U Minh III Các loài chim đang bị
đe dọa tuyệt chủng trên thế giới được ghi nhận ở đây là Chàng bè (Pelecamis
onocrotalus), Già đãi (Leptoptiles dubius), diệc (Adea sp), le khoang cổ
(Xenerhynchus asiaticus)
Nghiên cứu của Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật cũng đã xác định được
39 loài bò sát và ếch nhái Các loài ít có khả năng thoát hiểm là những loài có khả
năng phục hồi rất thấp Đó là các loài Thằn lằn (Ceincella sp.), Hổ mây ngọc (Preas
margaritophorus), Rắn cờm (Chrysopelea ornata); Rắn leo cây (Dendralaphis pietus);
Rắn lục mép trắng (Trimeresurus albolabris) Kỳ đà hoa (Varanus salvator) Những
loài có khả năng thoát hiểm và chúng có số lượng cá thể nhiều ở cả trong vùng đệm và vùng lõi Đó là các loài Rắn đầu đỏ; Trăn đất; Rắn ráo trâu; Rắn hổ mang; Rùa hộp lưng đen; Rùa ba gờ Các loài ít bị đe dọa do cháy rừng là các loài phân bố rộng và có
số lượng cá thể nhiều ờ trong cả vùng đệm và vùng lõi gồm các lòai Thằn lằn bóng hoa; Thằn lằn đuôi sần; Rắn ri cá; Rắn nước; Rắn bông súng; Cóc Các loài không bị ảnh hưởng do cháy rừng đó là các loài ếch nhái như Cóc nước sần, ếch đồng; ếch cua; ếch cây mép trắng, và các loài rắn như Rắn mống; Rắn sọc da; Rắn bồng không tên; Rắn bồng voi; Rắn râu
Tài nguyên thủy sản
Rừng tràm U Minh Hạ là nơi sinh sống của nhiều loài cá nước ngọt như cá lóc,
cá rô, cá trê, cá thác lác, cá sặc rằn (Trichogaster pectoralis Regan) Những kết quả
khảo sát cho thấy thành phần thủy sản ở VQG U Minh Hạ có khoảng 37 loài cá thuộc
19 họ Trong đó có 9 loài cá kinh tế là các loài cá Rô đồng (Anabas testudineus); Thát
Trang 32lát (Notopterus notopterus); Lóc (Channa striata); Dày (Channa lucius); Lóc bông (Channa micropeltes), Sặc rằn (Trichogastes pectoralis); Sặc bướm (Trichopterus
trichopterus); Trê vàng (Clarias macrocephalus); Trê trắng (Clarias batrachus)
Trong các loài cá trên có 2 loài được xếp vào sách đỏ Động Vật Việt Nam gồm cá Trê
trắng (Clarias batrachus); cá Còm (Chitala ornata) Mức độ đe dọa các loài nói trên ở
bậc T (bị đe dọa), do đó cần có biện pháp bảo vệ đối tượng cá này (dẫn theo Phân viện
Điều tra Quy hoạch rừng Nam Bộ, 2005)
Các loài cá trên được phân thành 2 nhóm là: Cá đồng và cá sông Tuy nhiên, do
ở xa các hệ thống sông lớn ở ĐBSCL nên nhóm cá bản địa đóng vai trò quan trọng đối với nguồn lợi thủy sản ở Vườn QG UMH
Côn Trùng
Về Côn Trùng, các nghiên cứu về côn trùng sau cháy rừng đã phát hiện được 61 loài côn trùng phổ biến, thuộc trong 10 bộ Bộ cánh màng (7 loài), Bộ cánh cứng (21 loài), Bộ cánh nửa (4 loài), Bộ hai cánh (7 loài), Bộ bọ ngựa (2 loài), Bộ cánh phấn (5 loài), Bộ chuồn chuồn (5 loài) , Bộ cánh thẳng (5 loài), Bộ cánh giống (3 loài), Bộ dán (2 loài) Sau cháy rừng, một số sinh cảnh thực vật bị thay đổi, nước mặn được bơm lên
