1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa y sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa

198 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một mặt, nó kìm hãm sự phát triển của y-sinh học hiện đại, hoặc biến y-sinh học hiện đại thành những công cụ phi nhân, mặt khác cuộc sống con người sẽ rơi vào trạng thái hỗn loạn, mất ph

Trang 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi của luận án 7

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 8

5 Cái mới của luận án 8

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 8

7 Kết cấu của luận án 9

B PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 : MỘT SỐ ĐIỂM CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA, GIÁ TRỊ VĂN HÓA VÀ VỀ Y-SINH HỌC HIỆN ĐẠI .10

1.1 Văn hoá và hệ thống giá trị văn hoá 10

1.1.1.Khái niệm văn hoá 10

1.1.2 Hệ thống giá trị văn hóa .16

1.2 Y- sinh học hiện đại 26

1.2.1 Một số đặc điểm chủ yếu của y-sinh học hiện đại 26

1.2.2 Những kỹ thuật cơ bản của y-sinh học hiện đại dựa trên nền tảng sinh học phân tử và di truyền – bản chất, lợi ích và mạo hiểm 31

Chương 2 :NHỮNG TÁC ĐỘNG CÓ TÍNH QUY LUẬT GIỮA Y-SINH HỌC HIỆN ĐẠI VÀ HỆ THỐNG GIÁ TRỊ VĂN HOÁ 40

2.1 Phê phán chủ nghĩa truyền thống và chủ nghĩa kỹ thuật 40

2.1.1 Chủ nghĩa truyền thống – khuynh hướngï phủ nhận tiến bộ của y-sinh học hiện đại 40

2.1.2 Chủ nghĩa kỹ thuật và sự tuyên truyền một nền văn hoá kỹ thuật 52

2.2 Aûnh hưởng của y-sinh học hiện đại đối với hệ thống giá trị văn hoá 65

2.2.1 Aûnh hưởng của y-sinh học hiện đại đến bức tranh giá trị lý tưởng về cuộc sống con người 65

Trang 2

2.3.1 Giá trị văn hóa với tư cách là tiền đề xã hội cho sự phát triển y-sinh

học hiện đại 103

2.3.2 Giá trị văn hóa với tư cách là nhân tố bên trong của quá trình sản xuất tri thức của y-sinh học hiện đại .112

Chương 3 : VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC NẨY SINH TỪ MỐI QUAN HỆ GIỮA Y-SINH HỌC HIỆN ĐẠI VÀ HỆ THỐNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA 121

3.1 Những phức tạp về mặt đạo đức của y- sinh học hiện đại và phương hướng giải quyết 121

3.1.1 Những phức tạp về mặt đạo đức của y-sinh học hiện đại 121

3.1.2 Một số phương hướng giải quyết cơ bản 133

3.2 X ây dựng những chuẩn mực đạo đức chung cho y-sinh học hiện đại 143

3.2.1 Đạo đức y-sinh học hiện đại với tư cách là một loại đạo đức nghề nghiệp 143

3.2.2 Quan điểm macxít về bản chất của ý thức đạo đức .147

3.2.3 Ý nghĩa của những thảo luận trong quá trình xác lập những chuẩn mực đạo đức chung cho y-sinh học hiện đại 157

3.2.4 Chương trình giáo dục đạo đức y-sinh học hiện đại .161

3.2.5 Một số chuẩn mực đạo đức cho nghiên cứu ứng dụng y-sinh học hiện đại trên con người 166

C PHẦN KẾT LUẬN 180

D NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 182

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 183

Trang 3

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Có thể khẳng định rằng, lịch sử phát triển nền văn minh của con người gắn liền với lịch sử phát triển của khoa học, trong đó có khoa học tự nhiên Nhờ những thành quả của khoa học, con người đã bước ra khỏi bóng tối của những u mê tôn giáo, và ngày càng trở thành chủ nhân của hành tinh này Sự khởi đầu cho tiến trình này bắt đầu từ thời Phục hưng, với những khám phá Copecnic, đặt nền tảng cho sự phát triển của khoa học hiện đại Sự xuất hiện y-sinh học hiện đại đã đưa khoa học về sự sống chuyển sang một bước ngoặt vĩ đại mới Với bước ngoặt này, con người đã có trong tay một sức mạnh ngang với Chúa trời trong việc điều khiển sự sống Điều đó một mặt mở ra khả năng to lớn trong công cuộc chinh phục và cải tạo tự nhiên, mặt khác đang làm xáo trộn mạnh mẽ những quan niệm truyền thống, trong đó không ít những giá trị truyền thống đã tồn tại hàng ngàn năm nay, từ đó tạo nên những “cú sốc” văn hóa Chẳng hạn, sự ra đời của “cừu Dolly” và tiếp theo là tuyên bố của Tiến sỹ Severino Antinori và cộng sự về sự quyết tâm nhân bản con người đã làm loài người phải bàng hoàng Hệ quả này không chỉ bởi ý nghĩa khoa học mà còn (và chủ yếu) bởi nó lật ngược lại các quan niệm văn hoá truyền thống, về luật tạo hóa, về những chuẩn mực gia đình gắn với quan hệ huyết thống, về quyền của con người với thiên nhiên, v.v

Có thể khẳng định những thành quả trong nghiên cứu và ứng dụng y-sinh

học hiện đại đang trở thành một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến

những khủng hoảng của hệ thống giá trị văn hoá truyền thống Biểu hiện rõ nhất, và cũng nghiêm trọng nhất là sự xuất hiện những nghịch lý trong quan niệm liên quan đến giá trị đạo đức, pháp lý và môi trường sinh thái

Những câu hỏi lớn đặt ra là: loài người cần phải xác định lại một số giá trị lý tưởng truyền thống hay tiếp tục xem nó như những định chuẩn bất biến cho các

Trang 4

hoạt động của mình? Nếu cần phải thay đổi thì đó là những giá trị nào, bổ sung những giá trị nào, những giá trị nào cần được bảo vệ, v.v? Những câu hỏi không dễ trả lời như vậy không chỉ thuần túy là vấn đề nhận thức mà còn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong thực tiễn của đời sống con người, ảnh hưởng đến những tiến bộ của nền văn minh con người Nếu những câu hỏi như vậy không được trả lời, hoặc trả lời không đúng, những hệ quả không lường sẽ xảy ra Một mặt, nó kìm hãm sự phát triển của y-sinh học hiện đại, hoặc biến y-sinh học hiện đại thành những công cụ phi nhân, mặt khác cuộc sống con người sẽ rơi vào trạng thái hỗn loạn, mất phương hướng, bởi không có những định chuẩn văn hóa cần thiết trong các hoạt động Chính vì vậy, việc quan tâm giải quyết mối quan hệ này là một nhiệm vụ trở nên cấp bách trong thời đại chúng ta Cũng vì lẽ đó mà vấn đề quan hệ giữa y-sinh học hiện đại với hệ thống giá trị văn hóa, đặc biệt là với các giá trị đạo đức, pháp lý, sinh thái đang trở thành một trong những tâm điểm thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu trên toàn thế giới Nhận xét về vấn đề có tính cấp bách này, Phó giáo sư, tiến sĩ Đặng Hữu Toàn viết “ Cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về mối tương quan giữa tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ với sự phát triển con người, giữa khoa học với các chuẩn mực đạo đức, môi trường sinh thái, sự phát triển dân số, v.v Song, một điều đã trở nên rõ ràng là các vấn đề này đã trở nên đặc biệt gay gắt khi mà các nước phát triển cao đã xuất hiện các công nghệ mới, các phát minh mới trong công nghệ sinh học – những cái có khả năng làm thay đổi tính di truyền và tâm lý con người, và qua đó đến phát triển con người” {69, 7}

Đối với nước ta, mặc dù những nghiên cứu và ứng dụng y-sinh học hiện đại mới bắt đầu, song các vấn đề phức tạp liên quan đến khía cạnh đạo đức, luật pháp của y-sinh học hiện đại đã nảy sinh Chẳng hạn, những vấn đề liên quan đến việc sinh đẻ có trợ giúp của y-sinh học hiện đại, vấn đề nghiên cứu, sử dụng,

Trang 5

nhập khẩu các sinh vật biến đổi gen (GMO) … đang ngày càng trở thành những mối quan tâm lớn của các nhà đạo đức, luật gia, nhà nghiên cứu xã hội và một bộ phận đông đảo công chúng Vấn đề đặt ra càng trở nên cấp thiết khi Đảng ta xác định công nghệ sinh học là một trong những trọng tâm phát triển khoa học để phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề quan hệ giữa y-sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa chỉ mới được sự quan tâm rộng rãi khi khoa học này phát triển mạnh mẽ những nghiên cứu và ứng dụng di truyền trong những thập kỷ gần đây Tuy nhiên, trong những nước mà y-sinh học hiện đại còn chưa thực sự phát triển và thiếu những thông tin một cách hệ thống về khoa học này việc nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở mức độ hạn chế

Ơû Việt Nam, mặc dù các công trình bàn đến văn hóa thì rất nhiều, song những công trình bàn đến mối quan hệ giữa y-sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa thì khá hiếm Có thể kể đến một số công trình nổi bật là: Hoàng Đình

Phu (1998){50}, Khoa học và công nghệ với các giá trị văn hóa, Nxb Khoa học và Kỹ thuật; Ngô Gia Hy (1988){24}, Y đức và đức sinh học- nguồn gốc và phát triển, Nxb Y học Trong Khoa học và công nghệ với các giá trị văn hóa, tác giả

đã trình bày những tác động khoa học - kỹ thuật nói chung đến một số lĩnh vực chủ yếu của hệ thống văn hóa như triết học, đạo đức, nghệ thuật, lối sống Ảnh hưởng của y-sinh học hiện đại đến hệ thống giá trị văn hóa được tác giả trình bày

trong vấn đề khoa học và triết học Trong công trình đó, tác giả nêu lên một số

phát hiện gần đây của khoa học sinh học về các thành phần cấu tạo của sự sống, sự phức tạp của việc giải thích sự xuất hiện vật chất sống và ý thức con người, từ đó khẳng định đó là những tư liệu ban đầu cho công tác nghiên cứu của các cơ quan triết học nước ta về những vấn đề vật chất và ý thức để rút ra những kết

Trang 6

luận triết học cần thiết Tác giả cũng khẳng định, định nghĩa vật chất của Lênin cần được “phát triển cho phù hợp với trình độ nhận thức về vật chất của khoa học trong thời đại ngày nay”{50, 5} Trình bày về vai trò của văn hóa nói chung đối với khoa học - công nghệ, tác giả khẳng định nó định hướng và là động lực cho sự phát triển của khoa học và công nghệ ở nước ta qua cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng như cho giai đoạn hiện nay Như vậy, những xem xét liên quan trực tiếp đến mối tương quan giữa y-sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa của tác giả mới chỉ dừng lại ở một vài điểm nhất định nhằm làm sáng tỏ chủ ý chung của tác giả là ảnh hưởng lẫn nhau giữa khoa học - công nghệ nói chung với hệ thống giá trị văn hóa Việt Nam

