1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều nguyễn từ trung ương tản quyền đến trung ương tập quyền (1802 1840)

267 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá Trình Phát Triển Của Bộ Máy Nhà Nước Triều Nguyễn Từ “Trung Ương Tản Quyền” Đến “Trung Ương Tập Quyền” (1802-1840)
Tác giả Huỳnh Văn Nhật Tiến
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Thanh Thanh, TS. Đinh Thị Dung
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch Sử Việt Nam
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ Lịch Sử
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 267
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về tính chất và mối liên hệ của hai tổ chức bộ máy nhà nước Triều Gia Long và Triều Minh Mạng, cả hai tác phẩm đều đưa ra những kết luận rằng: Quá trình tập trung quyền lực của triều Ngu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

-

Huỳnh Văn Nhật Tiến

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN TỪ “TRUNG ƯƠNG TẢN QUYỀN” ĐẾN “TRUNG ƯƠNG

TẬP QUYỀN” (1802-1840)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Hồ Chí Minh – Năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

-

Huỳnh Văn Nhật Tiến

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN TỪ “TRUNG ƯƠNG TẢN QUYỀN” ĐẾN “TRUNG ƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận án là trung thực Những tư liệu mới và những kết quả của Luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả Luận án

Huỳnh Văn Nhật Tiến

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

Khâm định Đại Nam

Thành phố Hồ Chí

Trang 5

7 Nhân sự ở Gia Định thành và Bắc thành trong Thực lục năm

8 Nhân sự ở Bắc thành và Gia Định thành năm 1829 91-92 01

12 Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn 1831-1840 137 01

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 2

DANH MỤC VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU 4

MỤC LỤC 5

MỞ ĐẦU 9

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1840 16

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 16

1.1.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945 16

1.1.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến 1975 17

1.1.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay 22

1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 29

1.2.1 Về bộ máy nhà nước giai đoạn 1802-1840 29

1.2.2 Mối liên hệ hai chiều giữa bộ máy nhà nước giai đoạn 1802-1830 và bộ máy nhà nước giai đoạn 1831-1840 32

1.3 TÍNH KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN 34

Chương 2 BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1830……… 38

2.1 SỰ RA ĐỜI CỦA VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN 38

2.1.1 Đất nước trải qua ba thế kỷ nội chiến và chia cắt 38

2.1.2 Nguyễn Ánh kết thúc nội chiến và thống nhất đất nước 39

2.1.3 Tình hình đất nước dưới triều Gia Long 40

2.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1830 43

2.2.1 Cơ cấu bộ máy nhà nước ở trung ương 43

2.2.1.1 Hoàng đế 43

2.2.1.2 Hội đồng đình thần và các chức quan đầu triều 44

2.2.1.3 Lục bộ 46

2.2.1.4 Nhóm cơ quan phụ trách công tác văn phòng và lưu trữ 49

2.2.1.5 Nhóm cơ quan phụ trách giám sát 50

2.2.1.6 Nhóm cơ quan phụ trách về giáo dục và khoa học 51

2.2.1.7 Nhóm cơ quan phụ trách về hoàng tộc và giúp việc ở cung đình 53

2.2.1.8 Nhóm cơ quan phụ trách về kho tàng và quân nhu 56

2.2.1.9 Nhóm cơ quan phụ trách về vận tải và liên lạc 60

Trang 7

2.2.1.10 Nhóm cơ quan phụ trách về nghi lễ và tế tự 62

2.2.2 Cơ cấu hệ thống hành chính trực thuộc Thành và trung ương 63

2.2.2.1 Cấp Thành (Bắc thành và Gia Định thành) 63

2.2.2.2 Cấp Trấn/Dinh 67

2.2.2.3 Cấp Phủ 70

2.2.2.4 Cấp Huyện/Châu 71

2.2.2.5 Cấp Tổng 72

2.2.2.6 Cấp Xã 72

2.3 CƠ CHẾ VẬN HÀNH BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1830 73

2.3.1 Cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước ở trung ương 73

2.3.1.1 Phạm vi tác động của đế quyền 73

2.3.1.2 Cơ chế làm việc của Lục bộ 74

2.3.1.3 Cơ chế liên kết giải quyết công vụ giữa các cơ quan 75

2.3.2 Cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước ở địa phương 77

2.3.2.1 Hoạt động của cấp Thành và sự tương tác với trung ương 77

2.3.2.2 Cơ chế hoạt động của các cấp hành chính địa phương khác 79

2.4 NHỮNG BƯỚC CHUẨN BỊ ĐỂ CHUYỂN SANG TẬP QUYỀN 81

2.4.1 Chuyển đổi chức năng của Hội đồng đình thần và sắp xếp lại hệ thống trật hàm 81

2.4.1.1 Chuyển đổi chức năng của Hội đồng đình thần 81

2.4.1.2 Sắp xếp lại hệ thống trật hàm của quan chức 83

2.4.2 Điều chỉnh công tác của Văn thư phòng và thành lập Nội các 84

2.4.2.1 Điều chỉnh công tác của Văn thư phòng 84

2.4.2.2 Thành lập Nội các để thay thế chức năng của Văn thư phòng 85

2.4.3 Chấn chỉnh và tăng cường hoạt động kiểm tra giám sát 88

2.4.4 Nâng cấp vị thế kinh đô và bước đầu thống nhất hệ thống đơn vị hành chính 89

2.4.4.1 Điều chỉnh việc phân cấp quản lý hành chính khu vực kinh thành 89 2.4.4.2 Thống nhất cơ cấu hành chính, nhân sự, chế độ đãi ngộ 89

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 97

Chương 3 BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1831-1840……… 100

3.1 XÓA BỎ CẤP THÀNH VÀ THÀNH LẬP CẤP HÀNH CHÍNH TỈNH 100

3.1.1 Hoàn cảnh lịch sử có nhiều chuyển biến tích cực 100

Trang 8

3.1.1.1 Đất nước đi vào ổn định sau 30 năm đầu của triều Nguyễn 100

3.1.1.2 Yêu cầu của lịch sử và thời cơ cho việc chuyển đổi 102

3.1.2 Xóa bỏ cấp Thành và thành lập đơn vị hành chính cấp Tỉnh 103

3.1.2.1 Giải tán Bắc thành, lập đơn vị Tỉnh ở miền Bắc và khu vực Bắc Trung Bộ 103

3.1.2.2 Giải tán Gia Định thành, lập đơn vị Tỉnh ở miền Nam và khu vực Nam Trung Bộ 106

3.2 KIỆN TOÀN CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN THEO HƯỚNG TẬP QUYỀN TRIỆT ĐỂ 108

3.2.1 Kiện toàn cơ cấu bộ máy nhà nước ở trung ương 108

3.2.1.1 Bổ sung các cơ quan quan trọng cho bộ máy nhà nước trung ương 108

3.2.1.2 Hoàn thiện về cơ cấu các cơ quan nhà nước ở trung ương 118

3.2.2 Thống nhất cơ cấu các cấp hành chính địa phương trên cả nước 125

3.2.2.1 Cấp Tỉnh 125

3.2.2.2 Cấp Phủ 128

3.2.2.3 Cấp Huyện/Châu 129

3.2.2.4 Cấp Tổng 132

3.2.2.5 Cấp Xã 132

3.3 CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN SAU NĂM 1831 133

3.3.1 Cách thức vận hành của bộ máy nhà nước ở trung ương 133

3.3.1.1 Quyền lực tuyệt đối của Hoàng đế 133

3.3.1.2 Vai trò trung gian và hỗ trợ công vụ của các Bộ/Nha 134

3.3.1.3 Hoạt động giám sát và thanh tra 138

3.3.2 Cách thức vận hành của các cấp hành chính địa phương 142

3.3.2.1 Mối liên hệ giữa trung ương và địa phương 142

3.3.2.2 Mối liên hệ liên thuộc giữa các địa phương lớn (cấp Tỉnh) 143

3.3.2.3 Cách thức tương tác giữa địa phương với trung ương 145

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 147

Chương 4 TƯƠNG QUAN GIỮA “TẢN QUYỀN” VÀ “TẬP QUYỀN” TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN ( GIAI ĐOẠN 1802-1840) 149

4.1 VAI TRÒ CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC “TRUNG ƯƠNG TẢN QUYỀN” VÀ “TRUNG ƯƠNG TẬP QUYỀN” TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN (GIAI ĐOẠN 1802-1840) 149

Trang 9

4.1.1 Con đường xây dựng nhà nước tập quyền của triều Nguyễn 149

4.1.2 Giai đoạn I với chính sách “trung ương tản quyền” (1802 đến 1830) 151

4.1.2.1 Lý do áp dụng 151

4.1.2.2 Luận giải về tính chất “trung ương tản quyền” 153

4.1.2.3 Đặc trưng của bộ máy nhà nước “trung ương tản quyền” 160

4.1.3 Giai đoạn II với chính sách “trung ương tập quyền” (sau năm 1831) 163

4.1.3.1 Lý do của sự chuyển hướng 163

4.1.3.2 Luận giải về tính chất “trung ương tập quyền” 166

4.1.3.3 Đặc trưng của bộ máy nhà nước “trung ương tập quyền” 168

4.2 TÍNH THỐNG NHẤT GIỮA “TẢN QUYỀN” VÀ “TẬP QUYỀN” TRONG TIẾN TRÌNH CỦNG CỐ ĐẾ QUYỀN TRIỀU NGUYỄN (GIAI ĐOẠN 1802-1840) 171

4.2.1 Thống nhất trong chủ trương xây dựng bộ máy nhà nước 171

4.2.2 Thống nhất trong các nguyên tắc xây dựng bộ máy nhà nước 172

4.2.3 Thống nhất trong nguyên tắc vận hành nhà nước 174

4.2.4 Thống nhất trong các nguyên tắc và cách thức giải quyết công vụ 176

4.2.5 Thống nhất trong các biện pháp chế ước quyền hành 178

4.2.5.1 Biện pháp đối với bộ máy công quyền (bao gồm cả đế quyền) 178

4.2.5.2 Biện pháp đối với quan lại 182

4.2.6 Thống nhất trong cơ chế và biện pháp tương tác 186

4.2.6.1 Tương tác thông qua hội bàn và trính báo công vụ 186

4.2.6.2 Tương tác thông qua các loại văn bản hành chính 188

4.3 HIỆU QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1840 191

4.3.1 Hiệu quả từ quá trình xây dựng bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 191

4.3.2 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình xây dựng bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 194

TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 202

KẾT LUẬN 204

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 209

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 210

PHỤ LỤC 226

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, sự ra đời của triều Nguyễn vào thế kỷ XIX

có thể xem là sự kết thúc của gần 300 năm nội chiến kéo dài từ đầu thế kỷ XVI cho đến tận cuối thế kỷ XVIII Đó là ba thế kỷ biến động phức tạp với sự phế lập trong nội bộ triều Lê, nội chiến Lê-Mạc, nội chiến Trịnh-Nguyễn, khởi nghĩa nông dân, nội chiến Tây Sơn-Nguyễn Ánh Trong bối cảnh đó, dòng họ Nguyễn xuất hiện, ban đầu là một thế lực tôn phù nhà Lê, rồi dần vươn lên trở thành một lực lượng chính trị độc lập, sau đó biệt lập giang sơn, xây dựng triều đình riêng, đóng góp công lao vào sự nghiệp mở mang bờ cõi Nhưng sự xác lập của triều Nguyễn trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động suốt từ thế kỷ XVI đến XIX, đã dẫn đến những nhận thức về vai trò và đóng góp của triều Nguyễn chưa được sự đồng thuận Sự khác nhau trong việc đánh giá xuất phát từ những di sản to lớn mà triều Nguyễn để lại cũng như những hậu quả nặng nề về việc mất nước hồi nửa sau thế kỷ XIX Đây là phần lịch sử quan trọng và việc làm rõ những nội dung lịch sử trong giai đoạn này

sẽ có tác động điều chỉnh đến nhận thức của nhiều sự kiện trọng đại khác

Triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng ở nước ta, đã kế thừa và hoàn thiện cách thức tổ chức bộ máy nhà nước của các triều đại trước Đặc biệt, trong giai đoạn 1802-1840, triều Nguyễn đã quản lý một vùng lãnh thổ rộng lớn, tiếp thu nhiều kinh nghiệm trong việc điều hành và quản lý xã hội Việc nghiên cứu

tổ chức bộ máy nhà nước dưới vương triều Nguyễn nói chung và bộ máy nhà nước giai đoạn 1802-1840 nói riêng sẽ góp phần cung cấp một cái nhìn đầy đủ về tổ chức nhà nước phong kiến trong những năm đầu thế kỷ XIX, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý nhà nước và quản lý xã hội hiện nay