để chống cháy Do đó các khu cư trú của côn trùng cũng thay đổi Tuy nhiên do trước đây việc nghiên cứu về Côn Trùng còn rất hạn chế, chưa có điều tra nghiên cứu tỷ mỷ nào về côn trùng nên chưa có cơ sở để so sánh và đánh giá đúng đắn về côn trùng trước và sau cháy rừng (dẫn theo Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Nam Bộ, 2005)
1.2 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu
1.2.1 Vị trí địa lý, diện tích tự nhiên
Theo các tài liệu lưu trữ tại VQG U Minh Hạ, Cà Mau là tỉnh cực Nam trong vùng bán đảo Cà Mau, trải rộng từ 8o30’ đến 9o10’ vĩ độ Bắc, từ 104o08’ đến 105o05’ kinh độ Đông, có 3 mặt tiếp giáp với biển, phía Đông giáp với Biển Đông, phía Tây và Nam giáp với vịnh Thái Lan, phía Bắc giáp với tỉnh Bạc Liêu và Kiên Giang Diện tích tự nhiên 529.487 ha, có 8 huyện và một thành phố trực thuộc tỉnh
Vườn quốc gia U Minh hạ nằm cách thành phố Cà Mau vào khoảng 30 km về
phía Bắc, nằm trên địa bàn các xã Khánh Lâm, Khánh An (huyện U Minh), Khánh
Trang 33Bình Tây Bắc, Trần Hợi (huyện Trần Văn Thời) Vị trí của vườn quốc gia U Minh hạ
được xác định bởi tọa độ địa lý và ranh giới như sau:
Tọa độ địa lý:
- Từ 9°12’30’’ đến 9°17’41’’ vĩ độ Bắc
- Từ 104054’ 1’’ đến 104°59’16’’ kinh Đông
Ranh giới:
- Ranh giới phía Bắc là kênh số 27, từ lênh T90 đến kênh T100;
- Ranh giới phía Nam là kênh 600, (đoạn từ kênh 19 đến kênh giữa); kênh 500
và kênh 1200 (đoạn từ kênh giữa, đen kênh Đứng trong);
- Ranh giới phía Tây là kênh số 90 (đoạn từ kênh 27 xuống kênh 21); kênh Đứng trong (đoạn từ kênh 1200 đến kênh 21);
- Ranh giới phía Đông là kênh số 100 (đoạn từ kênh 27 xuống kênh 21); và kênh T19 (đoạn từ kênh 21 xuống kênh 600)
Bảng 1.1 Diện tích Vườn quốc gia U Minh Hạ
TT Loại đất, loại rừng
Tổng diện tích
tự nhiên
Huyện Trần Văn Thời Huyện U Minh
Xã Trần Hợi
Xã Khánh Bình Tây Bắc
Xã Khánh
An
Xã Khánh Lâm Diện tích tự nhiên 8.527,80 2.896,00 1.204,00 3.818,80 609,00
(Nguồn: Vườn quốc gia U Minh Hạ)
- Tổng diện tích tự nhiên: 8.527 ha (diện tích VQG U Minh Hạ theo Quyết định
Trang 34số 112/QĐ-TTg ngày 20/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ là 8.286 ha, tuy nhiên qua quá trình giải đoán ảnh Spot2, cập nhập lại ranh giới, diện tích VQG U Minh Hạ hiện
Nền địa chất chủ yếu trong vùng U Minh Hạ là trầm tích Đệ Tứ Holocen (QIV), trong đó gồm các phân vị địa tầng: trầm tích đầm lầy biển (bmQIV); sông - biển (ambQIV); trầm tích lòng sông cổ (amQIV); trầm tích sông (amQIV)
Trầm tích đệ tứ chi phối trực tiếp các đặc tính thổ nhưỡng của các nhóm đất có nguồn gốc đầm lầy ngập mặn ven biển (bm), sông - biển (am), sông - biển - đầm lầy (amb) Thành tạo Holocen gồm bột sét, sét bùn, tàn tích sinh vật
b Đặc điểm đất đai
Các loại đất trong vùng VQG U Minh Hạ hình thành trên nền trầm tích đệ tứ với các đơn vị địa tầng giàu dinh dưỡng Các nhóm đất tiêu biểu trong vùng bao gồm đất mặn, đất phèn, đất than bùn Các loại đất trong vùng U Minh Hạ nhạy cảm với môi trường đất ngập nước, trong đó đất phèn là loại điển hình và phổ biến nhất chiếm tỷ lệ diện tích lớn