Trong công trình của tác giả Ngô Gia Hy, Y đức và đức sinh học- nguồn gốc và phát triển, vấn đề này được tác giả đề cập chủ yếu trong phần 2: Y đức và đức sinh học - những vấn đề mắc mứu Tác giả nêu lên một loạt các vấn đề phức

tạp về mặt đạo đức mà y-sinh học hiện đại tạo ra Chẳng hạn, vấn đề an tử, gen liệu pháp, vấn đề chủng tộc, ghép cơ quan, bệnh hiểm nghèo Tác giả đã đề cập đến khá nhiều vấn đề đạo đức liên quan đến việc ứng dụng các kỹ thuật di truyền của y-sinh học hiện đại Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nêu vấn đề, mà chưa tiến tới giải quyết nó một cách rõ ràng theo quan điểm riêng của mình Ngoài những công trình vừa đề cập đến, còn có một số bài viết trên một số tạp chí, báo tuần, báo ngày, nhưng nhìn chung, các vấn đề tương quan giữa y-sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa trong các công trình vừa nói đến thường chỉ dừng lại trong tư cách của một khía cạnh không phải là chủ yếu, khi đề cập đến cũng chỉ dừng ở chỗ nêu vấn đề để cùng suy nghĩ

Hiếm thấy những công trình của các tác giả nước ngoài đã xuất bản tại Việt Nam có đề cập đến vấn đề này Một công trình mặc dù không có chủ đề nghiên cứu vấn đề luận án này song cũng có một số phần nhỏ đề cập đến nó là

Trang 7

Thực trạng khoa học và kỹ thuật, Nxb Khoa học Xã hội, do Nicolas Wikowski

chủ biên Cuốn sách tập hợp một số bài viết của nhiều tác giả về các vấn đề khoa học - kỹ thuật, trong đó có một phần trình bày khía cạnh đạo đức - triết học của

những ứng dụng khoa học - công nghệ Một số mục nhỏ đề cập đến khía cạnh đạo đức của sinh học di truyền như ưu sinh học di truyền, sinh đẻ trong ống nghiệm, định nghĩa cái chết, buôn bán các bộ phận cơ thể người Nội dung chủ yếu trong

các trình này là phê phán mặt tiêu cực của các ứng dụng các kỹ thuật di truyền vào một số lĩnh vực cuộc sống con người Sau khi phê phán các ứng dụng kỹ thuật di truyền, quan điểm chung của các tác giả là nêu lên những cảnh báo về những mạo hiểm từ những ứng dụng đó Những cảnh báo đó giúp người đọc nhận thấy những nguy hiểm thực sự của những ứng dụng thiếu thận trọng và những nguy cơ tiềm ẩn cho con người Tuy nhiên, ngoài việc cảnh báo, các tác giả hầu như không trình bày một giải pháp khả thi nào để giải quyết tình trạng phức tạp và nguy hiểm đó

Nếu như các công trình xuất bản trong nước bàn về vấn đề này chỉ hạn chế

ở một số lượng khiêm tốn, thì lại có một số lượng khá lớn các công trình bàn đến nó được xuất bản ở nước ngoài, và được đăng tải rất nhiều trên các trang web khác nhau Những quan tâm chủ yếu trong các công trình đó là dành cho khía cạnh đạo đức của y-sinh học hiện đại Nhìn chung, trong sự phức tạp của nhiều khuynh hướng khác nhau nổi lên hai khuynh hướng chủ đạo và đối lập nhau là: (a) Bênh vực cho những giá trị đạo đức truyền thống, phủ nhận những tiến bộ của y-sinh học hiện đại, (b) Bênh vực cho sự phát triển của sinh học hiện đại, hạ thấp vai trò của hệ thống giá trị văn hóa truyền thống

Ở khuynh hướng thứ nhất, các tác giả tập trung phê phán y-sinh học hiện đại đã xâm phạm và làm tổn hại đến những giá trị truyền thống, như giá trị về sự toàn vẹn của sự sống, những niềm tin tôn giáo về sự sắp đặt của Chúa trời, quyền

Trang 8

tự do và được bảo vệ của con người, sự công bằng xã hội Trong những phê phán đó, các tác giả tỏ rõ quan điểm của mình là chống lại việc ứng dụng khoa học này, cho đó là những hành động thiếu đạo đức ( xem [99}, {101}, {102}, {103}, {108}, {111}, {114}, {115}, {121}, {148}, {150}, {166}, {173})

Trong xu hướng đối lập, các tác giả khác bênh vực cho sự phát triển của

y-sinh học hiện đại Lý do chủ yếu mà các tác giả này trình bày là những lợi ích to

lớn của nó Đối với họ, chính các lợi ích to lớn đó là giá trị đạo đức đủ làm cơ sở cho những nghiên cứu và ứng dụng nó Nhiều tác giả còn tin tưởng rằng, nhờ có những kỹ thuật di truyền của y-sinh học hiện đại mà xã hội loài người sẽ giải quyết được những bế tắc về các mặt kinh tế - xã hội, con người sẽ được cải thiện về mặt sinh học để trở thành “con người sau con người”(xem {80}, {131}, {137}, 161})

Cũng có một số tác giả muốn cân bằng hai xu hướng đối lập này thông qua việc chỉ ra cả những lợi ích của y-sinh học hiện đại và ý nghĩa quan trọng của

những giá trị đạo đức truyền thống Tuy nhiên, các tác giả này chưa lý giải được

tính thống nhất giữa văn hóa và khoa học, giữa truyền thống và hiện đại, do đó vẫn chưa thoát khỏi cái nhìn siêu hình về mối quan hệ giữa y-sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa (xem {152})

Nhìn chung, trong các công trình được xuất bản ở nước ngoài vừa nêu trên, các tác giả phần nào đã quan tâm đến tương quan giữa hệ thống giá trị văn hóa

và y-sinh học hiện đại Tuy nhiên, họ vẫn chưa thóat khỏi cách xem xét siêu hình

nên thường bị rơi vào hai thái cực, hoặc quá nhấn mạnh đến vai trò của hệ thống giá trị văn hóa truyền thống, từ đó phủ nhận vai trò của y-sinh học hiện đại, hoặc quá nhấn mạnh vai trò của y-sinh học hiện đại, hạ thấp ý nghĩa của hệ thống giá trị văn hóa Chỉ có một số ít các tác giả cố phân tích vấn đề một cách khách quan song lại không thể lý giải được quan hệ biện chứng giữa y-sinh học hiện đại và

Trang 9

hệ thống giá trị văn hóa Mặc dù như vậy, vẫn có thể tìm thấy trong các công trình đó những tư liệu có giá trị cho sự tham khảo khi nghiên cứu vấn đề này, nhất là những khía cạnh liên quan đến đạo đức của y-sinh học hiện đại

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi của luận án

Mục đích

Khẳng định tác động biện chứng giữa y-sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa, mà chủ yếu là với một số giá trị văn hóa có ý nghĩa nổi bật trong mối quan hệ với y-sinh học hiện đại ở giai đoạn hiện nay, trong đó đặc biệt là giá trị đạo đức Đồng thời, luận án cũng cố gắng luận giải để tìm ra những giải pháp khả thi nhằm giải quyết những phức tạp về mặt đạo đức nảy sinh từ mối quan hệ này, tạo nên sự thống nhất giữa chúng Trên cơ sở đó, góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn liên quan đến mối quan hệ giữa y-sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa trong điều kiện hiện nay

Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết các nhiệm vụ sau:

-Trình bày một số điểm cơ bản về văn hóa, giá trị văn hóa và về y-sinh học hiện đại, làm cơ sở cho việc nghiên cứu mối quan hệ giữa y-sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa

- Đánh giá những khuynh hướng duy tâm, siêu hình trong quan điểm về vấn đề tương quan giữa y-sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa trong sự vận động và phát triển của xã hội, đồng thời phân tích mối quan hệ biện chứng giữa y-sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa trong sự phát triển đó

-Trình bày những phức tạp về mặt đạo đức nảy sinh trong mối quan hệ giữa y-sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa, hướng giải quyết và giải pháp khả thi cho việc giải quyết những phức tạp đó trong điều kiện hiện nay

Phạm vi nghiên cứu

Trang 10

Phạm vi mà luận án quan tâm là mối quan hệ giữa y-sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa, trong đó tập trung chủ yếu vào một số giá trị văn hóa có

ý nghĩa nổi bật trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là giá trị đạo đức

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Để làm sáng tỏ những nội dung trên, luận án dựa trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, lấy phương pháp luận biện chứng duy vật làm cơ sở xem xét vấn đề, trong đó đặc biệt là những tư tưởng của Mác, Aêng ghen, Lênin, Hồ Chí Minh về vai trò của văn hóa, khoa học tự nhiên và mối quan hệ giữa văn hóa và khoa học tự nhiên trong sự phát triển xã hội

Phương pháp sử dụng khi nghiên cứu là sự kết hợp giữa phân tích và tổng hợp, giữa diễn dịch và quy nạp

5 Cái mới của luận án

- Chỉ ra những nguyên nhân xuất hiện, sai lầm và hệ quả xã hội của hai khuynh hướng cơ bản đối lập nhau là chủ nghĩa truyền thống và chủ nghĩa duy kỹ thuật

- Góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa y-sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa

- Đề xuất giải pháp có ý nghĩa thực tiễn cho việc giải quyết những phức tạp về mặt đạo đức liên quan đến những nghiên cứu và ứng dụng y-sinh học hiện đại trong điều kiện hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về mặt lý luận

Luận án góp phần vào việc làm sáng tỏ mối quan hệ giữa khoa học tự nhiên và hệ thống giá trị văn hóa nói chung, y-sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa nói riêng

Về mặt thực tiễn

Trang 11

Luận án góp phần vào việc giải quyết những phức tạp về mặt đạo đức nảy sinh từ thực tiễn nghiên cứu và ứng dụng y-sinh học hiện đại trong điều kiện hiện nay

Luận án cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học triết học, văn hóa học, sinh học, y học và nhiều ngành có liên quan

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 12

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ ĐIỂM CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA, GIÁ TRỊ VĂN HÓA

VÀ VỀ Y-SINH HỌC HIỆN ĐẠI 1.1 VĂN HÓA VÀ HỆ THỐNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA

1.1.1 KHÁI NIỆM VĂN HÓA

Trong lịch sử, khái niệm văn hóa xuất hiện rất sớm ở phương Đông cũng như ở phương Tây Trong thời kỳ cổ đại Trung Quốc, văn hóa được hiểu là “văn trị” và “giáo hóa”1 Ở đây văn hóa được hiểu là cách thức điều hành xã hội bằng

“văn trị”, “giáo hóa” con người thay cho việc dùng vũ lực Thông qua đó, con người được cảm hóa theo tinh thần của cái đẹp Ơû phương Tây, văn hóa bắt

nguồn từ chữ La tinh (culture) có nghĩa là vun trồng, trồng trọt Thuật ngữ này

cho đến ngày nay vẫn còn giữ hàm ý theo nghĩa gốc tuy có những biểu hiện đa dạng Như vậy có thể nói, văn hóa là một khái niệm đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại ở cả phương Đông lẫn phương Tây