Nghiên cứu về lịch sử phát triển bộ máy nhà nước phong kiến ở Việt Nam cho thấy, giai đoạn tồn tại của nhà Nguyễn có hai đóng góp rất quan trọng xét về

khía cạnh nhà nước là sự hình thành bộ máy nhà nước “trung ương tản quyền” với

nguyên lý “tản quyền” được áp dụng trong khoảng thời gian 1802-1830, và bộ máy nhà nước “trung ương tập quyền” với tính chất tập quyền được áp dụng từ sau những năm 1831-1840 Từ việc mô tả và phân tích hai bộ máy nhà nước này, đề tài

Trang 11

sẽ làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng thuộc về cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động, cũng như mối quan hệ giữa hai bộ máy nhà nước kể trên, đặt trong tương quan với quá trình xây dựng bộ máy nhà nước triều Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX (1802-1840) Qua đó, đánh giá lại mối quan hệ giữa hai tổ chức nhà nước đó, cũng như vai trò của Gia Long và bộ máy nhà nước thời kỳ 1802-1830 trong quá trình tập quyền của triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1840 Điều này sẽ góp phần làm phong phú thêm những hiểu biết về sự hình thành và đặc điểm của những mô hình nhà nước phong kiến khác nhau ở Việt Nam

Cũng qua quá trình nghiên cứu và khảo sát khi tìm hiểu về triều Nguyễn, chúng tôi còn nhận thấy rằng: Việc nghiên cứu bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 đang gặp những bất đồng nhất định, cụ thể là trong việc đưa ra các khái niệm và cách thức gọi tên hai bộ máy nhà nước đó, đặc biệt là những nhận định

về vai trò và tính kết nối của hai bộ máy nhà nước trong tiến trình tập quyền triều Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX, cũng như những tồn nghi trong việc đặt đúng vị trí từng bộ máy nhà nước trong qúa trình xây dựng bộ máy nhà nước triều Nguyễn Vấn đề này đặt trong bối cảnh đất nước đang trên đường đổi mới cơ chế quản lý hành chính để vừa phù hợp với tình hình cụ thể, vừa phù hợp với xu hướng chung của thế giới nhằm thúc đẩy tiến trình hội nhập thì càng trở nên cấp thiết

Từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề: Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều Nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802-1840) làm đề tài Luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều Nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802-1840) hướng đến các mục tiêu sau:

- Hệ thống tiến trình tập quyền của triều Nguyễn những năm 1802-1840, tương ứng với giai đoạn từ lúc giành được vương quyền, kiến thiết quốc gia đến khi vươn đến sự ổn định của tập quyền

- Mô tả bức tranh toàn diện về cơ cấu tổ chức cũng như cơ chế vận hành của

bộ máy nhà nước “trung ương tản quyền” giai đoạn 1802-1830, cùng với những giá trị độc đáo và những hệ quả cần thiết làm tiền đề cho giai đoạn tiếp theo

Trang 12

- Phân tích những chuyển biến trong cách thức tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước “trung ương tập quyền” giai đoạn 1831-1840, đặc biệt là những điều chỉnh về cơ cấu hành chính từ sau năm 1831-1832 Qua đó, lí giải căn nguyên cũng như bản chất của các thay đổi nói trên

- Làm rõ mối liên kết giữa hai bộ máy nhà nước triều Nguyễn ở hai giai đoạn trong kế hoạch tập quyền triều Nguyễn từ 1802-1840, qua đó chứng minh quá trình tập quyền của triều Nguyễn trong nửa đầu thế kỷ XIX đã được tiến hành qua hai giai đoạn là 1802-1830 và 1831-1840, với sự chuyển tiếp từ bộ máy nhà nước trung ương tản quyền đến bộ máy nhà nước trung ương tập quyền, đó là sự chuyển tiếp liền mạch, có chủ định, hợp quy luật, đi từ tập quyền ở mức độ phù hợp đến tập quyền ở mức độ tập trung, từ sự thích ứng với tình hình thực tế ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX cho đến việc hoàn bị của tổ chức nhà nước Nguyễn vào những năm 30

- Qua việc phân tích và đối chiếu với những cách đánh giá lâu nay về bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn Gia Long và Minh Mạng, cũng như về quá trình tập quyền của triều Nguyễn những năm 1802-1840, đề tài sẽ làm rõ các khái niệm

“tản quyền” và “tập quyền”, cũng như lý giải việc thực hiện mục tiêu tập quyền ở mỗi giai đoạn trong quá trình xây dựng bộ máy triều Nguyễn

- Tổng kết kinh nghiệm từ quá trình xây dựng bộ máy nhà nước, về mối quan

hệ giữa trung ương với địa phương, về sự dung hòa nhân tố con người với những nhân tố thuộc về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Qua đó, bổ sung những nghiên cứu mới, hệ thống hóa nguồn tư liệu nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu phần lịch sử cổ trung cân đại nói chung và lịch sử Triều Nguyễn nói riêng

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là quá trình xây dựng bộ máy nhà nước triều Nguyễn trong khoảng thời gian 1802-1840, trong đó tập trung vào hai đối tượng: cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1830 từ trung ương cho đến địa phương; cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1831-1840 từ trung ương cho đến địa phương

Trang 13

Để làm rõ quá trình tập quyền của bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840, Luận án đi sâu phân tích tính chất cũng như vai trò và mối liên hệ giữa hai tổ chức bộ máy nhà nước trong quá trình tập trung quyền lực của nhà Nguyễn trên cơ sở so sánh và đối chiếu với những hướng nghiên cứu khác

Luận án cũng sẽ dành sự quan tâm cho một số vấn đề thuộc về pháp luật triều Nguyễn, trong đó trọng tâm là những vấn đề về quan chế, về cách thức tổ chức

và phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, về luật pháp, và một số vấn đề về kinh chính trị-văn hóa-xã hội-tư tưởng.v.v

tế-4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt không gian, phạm vi nghiên cứu của đề tài là tổ chức chính quyền và

cơ cấu bộ máy nhà nước được áp dụng trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tức không gian lãnh thổ nước Việt Nam được thiết lập từ thời Gia Long và sau đó được củng cố trong suốt thời Minh Mạng Tuy nhiên, Luận án sẽ tập trung trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương và mô hình tổ chức hành chính địa phương chung áp dụng trên toàn quốc, trên cơ sở có đề cập riêng trên từng khu vực lớn của đất nước, chứ không đi sâu vào chi tiết cụ thể ở từng địa phương Bên cạnh đó để có cái nhìn khái quát hơn, đề tài còn liên hệ đến cả những mô hình tổ chức bộ máy nhà nước lân cận và trước đó

Về mặt thời gian, đề tài tập trung vào giai đoạn trị vì của Gia Long và Minh Mạng, tức là khoảng thời gian từ năm 1802 đến năm 1840 Tuy nhiên trong quá trình tiến hành các phân tích và nghiên cứu, để có cái nhìn toàn diện, đề tài còn đối chiếu và đề cập đến các sự kiện diễn ra trước và sau đó

5 NGUỒN TƯ LIỆU

Nguồn tư liệu quan trọng nhất được tác giả sử dụng trong Luận án là nguồn

tư liệu được biên soạn bởi Nội các, Quốc sử quán và các sử thần triều Nguyễn, cụ

thể đó là các bộ Hội điển, Thực lục, Hoàng triều luật lệ, Minh Mệnh chính yếu, Đại

Nam nhất thống chí, Đại Nam chính biên liệt truyện và các tài liệu châu bản còn

được lưu trữ lại

Trang 14

Nguồn tư liệu quan trọng thứ hai là các tài liệu tham khảo chuyên ngành bao gồm các công trình nghiên cứu, các Luận án Tiến sĩ, sách chuyên ngành, các bài viết, bài tham luận, bài nghiên cứu được đăng trên các kỷ yếu Hội thảo, tạp chí chuyên ngành, báo mạng có uy tín.v.v

Nguồn tư liệu quan trọng thứ ba là từ internet, bao gồm các bài viết, bài nghiên cứu, báo cáo khoa học.v.v đã công bố và được cập nhập trên các website

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài của Luận án thuộc về chuyên ngành Lịch sử Việt Nam nên phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp logic và phương pháp hệ thống, được vận dụng trên nền tảng chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, công trình còn sử dụng các phương pháp chuyên ngành khác của khoa học lịch sử là phương pháp nghiên cứu đồng đại, phương pháp nghiên cứu lịch đại nhằm tái hiện cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn dưới hai triều vua đầu, đồng thời tiến hành xâu chuỗi các sự kiện với nhau trong mối quan hệ tương tác hai chiều Đặc biệt, có sự kết hợp các phương pháp nghiên cứu trong việc phục dựng về cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước thời kì 1802-1830

và 1831-1840, với việc phân tích và đối chiếu với những quan điểm trái chiều, những mối liên hệ tương đồng cũng như khác biệt giữa hai bộ máy nhà nước đó

Bên cạnh các phương pháp nghiên cứu đặc thù thuộc chuyên ngành nghiên cứu lịch sử, đề tài còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chuyên biệt khác, bao gồm: phương pháp thống kê, phương pháp sưu tầm và xử lý số liệu, phương pháp khai thác và hệ thống tư liệu, các phương pháp so sánh và đối chiếu, phương pháp trình bày và xây dựng cấu trúc văn bản, phương pháp hệ thống hóa số liệu, phương pháp vẽ sơ đồ biểu mẫu.v.v

7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

Với sự kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đi trước, việc nghiên cứu

đề tài “Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều Nguyễn từ “trung ương

tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802-1840)” sẽ có những đóng góp:

Trang 15

Trên cơ sở hệ thống hóa, khái quát hóa và tiến hành phân tích, đối chiếu với các nguồn tư liệu, các công trình nghiên cứu, với cách tiếp cận và hướng nghiên cứu độc lập, Luận án góp phần hệ thống và mô tả toàn diện cơ cấu tổ chức cũng như cách thức vận hành của bộ máy nhà nước phong kiến triều Nguyễn giai đoạn 1802-

1840 qua hai đời vua là Gia Long và Minh Mạng Quá trình nghiên cứu này được tiến hành trong sự đối chiếu và so sánh với các hướng nghiên cứu khác lâu nay

Việc phân tích và nghiên cứu bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn

1802-1840 sẽ làm sáng tỏ những nét độc đáo của một nhà nước “trung ương tản quyền” giai đoạn 1802-1840 cũng như những đặc trưng về một nhà nước “trung ương tập quyền” được đánh giá là đạt tới sự tập quyền cao độ ở giai đoạn 1831-1840

Việc nghiên cứu bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 cũng nhằm làm sáng tỏ những mối liên kết giữa hai bộ máy nhà nước “trung ương tản quyền” và “trung ương tập quyền”, cũng như là sự hỗ trợ và tương tác giữa nguyên tắc “tản quyền” và “tập quyền” trong chủ trương tập quyền của triều Nguyễn

Đất nước đang trong quá trình hội nhập thế giới với xu hướng đổi mới toàn diện Việc nghiên cứu tổ chức và cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 còn nhằm rút ra những kinh nghiệm, những bài học về quá trình xây dựng bộ máy nhà nước, đóng góp vào quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa

8 BỐ CỤC LUẬN ÁN

Ngoài lời cảm ơn, danh mục viết tắc và danh mục bảng số liệu, phần mở đầu (từ trang 9-15), kết luận (từ trang 204-208), tài liệu tham khảo (từ trang 210-225) và phụ lục (từ trang 226-PL40), nội dung Luận án được kết cấu thành bốn chương:

Chương I: “Tổng quan tình hình nghiên cứu về bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840” (từ trang 16-37) Chương gồm bảy đầu mục với nội dung chính là trình bày toàn bộ tình hình nghiên cứu về bộ máy nhà nước triều Nguyễn 1802-1840 từ trước cho đến nay, trong đó có phần đánh giá và phân tích những gì chưa làm được và làm được của các nghiên cứu trước Chương cũng giành

ra một dung lượng đến trình bày những mục tiêu, đóng góp của đề tài cũng như các

cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và hệ thống tài liệu tham khảo