1.2.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
a Đặc điểm khí hậu
U Minh Hạ nằm trong vùng vĩ độ thấp mang đặc tính khí hậu nhiệt đới gió mùa đồng thời ảnh hưởng của khí hậu biển Đông Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau (tháng chuyển mùa là tháng 4 và tháng 11) Nhiệt
độ không khí bình quân hàng năm là 26,5oC, tháng nóng nhất (tháng 5) là 27,6oC Tháng lạnh nhất (tháng 1) nhiệt độ bình quân là 25,0oC
Trang 35- Nhiệt độ không khí:
+ Nhiệt độ bình quân năm: 26,5oC
+ Nhiệt độ bình quân mùa khô: 25,7oC
+ Nhiệt độ bình quân mùa mưa: 27,1oC
+ Nhiệt độ bình quân tháng nóng nhất (tháng 5): 27,6oC
+ Nhiệt độ bình quân tháng lạnh nhất (tháng 1): 25,0oC
+ Độ ẩm không khí tương đối bình quân năm: 86%
+ Độ ẩm không khí tương đối bình quân mùa khô: 81%
+ Độ ẩm không khí tương đối bình quân mùa mưa: 87%
+ Độ ẩm không khí tương đối bình quân tháng cao nhất (tháng 9, 10): 88%
+ Độ ẩm không khí tương đối bình quân tháng thấp nhất (tháng 3, 4): 80%
Vùng này chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính Mùa khô, hướng gió thịnh hành là gió Đông và Đông Bắc, tốc độ gió từ 2,5 - 4,5 m/s Mùa mưa, hướng gió thịnh hành là gió Tây, Tây Nam, có tốc độ từ 1,6 - 2,8 m/s
- Gió mùa khô: Hướng gió Đông, Đông Bắc có tốc độ từ 2,5 - 4,5 m/s
- Gió mùa mưa: Hướng Tây, Tây Nam có tốc độ từ 1,6 - 2,8 m/s
Lượng mưa bình quân cao nhất đã quan sát được vào các tháng 8, 9 (351 mm/tháng), lượng mưa thấp nhất vào tháng 2 (8 mm) Số ngày mưa trung bình năm là
170 ngày
b Chế độ thủy văn
Chế độ thủy văn ở vùng U Minh hạ phụ thuộc chặt chẽ vào lượng mưa và hệ thống kênh rạch Các kênh rạch tự nhiên có ảnh hưởng đến chế độ thủy văn của khu vực này là sông Cái Tàu, Sông Trẹm, Sông Đốc
Trang 36Phía trong nội vùng, phần lớn kênh được xây dựng nhằm phục vụ việc giữ nước phòng chữa cháy rừng, tiêu nước sổ phèn, giao thông, các hướng chủ yếu của các kênh
là Đông Tây hoặc Nam Bắc Các kênh có chiều rộng từ 5 đến 20m, sâu từ -2 đến - 3m tạo cho bề mặt địa hình của vùng có độ chia cắt với mật độ cao
Các kênh đào và đê được sử dụng làm đường giao thông chính trong vùng U Minh hạ như kênh Minh Hà, kênh bờ bao toàn vùng, kênh theo hướng Đông - Tây gồm: 21, 23, 25, 27, 29, 31, 35; kênh theo hướng Bắc Nam gồm: kênh 90, 93, 96 ngoài ra trong các LNT còn nhiều kênh rạch lưu thông khác
Nguồn nước mặt chủ yếu là nước mưa Vào mùa mưa, nước mưa và nước lũ từ
hệ thống kênh rạch ở phía ngoài chảy vào khu vực làm tăng mức độ ngập nước trong vùng Vào mùa khô, mực nước trong các kênh rạch giảm xuống thì nước mặn xâm nhập theo các kênh đào vào phía trong nội đồng Hiện nay, do có hệ thống đê bao khép kín nên chế độ thủy văn trong khu rừng chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi chế độ mưa, lượng bốc hơi nước và việc quản lý điều tiết các công và đê bao
Vùng U Minh Hạ có lượng mưa lớn nhất bán đảo Cà Mau với lượng mưa năm