Theo chiều dài lịch sử, khái niệm văn hóa ngày càng được phát triển phong phú, đặc biệt là trong những thập kỷ gần đây Sự phong phú đó trước hết là sự phong phú về cách tiếp cận trong việc xây dựng khái niệm Có cách tiếp cận văn hóa như một quá trình lịch sử, có cách tiếp cận văn hóa như một hiện tượng tâm – sinh lý, có cách tiếp cận nó như một hệ thống tín hiệu, hay như những giá trị, có cách liệt kê tổng thành tố hợp thành quan hệ văn hóa … Với mỗi cách tiếp cận khác nhau lại có cách định nghĩa khác nhau

1 Có tác giả giải thích rằng: văn = nguỵ (con ngườ làm ra) = tốt Cách giải thích này làm cho thuật ngữ văn hóa phương Đông gần với phương Tây

Trang 13

Theo Giáo sư Đỗ Huy, để làm sáng tỏ khái niệm văn hóa có thể tiếp cận theo 3 cách là cách tiếp cận sinh thái, cách tiếp cận chức năng, cách tiếp cận mácxít {26, 60-63} Giáo sư Huỳnh Khánh Vinh lại phân cách tiếp cận thành cách nhìn văn hóa thiên về trạng thái động, và cách nhìn văn hóa thiên về trạng thái tĩnh {76, 398} Tổng kết những cách tiếp cận văn hóa, tác giả Nguyễn Huy Hoàng khẳng định 4 cách tiếp cận khác nhau: cách tiếp cận giá trị học, cách tiếp cận hoạt động, cách tiếp cận nhân cách, và cách tiếp cận ký hiệu học {20,13-71}

Chính vì có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau như vậy nên cho đến nay đã có hàng trăm khái niệm văn hóa được đưa ra2, và chắc chắn nó vẫn chưa dừng lại Điều đó cho thấy khái niệm văn hóa là một khái niệm rất rộng và rất phức tạp Tuy nhiên, không vì thế mà đi đến phủ nhận giá trị của những khái niệm đã được xây dựng Trong thực tế, do yêu cầu của việc nghiên cứu, mỗi công trình liên quan đến văn hóa có thể khai thác và làm nổi bật một số khía cạnh nhất định của nó Điều này hoàn toàn chấp nhận được, bởi lẽ, mặc dù văn hóa là một khái niệm rất rộng và cũng rất phức tạp, song không vì thế mà việc làm sáng tỏ một dấu hiệu của nó để phục vụ cho nghiên cứu lại có thể xuyên tạc bản chất của nó Với cách hiểu như vậy nên trong luận án này chúng tôi chủ yếu quan tâm đến

việc làm sáng tỏ văn hóa với tư cách là hệ thống giá trị

Như chúng tôi vừa trình bày, mặc dù hiện nay có hàng trăm định nghĩa về

văn hóa, song có thể khẳng định rằng văn hóa là một hiện tượng xã hội, nó là cái

do con người sáng tạo ra, là cái đặc trưng cho con người để phân biệt với con vật, tự nhiên không có văn hóa Đó cũng là xuất phát điểm trong việc xây dựng khái

niệm về văn hóa

Theo như Mác: “Con người là một sinh vật có tính loài … Nó biến loài, cả loài của chính mình cũng như của những vật khác, thành vật của mình” {41,134}

2 Theo GS.TSKH Huỳnh Khánh Vinh thì cho đến nay đã có khoảng hơn 400 định nghĩa về văn hóa

Trang 14

Trong khi đó “Con vật trực tiếp đồng nhất với hoạt động sinh sống của nó Nó

không tự phân biệt nó với hoạt động sinh sống của nó Nó là hoạt động sinh sống

ấy”{41, 136} Nếu con vật chỉ “xây dựng theo kích thước và nhu cầu của nó”{41, 137} thì con người lại có thể “sản xuất theo kích thước của bất kỳ loài nào và ở đâu cũng có thể áp dụng bản chất cố hữu của mình vào đối tượng, do đó con người cũng xây dựng theo quy luật của cái đẹp” {41,137} “Nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp” là năng lực đặc thù, bản chất chỉ có ở con người, gắn với hoạt động sống của con người, trong đó lao động “sản xuất đó là đời sống có tính loài tích cực của con người” {41,137}

Như vậy sự khác nhau căn bản của con người so với con vật là ở phương thức tồn tại người Thông qua những hoạt động mang tính người đó con người

khẳng định mình là con người khác với con vật, nhờ những hoạt động đặc thù mang tính người đó con người mới có thể tồn tại trong tư cách là con người Nếu văn hoá là cái chỉ có ở con người, cái đặc hữu của con người mà tự nhiên không

có thì chính phương thức tồn tại người là văn hoá Đó là cách hiểu khá phổ biến

của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa học mácxít Theo cách hiểu này, Giáo sư Hoàng Vinh định nghĩa: “Văn hoá là hoạt động sáng tạo của con người nhằm thực hiện quyền làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân” {78, 104} Cũng có thể tìm thấy cách hiểu văn hóa như là một loại hoạt động đặc thù của con người qua các công trình của Giáo sư Phan Ngọc Xuất phát từ hoạt động của con người, Giáo sư cho rằng, con người có một kiểu hoạt động riêng, cụ thể là lao động Trong lao động, con người chuyển những mô hình trong óc mình vào các sản phẩm của mình Nghiên cứu cái mô hình trong óc con người là chuyện của triết học, tôn giáo học, âm nhạc, hội họa, văn học, nghiên cứu các sự vật ngoài óc con người là chuyện của khoa học tự nhiên, nghiên cứu mối quan hệ giữa các mô hình trong óc con người với thế giới thực tại là chuyện của văn hóa

Trang 15

học Vì thế, “văn hóa là một quan hệ Nó là quan hệ giữa thế giới biểu tượng với thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác” {48,127} Rõ ràng, trong cách hiểu này, văn hóa là cái gắn với hoạt động của con người, qua đó con người mới tạo nên mối quan hệ giữa “thế giới biểu tượng với thế giới thực tại”3

Đúng là việc khai thác khía cạnh hoạt động đã cho phép làm rõ một mặt của văn hóa Nhưng nếu chỉ dừng lại ở mặt này này chúng ta sẽ phải bỏ qua một trong những mặt rất quan trọng đánh dấu thành quả của các hoạt động mang tính người, phân biệt con người và tự nhiên: những giá trị kết tinh trong thế giới các sản phẩm do hoạt động ấy tạo ra

Thông qua những hoạt động mang tính người, con người “nhào nặn” đối

tượng theo tiêu chuẩn của cái đẹp Quá trình “nhào nặn” đó là quá trình ï thể hiện và phát huy những năng lực thuộc bản chất người trong những hoạt động sống của họ Khi “nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp”, “đối tượng hóa”, “vật hóa

lao động vào đối tượng” con người đã chuyển bản chất của mình vào chính đối tượng do mình tạo ra, tạo nên một “thiên nhiên thứ hai” Như vậy, “thiên nhiên thứ hai” đó là sự kết tinh năng lực bản chất của con người qua hoạt động đặc thù

của họ để tạo nên một hệ thống những giá trị người Theo nghĩa này chúng ta có thể nói văn hóa là hệ thống những giá trị người kết tinh trong thế giới các sản phẩm do con người sáng tạo ra

Định nghĩa này được thừa nhận rất phổ biến Chẳng hạn, “ Văn hoá là biểu hiện của phương thức sống của con người, là tổng hoà mọi giá trị người” {55, 186} “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con

3 Còn nhiều công trình định nghĩa văn hóa gắn với hoạt động của con người, song vì đây không phải là chuyên luận về văn hóa nên chúng tôi chỉ dừng lại ở đây

Trang 16

người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hành động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” {68, 10} Theo Giáo sư Trường Lưu thì: “Sau bao nhiêu thập kỷ tranh luận về các chiều rộng – hẹp – ngang của văn hóa, xu hướng chung của thế giới hiện nay là xem văn hóa như thước đo của trình độ phát triển, tức nhìn văn hóa ở hệ quả giá trị” {37, 48}

Từ những cách tiếp cận trên trên có thể khẳng định những mặt cơ bản của văn hóa là:

- Biểu hiện phương thức tồn tại của con người, thông qua đó năng lực thuộc bản chất người được thể hiện

- Những thành quả được kết tinh lại trong thế giới các sản phẩm do hoạt động đặc thù của con người hình thành nên hệ thống giá trị người

Chính vì vậy, tác giả Hồ Sĩ Quý khẳng định: “Văn hoá là biểu hiện của phương thức sống của con người, là tổng hoà mọi giá trị người” {55, 186}

Cách hiểu này hoàn toàn thống nhất với quan niệm của Đảng ta về bản chất của văn hóa Ngay trong Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943), Đảng ta đã coi văn hóa là những thành quả do con người sáng tạo ra, nó bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống tinh thần trong đó có cả tư tưởng, học thuật và nghệ thuật Quan điểm đó cũng được trình bày trong các tác phẩm của cố Tổng bí thư Trường Chinh khi ông khẳng định văn hóa là một vấn đề rất lớn bao gồm cả văn học, nghệ thuật, khoa học, triết học, phong tục, tôn giáo, v.v Tuy nhiên, quan niệm này được thể hiện rất rõ trong định nghĩa của Hồ Chí Minh khi Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh

ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật , khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn ở và các phương thức sử dụng Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu

Trang 17

hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sinh tồn” {44, 431}

Có thể nói, đây là một khái niệm khá hoàn chỉnh, phản ánh tương đối đầy đủ những mặt bản chất của văn hóa Nó không chỉ khẳng định văn hóa là phương thức hoạt động và kết quả của phương thức hoạt động mang tính người, hơn nữa, nó còn cho thấy cả những hình thức biểu hiện cụ thể của các hoạt động ấy Thật bất ngờ, gần 30 năm sau, tại Hội nghị liên Chính phủ về các chính sách văn hóa, họp năm 1970 tại Venise, UNESCO đã đưa ra một cách hiểu văn hóa khá thống nhất với cách hiểu của Hồ Chí Minh Trong cách tiếp cận khái niệm văn hóa đó, văn hoá được xem là:

1 Hệ thống những ý niệm gồm tập hợp các khái niệm, biểu tượng mà dựa vào đó những cộng đồng khác nhau có thể tự lý giải mình và lý giải thế giới mình đang tồn tại

2 Hệ thống giá trị, chuẩn mực cho phép dựa vào đó để đánh giá các tình huống và các hoạt động, phân biệt đúng sai, tốt, xấu

3 Hệ thống biểu hiện văn hóa như nghệ thuật, văn học, khoa học, v.v, như là những biểu hiện cụ thể của ý niệm, giá trị, chuẩn mực của cộng đồng

4 Hệ thống hành động và ứng xử văn hóa đảm bảo làm chủ môi trường tự nhiên và xã hội đảm bảo sự cân bằng và ổn định đời sống cá nhân và cộng đồng4

Hiện nay, cách hiểu này được cộng đồng thế giới chấp nhận và coi như cách hiểu chung mỗi khi cần bàn đến các vấn đề liên quan đến văn hóa

4 Có thể tham khảo {62}, hoặc từ các ý kiến tổng kết của {50}, {76}

Trang 18

Từ những phân tích trên chúng tôi hiểu rằng : Văn hoá là khái niệm phản

ánh những năng lực bản chất người trong tất cả những dạng hoạt động khác nhau của con người, và là hệ thống những giá trị người được kết tinh trong thế giới những sản phẩm do con người sáng tạo ra, giúp cá nhân và xã hội điều chỉnh các hoạt động đa dạng nhằm tạo nên sự ổn định, cân bằng và phát triển trong những môi trường nhất định

Việc coi văn hóa là hệ thống giá trị người dẫn đến câu hỏi giá trị văn hóa là gì, hệ thống giá trị văn hóa, chức năng của hệ thống giá trị văn hóa trong đời sống xã hội? Để có cơ sở cho việc xem xét vấn đề mối quan hệ giữa y-sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa chúng tôi khái quát một số điểm cơ bản liên quan đến hệ thống giá trị văn hóa

1.1.2 HỆ THỐNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA

Bản chất của giá trị văn hóa

Ngay từ khi xuất hiện, con người đã phải đối mặt với thế giới rộng lớn bao

la, phong phú và đầy bí hiểm Thế giới đó buộc con người phải tìm hiểu về nó để

trả lời cho câu hỏi nó là cái gì, và nó có ý nghĩa gì đối với cuộc sống con người?