Trang 16

Chương 2: “Bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1830” (từ trang 38-99) Chương gồm ba mục lớn với nội dung chính: trình bày cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước “trung ương tản quyền” (1802-1830), từ trung ương cho đến địa phương Trong đó, phần đầu chương sẽ khái quát về sự xuất hiện của dòng họ Nguyễn trong lịch sử dân tộc cùng những nét sơ lược nhất về bối cảnh đất nước cũng như các chính sách nội trị - ngoại giao của vua Gia Long, và phần cuối chương sẽ là những điều chỉnh của vua Minh Mạng trong 10 năm kể từ khi vua Gia Long mất

Chương 3: “Bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1831-1840” (từ trang 100-148) Chương gồm ba mục lớn với nội dung chính là: trình bày cơ cấu tổ chức

và cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước “trung ương tập quyền” (1831-1840), từ trung ương cho đến địa phương, trọng tâm là sau cuộc điều chỉnh hành chính những năm 1831-1832 Phần đầu chương có đề cập đến nguyên nhân, thời cơ và những điều chỉnh về mặt cơ cấu và cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước triều Nguyễn, đặc biệt là trong việc xóa bỏ cách thức phân cấp cũ và thành lập đơn vị hành chính địa phương mới

Chương 4: “Tương quan giữa “tản quyền” và “tập quyền” trong quá trình xây dựng bộ máy nhà nước triều Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng (giai đoạn 1802-1840)”, (từ trang 149-203-184) Chương gồm ba mục lớn với nội dung: lý giải

và phân tích những nguyên lý, những mối liện hệ, cũng như vai trò giữa hai tổ chức

bộ máy nhà nước “trung ương tản quyền” và “trung ương tập quyền” trong chủ trương tập quyền của triều Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX Chương cũng sẽ giành ra một phần để tổng kết những hiệu quả đem lại từ việc thực hiện cơ chế “tản quyền”

và “tập quyền” trong chủ trương tập quyền của triều Nguyễn và những bài học kinh nghiêm rút ra từ việc nghiên cứu cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của tổ chức bộ máy nhà nước đó, cũng như quá trình hình thành và hoàn thiện chủ trương tập quyền của Triều Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX đối với công tác quản lý đất nước quản lý xã hội hiện nay

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BỘ MÁY NHÀ

NƯỚC TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1840

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Với nội dung và đối tượng nghiên cứu của đề tài có phạm vi tương đối rộng

và liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, nên từng bộ phận của nội dung đề tài đã được đề cập ít nhiều trong nhiều tác phẩm chuyên ngành, thông sử, giáo trình và một số tác phẩm chuyên đề, hay sách tham khảo; bên cạnh đó cũng có rất nhiều luận văn, luận án, bài báo nghiên cứu khoa học chọn các vấn đề của triều Nguyễn

để làm đề tài Sau đây xin được điểm lại một số nội dung cơ bản của những công trình đó có đề cập ít nhiều đến quá trình phát của bộ máy nhà nước triều Nguyễn, phân làm ba thời kỳ lớn

1.1.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945

Vào năm 1921, sử gia Trần Trọng Kim cho ấn hành tác phẩm Việt Nam sử

lược Đây là một bộ sử được biên soạn theo phương pháp khảo chứng của Tây Âu

Trong tác phẩm, tác giả đã bước đầu trình bày và đưa ra những nhận định, đánh giá

về vua Gia Long cũng như bộ máy nhà nước của triều Nguyễn ở thời Gia Long Trong đó, tác giả có đề cập đến sự tồn tại của Bắc thành, Gia Định thành và khu vực

ở “giữa nước” với những mô tả sơ khởi Giai đoạn trị vì của Minh Mạng với công cuộc cải cách hành chính cũng được tác giả lưu tâm với những nét chấm phá cơ bản nhất “Ở trong triều, thì ngài đặt thêm ra các tự và các viện Bấy giờ có Nội Các và

Cơ Mật viện là quan trọng hơn cả” [22, 192] Tuy tất cả chỉ mới dừng lại ở mức độ trình bày sự kiện, chứ chưa đưa ra những lí giải và phân tích cụ thể; nhưng vào một thời điểm mà Triều Nguyễn còn chưa được đề cập nhiều thì đây thật sự là những đóng góp quan trọng

Năm 1922, ở Paris, Phan Văn Trường bảo vệ luận án Tiến sĩ Luật khoa với

đề tài về bộ luật Gia Long Essai sur le code Gia Long Trong bản luận án này,

thông qua việc phân tích, đối chiếu có so sánh những điểm tương đồng và dị biệt của bộ luật Gia Long với các bộ luật cùng thời (trọng tâm là cổ luật Trung Hoa), tác giả đã làm rõ nhiều vấn đề về cơ cấu và cơ chế của bộ máy nhà nước triều Gia

Trang 18

Long Ngoài ra, tác giả còn có nhiều nhận định và đánh giá về tình hình chính trị-xã hội lúc bấy giờ cũng như về cấu trúc của bộ máy nhà nước triều Nguyễn, tuy nhiên

do đây là công trình nghiên cứu về luật học nên những vấn đề về nhà nước thời Gia Long vẫn chưa được tìm hiểu và lý giải sâu

Ngoài các tác phẩm kể trên, còn có một số nghiên cứu của các học giả người Pháp, người Bồ, người Anh,.v.v có đề cập ít nhiều tình hình đến tình hình của “xứ Đàng Trong” và nhà nước triều Nguyễn trong các nhật ký hành trình, hồi ký hay báo cáo Do đó, các hiểu biết về bộ máy nhà nước triều Nguyễn có phần tản mác và không được tập trung Nhưng từ các công trình nghiên cứu trên, cũng đã cho thấy một số vấn đề cơ bản về cơ cấu bộ máy nhà nước triều Nguyễn, riêng về các cơ chế vận hành và mối liên hệ giữa các giai đoạn thì hầu như chưa có

1.1.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến 1975

Bước sang giai đoạn 1945 – 1975, cùng với cuộc kháng chiến của dân tộc đang được đẩy mạnh trên mọi phương diện, thì trên lĩnh vực học thuật và nghiên cứu cũng có sự đẩy mạnh, xuất hiện nhiều công trình chuyên khảo và sách giáo trình lịch sử lấy triều Nguyễn làm đối tượng trung tâm Nhưng lúc này thực trạng của đất nước đang còn bị chia cắt thành hai miền Nam-Bắc, từ đó dẫn đến sự hình thành nên hai khuynh hướng nghiên cứu khác nhau trong giới sử học Giới nghiên cứu của hai miền với những đặc trưng chính trị và cơ sở phương pháp luận khác nhau, đã dẫn đến sự tồn tại một cách không mong đợi hai góc nhìn trong nghiên cứu những vấn đề của lịch sử, đặc biệt là về triều Nguyễn, thể hiện qua nhiều công trình

sử học lúc bấy giờ

Ở miền Bắc có công trình nghiên cứu của Minh Tranh là Sơ thảo lịch sử Việt

Nam, Nguyễn Khánh Toàn với Mấy nhận xét về xã hội Việt Nam cuối Lê đầu Nguyễn, Trần Huy Liệu với Lịch sử 80 năm chống Pháp, Đào Duy Anh với Lịch sử Việt Nam – Từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX, Trần Văn Giàu với bộ ba tác phẩm Chống xâm lăng, Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó, Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước năm 1858… Nhìn tổng thể, các tác phẩm này,

với nhiệm vụ chính là phục vụ cho cuộc kháng chiến chống đế quốc, mà giai cấp phong kiến nhà Nguyễn đầu hàng chính là kẻ làm tay sai cho chủ nghĩa thực dân,

Trang 19

gắn liền với giai đoạn lịch sử này là những con cháu trực hệ của vua Gia Long và Minh Mạng từ Dục Đức, Đồng Khánh, cho đến Khải Định, Bảo Đại , đã thay nhau đứng đầu bộ máy triều đình bù nhìn Nam triều và còn tiếp tục tranh giành quyền lực sau năm 1945 và ở miền Nam sau Hiệp định Genève 1954, cũng như đã để lại những hệ quả lâu dài trong xã hội ở miền Nam Do đó, triều Nguyễn và các vấn đề của triều Nguyễn (trong đó có phần nghiên cứu của luận án) đều lần lượt được mổ

xẻ và phân tích dưới góc độ là một “tập đoàn phong kiến phản động”, “một bộ máy thống trị cực kỳ sâu mọt và càng ngày càng yếu ớt, suy đồi, mục nát” (chữ dùng của

GS.Trần Văn Giàu trong Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước

năm 1858) Với lăng kính đó, các giáo trình và sách chuyên khảo trong thời kỳ này

ở miền Bắc đã tập trung vào việc phân tích, phê phán những mặt hạn chế của triều Nguyễn mà bỏ qua những đóng góp tích cực của triều đại này đối với lịch sử dân tộc Ở đây, nếu tạm không xét đến vấn đề học thuật liên quan cách nhìn nhận và đánh giá về triều Nguyễn; thì chúng ta thấy trong các tác phẩm ra đời ở giai đoạn này, triều Nguyễn được tiếp cận ở nhiều vấn đề khác nhau Tuy nhiên, phần lớn các công trình chỉ hướng đến đối tượng là triều Nguyễn trong thời gian trị vì của các triều vua sau, cụ thể là các đời vua dưới thời thực dân Pháp xâm lược (từ vua Tự Đức trở về sau) Phần nội dung liên quan đến những vấn đề của hai triều vua đầu,

mà cụ thể là bộ máy nhà nước riều Nguyễn thời Gia Long, công cuộc cải cách hành chính trong những năm 1931-1932, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước trung ương tập quyền của vua Minh Mạng, sự hoàn thiện bộ máy nhà nước trung ương tập quyền triệt để ở hai đời vua đầu cũng như mối liên hệ giữa hai bộ máy nhà nước đó.v.v đã không được nghiên cứu một cách chuyên sâu hay đề cập đến với một dung lượng cần thiết dành cho một đối tượng nghiên cứu riêng biệt, mà thường được lồng ghép trong các vấn đề khác hay được trình bày một cách tổng quan và sơ lược như là một tiền đề mở đầu cho các biến cố lịch sử quan trọng về sau Đây có thể xem là một hạn chế của các công trình nghiên cứu về triều Nguyễn trong giai đoạn này ở miền Bắc; và trong luận án của chúng tôi, những nghiên cứu về triều Nguyễn trong thời gian này đóng vai trò là những đối chiếu và so sánh để hoàn thiện các mục tiêu mà

đề tài luận án đã đặt ra

Trang 20

Cũng với tinh thần chung đó là các tác phẩm: Lịch sử chế độ phong kiến Việt

Nam do Giáo sư Phan Huy Lê chủ biên và Sơ thảo lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam của Đinh Gia Trinh Hai tác phẩm này đã có nhiều cố gắng trong việc tìm

hiểu về tiến trình phát triển của bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam kể từ khi hình thành cho đến khi vươn lên đỉnh cao Trong toàn bộ lịch sử phát triển đó, giai đoạn tồn tại của vương triều Nguyễn được các tác giả dành khá nhiều sự quan tâm

và phân tích ở cả khía cạnh cơ cấu tổ chức hành chính của bộ máy nhà nước lẫn cơ chế vận hành, đặc biệt là có phần đi sâu tìm hiểu thời Gia Long và Minh Mạng Cả hai tác phẩm cũng đã dành nhiều dung lượng để làm rõ nhiều khía cạnh của hệ thống luật pháp và pháp quyền triều Nguyễn, đồng thời đã có sự quan tâm đến cả tổ chức hành chính cấp trung ương lẫn cấp địa phương Nhưng có thể do những giới hạn khách quan mang tính thời đại mà các tác phẩm trễn vẫn mang nặng tính phê phán và phủ định những đóng góp của vương triều Nguyễn đối với dân tộc Về tính chất và mối liên hệ của hai tổ chức bộ máy nhà nước Triều Gia Long và Triều Minh Mạng, cả hai tác phẩm đều đưa ra những kết luận rằng: Quá trình tập trung quyền lực của triều Nguyễn diễn ra trong hai giai đoạn, thời Gia Long và thời Minh Mạng; trong đó, bộ máy nhà nước thời Gia Long chỉ là một giải pháp mang tính tình thế tạm thời trong buổi đầu “quyền nghi tạm đặt”, và đó thật sự là bước thụt lùi trong quá trình tập trung quyền lực; còn bộ máy nhà nước thời Minh Mạng nhờ rút kinh nghiệm từ thời gian trước nên đã có nhiều cải tổ quan trọng, nhờ đó đạt được những thành công nhất định trong việc tập trung quyền lực Nhận định này dẫn đến những nhầm lẫn trầm trọng, vì đã tách hai tổ chức nhà nước thời Gia Long và thời Minh Mạng ra khỏi những mối liên hệ hữu cơ vốn có và làm người đọc dễ đi đến một sự

so sánh mà trong đó, tổ chức bộ máy nhà nước thời Gia Long là một bộ máy nhà nước chưa hoàn chỉnh, còn tồn tại nhiều thiếu xót và có nhiều sự yếu kém hơn hẳn

tổ chức bộ máy nhà nước thời Minh Mạng Nhận định này về sau được nhiều công trình nghiên cứu khác sử dụng và xem như là một nhìn nhận và đánh giá về hai triều vua đầu thời Nguyễn chính thống Những nhận định này tồn tại một thời gian khá dài trong nhận thức của giới nghiên cứu, với rất ít bổ sung đáng kể về quan điểm, tư liệu, cách phân tích và đánh giá mới