từ 2200-2400mm, thời gian mưa từ giữa tháng IV đến tháng XI, kéo dài tới 7,5 tháng trong năm Tiểu vùng có rừng U Minh nổi tiếng, có điều kiện phát triển Thủy sản nước ngọt, cá đồng chất lượng cao Vấn đề cho vùng này là các giải pháp giữ nước ngọt ( Đắp đê bao, hồ chứa nước, hệ thống kênh cho tuần tra bảo vệ rừng và giữ ngọt, trạm bơm dã chiến ) càng lâu càng tốt để chống cháy rừng đồng thời phát triển nuôi trồng
thủy sản như cá nước ngọt
1.3 Đặc điểm dân sinh, kinh tế - xã hội
- Theo Cục thống kê Cà Mau, tính đến năm 2013, dân số toàn tỉnh Cà Mau là 1.219.128 người, mật độ dân số đạt 230 người/km², trong đó dân số sống tại thành thị 263.124 người, dân số sống tại nông thôn 956.004 người Dân số nam 612.246 người, dân số nữ là 606.882 người, đối với huyện U Minh và Trần Văn Thời thống kê trong bảng sau:
Trang 37Bảng 1.2 Dân số và mật độ dân số
(Km2)
Dân số trung bình (Người)
Mật độ dân số (Người/km2)
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Cà Mau năm 2015)
Bảng 1.4 Số hộ phân theo huyện từ năm 2010 - 2013
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Cà Mau, 2015)
- Dân tộc: Vùng U Minh có tỷ lệ dân tộc thiểu số cao, chủ yếu là dân tộc Khmer, có khoảng 4.800 người, chiếm hơn 4,86% tập trung ở các xã Khánh Hòa, Khánh Lâm và Nguyễn Phích Mật độ dân số trung bình khỏang 128 người/km2 (bình quân của tỉnh là 260 người/km2), tuy nhiên phân bố mật độ dân ở các xã không đều,
xã có rừng mật độ dân khá thấp, như tại Khánh Thuận 68mgười/km2 và Khánh An bình quân 98 người/km2
Trang 38Bảng 1.5 Diện tích, dân số các xã vùng U Minh Hạ (Điều tra dân số, nhà ở năm 2009)
Tên các xã và thị trấn Diện tích,
(ha)
Số hộ (hộ)
Dân số, (người)
Dân số (nữ)
Mật độ dân, (người/km 2 )
Số lao động trong độ tuổi của vùng 55.538 người tại U Minh, chiếm 55,6 % dân
số huyện, trong đó lao động nông nghiệp chiếm trên 84,7 %, lao động chuyên sản xuất công nghiệp và dịch vụ chiếm 13% (nếu tính lao động nông nghiệp kết hợp dịch vụ thì khoảng 30%) Nhìn chung, độ tuổi lao động trẻ, tuy nhiên do trình độ văn hóa thấp, chủ yếu là lao động thủ công chưa qua đào tạo nên đào tạo nghể đang là một nhu cầu rất cần để phát triển nguồn lao động này Ngoài ra, lao động nữ còn chưa được sử dụng hữu ích do tập trung nhiều vào nội trợ gia đình
Trang 39- Văn hóa, giáo dục:
Toàn vùng U Minh Hạ có 117 trường, bao gồm 8 trường mầm non, 75 trường tiểu học, 27 trường trung học cơ sở và 7 Trường PTTH Mạng lưới các trường tiểu học, THCS và THPT được bố khá hợp lý trong vùng, riêng U Minh đối với khối THPT đạt tỷ lệ 3 đơn vị cấp xã /trường Tỷ lệ học sinh các cầp có giảm so với những năm trước (2005), điều này cho thấy số học sinh trong qúa độ tuổi đến trường giảm dần, đây là kết qủa tiến bộ của công tác phổ cập giáo dục ở các cấp Độ ngũ giáo viên cũng được chuẩn hóa đảm bảo yêu cầu và quản lý giáo dục Cơ sở vật chất và thiết bị trường học cũng đã được quan tâm đầu tư xây dựng, thực hiện tốt chương trình kiên cố hóa trường học, xóa xã trắng về trường mầm non và phổ cập mẫu giáo 5 tuổi