Việc trả lời hai câu hỏi đó cũng có nghĩa là việc nhận thức về nó Trả lời cho câu

hỏi thứ nhất, nhận thức phải mô tả lại đối tượng, nắm bắt lấy những đặc tính của

nó Đó chính là hướng phát triển sau này hình thành loại nhận thức khoa học Trong hướng nhận thức đó, con người phải phát huy những năng lực phân tích, so sánh, khái quát … để tìm ra sự thật khách quan của các mối quan hệ trong hiện thực Trả lời câu hỏi thứ hai, con người phải xác định xem những đặc tính của đối tượng có lợi ích gì cho cuộc sống của mình, nó có đáng được xem trọng hay

không Đó là khởi nguồn cho hướng nhận thức thông qua sự đánh giá về đối

Trang 19

tượng – nhận thức giá trị Như vậy, giá trị chỉ xuất hiện trong quan hệ đánh giá của chủ thể về đối tượng

Trong đánh giá, chủ thể phán xét về ý nghĩa quý giá của đối tượng đối với cuộc sống của con người Ý nghĩa đó được xác định bởi việc nó có thoả mãn hay không thoả mãn những nhu cầu, hứng thú, lợi ích của chủ thể, vì vậy, về cơ bản nó không phụ thuộc vào đặc tính tự nhiên của đối tượng Xét bề ngoài, giá trị là các đặc tính của đối tượng, tuy nhiên, chúng không phải là cái vốn có từ kết cấu bên trong của bản thân đối tượng, mà do đối tượng bị hút vào phạm vi tồn tại của con người và trở thành cái mang quan hệ xã hội nhất định Điều này có thể lý giải

như sau: Lao động của con ngươi đã hút đối tượng vào trong trường hoạt động

thực tiễn của mình, và chỉ khi đó thuộc tính khách quan của đối tượng mới được con người nhận thức và đánh giá Thông qua sự đánh giá, con người nhận ra các thuộc tính đó trở thành cái gì đó có hay không có ý nghĩa với sự tồn tại của mình Khi đánh giá những thuộc tính đó, con người không mô tả lại chúng, không kiểm tra lại các sự kiện mà chỉ phán xử về ý nghĩa của chúng đối với hoạt động thực tiễn của mình Con người không gán cho chúng tư tưởng mà chỉ ấn định xem vật này hay sự kiện kia là cái gì và có ý nghĩa như thế nào Vì vậy, có thể nói, với việc hút đối tượng vào trường hoạt động thực tiễn của mình, con người đã gán cho nó thêm những phẩm chất người, phẩm chất xã hội, và chính phẩm chất đó tạo

nên giá trị của đối tượng Nói cách khác, giá trị – đó là chiều đo người cho đối

tượng

Mặt khác, khi coi giá trị là cái chỉ tồn tại trong quan hệ đánh giá của chủ thể trước đối tượng, chúng ta không thể không quan tâm đến đặc điểm của chủ thể Chủ thể theo nghĩa rộng nhất là con người, nhưng theo nghĩa hẹp hơn thì đó là cộng đồng, dân tộc, giai cấp, cá nhân gắn với những thời đại khác nhau Mỗi giai cấp, cộng đồng, dân tộc trong một thời đại lại có lý tưởng, nhu cầu, lợi ích

Trang 20

khác nhau, do đó việc xác định giá trị của đối tượng cũng khác nhau Một đối tượng có thể trở thành giá trị với giai cấp này, cộng đồng này hay thơiø đại này mà lại không phải là giá trị với giai cấp, cộng đồng, thời đại khác

Từ những phân tích trên có thể khái quát những đặc điểm của giá trị là: 1./ Các giá trị chỉ tồn tại trong mối quan hệ đánh giá lý tưởng của chủ thể về ý nghĩa xã hội của đối tượng được nhận thức

2./ Giá trị là cái được mọi người thừa nhận có vị trí quan trọng và cần đến như một nhu cầu cho cuộc sống

3./ Giá trị có tính giai cấp, lịch sử, thời đại, dân tộc, nhân loại gắn với sự tồn tại hay mất đi của nhu cầu con người trong họat động thực tiễn

4./ Trong mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, tình cảm

Trên cơ sở khái quát những đặc điểm đó, có thể nói: giá trị là ý nghĩa quý giá của đối tượng do nó phù hợp với lợi ích, nhu cầu, hứng thú của chủ thể và được chủ thể thừa nhận thông qua những đánh giá lý tưởng khi nó bị cuốn hút vào các quan hệ của con người

Như vậy, “thiên nhiên thứ hai”, hệ thống giá trị người (cái được gọi là văn hóa) không đơn thuần chỉ là kết quả lao động của con người, mà còn hàm chứa

trong nó những phẩm chất người, mang trong nó ước mơ, hoài bão, khát vọng về

một cuộc sống lý tưởng Chính ở khía cạnh này, giá trị tồn tại với tư cách là các

chuẩn mực văn hóa của xã hội, giá trị văn hóa Điều này đã được nhiều tác giả

thừa nhận5 Vì vậy, chúng tôi hiểu rằng: Trong bản chất của mình, giá trị văn hóa là những ước mơ, hoài bão, khát vọng về một cuộc sống lý tưởng của con

5 Chẳng hạn, trong Cách tiếp cận vấn đề văn hóa theo quan điểm triết học Mác, Triết học, số 1, 1998, tác

giả Vũ Thị Kim Dung cho rằng: “Cho nên, xét theo phương diện rộng (về mặt chức năng), khái niệm

“văn hóa” và “giá trị” là gần như trùng hợp”

Trang 21

người và được biểu hiện thông qua thế giới các sản phẩm do con người sáng tạo ra 6

Cấu trúc và hiện tượng tái cấu trúc của hệ thống giá trị văn hóa

Các giá trị văn hóa trong mỗi cộng đồng, dân tộc, thời đại nhất định bao

giờ cũng xếp theo những nguyên tắc nhất định tạo nên một hệ thống giá trị văn hóa Tuỳ theo từng mục đích tiếp cận khác nhau chúng ta có thể phân ra các loại

giá trị văn hóa khác nhau Chẳng hạn, nếu căn cứ vào đặc thù nhân cách của con người để phân biệt với con vật thì có thể phân thành: lý trí, tình cảm, vinh dự, phẩm giá, đạo đức, … căn cứ vào tính phổ quát của giá trị văn hóa có thể phân thành: giá trị văn hóa phổ quát, giá trị văn hóa chung, giá trị văn hóa hiện đại, v.v Theo cách phân loại phổ biến và cũng nhằm đáp ứng cho mục đích nghiên cứu đề tài chúng tôi nhất trí với cách phân loại của Giáo sư Huỳnh Khánh Vinh Theo đó, giá trị văn hóa được chia thành:

- Giá trị khoa học (trí tuệ)7

6 Cần lưu ý rằng, giá trị văn hóa, với tư cách là những ước mơ, hoài bão, khát vọng về một cuộc sống lý

tưởng của con người, không chỉ được bộc lộ dưới hình thức văn hóa phi vật thể mà còn toát lên từ các công trình văn hóa vật thể cụ thể Vì vậy, khi nói đến chuẩn mực văn hóa là bao gồm cả những chuẩn mực đã được vật thể hoá trong các hình thức văn hoá vật thể đó

7 Ơû đây cần lưu ý rằng, khi coi văn hóa là hệ thống giá trị người thì không thể không xếp khoa học vào hệ thống giá trị đó, song cần phải thừa nhận rằng đó là một giá trị đặc biệt Tính đặc biệt của nó là ở chỗ nếu

như giá trị khoa học đạt được ý nghĩa của chân lý bằng con đường xoá bỏ bất cứ sự quan tâm hay ưa thích

nào của chủ thể nhận thức thì, ngược lại, những giá trị văn hóa ngoài khoa học là sự thể hiện khả năng

cảm thụ thế giới dưới hình thức của sự đánh giá chủ quan về ý nghĩa quý giá của các thuộc tính đa dạng

trong hiện thực đối với con người Tất nhiên, những đánh giá chủ quan đó không thể không dựa trên những cơ sở khách quan, khoa học, song điều đó không làm thay đổi tính chất của loại giá trị văn hóa này Về cơ bản, những giá trị văn hóa ngoài khoa học luôn bị chế ước bởi những nhân tố có tính chủ quan của chủ thể như giai cấp, cộng đồng, dân tộc, niềm tin, định hướng và thậm chí cả tín ngưỡng Do đó, việc coi các giá trị khoa học trở thành các giá trị văn hóa không thủ tiêu sự phân biệt một cách tương đối giữa giá trị văn hoá ngoài khoa học với các giá trị do khoa học sinh ra Chính vì như vậy mới xuất hiện vấn đề mối

quan hệ giữa khoa học tự nhiên và hệ thống giá trị văn hóa Điều này đã được E.Man-tru-rơ,

V.G.Phê-đô-tô-va khẳng định: “Vấn đề tương quan giữa khoa học và giá trị, có thể nói một cách chính xác hơn là vấn đề quan hệ giữa khoa học (kể cả khoa học với tư cách là giá trị) với những giá trị hình thành bên ngoài khoa học, không chỉ có tính chất phương pháp luận làm rõ mối liên hệ giữa các nhân tố văn hoá - xã hội với hoạt động nhận thức Nó trước hết là vấn đề có ý nghĩa xã hội về sự hoạt động và sự tác động lẫn