Trang 21

Ở miền Nam, vào năm 1962, Nguyễn Sĩ Hải đã bảo vệ thành công luận án

Tiến sĩ Luật tại Trường Đại học Luật khoa Sài Gòn, với đề tài Tổ chức chính quyền

trung ương thời Nguyễn sơ (1802-1847) Mặc dù là một Luận án Tiến sĩ Luật nhưng

là một bước đột phá mới trong hướng nghiên cứu về bộ máy nhà nước triều Nguyễn, đặc biệt là ở hai triều vua đầu khi tác giả đã có nhiều nhận định thoát khỏi lối mòn trước đó Mặc dù còn nhiều trao đổi thêm trong việc chọn mốc thời gian của “thời Nguyễn sơ” (theo tác giả là kéo dài từ 1802 đến 1847, nghĩa là trong ba triều vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị) và một số nhận định của tác giả trong việc phân tích tính chất của bộ máy nhà nước triều Nguyễn Nhưng vào thời điểm

mà bộ Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ còn chưa được dịch và công bố rộng rãi

và sự thiếu hụt về tư liệu, đặc biệt là phần tư liệu gốc, thì tác giả đã có nhiều nổ lực trong việc đưa ra những hướng tiếp cận mới và cách nghĩ mới Nhờ vậy mà đã đưa đến nhiều kết luận khoa học mang tính tích cực hơn so với thời điểm lúc bấy giờ Trong đó, đặc biệt là lần đầu tiên tác giả đưa ra khái niệm “tản quyền” khi nhận xét

về tính chất của bộ máy nhà nước thời Gia Long và “tập quyền triệt để” khi nhận xét về tính chất của bộ máy nhà nước thời Minh Mạng Cũng trong bản luận án này, tác giả bước đầu chỉ ra mối liên hệ giữa hai tổ chức bộ máy nhà nước thời Gia Long

và Minh Mạng khi đưa ra kết luận: “Trong 45 năm của thời Nguyễn sơ, chúng ta thấy trước sau lần lượt xuất hiện 2 hình thái của cùng một chính sách tập quyền:

“Tản quyền” trong đó chính quyền trung ương ủy thác một phần công việc và san sẽ một phần quyền hành cho các nhà chức trách đại diện cho mình ở các địa phương,

và “Tập quyền triệt để” theo đó chính quyền trung ương nắm trọn trong tay quyền quyết định về công vụ trong toàn quốc” [16,30-31] Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của hai bộ máy nhà nước đó cũng được tác giả mô tả và phân tích khá chi tiết, tuy nhiên tác giả lại quá tập trung vào cơ chế và cách thức hoạt động của bộ máy nhà nước Triều Nguyễn từ sau cuộc cải cách của Minh Mạng cho đến tận năm 1847

Vì vậy mà có phần xem nhẹ vai trò của bộ máy nhà nước thời Gia Long trong chủ trương tập quyền triệt để của vương triều Nguyễn Mặt khác, vì đây là một công trình nghiên cứu tổng thể về tổ chức bộ máy chính quyền triều Nguyễn giai đoạn 1802-1847 trên phương diện Luật học, do đó mà trong nhiều phần nội dung tác giả

Trang 22

mới chỉ dừng lại ở việc mô tả và liệt kê, nhiều vấn đề khác cũng mới chỉ được đưa

ra nhưng chưa phân tích sâu và hoàn chỉnh (ví dụ như phần đề tài của luận án) Tuy nhiên đây chính là những gợi ý, vừa là cơ hội và động lực để chúng tôi chọn vấn đề làm đề tải của bản Luận án Tiến sĩ Sử học này Sau Nguyễn Sĩ Hải, những kết luận của bản luận án Luật khoa này đã được Tiến sĩ Luật Lê Kim Ngân ở ban Công pháp của chính quyền Sài Gòn đưa vào trong quá trình biên soạn quyền sách giáo khoa

Sử Địa lớp 11 (xuất bản năm 1970) theo chương trình của Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa “Vua Gia Long thi hành chính sách trung ương tản quyền nhằm chia bớt quyền lực của mình cho các quan Tổng trấn và Hiệp trấn ở Bắc thành

và Gia Định thành để các vị này tùy nghi cai trị dân sao cho ổn định được tình trạng hỗn loạn của xã hội sau những cơn binh lửa hãi hùng vừa qua và trấn áp lòng hoang mang của dân chúng đã từng chứng kiến cảnh thay ngôi đổi chủ liên tiếp trong vòng mấy chục năm”1 [28,10] Tuy nhiên, có thể do giới hạn bởi tính chất của một quyển sách giáo khoa bậc trung học phổ thông, không đòi hỏi và cũng không cho phép tác giả có điều kiện đi sâu phân tích và lý giải về vấn đề này Hướng nghiên cứu này sau đó bị lãng quên trong một thời gian khá dài, phải đến gần đây mới thấy có người đề cập lại, chúng tôi sẽ nói kỹ hơn trong phần tiếp theo

Cũng trong giai đoạn này, ở miền Nam và mở rộng thêm một số vùng lãnh thổ lân cận, còn kể đến một số tác phẩm khác có cùng chung đối tượng nghiên cứu

triều Nguyễn là: 82 năm Việt sử (1802-1884) của Nguyễn Phương, Kinh tế - xã hội

Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn của Nguyễn Thế Anh, Việt sử tân biên của

Phạm Văn Sơn, The smaller dragon A political history of Vietnam của Joseph Buttinger (1958), A chaplain looks at Vietnam của John O’ Connor (1963).v.v

Trong những tác phẩm này, các tác giả đã có nhiều đề cấp, phân tích và làm sáng tỏ nhiều khía cạnh về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa ở thời Gia Long và Minh Mạng; cũng như có nhiều cố gắng lí giải về cơ cấu tổ chức cũng như cơ chế hoạt động của guồng máy nhà nước Triều Nguyễn, tuy nhiên các kết luận khoa học trong các tác phẩm này vẫn còn mang tính dàn trải, sơ lược và chưa có nhiều phân tích và đánh giá mới Mặc dù còn một số kết luận chưa thỏa đáng và cần phải trao

1

Sách giáo khoa chương trình sử địa lớp 11 (đệ nhị), Lê Kim Ngân, cập nhật hóa theo Nghị định 1152A-GD ngày 26/6/1970, của chính quyền miền Nam

Trang 23

đổi thêm nhưng những tư liệu và sử liệu mà các tác phẩm trên đã dẫn ra chính là những “mảnh ghép” cần thiết để bổ sung và lí giải cho bức tranh toàn cảnh khi nhận diện về thời Gia Long và Minh Mạng Chúng tôi cũng đã tham khảo và kế thừa một

số vấn đề đã được các tác giả đề cập đến trong các tác phẩm kể trên, đặc biệt là các nhận định về tình hính chính trị, kinh tế, xã hội triều Nguyễn cũng như về cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước

1.1.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay

Bước sang những năm sau 1975, nước nhà được độc lập và thống nhất, giới

Sử học hai miền có điều kiện gặp gỡ trao đổi chuyên môn, cọ xát quan điểm trong việc nhìn nhận, đánh giá về triều Nguyễn nói riêng và dòng họ Nguyễn nói chung Đây là thời điểm ghi nhận có khá nhiều các công trình nghiên cứu về triều Nguyễn

ra đời, cũng như việc tổ chức hàng loạt các buổi tọa đàm, hội thảo khoa học về triều Nguyễn ở cả ba miền Nam, Trung, Bắc, đặc biệt là ba cuộc Hội nghị khoa học về triều Nguyễn cấp Nhà nước được tổ chức trong các năm 1999, 2002 và 2008; nhằm nhìn nhận và đánh giá lại một cách toàn diện, khách quan hơn về những đóng góp

và hạn chế của triều Nguyễn đối với lịch sử dân tộc Thành quả to lớn của những Hội thảo khoa học nói trên đã góp phần làm thay đổi từng bước nhận thức của giới

sử học hiện đại ở nước ta về triều Nguyễn, cũng như cung cấp thêm những hiểu biết, những tư liêu và nhận thức mới Số lượng của các bài viết có giá trị được tập hợp trong ba hội thảo khoa học này là vô cùng nhiều, có thể kể tên một số bài viết như sau: “Triều Nguyễn-sau 200 năm nhìn lại” - TS.Đỗ Bang [7,33-38], “Một số ý kiến về trách nhiệm của triều Nguyễn trong việc để mất nước ta vào tay Pháp cuối thế kỷ XIX” - GS.Đinh Xuân Lâm [42,48-50], “Triều Minh Mệnh (1820-1841) đã tham khảo nền hành chính nhà Thanh như thế nào” - TS.Trần Thị Thanh Thanh [105,151-158].v.v Đây thật sự là những phần sử liệu và luận giải rất quan trọng, bổ sung những mảng ghép lớn để sắp xếp thành bức tranh hoàn chỉnh về triều Nguyễn với những mảnh sáng tối, mang tính xen kẽ nhau.Tuy nhiên, trong không khí đổi mới tư duy và đổi mới phương pháp tiếp cận, ở ba Hội thảo vẫn còn tồn tại nhiều kết luận còn có phần khắt khe khi nhận định “Sự thắng thế của Nguyễn Ánh trước Tây Sơn có thể coi là sự thắng thế của những nhân tố bảo thủ lạc hậu đối với những

Trang 24

yếu tố tiến bộ Nói cách khác sự phát triển của kinh tế xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII chưa thể tạo ra được một lực lượng xã hội mới, lớn mạnh, đủ sức gạt bỏ mọi chướng ngại trên con đường phát triển của nó Đến lượt nhà Nguyễn, phải chăng cũng chính những hạn chế lịch sử đó lại quy định và làm nảy sinh những mầm mống của sự suy sụp trong những năm đầu thế kỷ XIX” [16,12] Tuy nhiên, đứng trên khía cạnh của Luận án thì những quan điểm này vẫn có giá trị tham khảo và đối chứng rất lớn

Cũng trong giai đoạn này, còn xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu cấp trường Đại học và Cao đẳng, cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo, cấp Nhà nước và cả những khóa luận tốt nghiệp đại học, những tiểu luận chuyên đề, những luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ.v.v mà các tác giả đã chọn triều Nguyễn làm đề tài để nghiên cứu Khối lượng và số lượng của các công trình này là khá nhiều và khó có thể tổng kết được, tuy nhiên, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu

biểu sau: Nguyễn Minh Tường với Cải cách hành chính triều Minh Mệnh (Luận án

Tiến sĩ Sử học)2, Chân dung các vua Nguyễn (viết chung với Đỗ Bang); Đỗ Bang

và nhóm tác giả với Tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1884,

Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn v.v Tác giả của những

công trình trên đã có nhiều đóng góp trong nghiên cứu về bộ máy nhà nước triều

Nguyễn thông việc so sánh và đối chiếu với các nguồn tư liệu gốc như Khâm định,

Hội điển, Toát yếu và Thực lục.v.v nhằm đi sâu vào từng biểu hiện cụ thể để lý giải

bản chất của các hiện tượng: tính chất của triều đại Gia Long, tính chất tập quyền của triều đại Minh Mạng, công cuộc cải cách của Minh Mạng, cách thức tổ chức - quản lý và cơ chế hoạt động của guồng máy nhà nước triều triều Nguyễn.v.v Điển

hình như tác giả Nguyễn Minh Tường trong Cải cách nhà nước dưới triều Minh

Mạng, đã có nhiều mổ xẻ và phân tích rất công phu về cơ cấu tổ chức cũng như cơ

chế vận hành của bộ máy hành chính nhà nước thời Minh Mạng, đặc biệt là giai đoạn sau cuộc cải cách hành chính 1831-1932, nhưng việc chọn đối tượng nghiên cứu chính là cuộc điều chỉnh hành chính của Minh Mạng nên tác giả đã không có nhiều so sánh và liên hệ với giai đoạn trước đó vào thời Gia Long, cũng như không