- Tỷ lệ nghèo:
U Minh được biết đến là vùng có tỷ lệ hộ dân nghèo cao nhất của tỉnh Cà Mau,
tỷ lệ nghèo của tại huyện U Minh (2005) là 29,5%, tại huyện Trần Văn Thời 23,8% Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nghèo là do cơ sở hạ tầng còn thấp kém, hệ thống giao thông khó khăn, các dịch vụ y tế, giáo dục bị hạn chế Ngày nay, diện mạo kinh tế xã hội vùng đã có nhiều đổi khác, với sự phát triển đúng hướng của chính quyền địa phương, sự giúp sức của Nhà nước qua các chương trình 135, 134
và các dự án của các tổ chức quốc tế, đặc biệt các dự án phục hồi rừng sau cháy và dự
án hỗ trợ cộng đồng bị tổn thương sau vụ cháy rừng tại U Minh hạ Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đi khá rõ rệt.Theo đánh gía của UBND huyện U Minh, năm 2009, huyện U Minh chỉ còn 15,9 % hộ nghèo Tỷ lệ hộ sử dụng điện 2005-2009 tăng từ 55-75,4% Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em giảm từ 18% năm 2005 xuống còn 17% năm 2009 Tỷ lệ hộ dân cư nông thôn thành thị được sử dụng nước sạch lên 96,5% Những hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn đã được trợ giúp qua các chưong trình xây nhà cho người nghèo, nhà “tình thương” Tạo công ăn việc làm cho lao động, giải ngân vốn cho hộ người dân tộc Khmer mua đất, chuộc đất, mua sắm công cụ, tư liệu sản xuất vv…
* Theo số liệu của Cục Thống kê Cà Mau và Sở LĐ-TB&XH thì đến tháng 12 năm 2012 toàn tỉnh có 292.538 hộ thuộc diện người có công, dân tộc thiểu số, Nghị định 67, Nghị định 13, Nghị định 06, hộ nghèo và cận nghèo; trong đó hộ nghèo là 24.095 hộ (khu vực thành thị 3.059 hộ, khu vực nông thôn 21.036 hộ)
Trang 40Huyện U Minh có 24.187 hộ trong đó hộ thuộc diện người có công là 1.210 hộ, dân tộc thiểu số là 1.252 hộ và Nghị định 67, NĐ 13, NĐ 06 là 583 hộ; hộ nghèo là 3.784 hộ chiếm 15,64%; hộ cận nghèo là 1.454 hộ chiếm 6,01%
Bảng 1.6 Thống kê tỷ lệ hộ nghèo một số xã vùng U Minh Hạ năm 2012 (theo Quyết
định số 1816/QĐ-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2012 về việc phê duyệt kết quả điều
tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo tỉnh Cà Mau năm 2012)
Chỉ tiêu Trung bình
TT U Minh Khánh Hòa Khánh Thuận Khánh Tiến Nguyễn Phích Khánh Lâm Khánh An Khánh Hội
Khánh Bình Tây Bắc
Trần Hợi
Nguồn thu nhập chính: Nguồn thu nhập chính của cộng đồng tại vùng UMH chủ yếu vẫn là sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp
Cơ cấu thu nhập của các hộ dân cho thấy 81,5 % thu nhập từ nghề nông-lâm - ngư nghiệp Thu nhập từ làm thuê cũng chiếm tỷ lệ khá cao 11,6%, cho thấy người dân
ở đây còn nghèo, cuộc sống chưa ổn định Phần thu nhập từ dịch vụ, lương và các ngành nghề khác chiếm tỷ lệ nhỏ (7%) Mức độ giàu nghèo của dân cư trong vùng đệm được chia thành 3 mức độ:
- Nhóm hộ khá, giàu (có tích lũy) : 598 hộ
- Nhóm hộ trung bình (đủ ăn) : 1.908 hộ