Trang 22

- Giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật

- Giá trị (luân lý) đạo đức

- Giá trị pháp lý

- Giá trị niềm tin, tâm linh v.v{77, 424}

Tất nhiên, sự phân loại này chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi lẽ giữa các loại giá trị văn hóa này có sự xâm nhập, đan xen trong hệ thống phức hợp các giá trị văn hóa

Trong số những giá trị văn hóa thì giá trị đạo đức là phổ quát nhất bởi lẽ

nó có mặt trên tất cả các lĩnh vực, mọi quan hệ giao tiếp của con người trong mọi thời đại Vì vậy mà Giáo sư Đỗ Huy viết : “Mỗi xã hội thường có bốn hệ chuẩn mực bao chứa những định chuẩn mang tính quy định, tính thông tin, biểu hiện thành những tín hiệu giá trị, bảo hành cho việc giao tiếp giữa cá nhân và cộng đồng Đó là hệ chuẩn mực văn hoá đạo đức, văn hoá pháp luật, văn hoá thẩm mỹ và các chuẩn mực về niềm tin Trong bốn hệ chuẩn mực này thì hệ chuẩn mực về văn hoá đạo đức là phổ quát nhất Nó tạo nên các điều kiện tối đa cho các quan hệ giao tiếp xã hội.” {37, 97} Không chỉ mang tính phổ quát cao, giá trị đạo đức còn đóng vai trò của một nhân tố điều tiết đặc biệt mạnh mẽ tới cá nhân và xã hội Vai trò của nó không phải là vai trò của các phần tử “bên ngoài” mà là “bên trong” con người Sức mạnh của nó không phải là sức mạnh của gươm giáo hay sự đau đớn và sự sợ hãi, mà là ở sự xấu hổ, lương tâm trong mỗi con người Đó cũng chính là lý do giải thích vì sao luận án đặc biệt quan tâm đến các giá trị đạo đức trong mối quan hệ giữa y-sinh học hiện đại với phức hợp hệ thống giá trị văn hoá

nhau trong xã hội giữa khoa học và văn hoá, giữa những giá trị ngoài khoa học và những giá trị do khoa học sinh ra” {4, 96}

Trang 23

Trên cơ sở những giá trị văn hóa phổ quát, các chuẩn mực cụ thể được định

ra để trở thành những định chuẩn mang tính quy định đảm bảo cho sự duy trì sự ổn định lâu dài cho xã hội

Vị trí so sánh giữa những giá trị văn hóa không có sự đồng nhất Tuỳ theo

từng cộng đồng, thời đại, nghề nghiệp … mà những giá trị văn hóa khác nhau được

xếp theo những thứ bậc khác nhau, từ đó tạo nên thang giá trị, (hoặc thước đo

giá trị) Chẳng hạn, nếu các xã hội phương Tây thường đề cao giá trị lý trí thì người phương Đông lại thường đề cao giá trị đạo đức, nếu nghề kinh doanh đề cao “chữ tín” thì nghề y đề cao lương tâm, nếu trong thời đại phong kiến những giá trị văn hóa liên quan đến tông tộc, dòng họ được đặt lên hàng đầu thì thời đại ngày nay chúng ta đề cao những giá trị văn hóa liên quan đến tổ quốc, nhân dân Mỗi xã hội có thang giá trị văn hóa khác nhau và nó là cơ sở để hình thành thang giá trị văn hóa cá nhân Con người luôn biết soi mình vào thang giá trị văn hóa để tự hoàn thiện, vì vậy, thang giá trị văn hóa trở thành động lực thôi thúc họat động của cá nhân và xã hội

Những giá trị văn hóa chiếm vị trí cao, mang ý nghĩa cốt lõi trong thang

giá trị văn hóa được gọi là chuẩn giá trị văn hóa ( hay còn gọi là giá trị gốc, từ đó quy định những giá trị “con”) Các giá trị chuẩn thường ổn định và quy định

đặc trưng văn hóa của một thể cộng đồng Chẳng hạn, trong truyền thống văn hóa Việt Nam, yêu nước, tính cộng đồng … là những giá trị văn hóa được xếp ở những thang bậc cao nhất và được xem là chuẩn giá trị

Như vậy, xét về mặt cấu trúc, hệ thống giá trị văn hóa là một tổ hợp những giá trị khác nhau được xắp xếp theo những nguyên tắc nhất định tạo nên thang giá trị của mỗi xã hội, trong đó những giá trị được xếp ở thứ bậc cao trở thành những giá trị cốt lõi, nền tảng của hệ thống giá trị đó

Trang 24

Với một cấu trúc được tổ chức chặt chẽ thành thang giá trị và chuẩn giá trị đã tạo nên tính ổn định tương đối của một hệ thống giá trị văn hóa, từ đó xác định cho mỗi nền văn hóa những đặc trưng riêng biệt Nhưng điều đó không có nghĩa là nó không có những thay đổi, biến động qua quá trình phát triển xã hội Quy luật của cuộc sống là luôn vận động làm cho nhu cầu con người cũng biến đổi theo Sự biến đổi nhu cầu của con người đến một mức độ nào đó sẽ làm mất đi ý nghĩa của một số giá trị văn hóa này, nâng ý nghĩa của một số giá trị văn hóa khác, tạo nên hiện tượng đảo lộn thứ bậc trong thang giá trị Thậm chí, những biến cố lớn của lịch sử cũng có thể làm đảo lộn và thay đổi cả những giá trị văn hóa được xem là giá trị chuẩn Điều đó có nghĩa là, mỗi bước phát triển của xã hội sẽ có hai hiện tượng đối nghịch xảy ra Thứ nhất, khi xã hội phát triển, một số giá trị văn hóa truyền thống tiếp tục được phát huy làm cơ sở tinh thần cho các hoạt động trong cộng đồng, bởi chúng vẫn chứng tỏ được tính phù hợp với sự phát triển của điều kiện mới Thứ hai, xuất hiện hiện tượng “lệch chuẩn”, nghĩa là xuất hiện những giá trị văn hóa mới chống lại những giá trị văn hóa truyền thống Những “lệch chuẩn” như vậy có thể là sự biểu hiện của “lệch chuẩn” tiến bộ, hoặc “lệch chuẩn” phản tiến bộ Những “lệch chuẩn” tiến bộ là sự đáp ứng những nhu cầu đòi hỏi tất yếu của sự phát triển xã hội Những “lệch chuẩn” phản tiến bộ có thể là kết quả của sự bảo thủ, không chịu từ bỏ những giá trị văn hóa đã trở nên cũ kỹ, lạc hậu không còn đáp ứng được nhu cầu phát triển mới của đời sống Nó cũng có thể là sản phẩm của sự thiếu ý thức, kém hiểu biết của một bộ phận nào đó trong xã hội, phản ánh những cách hiểu lệc lạc, chống lại xu hướng vận động tất yếu của lịch sử Vì là cái chống lại xu hướng vận động tất yếu của lịch sử nên sớm hay muộn những “lệch chuẩn” phản tiến bộ cũng không thể tồn tại Những “lệch chuẩn” tiến bộ lúc đầu có thể bị bài bác, chống đối từ phía các chuẩn mực truyền thống, song vì là kết quả của xu hướng tất yếu nên nó có sức

Trang 25

sống mãnh liệt và dần dần làm thay đổi hệ thống giá trị văn hóa truyền thống

Kết quả là một quá trình tái cấu trúc hệ thống giá trị văn hóa sẽ xảy ra Quá trình

này mặc dù không diễn ra một cách đột biến và rất khó nhận thấy song cuối cùng nó cũng dẫn đến chỗ những giá trị văn hóa “lệch chuẩn” tiến bộ sẽ không còn

“lệch chuẩn” Nó sẽ tích hợp với những giá trị văn hóa truyền thống còn phù hợp với điều kiện mới của xã hội tạo thành hệ thống giá trị văn hóa mới Có thể nhận thấy điều này qua rất nhiều trường hợp trong lịch sử Chẳng hạn, những “lệch chuẩn” xuất hiện trong thời kỳ Phục hưng đã đưa phương Tây thoát khỏi bóng đêm của thời kỳ Trung cổ

Những phân tích về khả năng tái cấu trúc lại hệ thống giá trị văn hóa cho

phép chúng ta khẳng định: Sự ổn định của hệ thống giá trị văn hóa chỉ mang tính tương đối Những biến đổi của đời sống xã hội kéo theo sự biến đổi về nhu cầu, lợi ích của con người sẽ làm biến đổi nội dung và trật tự của các giá trị văn hóa trong xã hội, tạo nên quá trình tái cấu trúc lại hệ thống giá trị văn hóa, làm cho nó có sự phát triển về chất

Tuy nhiên, tính chất ổn định tương đối của hệ thống giá trị văn hóa đủ cho nó thực hiện được chức năng của mình trong đời sống con người

Chức năng của hệ thống giá trị văn hóa

Khẳng định về vai trò của văn hóa, Đảng ta cho rằng: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” {12, 35} Vai trò đó được thể hiện qua những chức năng cơ bản của nó Có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau, và vì thế mà có nhiều cách xem xét khác nhau về chức năng của văn hóa, song những chức năng cơ bản sau được hiểu khá phổ biến:

Chức năng nhận thức

Trang 26

Chức năng giáo dục

Chức năng điều tiết các quan hệ của con người

Chức năng giao tiếp

Chức năng dự báo

Cách xác định đó khá toàn diện vì nó xuất phát từ việc xét văn hóa từ nhiều góc độ khác nhau, gắn với những đặc trưng khác nhau Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm cho rằng văn hóa có bốn đặc trưng, và ứng với bốn đặc trưng đó

là bốn chức năng khác nhau: Tính hệ thống xác định chức năng tổ chức xã hội, tính giá trị xác định chức năng điều chỉnh xã hội, tính nhân sinh xác định chức năng giao tiếp và tính lịch sử xác định chức năng giáo dục Trên cơ sở cách tiếp cận như vậy, tác giả cho rằng, với tư cách là một hệ thống giá trị, văn hóa có hai chức năng là tổ chức xã hội và điều chỉnh xã hội Cách hiểu này cũng tương tự với

cách hiểu của Giáo sư Đỗ Huy khi khẳng định mỗi phương diện, mỗi cách tiếp cận như vậy đều tìm ra những bản chất khác nhau của văn hóa và do đó, đã phát hiện ra những chức năng riêng của văn hóa{26, 6}. Chúng tôi cơ bản nhất trí với cách xem xét này và coi đây là một cách tiếp cận hợp lý trong việc xem xét chức năng của văn hóa, bởi nó lý giải biện chứng những chức năng từ những đặc trưng riêng biệt của văn hóa Tuy nhiên, theo chúng tôi, khi xét chức năng của văn hóa với tư cách là hệ thống giá trị không nên tách chức năng tổ chức xã hội khỏi chức năng điều chỉnh xã hội, bởi để tổ chức xã hội thì cần phải có sự điều chỉnh, bản

thân sự điều chỉnh đã thể hiện việc tổ chức Do đó, chúng tôi xác định: với tư cách là hệ thống giá trị, văn hóa có chức năng điều chỉnh các quan hệ của con người để đảm bảo sự ổn định, cân bằng và phát triển trong những môi trường nhất định