2

Năm 1996, tác giả đã cho xuất bản với nhan đề Cải cách nhà nước dưới triều Minh Mạng

Trang 25

có cái nhìn sâu về tiến trình tập quyền triều Nguyễn từ 1802-1840 Đề tài cấp Nhà

nước Tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1884 do PGS.TS Đỗ

Bang chủ biên cũng là một tác phẩm có sự đầu tư nghiên cứu công phu và tỉ mỉ khi phục dựng lại gần như hoàn chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn từ cấp trung ương xuống đến địa phương Tuy nhiên, do quá đầu tư vào việc phục dựng mô hình bộ máy nhà nước nên các tác giả đã bỏ qua các mối liên hệ và nét đặc trưng của từng bộ máy nhà nước ở từng giai đoạn cụ thể, đồng thời cũng chưa lí giải sâu tính chất của từng bộ máy nhà nước Bên cạnh công trình trên, tác giả Đỗ Bang

còn có công trình Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn;

những vấn đề đặt ra hiện nay, được NXB Thuận Hóa ấn hành năm 1998, công trình

này xét về tổng thể là sự bổ sung những phần thuộc về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng mà công trình nghiên cứu trước còn thiếu Ở công trình này, tác giả đã

ra thêm nhiều phần luận giải và phân tích về cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước Nguyễn cũng như dành ra một dung lượng đáng kể để đề cập đến vấn đề quan chế

và đề cập đến những thành quả kinh tế đạt được từ quá trình xây dựng bộ máy nhà nước triều Nguyễn đem lại Có thể nói, vượt qua một số định kiến trong nhận thức

về triều Nguyễn, thì những công trình trên là những đóng góp không nhỏ của các tác giả trong điều kiện mà những nhận thức về triều Nguyễn nói chung và bộ máy nhà nước dưới triều Gia Long, Minh Mạng nói riêng đang tồn tại nhiều vấn đề phải tranh luận và thực tế cũng đang còn ở giai đoạn định hình lại từng bước để thoát ra khỏi những mặc định về triều Nguyễn trước đây, vốn là sản phẩm của nhận thức lịch sử một thời để lại Từ các công trình trên, chúng tôi đã kế thừa được khá nhiều các thành tựu nghiên cứu của các tác giả, chủ yếu trong phần mô tả về bộ khung của

cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn, tất nhiên là đã được chúng tôi bổ sung, hiệu chỉnh và hoàn thiện hơn nữa, cụ thể là trên các lĩnh vực: cơ cấu tổ chức,

cơ cấu nhận sự, cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước triều Nguyễn

Bên cạnh các công trình nghiên cứu được biên soạn thành sách, trong giai đoạn này còn có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả về triều Nguyễn được công bố dưới dạng là các bài viết được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành có uy tín, số lượng của các bài báo khá nhiều, có thể dẫn ra một số bài viết có giá trị tham

Trang 26

khảo với Luận án như sau: “Thiết chế cực quyền và các chế tài điều tiết cực quyền”

của Đỗ Bang đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 1 (369), “Tìm hiểu tổ chức

chính quyền trung ương nước ta thời phong kiến” của Nguyễn Cảnh Minh và Đào

Tố Uyên đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 6, “Suy nghĩ về bộ máy nhà nước

quân chủ trung ương tập quyền Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX” của Nguyễn Danh

Phiệt đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6 (271), “Về nền hành chính triều Nguyễn thời kỳ 1802-1883” của Trần Thị Thanh Thanh đăng trên tạp chí Xưa và

nay số 65 B, “Từ ấn Công đồng và đình thần đến tiếng trống Đăng Văn” của Lê

Nguyễn Lưu đăng trên tạp chí Nghiên cứu và phát triển (Sở Khoa học và Công

nghệ Thừa Thiên Huế), số 1 (84), “Các triều đại quân chủ Việt Nam với việc xây

dựng tổ chức giám sát” của Ngô Đức Lập đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật

số 1 (285).v.v Phần lớn những bài viết này là những nghiên cứu và nhận thức mới của các tác giả dựa trên việc khai thác các nguồn tư liệu cổ đã được dịch và công bố rộng rãi Thông qua những bài viết này, đã cung cấp thêm cho Luận án những phương pháp tiếp cận và cách thức lý giải về các vấn đề liên quan đến nhà nước và pháp quyền triều Nguyễn

Về các khái niệm “tản quyền” và “tập quyền triệt để” đã được Nguyễn Sĩ Hải

sử dụng vào năm 1962, một thời gian dài sau đó không thấy được sử dụng và khơi

mở thêm, thì đến thời gian này thấy xuất hiện trở lại với một số điều chỉnh và kết hợpvới những nghiên cứu của Cao Tự Thanh và Nguyễn Đình Đầu Trong bài

“Triều Nguyễn thời Gia Long với vận hội mới của lịch sử dân tộc đầu thế kỉ XIX”

có nhắc đến tính chất “tản quyền” của bộ máy hành chính nhà nước thời Gia Long, nhưng đồng thời tác giả vẫn cho rằng chế độ đó dựa trên biện pháp “quân chính”

[190] Nguyễn Đình Đầu trong 100 câu hỏi đáp về Gia Định - Sài Gòn - TP Hồ Chí

Minh, tập Địa lý Gia Định - Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh cũng sử dụng khái niệm

“tản quyền”, khi viết: “Đời Gia Long (1802-1819) chính sách tản quyền được áp dụng: Bắc Thành cai quản 11 trấn nội ngoại Bắc Kỳ và Gia Định Thành thống quản

5 trấn Nam Kỳ” [11,28] Những quan điểm này, như trên đã nói, do nhiều yếu tố tác động, trong đó có cả những lí do chính trị và tính mới mẻ của khái niệm mà bị chìm vào lớp bụi thời gian Mặc dù gần đây, một số nhà nghiên cứu như Cao Tự Thanh,

Trang 27

Nguyễn Đình Đầu đã mạnh dạn sử dụng lại, nhưng vẫn rất dè dặt và chưa đưa ra được một cơ sở lý thuyết cũng như dẫn chứng tư liệu nào để chứng minh Mặc khác, các nhận định này có phần xa dần hướng nghiên cứu trước đó, cụ thể: Cao Tự Thanh chấp nhận sự kết hợp của chính sách “tản quyền” và biện pháp “quân chính”; Nguyễn Đình Đầu thì lại cho tính “tản quyền” đó là một chính sách chứ không phải

là một tính chất Có thể nói, cả hai nhà nghiên cứu trên đã có nhiều cố gắng nhằm tiếp cận nhà Nguyễn ở một góc độ mới, nhưng các nghiên cứu này vẫn còn rất rời rạc, mờ nhạt, nếu không nói là khá hời hợt, gần như mới chỉ là những luồng quan điểm cá nhân và chưa đưa ra được bất cứ một cơ sở dữ liệu nào để chứng minh Chúng tôi không đánh giá cao những nghiên cứu này, tuy nhiên đặt trong hướng tiếp cận là có sự so sánh và đối chiếu, nên đây cũng là một cơ sở để chúng tôi đem

ra phân tích

Ngoài các công trình nghiên cứu lấy bộ máy nhà nước triều Nguyễn làm đối tượng nghiên cứu chính, còn có thể kể đến các tác phẩm khác cũng đã xuất hiện trong thời gian này và cùng có chung một lĩnh vực nghiên cứu gần, đó là: Trần

Thanh Tâm với Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn, Lê Thị Thanh Hòa với Việc đào

tạo và sử dụng quan lại của triều Nguyễn từ năm 1802-1884, Phan Đại Doãn và

nhóm tác giả với Một số vấn đề về quan chế triều Nguyễn, Trần Thị Thanh Thanh với Định chế quản lý nhà nước thời Nguyễn (Luận án Tiến sĩ sử học), Trần Bá Đệ

và nhóm tác giả với Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam, Vũ Thị Phụng với Văn bản

quản lý nhà nước thời Nguyễn (giai đoạn 1802-1884) (Luận án Tiến sĩ Sử học),

Nguyễn Phan Quang với Việt Nam thế kỷ XIX (1802-1884) gần đây còn có Luận

án Tiến sĩ Sử học của Ngô Đức Lập với đề tài Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động

của các cơ quan giám sát dưới triều Nguyễn (1802-1885) bảo vệ năm 2013,…

Những tác phẩm này tuy chưa lấy việc phân tích và lí giải về những đặc trưng và tính chất của hai bộ máy nhà nước thời Gia Long và Minh Mạng hay mối liên hệ của hai nhà nước đó làm đối tượng nghiên cứu chủ đạo, nhưng thành quả của các tác phẩm đó đã góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề liên quan, cụ thể là các vấn

đề về quan chế (của Trần Thanh Tâm, Lệ Thị Thanh Hòa, Phan Đại Doãn), cách thức quản lý và điều hành nhà nước trên lĩnh vực văn bản Nhà nước (của Vũ Thị

Trang 28

Phụng), định chế về pháp luật và quản lý hành chính nhà nước (của Trần Thị Thanh Thanh), cơ cấu các hình thức tổ chức bộ máy nhà nước trong lịch sử dân tộc (của Trần Bá Đệ),bối cảnh lịch sử và một số chính sách kinh tế xã hội của triều Nguyễn (của Nguyễn Phan Quang),… Đối với nghiên cứu của Luận án, các công trình kể trên là những đóng góp rất quan trọng cả về mặt nhận thức lẫn lý luận, có tác dụng định hướng và gợi mở ra những hướng nghiên cứu đúng thuộc về nhà nước và pháp quyền triều Nguyễn trong bối cảnh những nhận thức về triều Nguyễn đang được đánh giá lại; qua đó đã lý giải được nhiều vấn đề về tổ chức chính quyền, quan chế, luật pháp, sự phát triển về kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội của triều Nguyễn.v.v Tuy nhiên, như đã phân tích, trong xu hướng chung của những công trình nghiên cứu về triều Nguyễn ở giai đoạn này, các tác phẩm phần lớn vẫn đi sâu vào phân tích bộ máy nhà nước triều Nguyễn từ sau những điều chỉnh về mặt hành chính của vua Minh Mạng (tức từ những năm 1831-1832 cho đến 1884), riêng giai đoạn trước

đó cho đến năm 1802 - tức là phần lịch sử triều Nguyễn thời Gia Long và 10 năm đầu triều Minh Mạng lại được trình bày khá “nghèo nàn” về nội dung và phần nhiều thường được lồng ghép trong phần khái quát về bối cảnh lịch sử hơn là một giai đoạn có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng bộ máy tập quyền triều Nguyễn trong những năm 1802-1840 Bên cạnh đó, các tác giả cũng chưa có sự đầu

tư cần thiết trong việc phân định rõ nội hàm và ngoại diên của các khái niệm nhà nước có liên quan mật thiết đến việc nghiên cứu bộ máy nhà nước triều Nguyễn là: tản quyền, tập quyền, phân quyền, quân quản.v.v Việc phân định và làm rõ ranh giới giữa các khái niệm này là điều khá quan trọng trong việc tìm hiểu quá trình xây dựng bộ máy nhà nước triều Nguyễn Từ nguyên nhân này dẫn đến, những mô tả về

cơ cấu bộ máy nhà nước và những phân tích về cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước triều Nguyễn trong những nghiên cứu này chưa được tách biệt một cách rõ ràng mà thường được gộp chung vào phần mô tả cơ cấu và cơ chế chung của bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840; mối liên kết của hai bộ máy nhà nước ở hai giai đoạn, vai trò của từng bộ máy nhà nước trong quá trình tập quyền của triều Nguyễn vì vậy cũng chưa được giải quyết triệt để, hoặc nếu có thì cũng được lồng ghép trong những nhận định chung có phần “chung chung” với mô-típ

Trang 29

thường thấy “Với quan điểm trị nước theo định hướng chính trị của Nho giáo, triều Nguyễn đã tham khảo mô hình tổ chức bộ máy nhà nước thời Minh Thanh của Trung Quốc, nâng cao và hoàn thiện bộ máy nhà nước thời Trần, Lê… nhưng bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế đó ngày càng xa rời thực tế, bảo thủ, cố chấp, kém hiệu lực, trở nên lạc hậu trước những trao lưu canh tân và âu hóa vào nửa sau thế kỷ XIX” [6,235]