Thật vậy, với tư cách là một hệ thống giá trị, văn hóa như một thực thể

tương đối độc lập với tồn tại xã hội tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội

Trang 27

Tính hệ thống của văn hóa tạo nên tính chất khuôn mẫu để các họat động của cá

nhân và xã hội soi vào nó mà điều chỉnh cho đúng, từ đó tạo nên sự ổn định của

xã hội Đối với cá nhân, nó định hướng cảm xúc, tư tưởng, hướng họ đến với cái chân-thiện-mỹ Đối với xã hội, nó tạo ra những “hành lang văn hóa” trong việc đưa ra các chủ trương, quyết sách, các loại hoạt động hướng đến một xã hội mang

tính nhân văn Đó chính là khả năng tổ chức của hệ thống giá trị văn hóa Trong

đời sống chính trị, chức năng tổ chức xã hội thuộc về nhà nước Tuy nhiên, khả năng tổ chức của nhà nước dựa trên những mệnh lệnh hành chính là chủ yếu Vì thế nó nghiêng về tính cưỡng chế hơn là sự tự giác Ngược lại, khả năng tổ chức xã hội của văn hóa chủ yếu dựa vào những hành động mang tính tự giác xuất phát từ chính động cơ bên trong của con người Do đó, bất cứ một bộ máy nhà nước nào cũng luôn kết hợp những mệnh lệnh hành chính với việc xây dựng một hệ thống giá trị văn hóa phù hợp mục đích của xã hội Vì lẽ đó mà Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi Cũng không phải ngẫu nhiên mà Khổng Tử đề cao “đức trị” Ôâng hiểu rõ một hệ thống giá trị đạo đức sẽ có vai trò cực kỳ to lớn trong việc ổn định xã hội đang bị đảo lộn kỷ cương, nên đã cố gắng xây dựng nó thành một hệ thống với “chữ nhân” làm nòng cốt Phát huy tinh thần “đức trị” của Khổng Tử, các nhà nước phong kiến sau này đã xây dựng nên cả một hệ thống đạo đức chặt chẽ với “trung quân”, “tam cương” “ngũ luân” làm khuôn mẫu cho mọi hoạt động của xã hội, góp phần tạo nên các đế chế phong kiến tồn tại vững chắc hàng ngàn năm trong các nước phương Đông

Mặt khác, các giá trị trong hệ thống giá trị văn hóa luôn phải tồn tại với tư cách là cái có ý nghĩa quý giá đối với con người Do đó nó thường xuyên được xem xét lại, bổ sung và thay đổi cho phù hợp với điều kiện mới Nhờ thường xuyên xem xét lại các giá trị mà hệ thống giá trị văn hóa có khả năng điều chỉnh để con người có thể duy trì được trạng thái cân bằng động trong tất cả những mối

Trang 28

quan hệ, với tự nhiên, với xã hội và với bản thân mình, tạo điều kiện cho họ không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường Với chức năng như vậy có thể xem văn hóa như cái nôi thứ hai che chở, bao bọc và nuôi dưỡng con người trong thế giới đầy biến động Trong điều kiện phát triển như vũ bão của những nghiên cứu và ứng dụng khoa học làm cho những biến động về môi trường sống đang diễn ra từng ngày, thì khả năng giúp con người thích ứng trong trạng thái cân bằng động của hệ thống giá trị văn hóa sẽ đặc biệt có ý nghĩa

Nhận rõ ý nghĩa to lớn đó của hệ thống giá trị văn hóa, Đảng ta luôn chủ trương “ Hình thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới phù hợp với truyền thống

bản sắc dân tộc và yêu cầu thời đại” {11, 113}

Với việc làm rõ bản chất của giá trị văn hóa, cấu trúc và chức năng của hệ thống giá trị văn hóa, có thể đi đến kết luận: Hệ thống giá trị văn hóa là tổ hợp các giá trị được xếp theo những nguyên tắc nhất định phản ánh những đánh giá lý tưởng của chủ thể về cái có ý nghĩa quý giá đối với cuộc sống, mang trong nó những ước mơ, hoài bão, khát vọng của con người, do đó nó đóng vai trò là nền tảng tinh thần và động lực cho sự phát triển xã hội

1.2 Y –SINH HỌC HIỆN ĐẠI

1.2.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA Y - SINH HỌC HIỆN ĐẠI

Sinh học là khoa học về sự sống Đối tượng của sinh học là hình thức vật

chất sống với tính cách là một hình thái đặc thù của vận động vật chất, là những quy luật phát triển của giới tự nhiên sống, là hình thức nhiều vẻ của cơ thể sống, là cấu tạo, chức năng, sự phát triển cá thể và mối quan hệ giữa chúng với môi trường xung quanh Trong truyền thống, sinh học bao hàm cả một tổng hợp những khoa học sinh học như động vật học, thực vật học, sinh lý học, di truyền học, v.v

Trang 29

Nhiệm vụ “trọng tâm của sinh vật học là giải thích bản chất của những hiện tượng

sống, nghiên cứu vật lý, hoá học của sinh vật, vạch ra những phương thức điều

khiển các quá trình sống, đặc biệt là sự trao đổi chất, tính di truyền và biến dị của

cơ thể” {67, 504}

Sự xuất hiện của sinh học bắt đầu ngay từ thời Cổ đại Hy Lạp Song cho đến giữa thế kỷ XIX sinh học vẫn chủ yếu mang tính chất miêu tả, chưa tồn tại với tư cách là khoa học sinh vật Tình trạng không hiểu rõ được nguyên nhân vật chất của các hiện tượng sống đã làm nảy sinh những quan niệm duy tâm, siêu hình, như thuyết sức sống, chủ nghĩa máy móc

Việc tìm ra cấu tạo tế bào, Thuyết tiến hoá của Darwin đã tạo ra bước ngoặt trong sự phát triển của sinh học Từ bước ngoặt này, người ta đã giải thích được sự phát triển của sự sống theo cách hiểu duy vật thay cho cách hiểu mục đích luận trước đó Trên cơ sở khái quát những thành tựu sinh học ở thời kỳ này,

Ph Aêngghen đã phát biểu lên một định nghĩa thiên tài về bản chất của sự sống: “

Sự sống là phương thức tồn tại của các thể an-bu-min, và phương thức tồn tại này

về căn bản bao hàm ở sự thường xuyên tự đổi mới của những thành phần hoá học của những thể ấy” {40, 119} Có thể coi đây là một định nghĩa căn bản phản ánh đúng bản chất của sự sống, và đánh dấu một bước ngoặt về sự hiểu biết thế giới sống của con người Tuy nhiên, chính Ph Aêngghen cũng tự thấy rằng “Định nghĩa của chúng tôi về sự sống tất nhiên còn rất thiếu sót, vì nó còn xa mới có thể bao gồm được tất cả những hiện tượng của sự sống, mà trái lại định nghĩa đó chỉ giới hạn ở những hiện tượng chung nhất và đơn giản nhất” {40, 121} Đó đúng là một “sự khiêm tốn thiên tài”, vì nó đã báo trước một sự phát triển rất mạnh mẽ của những phát hiện mới về bản chất sự sống

Từ khoảng giữa thế kỷ XX cho đến nay, sự phát triển của sinh học đã có

những bước tiến ngoạn mục Trước hết là sự xuất hiện các nhánh sinh học tiếp

Trang 30

giáp nghiên cứu sự sống, lý sinh học, hoá sinh học, toán sinh học Các ngành

khoa học tiếp giáp này đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu vật lý, hoá học, toán học để làm rõ nhiều quá trình lý, hoá trong cơ thể sống, từ đó đưa khoa học về sự sống tiến lên một bước mới Đánh giá ý nghĩa của bước phát triển này, Giáo sư Nguyễn Trọng Chuẩn viết: “Chính vật lý, hóa học khi làm phong phú sinh học bằng các phương pháp và công cụ nghiên cứu đã thúc đẩy sự ra đời một giai đoạn mới của nhận thức sinh học” {4, 213-214}

Tuy nhiên, bước ngoặt có tính chất đột biến làm thay đổi hẳn bộ mặt của

sinh học là sự phát triển mạnh mẽ sinh học phân tử và di truyền Nhờ biết sử dụng

có hiệu quả những phương pháp nghiên cứu của vật lý, hoá học và toán học trong sinh học phân tử và di truyền, người ta đã thu được những kết quả có tính chất nền móng cho việc hiểu biết bản chất của sự sống Một trong những kết quả đó là phát minh vĩ đại của hai nhà khoa học J.D Watson và F Crick ra chuỗi xoắn kép DNA Phát minh này giúp sinh học giải quyết được hàng loạt hiện tượng liên quan đến bản chất của sự sống, khám phá ra kết cấu, chức năng của chúng và làm sáng tỏ trên những nét khái quát cơ chế nhân đôi của kết cấu sinh vật và

truyền lại dấu hiệu di truyền Một điểm đặc biệt quan trọng mà phát minh này

chỉ ra là nó cho con người nhận thấy prôtêin không phải là cơ chất duy nhất của

sự sống, cơ chất của sự sống bao gồm cả acid nucleic (DNA, RNA) Và các chất này không kém phần quan trọng hơn prôtêin, mà thậm chí quan trọng hơn cả

prôtêin trong một số quá trình sống căn bản Đồng thời, phát minh này cũng chỉ

ra rằng, quá trình tổng hợp prôtêin phụ thuộc vào DNA Người ta còn phát hiện ra có những virus chỉ có cơ chất là DNA, trong khi không thấy có sinh vật nào chỉ có

cơ chất là prôtêin Có thể nói, việc phát minh ra chuỗi xoắn kép là cơ sở chủ yếu nhất tạo nên bước đột phá trong việc hiểu rõ bản chất của sự sống ở mức độ phân tử

Trang 31

Với khả năng hiểu rõ các quá trình sống ở mức phân tử, trong đó đặc biệt là việc hiểu rõ cơ chế của việc tổng hợp các prôtêin, cơ sở của di truyền, biến dị, các nhà khoa học đã tạo nên hàng loạt các kỹ thuật ứng dụng vào đời sống, trong đó, đáng kể nhất là những kỹ thuật di truyền Nhờ có kỹ thuật này con người có thể điều khiển sự phát triển của một cơ thể sống, thậm chí có thể điều khiển sự phát triển của cả sinh giới

Như vậy, có thể khẳng định rằng, sự phát triển của sinh học hiện đại đã được bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, với sựï xuất hiện học thuyết tiến hoá Darwin, thuyết tế bào Nhưng sự phát triển đặc biệt mạnh mẽ của nó thực sự chỉ bắt đầu từ giữa thế kỷ XX đến nay, với việc xuất hiện các ngành sinh học tiếp giáp, và đặc biệt là sự phát triển sinh học phân tử và di truyền Chính những bước tiến có

tính chất đột phá như vậy đã tạo nên sinh học hiện đại

Gắn bó trực tiếp với sinh học là y học, bởi, cũng giống như sinh học, đối tượng của y học cũng là sự sống Nhiệm vụ chủ yếu của y học là quan tâm, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho con nguời Trong truyền thống, y học mang đậm tính chất kinh nghiệm bởi nó chủ yếu dựa trên các kinh nghiệm được tổng kết và lưu truyền Cùng với sự phát triển của các ngành khoa học, đặc biệt là những khoa học về sự sống, các quá trình tích hợp tri thức của y học đã giúp nó dần dần thoát khỏi tính chất kinh nghiệm để vươn lên với tư cách thực sự của một khoa học