Bên cạnh các công trình nghiên cứu thuần về sử học kể trên, mở rộng phạm

vi nghiên cứu sang lĩnh vực Hành chính và Luật pháp, còn tìm thấy nhiều công trình nghiên cứu có chung đối tượng (nhà nước, pháp quyền, tổ chức hành chính) Những tác phẩm này phần lớn được biên soạn dưới dạng là các cuốn giáo trình Đại học, có

thể kể tên một số tác phẩm sau: Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam

của Trường Đại học Luật Hà Nội do NXB Công an nhân dân phát hành năm 2002,

Tập bài giảng lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam (từ nguồn gốc đến thế kỷ XX) của Vũ Thị Nga – Nguyễn Huy Anh3, Lịch sử hành chính Nhà nước Việt Nam của Học viện Hành chính Quốc gia do NXB Thống kê ấn hành năm 2002, Giáo

trình lịch sử hành chính Nhà nước Việt Nam của Học viện Hành chính Quốc gia do

NXB Khoa học và kỹ thuật ấn hành năm 2008, Những tác phẩm này đã có nhiều liên hệ, kết nối trong việc tổng hợp các phần nghiên cứu riêng lẻ thành một hệ thống mang tính bao quát cao Nhưng do giới hạn là những giáo trình đại học của những chuyên ngành gần với lịch sử, nên những tác phẩm này mới chỉ dừng lại ở việc trình bày một cách khái quát những nét cơ bản của bộ máy nhà nước triều Nguyễn cũng như lí giải một cách sơ khởi tính chất của nó, đồng thời cũng chưa đi sâu phân tích những tính chất đặc trưng của bộ máy nhà nước triều Nguyễn ở mỗi giải đoạn Tuy nhiên, cách tiếp cận và lý giải trong nhiều vấn đề của các tác phẩm này là khá thú vị

và có giá trị tham khảo rất lớn

Từ thực trạng nghiên cứu trên cho thấy, các vấn đề có tính then chốt như: tính chất của bộ máy nhà nước thời Gia Long và Minh Mạng, mối liên hệ từ bộ máy nhà nước trung ương tản quyền đến bộ máy nhà nước trung ương tập quyền, quá trình thực hiện chủ trương tập quyền triệt để đã được thực hiện như thế nào trong

3

NXB Chính trị quốc gia Hà Nội năm 1994

Trang 30

hai triều vua đầu nhà Nguyễn cùng với những mối liên hệ, những nét đặc trưng và bản chất của hai nhà nước đó, cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào thật sự lấy làm trọng tâm nghiên cứu, nếu có thì những kết luận đó cũng cần phải được bổ sung, trao đổi và hoàn thiện thêm Do đó, trên thực tế, những vấn đề

mà chúng tôi đang quan tâm nghiên cứu vẫn còn là một mảng trống, hay ít ra cũng

đang còn ngổn ngang, thiếu quy chuẩn và chưa thống nhất

1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Từ thực tế tình hình nghiên cứu về lịch sử triều Nguyễn nói chung và lịch sử triều Nguyễn trong giai đoạn 1802-1840 nói riêng đã được chúng tôi trình bày và phân tích trong phần “Tổng quan tình hình nghiên cứu về bộ máy nhà nước triều Nguyễn”, có thể thấy hiện vẫn còn rất nhiều vấn đề đang tranh luận, trao đổi và chưa có sự thống nhất Đặc biệt là trong các lĩnh vực nghiên cứu về nhà nước (bao gồm cả cơ cấu lẫn cơ chế) và pháp quyền, tính chất của bộ máy nhà nước, quá trình xây dựng bộ máy nhà nước,.v.v đó cũng chính là cơ sở lý thuyết, đồng thời cũng là hướng nghiên cứu và những giá trị đóng góp của đề tài

1.2.1 Về bộ máy nhà nước giai đoạn 1802-1840

Bộ máy nhà nước triều Gia Long

Khi nghiên cứu về bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840, chúng tôi nhận thấy rằng, các nhà nghiên cứu vẫn có khuynh hướng phân tách thành hai giai đoạn ứng với thời gian trị vị của hai vua là Gia Long và Minh Mạng, giữa hai giai đoạn này có sự khác nhau về cơ cấu và cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước Trong đó, khi đánh giá về bộ máy hành chính nhà nước triều Nguyễn giai đoạn Gia Long, vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm trái chiều, phần lớn những quan điểm trái chiều đó là những nhận định có phần khắc khe Về cơ bản, trên thực tế tồn tại ba luồng quan điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, cho rằng tổ chức bộ máy nhà nước thời Gia Long mang tính chất

“phân quyền”: “thực trạng tổ chức bộ máy hành chính từ triều đình đến địa phương thời Gia Long bộc lộ rỏ tính chất giản đơn lỏng lẻo trong thiết chế, tính chất phân quyền trong việc quản lý phần nhiều còn giản lược” [130,165]; “bên cạnh sự nhất thể hóa về tổ chức chính quyền địa phương có sự tồn tại của hai khu vực gần như

Trang 31

biệt lập” [77,439]; “Mặc dù luôn có ý thức tập trung quyền lực vào tay mình, Gia Long đã tỏ ra lúng túng khi tiến hành xây dựng các đơn vị hành chính mới” [57,190]; “bộ máy nhà nước nói chung và cơ quan giám sát nói riêng dưới thời vua Gia Long vẫn cơ bản kế thừa triều Lê và các triều đại trước đó, thậm chí đơn giản

dư của chế độ cũ, lực lượng chống đối phía Bắc và vừa củng cố nội bộ” [100,11];

“Nhưng ba mươi năm sau khi triều Nguyễn tiêu diệt Tây Sơn, Minh Mạng đã tiến hành được cuộc cải cách hành chính lớn nhất trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến với việc giải thể Bắc Thành năm 1832 và Gia Định Thành năm 1833, đưa văn quan vào vị trí đứng đầu bộ máy hành chính các địa phương thay cho chế độ võ tướng trấn thủ, chấm dứt hoàn toàn chế độ quân chính kéo dài từ giữa thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX” [191]

Thứ ba, kết hợp giữa hai luồng ý kiến trên: “Nguyên nhân dẫn tới sự “hủ bại” và tình trạng phân quyền của bộ máy nhà nước hành chính dưới triều Gia Long

có rất nhiều: Gia Long là một võ tướng, công việc hành chính chưa thông thạo” [130,163], “Gia Long biết chưa thể tiến hành chính sách tập quyền tuyệt đối cho kinh đô Huế mà cần có thời gian cho xã hội cũng như công việc tổ chức bộ máy nhân sự nên đã đặt hai đại thần phụ trách Bắc Thành và Gia Định Thành, thực hiện chế độ “quân quản”” [5,141]; “Trong tình thế đó, vương triều Nguyễn buột phải chấp nhận một sự phân quyền “quyền nghi tạm đặt” hai trấn Bắc Thành và Gia

Trang 32

Định Thành ở hai hai vùng Bắc và Nam, giao cho võ quan cao cấp thay mặt chính quyền trung ương đóng đô tại Phú Xuân quản lý Với biện pháp này_một biện pháp gần như áp dụng chế độ quân chính, trong vòng 20 năm thời Gia Long tiếp đến 10 năm đầu thời Minh Mệnh vương triều Nguyễn mới rảnh tay và có thời gian để khắc phục hậu quả nặng nề do quá khứ để lại” [35,49]; “Bắc thành và Gia Định thành là đơn vị hành chính lớn nên Gia Long quản lý theo nguyên tắc “trung ương tản quyền” Thời kỳ đầu vẫn theo chế độ quân quản” [27,354].v.v

Về cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước triều Gia Long

và 10 năm đầu triều Minh Mạng thì lại càng có phần “nghèo nàn” về nội dung, hầu như chỉ được đề cập đến một cách sơ lược, nhiều phần nội dung có sự nhầm lẫn, cần được điều chỉnh, như trường hợp của các cơ quan hành chính phụ trách thông tin liên lạc, vận tải, kiểm tra giám sát, cơ quan nhà nước trung ương quản lý công

vụ ở các địa phương.v.v Đặc biệt, thiếu hẳn sự phân tích và đánh giá sâu về cơ chế hoạt động và liên kết giữa bộ máy nhà nước trung ương với các địa phương mà chúng tôi sử dụng khái niệm là các “kỹ thuật hành chính” - vốn là một đặc trưng hết sức quan trọng của đặc điểm bộ máy nhà nước triều Nguyễn từ 1802-1830 Đây cũng chính là phần cơ sở sử liệu mà chúng tôi sẽ tiến hành xử lý và điều chỉnh song song cùng với việc phân định rõ các luồng quan điểm của các nhà nghiên cứu về triều Nguyễn lâu nay, để từ đó chứng minh cho các quan điểm riêng của đề tài

Bộ máy nhà nước triều Minh Mạng

Trái ngược với việc bộ máy triều Nguyễn giai đoạn Gia Long vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều, bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn Minh Mạng lại có những sự đồng thuận tương đối Đa phần các luồng đánh giá đều nhận định đây là một trong những bộ máy nhà nước tập quyền vững mạnh bậc nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam và là giai đoạn tập trung quyền lực cao nhất trong các triều vua Nguyễn: “Trong 45 năm của thời Nguyễn sơ, chúng ta thấy trước sau lần lượt xuất hiện 2 hình thái của cùng một chính sách tập quyền: “Tản quyền” và

“Tập quyền triệt để” theo đó chính quyền trung ương nắm trọn trong tay quyền quyết định về công vụ trong toàn quốc” [34,30-31]; “Nền móng ban đầu về xây dựng kinh đô, tổ chức bộ máy Nhà nước trung ương tập quyền, chế độ quan

Trang 33

lại dưới triều Gia Long được Minh Mệnh củng cố, phát triển và nó đạt đến đỉnh cao của sự hoàn thiện” [5,39]; “giai đoạn sau 1831 là thời kỳ tập quyền triệt để của chính quyền trung ương”[6,142]; Một điều chú ý là bộ máy nhà nước được nhắc đến ở thời Minh Mạng là bộ máy nhà nước sau những năm 1931-1932, nghĩa là từ sau cuộc “cải cách hành chính” mà vua Minh Mạng đã tiến hành (chữ dùng của Nguyễn Minh Tường), còn thời điểm 10 năm trước đó - tức khoảng thời gian 1820-

1830, thì thường được lồng ghép vào giai đoan thứ nhất - thời kỳ phân quyền của bộ máy nhà nước triều Nguyễn

Bên cạnh đó, cũng trong quá trình tìm hiểu về bộ máy nhà nước triều Minh Mạng, đặc biệt là từ sau năm 1831, chúng tôi cũng nhận thấy rằng, có nhiều phần nội dung thuộc về phần khung của cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước triều Minh Mạng vẫn còn được trình bày thiếu xót, chưa rõ ràng, thiếu quy chuẩn và thiếu chiều sâu Cụ thể là trong các vấn đề: lý giải nguyên nhân xóa

bỏ cấp Thành, mối quan hệ giữa các cấp hành chính mới và trung ương, sự bổ sung

và kiện toàn của các cơ quan nhà nước (bao gồm bổ sung mới và hoàn thiện các cơ quan có từ trước), các cơ chế liên kết phối hợp làm việc như hợp đồng, hội đồng, đình nghị, phiếu nghĩ.v.v., các cơ chế kiềm tỏa và kiểm tra giám sát, tính đặc thù của các cơ quan hành chính như Cơ mật viện, Nội các, Đô sát viện, Đại lý tự, Tam pháp ty, Thông chính sứ ty.v.v Đây cũng chính là một phần cơ sở lý thuyết quan trọng của đề tài

1.2.2 Mối liên hệ hai chiều giữa bộ máy nhà nước giai đoạn 1802-1830

và bộ máy nhà nước giai đoạn 1831-1840

Lâu nay, khi nghiên cứu về bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn

1802-1840, giới nghiên cứu vẫn có khuynh hướng phân tách thành hai giai đoạn riêng biệt, hoặc giai đoạn Gia Long (1802-1819) và giai đoạn Minh Mạng (1820-1840) - nếu dựa vào triều vua, hoặc 30 năm đầu (1802-1831) và khoảng thời gian còn lại - nếu dựa vào mức độ tập quyềncủa bộ máy nhà nước Giữa hai giai đoạn này theo như các hướng nghiên cứu trước đây luôn có những sự khác biệt rất lớn và độ chênh lệch cao trong vai trò, tác dụng cũng như tính chất và mức độ tập trung quyền lực đối với quá trình tập quyền của triều Nguyễn; giữa một bên là một kiểu nhà nước