Một trong sự tích hợp có ý nghĩa quyết định nhất đó là sự tích hợp với sinh học Các tri thức của sinh học trở thành loại tri thức giúp y học hiểu rõ hơn về các quá trình sống, giải thích rõ các nguyên nhân gây bệnh cũng như cơ chế sinh lý sâu xa của những biểu hiện bên ngoài mà con nguời đã thấy hàng thế kỷ trước đó Việc sử dụng các phương pháp của sinh học cho nghiên cứu và ứng dụng trong y học cũng có ý nghĩa tương tự Thông qua việc biết sử dụng các phương pháp đó, y học có thể có được các kết quả nhanh chóng và chính xác hơn, từ đó

Trang 32

giúp cho việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho con nguời tốt hơn Xét về mặt lịch sử, quá trình tích hợp với sinh học thực chất đã diễn ra trong suốt lịch sử phát triển của y học, song với mức độ ngày càng tăng lên Sự phát triển mạnh mẽ của sinh học, đặc biệt là sự phát triển của các chuyên ngành có khả năng đi sâu khám phá bản chất của các bí ẩn bên trong cơ chế sống, đã khiến cho sự can thiệp của nó vào y học ngày càng phổ biến và sâu sắc hơn Nếu như hàng trăm năm trước,

y học đã sử dụng các kết quả khám phá của sinh học về cây cỏ, động vật để biến thành những vị thuốc trong chữa trị thì ngày nay việc sử dụng đó đã tạo ra cả một loạt những chuyên ngành chuyên sâu ứng dụng sinh học trong y học như huyết học, vi sinh học, ký sinh trùng v.v Sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng này trong thế kỷ XX đã dần dần định hình cho sự xuất hiện một ngành khoa học mới,

tương đối độc lập: y-sinh học (biomedicine) Như vậy, y-sinh học là một ngành khoa học sử dụng sinh học vào việc nghiên cứu và ứng dụng để phục vụ việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho con nguời

Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của sinh học hiện đại, đặc biệt là sinh học phân tử và di truyền với khả năng đi sâu vào bản chất của sự sống ở mức độ phân tử, làm sáng tỏ các cơ chế sống, và từ đó tạo điều kiện cho con nguời có khả năng điều khiển các quá trình sống, y-sinh học đã có sự phát triển vượt bậc trong

vài thập kỷ gần đây Với ý nghĩa đó có thể gọi nó là y-sinh học hiện đại

Như vậy, đặc điểm của y-sinh học hiện đại gắn bó chặt chẽ với đặc điểm

của sinh học hiện đại Có thể vắn tắt một số đặc điểm chủ yếu của y-sinh học

hiện đại như sau:

- Sự kết hợp với các ngành khoa học tự nhiên khác trong đó đặc biệt là sinh học hiện đại đã tạo nên tính chất liên ngành

- Việc ứng dụng sinh học phân tử và di truyền đã tạo nên bước đột phá trong việc làm sáng tỏ các quá trình liên quan đến bản chất của sự sống ở mức

Trang 33

phân tử, và chính đặc điểm này mang ý nghĩa quyết định bộ mặt của sinh học hiện đại

y Khả năng giúp con người có thể điều khiển các quá trình sống của cá thể Với nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của con nguời, y-sinh học hiện đại quan tâm đến một phạm vi khá lớn các vấn đề, chẳng hạn, dịch tễ học, phương pháp chẩn trị và chữa bệnh bằng các liệu pháp gen, những đột biến gen, những hợp chất hữu cơ có trong prô-tê-in, nghiên cứu và sản xuất ra các loại sinh vật có những tính chất đặc biệt mang hàm lượng dinh dưỡng cao, có chất kháng sinh hay vắc-xin ngừa bệnh, v.v

1.2.2 NHỮNG KỸ THUẬT CƠ BẢN CỦA Y-SINH HỌC HIỆN ĐẠI TRÊN NỀN TẢNG SINH HỌC PHÂN TỬ VÀ DI TRUYỀN – BẢN CHẤT, LỢI ÍCH VÀ MẠO HIỂM

Như chúng tôi đã trình bày, việc sử dụng các thành quả của sinh học hiện đại đã tạo nên bộ mặt của y-sinh học hiện đại Trong số những thành quả đó, phát minh ra mô hình chuỗi xoắn kép (Xem hình 1.1 và 1.2) có một ý nghĩa đặc biệt.Theo mô hình này, phân tử DNA là một chuỗi xoắn kép mà hai mạch gồm khung

đường xen kẽ với các nhóm phosphate, được gắn với nhau nhờ các liên kết hydro

giữa Adenine (A) với Thymine (T), và giữa Guanine (G) với Cytosine (C) ở mạch

đối diện : đối diện Adenine làø Thymine, đối diện Guanine là Cytosine Mô hình này là chung cho tất cả các loài sinh vật, bởi vì tất cả sinh vật đều có chung một cấu trúc DNA Tính đặc trưng của DNA một loài chỉ biểu hiện ở sự sắp xếp các nucleotide theo một trình tự dọc theo chiều dài và số lượng của chúng

Một trong những tính chất căn bản của chất di truyền DNA là khả năng tự sao chép chính xác hay tự nhân đôi (self duplication) (xem hình 1.3) Sự sao chép chính xác của phân tử DNA có tầm quan trọng sống còn đối với hoạt động bình thường của tế bào Tuy nhiên, chỉ riêng cơ chế sao chép chính xác chưa đủ giải

Trang 34

thích sự ổn định cấu trúc DNA qua nhiều thế hệ tế bào Các nghiên cứu di truyền học đã dẫn đến việc tìm ra các cơ chế sửa sai và bảo vệ DNA duy trì sự ổn định cấu trúc của nó qua nhiều thế hệ

DNA có chức năng bảo quản và truyền đạt thông tin về cấu trúc toàn bộ

các loại prôtêin, qui định các tính trạng và đặc tính của cơ thể

Cơ chế truyền đạt thông tin đó được biểu hiện như sau:

DNA → mRNA → protein sao chép phiên mã dịch mãû

Thông tin di truyền được đi từ DNA qua RNA rồi đến protein Thông tin không thể đi theo chiều ngược từ protein đến RNA Ơû đây, DNA đóng vai trò của

mã di truyền (The genetic code), quan hệ giữa DNA và protein là quan hệ tuyến tính, theo đó chỉ có chiều từ DNA đến protein chứ không có chiều ngược lại Tuy

nhiên, cũng cần lưu ý rằng, mặc dù hiện nay người ta biết được vai trò của DNA là đơn vị thông tin cho việc tạo ra các loại protein song cơ chế này còn nhiều điểm chưa rõ và được các nhà khoa học tiếp tục quan tâm

Trên cơ sở hiểu rõ cấu trúc và chức năng của DNA, các nhà khoa học đã tạo ra hàng loạt những kỹ thuật di truyền của y-sinh học hiện đại Mặc dù các kỹ thuật đó hết sức đa dạng và phức tạp, song bản chất của tất cả những kỹ thuật này là: dựa trên những hiểu biết về cấu trúc, chức năng của DNA con người có thể

chép lại hay cắt, nối, ghép các gen, (trước hết thực hiện trong các ống nghiệm (in vitro) tại các phòng thí nghiệm) Điều này có thể được xem là những tư duy và phương pháp luận mới trong nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn của y-sinh học

hiện đại

Trong kỹ thuật chép lại (nhân bản), các tế bào mang gen mong muốn được

nuôi dưỡng bởi những môi trường đặc biệt trong ống nghiệm, (hoặc trong nhân của trứng đã được rút nhân cũ), từ đó nó dần dần phát triển lên thành phôi mang

Trang 35

nhiều loại tế bào gốc (hoặc thậm chí thành một cơ thể hoàn chỉnh nếu như sự phát triển theo đúng thời gian cần thiết, như trường hợp của Cừu Dolly) Kỹ thuật

này được gọi là nhân dòng vô tính Sản phẩm của nó tạo ra hoàn toàn là bản

coppy từ bản gốc Như vậy khâu đầu tiên cho việc tạo ra những tế bào gốc là cần phải tạo nên những tế bào phôi, từ đó mới tách ra được các tế bào gốc khác nhau Để tạo ra được các tế bào phôi, các nhà khoa học dùng nhiều cách, song ba cách chúng tôi giới thiệu sau đang được sử dụng phổ biến (xem hình1 4)

Trong kỹ thuật cắt, nối, ghép (cấy gen) người ta tạo nên những tế bào

khác với “bản gốc”, tuy nhiên nó phức tạp hơn, và cũng mạo hiểm hơn Quá trình này thông qua ba khâu chủ yếu :

Tách DNA nhiễm sắc thể của tế bào cho và tách plasmid ra khỏi tế bào Cắt và nối DNA của tế bào cho và DNA plasmid tạo DNA tái tổ hợp Chuyển DNA tái tổ hợp vào tế bào nhận, làm cho gen ghép biểu hiện

(Các bước này được mô tả trong hình 1.5)

Sau khi đã hoàn thành một tái tổ hợp gen, cần phải chuyển DNA tái tổ hợp vào tế bào nhận với những mục đích và phương pháp khác nhau, song những phương pháp sau hiện đang được dùng khá phổ biến

Vi tiêm

Nó được sử dụng chủ yếu trong động vật DNA được bơm với một cái kim nhỏ và sắc vào hạt nhân của một tế bào Thông thường nó sẽ làm giàu thêm cho trứng trước khi đặt vào tử cung, nơi mà tế bào được tiêm DNA có thể phát triển bình thường Tuy nhiên, công việc này còn gặp nhiều thất bại vì thường hiếm khi chúng ta đạt được những đặc điểm mong muốn

Bắn đạn đạo

Phương pháp này thường được sử dụng đối với cây Người ta dùng những hạt nhỏ của vàng hay titan bao bọc DNA rồi bắn bằng những thiết bị như súng

Trang 36

đến những tế bào cây Quá trình này sẽ có khả năng cho vài hạt vi mô được bắn vào kết hợp với nhiễm sắc thể và từ đó làm biến đổi di truyền của cây

Vectơ

Nó được sử dụng trong cả cây và động vật Nó cần đến một vi khuẩn hay virút mang một gen lựa chọn vào trong đối tượng Trong sử dụng cho cây, nó thường sử dụng những vi khuẩn tìm thấy trong đất và nếu chúng lan sang cây (có thể theo con đường rễ cây) sẽ gây ra những hiệu quả biến đổi