Trang 34

được đánh giá là lập nên lúc “quyền nghi tạm đặt” với nhiều thiếu xót, hạn chế và một bên là một nhà nước tập quyền có mức độ tập trung quyền lực được xếp vào dạng cao Khi đặt ngang hàng hai bộ máy nhà nước này trong những phân tích, hầu hết các nhận định đều mang nặng tính so sánh, đối chiếu với ý đồ có phần tách rời giữa hai tổ chức nhà nước ở thời Gia Long và thời Minh Mạng theo hướng đề cao cái này mà hạ thấp cái kia hay ngược lại; đặc biệt mối liên hệ và tính thống nhất giữa hai cơ cấu bộ máy nhà nước này hầu như không có hoặc nếu có cũng chỉ được

đề cập rất hạn chế Trong đó, trọng tâm là nhấn mạnh đến sự tồn tại của Bắc Thành, Gia Định Thành như là “hai tiểu triều đình” với bộ máy hành chính và quyền hành độc lập so với trung ương, được cho là kết quả của một sự phân quyền (được hiểu là phân chia quyền lực); để rồi kết luận đây là một bước thụt lùi trong quá trình tập trung quyền lực, nói lên sự hạn chế của vương triều Gia Long nói chung cũng như

sự bất lực của vua Gia Long nói riêng trong việc củng cố lại vương quyền Ngược lại với đó là bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn Minh Mạng luôn nhận được những đánh giá có phần tịch cực hơn nhờ vào công cuộc “cải cách hành chính” trong những năm 1931-1932 (chữ dùng của Nguyễn Minh Tường) Với những thay đổi và hoàn thiện, bộ máy nhà nước thời Minh Mạng được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là bộ máy hành chính nhà nước đạt đến sự tập quyền triệt để và là trạng thái đỉnh cao trong quá trình tập trung quyền lực của các vua triều Nguyễn Xét trên quan điểm đánh giá khách quan riêng với từng bộ máy nhà nước, đây là cách đánh giá đúng, vì thực tế lịch sử giữa bộ máy nhà nước thời Gia Long và bộ máy nhà nước thời Minh Mạng vẫn tồn tại những mức độ khác nhau về sự tập trung quyền lực; nhưng xét trên khía cạnh nghiên cứu về quá trình xây dựng bộ máy nhà nước tập quyền triều Nguyễn thì cách nhìn nhận và đánh giá này tạo nên một vết ngăn cách khá lớn giữa hai bộ máy nhà nước vốn có mối quan hệ hữu cơ rất sâu sắc, điều này cũng là nguyên nhân chính dẫn đến những quan điểm và cách nhìn nhận không thật khách quan trong nghiên cứu về bộ máy nhà nước triều Nguyễn nói chung và

bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 nói riêng Cụ thể, chúng tôi sẽ điểm qua một số nhận định và đánh giá về mối quan hệ giữa hai bộ máy nhà nước ở hai giai đoạn nhỏ trên để thấy được thực trạng của vấn đề này: “Trong 45 năm của

Trang 35

thời Nguyễn sơ, chúng ta thấy trước sau lần lượt xuất hiện 2 hình thái của cùng một chính sách tập quyền: “Tản quyền” trong đó chính quyền trung ương ủy thác một phần công việc và san sẽ một phần quyền hành cho các nhà chức trách đại diện cho mình ở các địa phương, và “Tập quyền triệt để” theo đó chính quyền trung ương nắm trọn trong tay quyền quyết định về công vụ trong toàn quốc” [34,30-31]; “từ năm 1802 đến 1884, có thể chia làm hai giai đoạn: 30 năm đầu (1802-1831) là giai đoạn trung ương phân quyền cho các thành Bắc thành và Gia Định thành Giai đoạn sau 1831 là thời kỳ tập quyền triệt để của chính quyền trung ương khi đơn vị hành chính cấp tỉnh ra đời” [6,142]; “Nền móng ban đầu về xây dựng kinh đô, tổ chức bộ máy Nhà nước trung ương tập quyền, chế độ quan lại, dưới triều Gia Long được Minh Mệnh củng cố, phát triển và nó đạt đến đỉnh cao của sự hoàn thiện”; “ngay từ những năm đầu nắm quyền, vua Gia Long đã cố gắng xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế Năm 1831-1832, vua Minh Mệnh đã tiến hành cuộc cải cách lớn, củng cố thể chế chính trị phong kiến tập quyền” [1, 157-158]; “Trong tình thế đó, vương triều Nguyễn buột phải chấp nhận một sự phân quyền, “quyền nghi tạm đặt” hai trấn Bắc thành và Gia Định thành ở hai vùng Bắc Nam Với biện pháp này – một biện pháp gần như áp dụng chế độ quân chính – trong vòng 20 năm thời Gia Long tiếp đến 10 năm đầu thời Minh Mệnh vương triều Nguyễn mới rảnh tay và có thời gian để khắc phục những hậu quả nặng nề do quá khứ để lại” [35,49];

“Có thể nói rằng từ năm 1802, trải qua 18 năm thời Gia Long và 10 năm thời Minh Mệnh là một bước quá độ với quá trình thăm dò, thể nghiệm và điều chỉnh trong tổ chức bộ máy hành chính các cấp” [5,116]; “Nền móng ban đầu về xây dựng kinh

đô, tổ chức bộ máy Nhà nước trung ương tập quyền, chế độ quan lại dưới triều Gia Long được Minh Mệnh củng cố, phát triển và nó đạt đến đỉnh cao của sự hoàn thiện” [5,39].v.v Từ thực trạng nghiên cứu này, cung cấp cho đề tài của chúng tôi một cơ sở lý thuyết hoàn toàn khác với các đề tài và các hướng nghiên cứu khác trong nghiên cứu về bộ máy nhà nước triều Nguyễn

1.3 TÍNH KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN

Từ định hướng, bố cục và mục tiêu khi nghiên cứu về bộ máy nhà nước triều Nguyễn, chúng tôi xác định sẽ kế thừa một số thành tựu của các nghiên cứu trước

Trang 36

đây về bộ máy nhà nước triều Nguyễn (tập trung chủ yếu trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước), trên cơ sở đó sẽ bổ sung thêm những cơ sở sử liệu mới, hướng phân tích, nhận định và đánh giá mới về bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-

1830, 1831-1840; và cả mối liên hệ mật thiết của hai bộ máy nhà nước kể trên trong quá trình xây dựng bộ máy nhà nước trung ương tập quyền triều Nguyễn, các vấn

đề mà đề tài xác định sẽ kế thừa bao gồm:

Thứ nhất, các nghiên cứu về cơ cấu bộ máy nhà nước triều Gia Long 1819) và triều Minh Mạng (1820-1840) đã được các nhà nghiên cứu công bố trước đây, trong đó tập trung vào các thành tựu nghiên cứu của các tác giả: Trần Trọng Kim, Phan Văn Trường, Trần Văn Giàu, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Huy Liệu, Phan Huy Lê, Định Gia Trinh, Nguyễn Sĩ Hải, Lê Kim Ngân, Nguyễn Phương, Đinh Xuân Lâm, Phan Đại Doãn, Nguyễn Phan Quang, Đỗ Bang, Nguyễn Minh Tường,

(1802-Lê Thị Thanh Hòa, Trần Thị Thanh Thanh, Trần Bá Đệ, Vũ Thị Phụng.v.v Các kết quả nghiên cứu thể hiện trong các công trình nghiên cứu này là các thành tựu nghiên cứu hết sức công phu, nghiêm túc, đã được công bố và thừa nhận bởi hội động thẩm định bởi các cấp khác nhau Tuy nhiên trong quá trình tiếp nhận, chúng tôi cũng có nhiều điều chỉnh, hiệu đính và bổ sung những phần kiến thức còn sơ lược, còn nhầm lẫn, chưa rõ ràng, cũng như hoàn thiện những phần sử liệu còn thiếu hụt Cơ sở của việc bổ sung này, chúng tôi trung thành dựa vững vào việc phân tích

và truy xuất các tài liệu được biên soạn từ thời Nguyễn và đã được các cơ quan khoa học có thẩm quyền và uy tín dịch thuật và công bố rộng rãi, bao gồm: Đại Nam thực lục (10 tập do nxb Giáo Dục ấn hành năm 2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (8 tập do nxb Thuận Hóa ấn hành năm 2005), Minh Mệnh chính yếu (3 tập do nxb Thuận Hóa ấn hành năm 1994), Hoàng Việt luật lệ (5 tập do Nguyễn

Q Thắng dịch, nxb Văn hóa Thông tin ấn hành năm 1994), Mục lục Châu bản triều Nguyễn (2 tập do Ủy ban Phiên dịch sử liệu Việt Nam dịch và tập hợp, ấn hành năm

1960 và 1962), Mục lục Châu bản triều Nguyễn tập 1 (của Cục văn thư và Lưu trữ nhà nước biên tập, nxb Văn hóa và Thông tin ấn hành năm 2010).v.v

Thứ hai, cùng với các sử liệu thuộc về phần mô tả cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840, để giải quyết những

Trang 37

mục tiêu của đề tài, chúng tôi còn kế thừa những quan điểm và kết luận khoa học đã được các học giả tổng kết trong các công trình nghiên cứu về tính chất của bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 Tuy nhiên, việc kế thừa này chỉ nhằm mục đích để tiến hành những trao đổi và tranh luận nhằm rút ra những kết luận khoa học có tính khách quan và khoa học hơn Đồng thời với việc dẫn ra các kết luận khoa học này, chúng tôi cho đối chiếu vào các mô tả về cơ cấu và cơ chế bộ máy nhà nước rút ra từ các nguồn sử liệu gốc đã được các cá nhân khoa học và các ban ngành có uy tín dịch thuật và ấn hành để chứng minh cho các luận điểm quan trọng của đề tài Các quan điểm được viện dẫn là những két luận của các công trình nghiên cứu đã được chúng tôi dẫn ra trong phần 1.2.1 và 1.2.2

Thứ tư, chúng tôi cũng xin khẳng định, khái niệm “tản quyền” khi đề cập đến

cơ cấu bộ máy tổ chức nhà nước 1802-1830 không phải là khái niệm mà chúng tôi đưa ra đầu tiên mà đã được Nguyễn Sĩ Hải sử dụng lần đầu ngay từ năm 1962, sau

đó được Lê Kim Ngân trích xuất, vận dụng và gần đây được một số nhà nghiên cứu như Cao Tự Thanh và Nguyễn Đình Đầu nhắc lại Tuy nhiên, như qua phần tổng quan chúng tôi đã phân tích cụ thể, khái niệm “tản quyền” trong các nghiên cứu này chưa được làm rõ, chưa được phân tích sâu, chưa được trình bày có hệ thống và quan trọng hơn là các tác giả chưa trích xuất được các cơ sở khoa học đầy đủ cho các kết luận khoa học này Do đó, với việc chọn phân tích có hệ thống bộ máy nhà nước trung ương tản quyền từ 1802-1830 trong đề tài, chúng tôi sẽ hoàn thiện hướng nghiên cứu này một cách có hệ thống, dựa vững trên những mô tả của sử liệu

về cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước triều Nguyễn, đây chính

là một hướng phát triển quan trọng của đề tài dựa trên sự kế thừa các thành tựu nghiên cứu trước đó

Thứ năm, về hướng nghiên cứu bộ máy nhà nước triều Nguyễn từ 1802-1840 theo nhận định đây là một quá trình xây dựng bộ máy nhà nước tập quyền liền mạch, xuyên suốt, có chủ đích và có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời; đi từ tập quyền ở mức độ vừa phải đến tập quyền ở mức độ cao; đi từ việc giải quyết các yêu cầu tập quyền trong một hoàn cảnh lịch sử đặc thù đến việc giải quyết các yêu cầu tập quyền cao độ; trong đó mỗi giai đoạn tập quyền sẽ giải quyết những yêu cầu

Trang 38

và nhiệm vụ khác nhau của hoàn cảnh lịch sử và của tiến trình tập quyền triều Nguyễn đặt ra là một hướng nghiên cứu mới và đúng đắn, phù hợp với các cơ sở lý luận về sự tương thích giữ kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng mà lý luận của học thuyết Mác-Lê đã chỉ ra Với việc phân chia thành hai giai đoạn (là 1802-1830

và 1831-1840) với hai cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước có phần khác nhau nhưng đều cùng hướng đến một mục tiêu tập quyền triệt để ở trong đề tài, chúng tôi xin khẳng định đây là sự phân chia hợp lý và có chủ đích ngay từ đầu với vị vua đầu tiên của triều Nguyễn là Gia Long, tiếp đó cũng chính vua là nhân tố quan trọng quyết định vị vua thứ hai với những tiêu chí phù hợp và sẽ tiếp nối con đường tập quyền vững chắc mà ông đã vạch ra Hướng nghiên cứu này hoàn toàn khác với các hướng nghiên cứu trước đây với thiên hướng có phần phân tách quá trình tập quyền triều Nguyễn từ 1802-1840 thành hai giai đoạn Gia Long (1802-1819) và Minh Mạng (1820-1840); vốn hoàn toàn khác nhau về mục tiêu, tính chất, cách thức thiết lập cơ cấu và cơ chế nhà nước cũng như cách thức tiếp quản và phản ứng với hoàn cảnh lịch sử và tiến trình tập quyền

Trên đây là toàn bộ năm hướng kế thừa và phát triển sẽ được chúng tôi triển khai trong đề tài nghiên cứu về quá trình xây dựng bộ máy nhà nước tập quyền triều Nguyễn từ 1802-1840 dựa trên nền tảng là thành quả của những nghiên cứu đi trước

đã được đề cập

Trang 39

Chương 2 BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1830

2.1 SỰ RA ĐỜI CỦA VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN

2.1.1 Đất nước trải qua ba thế kỷ nội chiến và chia cắt

Thời kỳ khủng hoảng kéo dài

Nửa đầu thế kỷ XVI, sau thời gian phát triển, những mâu thuẫn trong quá trình cai trị của tập đoàn phong kiến Lê triều dần xuất hiện Hệ thống quan lại dần trở nên quan liêu và công kềnh, các chính sách phát triển kinh tế tích cực nhường chỗ cho thuế khóa nặng nề và tình trạng kiêm tính ruộng đất, nội bộ giai cấp thống trị rạn nứt, các vua kế tục dần mất vai trò tích cực và bước trên con đường tha hóa, kinh tế sa sút, mâu thuẫn xã hội bùng phát, nông dân bị đẩy vào hoàn cảnh phá sản trên diện rộng, đất nước bị cuốn vào những cuộc khởi nghĩa của nông dân và nội chiến tranh giành quyền lực giữa các lực lượng phong kiến thống trị

Nội chiến Nam – Bắc triều

Năm 1527, Mạc Đăng Dung phế ngôi vua Lê, lập ra nhà Mạc Sau đó, các thế lực ủng hộ nhà Lê, đại diện là Nguyễn Kim đã lập Lê Duy Ninh lên làm vua (1533), trung hưng lại nhà Lê Hỗn chiến phong kiến tiếp tục diễn ra trong nửa sau thế kỷ XVI, kéo dài gần 50 năm (1545-1592), với khoảng 40 trận chiến lớn nhỏ Kết cục nhà Lê với sự giúp đỡ của họ Nguyễn và họ Trịnh đã đánh bại nhà Mạc

Phân tranh Đàng Trong – Đàng Ngoài

Khoảng thời gian hậu chiến Nam-Bắc triều cũng là thời điểm hình thành nên các thế lực phong kiến cát cứ mới Từ năm 1558 đến 1777, kể từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn trị vùng đất Thuận Hóa, họ Nguyễn trải qua 9 đời Chúa, với chính sách liên tục mở rộng lãnh thổ về phía Nam, đã đưa vùng đất này tách khỏi những ảnh hưởng của chính quyền Lê-Trịnh Thực tế là ngay từ khi chiến tranh Nam-Bắc triều chưa kết thúc, đã có một sự đối đầu giữa chính quyền Lê-Trịnh với chúa Nguyễn Đến những năm 1627-1672, cả hai bên sử dụng chiến tranh để giải quyết mâu thuẫn Cuộc nội chiến diễn ra trong 45 năm Kết cục, không bên nào giành được thắng lợi, nhưng trên khía cạnh dân tộc là một thất bại trong tính thống nhất, đất nước lại lần nữa bị tàn phá

Trang 40

Khởi nghĩa nông dân

Nền kinh tế sau nhiều năm bỏ bê và bị chiến tranh tàn phá, lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện Đời sống của các tầng lớp nhân dân bị bần cùng hóa và phá sản hàng loạt, làm bùng nổ phong trào khởi nghĩa nông dân ở cả hai vùng Nam-Bắc, kết tinh của phong trào nông dân rộng lớn đó là khởi nghĩa Tây Sơn Năm 1771, từ

ấp Tây Sơn thuộc vùng Tây Sơn thượng đạo, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã phất cờ khởi nghĩa, thực hiện quá trình đánh Nam dẹp Bắc, xóa

bỏ các hình thái chính quyền ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài, đồng thời đánh bại quân Xiêm và quân Thanh, về cơ bản chấm dứt tình trạng chia cắt đất nước

Như vậy, từ năm 1527 đến 1789, đất nước bị cuốn vào những cuộc nội chiến

và chia cắt kéo dài, sau đó kết thúc với thắng lợi của khởi nghĩa Tây Sơn, nhưng bản thân triều Tây Sơn không thoát khỏi kết cục chia cắt của sự phân phong và tinh thần cát cứ địa phương Có thể hình dung cục diện chính trị phức tạp lúc bấy giờ như sau: vương triều Tây Sơn bị phân tán thành ba vùng lãnh thổ gồm chính quyền của Trung ương Hoàng đế Nguyễn Nhạc từ Quảng Ngãi vào Nam, vùng đất Gia Định do Đông Định vương Nguyễn Lữ trấn trị, vùng đất từ Quảng Nam ra Bắc thuộc Bắc Bình vương Nguyễn Huệ Về sự phân chia thành các khu vực này, cũng chính là việc tái lập một sự chia cắt mới, làm cản trở xu hướng thống nhất của đất nước Do đó có một thực tế là, cho đến trước khi Gia Long xác lập triều Nguyễn vào năm 1802, Đại Việt vẫn còn đang trong quá trình đấu tranh thống nhất

2.1.2 Nguyễn Ánh kết thúc nội chiến và thống nhất đất nước

Năm 1780, Nguyễn Ánh được tôn làm Đại nguyên súy nhiếp Quốc chính Từ năm 1782 đến 1786, Tây Sơn và Nguyễn Ánh thường xuyên đối đầu Năm 1792, Nguyễn Huệ qua đời, chính quyền Tây Sơn suy yếu dần, Nguyễn Ánh nhân đó ra sức Bắc tiến, năm 1801 vượt biển đánh Phú Xuân, giữa năm 1802 lại tiếp tục tiến đánh Thăng Long, vua Quang Toản thất bại, triều Tây Sơn kết thúc Sau khi làm chủ cả nước, ngày 1 tháng 5 năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, đặt niên hiệu là Gia Long, triều Nguyễn chính thức thành lập Nhưng lúc này tình hình chính trị chưa ổn định, các phái đoàn ngoại giao với triều đình phương Bắc còn chưa trở về nên các vấn đề về “danh phận” và quốc hiệu chưa được “thừa nhận” và thống nhất Đến

Ngày đăng: 11/07/2021, 16:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lưu Văn An (2008), Thể chế chính trị Việt Nam trước cách mạng Tháng Tám – dưới góc nhìn hiện đại, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế chính trị Việt Nam trước cách mạng Tháng Tám – dưới góc nhìn hiện đại
Tác giả: Lưu Văn An
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc Gia
Năm: 2008
[2]. Nguyễn Huy Anh, Vũ Thị Nga (1994), Tập bài giảng lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam (từ nguồn gốc đến thế kỉ XX), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam (từ nguồn gốc đến thế kỉ XX)
Tác giả: Nguyễn Huy Anh, Vũ Thị Nga
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1994
[3]. Huỳnh Công Bá (2008), Lịch sử Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2008
[4]. Huỳnh Công Bá (chủ biên, 2014), Huỳnh Văn Nhật Tiến, Định chế hành chính & quân sự triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định chế hành chính & quân sự triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
[5]. Đỗ Bang (chủ biên, 1997), Tổ chức bộ máy nhà nước thời Nguyễn – giai đoạn 1802-1884, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức bộ máy nhà nước thời Nguyễn – giai đoạn 1802-1884
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
[6]. Đỗ Bang (1998), Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn; những vấn đề đặt ra hiện nay, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn; những vấn đề đặt ra hiện nay
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1998
[7]. Đỗ Bang (2000), “Triều Nguyễn-sau 200 năm nhìn lại”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nghiên cứu và giảng dạy lịch sử thời Nguyễn ở đại học, cao đẳng sư phạm và phổ thông, tr.33-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triều Nguyễn-sau 200 năm nhìn lại”, "Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nghiên cứu và giảng dạy lịch sử thời Nguyễn ở đại học, cao đẳng sư phạm và phổ thông
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 2000
[8]. Đỗ Bang (2007), “Thiết chế cực quyền và các chế tài điều tiết cực quyền”, Nghiên cứu lịch sử, số 1 (369), tr.42-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết chế cực quyền và các chế tài điều tiết cực quyền”, "Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 2007
[9]. Đỗ Bang (2007), “Thiết chế cực quyền và các chế tài điều tiết cực quyền” (tiếp theo), Nghiên cứu lịch sử, số 2 (370), tr.45-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết chế cực quyền và các chế tài điều tiết cực quyền” (tiếp theo), "Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 2007
[10]. Đỗ Bang (2010), “Các biện pháp chế tài để điều tiết cực quyền của bộ máy nhà nước tập quyền triều Nguyễn”, Thuận Hóa – Phú Xuân – Thừa Thiên Huế: 700 năm hình thành và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.135-150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp chế tài để điều tiết cực quyền của bộ máy nhà nước tập quyền triều Nguyễn
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
[11]. Đặng Xuân Bảng (1997), Sử học bị khảo, nguyên văn chữ Hán, bản dịch, Nxb Văn Hóa – Thông Tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử học bị khảo
Tác giả: Đặng Xuân Bảng
Nhà XB: Nxb Văn Hóa – Thông Tin
Năm: 1997
[13]. Nguyễn Đình Chú (2005), “Triều Nguyễn và văn hóa triều Nguyễn (vấn đề và cách nghĩ)”, Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới, Nxb ĐHSP, Hà Nội, tr.307-317 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triều Nguyễn và văn hóa triều Nguyễn (vấn đề và cách nghĩ)”, "Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2005
[14]. Phan Huy Chú (bản dịch, 2008), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
[15]. Phan Huy Chú (bản dịch, 2008), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
[16]. Nguyễn Ngọc Cơ (2002), “Một giai đoạn của lịch sử Việt Nam thời Nguyễn và những câu hỏi cần giải đáp thỏa đáng”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nghiên cứu và giảng dạy lịch sử thời Nguyễn ở đại học, cao đẳng sư phạm và phổ thông, tr.12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một giai đoạn của lịch sử Việt Nam thời Nguyễn và những câu hỏi cần giải đáp thỏa đáng”, "Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nghiên cứu và giảng dạy lịch sử thời Nguyễn ở đại học, cao đẳng sư phạm và phổ thông
Tác giả: Nguyễn Ngọc Cơ
Năm: 2002
[18]. Phan Hữu Dật, Nguyễn Văn Khánh, Lâm Bá Nam (1994), Phương pháp dùng người của cha ông ta trong lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dùng người của cha ông ta trong lịch sử
Tác giả: Phan Hữu Dật, Nguyễn Văn Khánh, Lâm Bá Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
[19]. Phan Đại Doãn (chủ biên, 1998), Một số vấn đề về quan chế triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quan chế triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
[20]. Phan Đại Doãn, Nguyễn Văn Thâm (1986), “Phương pháp hệ thống và việc nghiên cứu các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp hệ thống và việc nghiên cứu các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam”, "Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
Tác giả: Phan Đại Doãn, Nguyễn Văn Thâm
Năm: 1986
[21]. Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc (1994), Kinh nghiệm quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử
Tác giả: Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
[22]. Phan Đại Doãn, Nguyễn Minh Tường, Hoàng Phương, Lê Thành Lân, Nguyễn Ngọc Quỳnh (1997), Một số vấn đề về quan chế triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quan chế triều Nguyễn
Tác giả: Phan Đại Doãn, Nguyễn Minh Tường, Hoàng Phương, Lê Thành Lân, Nguyễn Ngọc Quỳnh
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1997

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w