Một điểm nên lưu ý là khi các gen được đưa vào tế bào của đối tượng,

người ta thường kèm theo một gen đánh dấu nhằm theo dõi hiệu quả của những

biến đổi gen8 Phương pháp dùng gen đánh dấu như vậy đã gây nên những lo lắng về những tác hại có thể gây ra, từ đó có những tranh luận gay gắt trong giới khoa học và công chúng

Các kỹ thuật di truyền cần phải dựa trên những hiểu biết rõ ràng về cấu trúc, chức năng của các gen nằm trên nhiễm sắc thể Điều này có nghĩa là cần

phải biết được vị trí, trình tự xắp xếp (sequencing) các nucleotide cũng như chức

năng của mỗi gen trong mối quan hệ tương tác giữa chúng Yêu cầu này là nguyên nhân cho sự xuất hiện các chương trình giải mã các bộ gen, trong đó đặc biệt phải kể đến dự án giải mã bộ gen con người HGP Sự hoàn thành bản đồ bộ gen người mới qua bước đầu tiên, qua đó xác định được vị trí của các gen (bản đồ gen) Tuy nhiên, còn rất nhiều điều các nhà khoa học chưa hiểu được, trước hết là sự tương tác các gen như thế nào trong một cơ thể sống

Với những kỹ thuật như vậy, việc ứng dụng y-sinh học hiện đại đang đem lại những lợi ích hết sức to lớn song cũng tiềm ẩn trong đó những mạo hiểm

8 Thông thường, một gen kháng cự kháng sinh kanamicin thường được sử dụng Gen mong muốn thường được chuyển cùng với gen kháng cự kanamicin vào tế bào Theo tiến trình, tế bào chuyển gen sẽ được đặt trong môi trường chứa kháng sinh kanamicin Nếu tế bào đã có sự thay đổi di truyền, tức là nó đã chấp nhận những gen được chuyển vào, nó sẽ tồn tại, ngược lại nó sẽ chết

Trang 37

không nhỏ Để có thêm cơ sở xem xét sau này, chúng tôi xin lướt qua một số điểm làm nổi bật tính chất hai mặt này của y-sinh học hiện đại

Như chúng tôi đã nói, những ứng dụng của di truyền học là một trong những nhân tố quyết định cho sự phát triển y-sinh học hiện đại Trước hết, nó

giúp cho y học nâng cao khả năng chẩn đoán y học Sự xuất hiện khả năng chẩn đoán sớm những bệnh di truyền đã tạo nên một ngành mới về y học dự phòng

Khả năng dựa vào những dấu hiệu di truyền của bộ gen người để phát hiện đặc

điểm của cá thể là cơ sở tạo nên ngành y học tội phạm

Người ta cũng ứng dụng những kỹ thuật mới của y-sinh học hiện đại cho việc sản xuất thuốc Thông qua việc sao chép, lắp ghép gen, người ta có thể tạo

ra các sinh vật có khả năng sinh ra các hóa chất đặc biệt Chẳng hạn, kỹ thuật tạo dòng các gen cho phép sản xuất nhiều loại protein khác nhau không những với số lượng lớn, mà còn có thể biến đổi chất lượng protein Với phương pháp này, nhiều

chất đặc biệt được sản xuất không chỉ với số lượng lớn mà còn rất rẻ so với việc sử dụng các phương pháp truyền thống Thậm chí, với kỹ thuật tạo dòng các gen, người ta có thể tung ra thị trường rất nhiều loại lương thực, thực phẩm có tác dụng để phòng bệnh Đó là những cây trồng, vật nuôi giàu các loại vitamin thiết yếu nhưng thường thiếu trong cơ thể, hoặc những loại cây chứa sa ün một số kháng sinh, vắc-xin ngừa bệnh, v.v

Nhưng những tiềm năng đặc biệt của việc ứng dụng những kỹ thuật di truyền trong y học hiện đại là khả năng chữa trị những bệnh dựa trên các liệu pháp gen Nhờ hiểu được cấu trúc và chức năng của gen, người ta có thể đoán ra những nguyên nhân của bệnh đến từ một số gen nào đó, từ đó dùng những liệu pháp gen “sửa chữa” chúng để tạo nên một cơ thể hoàn hảo Việc sử dụng những liệu pháp gen hơn hẳn việc sử dụng thuốc bởi nó “diệt” tận gốc những nguyên nhân gây bệnh trong cơ thể người

Trang 38

Đó chỉ là một số lợi ích chủ yếu của y-sinh học hiện đại mang lại cho cuộc sống con người Nhưng cũng chính trong những ứng dụng mang lại lợi ích to lớn đó, y-sinh học hiện đại cũng tiềm ẩn bên trong những mạo hiểm không nhỏ

Trước hết là những mạo hiểm về môi trường từ việc tạo ra các sinh vật biến đổi gen để phục vụ việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ con nguời Việc cải

biến những gen cho các loại sinh vật nhằm đem lại những chất đặc biệt trước hết cần phải có sự thay đổi những hệ gen tự nhiên Hệ quả của việc thay thế này là có thể làm thay đổi những tính chất cân bằng vốn có của các loại cây trồng và vật nuôi, làm thay đổi cơ cấu tự nhiên vốn có của hệ động thực vật Từ đó, một câu hỏi đặt ra là liệu thế cân bằng sinh thái có bị xáo trộn gây nên những nguy cơ tiềm ẩn cho môi trường hay không?

Thứ hai là những mạo hiểm cho sức khoẻ con người trong việc sử dụng các

chế phẩm từ sinh vật biến đổi gen Mặc dù nhờ việc sử dụng các sinh vật biến đổi gen mà người ta có thể có những thuốc vừa rẻ, vừa hiệu quả cao, song việc sử dụng những chế phẩm có gốc là những gen biến đổi rất có thể gây nên những hậu quả lâu dài cho cơ thể Cho đến nay, câu trả lời vẫn chưa rõ ràng bởi không có các bằng chứng đủ sức thuyết phục để khẳng định những nguy hiểm cũng như tính vô hại của các loại chế phẩm từ các loài sinh vật đó

Mạo hiểm hơn cả là việc can thiệp bằng những liệu pháp di truyền trong việc chữa trị Trước hết là sự không chắc chắn của những kỹ thuật có thể dẫn đến hậu quả thảm khốc cho sức khoẻ con người Sau nữa là những biến đổi di truyền trên tế bào mầm sẽ được truyền cho tất cả các thế hệ sau Nhiều người cho rằng biết đâu những gen được những đánh giá của các nhà nghiên cứu cho là tốt trong điều kiện hiện nay sẽ trở thành bất lợi trong điều kiện tương lai, do đó không thể có “gen tốt” hay “gen xấu” Những mạo hiểm như vậy thật khó lường trước

Trang 39

Những phân tích trên đã cho chúng ta có được bức tranh khái quát nhất về bản chất của y-sinh học hiện đại cũng như những lợi ích và mạo hiểm tiềm tàng của nó Qua bức tranh khái quát đó, chúng ta có thể khẳng định y-sinh học hiện đại là một ngành khoa học có tính chất đặc biệt Và chính tính chất đặc biệt đó đã làm cho nó có quan hệ không thể tách rời với những giá trị văn hóa

Khác với các khoa học tự nhiên khác, y-sinh học là khoa học hướng trực tiếp đến sự sống, trong đó đặc biệt là con người Mặc dù đối tượng của nó là khía cạnh sinh vật của con người song, trong bản chất của mình, con người là sự thống nhất giữa cái sinh học và cái xã hội Vì vậy, khi nghiên cứu con người nó không thể không đề cập đến bản chất xã hội của con người, bên cạnh những yếu tố sinh học Như thế có nghĩa là, nếu như các khoa học tự nhiên khác có thể ở mức nào đó không cần đến yếu tố giá trị thì y-sinh học mỗi bước phát triển của mình đều phải tính đến những ảnh hưởng của nó có thể xảy ra đối với hệ thống giá trị của con người Như vậy, ngay trong đặc trưng vốn có của mình, y-sinh học đã có sự gắn bó chặt chẽ với hệ thống giá trị văn hóa

Hơn nữa, trong bước phát triển hiện nay, với khả năng vượt qua giới hạn của mô tả sự sống để vươn tới khả năng điều khiển sự sống, đã làm cho những ứng dụng của y-sinh học hiện đại trở thành môt trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến sức khỏe con nguời Mặt khác, xét về khía cạnh văn hoá, những nghiên cứu và ứng dụng đó đang ngày càng đụng chạm mạnh mẽ đến rất nhiều các giá trị truyền thống đã tồn tại hàng ngàn năm nay Điều này càng gây nên sự quan tâm sâu rộng của toàn xã hội, không chỉ từ khía cạnh bảo vệ và chăm sóc sức khỏe con nguời mà còn từ khía cạnh văn hoá Trong điều kiện đó, các nghiên cứu và ứng dụng của y-sinh học hiện đại không còn thuần tuý là các quá trình khoa học mà đang ngày càng mang ý nghĩa của một quá trình văn hoá – xã hội Tính chất đặc biệt này đã khiến cho mối quan hệ giữa y-sinh học hiện đại và hệ

Trang 40

thống giá trị văn hoá vốn đã gắn bó lại càng thêm gắn bó hơn Điều này phần nào cho thấy tính tất yếu của mối quan hệ giữa y-sinh học hiện đại và hệ thống giá trị văn hóa xuất phát từ chính bản chất của y-sinh học hiện đại

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Những khái quát chung mà luận án trình bày trong chương 1 có thể tóm tắt trong những điểm chính sau đây:

1 Văn hoá là khái niệm phản ánh những năng lực bản chất người trong tất cả những dạng hoạt động khác nhau của con người, và là hệ thống những giá trị người được kết tinh trong thế giới những sản phẩm do con người sáng tạo ra, giúp cá nhân và xã hội điều chỉnh các hoạt động đa dạng nhằm tạo nên sự ổn định, cân

bằng và phát triển trong những môi trường nhất định

Hệ thống giá trị văn hóa là tổ hợp các giá trị được xếp theo những nguyên tắc nhất định phản ánh những đánh giá lý tưởng của con người về cái có ý nghĩa quý giá đối với cuộc sống, do đó nó đóng vai trò là nền tảng tinh thần và động lực cho sự phát triển xã hội

2 Y-sinh học hiện đại là ngành khoa học sử dụng sinh học hiện đại vào việc nghiên cứu và ứng dụng để phục vụ việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho con nguời

Đặc điểm chủ yếu nhất của y-sinh học hiện đại là: Sự kết hợp với các ngành khoa học tự nhiên khác trong đó đặc biệt là sinh học hiện đại đã tạo nên bộ mặt của y-sinh học hiện đại

Trên cơ sở ứng dụng sinh học phân tử và di truyền, hàng loạt các kỹ thuật mới

ra đời đã cho phép y-sinh học hiện đại nắm giữ những tiềm năng to lớn nhưng cũng đầy mạo hiểm đối với cuộc sống con người Đó cũng chính là một trong các nguyên nhân quan trọng khiến y-sinh học hiện đại không chỉ còn thuần túy là các

Ngày đăng: 11/07/2021, 16:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm