1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu x + bộ phận cơ thể người trong tiếng việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận (so sánh với tiếng anh)

196 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cấu Trúc Ngữ Nghĩa Của Kết Cấu X + Bộ Phận Cơ Thể Người Trong Tiếng Việt Dưới Góc Nhìn Của Ngôn Ngữ Học Tri Nhận (So Sánh Với Tiếng Anh)
Tác giả Trần Trung Hiếu
Người hướng dẫn PGS, TS Trịnh Sâm
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu
Thể loại Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 4,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Những nghiên cứu cụ thể về ngôn ngữ học tri nhận Bên cạnh các công trình nghiên cứu tổng quan trên đây còn có các công trình khác đi sâu vào nghiên cứu cụ thể, chi tiết

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trần Trung Hiếu

CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU X + BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG TIẾNG

VIỆT DƯỚI GÓC NHÌN CỦA NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN

(SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH) Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu

Mã số: 9222024

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trần Trung Hiếu

CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU X + BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG TIẾNG

VIỆT DƯỚI GÓC NHÌN CỦA NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN

(SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH) Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu

Mã số: 9222024

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS, TS Trịnh Sâm PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP:

1 GS, TS Nguyễn Văn Hiệp

2 PGS, TS Phạm Hùng Việt PHẢN BIỆN:

1 PGS, TS Lê Kính Thắng

2 PGS, TS Hoàng Quốc

3 TS Trần Thanh Nguyện

Trang 4

Thành phố Hồ Chí Minh - 2020

Trang 5

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS, TS Trịnh Sâm, người hướng dẫn khoa học của tôi, đã dành hết những tâm sức và trí tuệ để hướng dẫn tôi hoàn thành Luận án của mình

Thứ đến, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Cô Huỳnh Thị Hồng Hạnh, Trưởng Bộ môn Ngôn ngữ học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu cũng như những kinh nghiệm trong nghiên cứu, đồng thời đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành Luận án của mình

Tôi cũng xin trân trọng dành sự tri ân đặc biệt đến Ban Giám hiệu Trường Đại học An ninh nhân dân, nơi tôi đang công tác, đã tạo những điều kiện hết sức thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu; cảm ơn các Thầy Cô Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM, Phòng Sau đại học và đặc biệt là Bộ môn Ngôn ngữ học đã dành cho tôi những điều kiện và sự giúp đỡ thuận lợi nhất trong quá trình học tập, nghiên cứu, cũng như là quá trình bảo vệ Luận án Tiến sĩ tại Trường Sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận án

Mặc dù đã cố gắng hoàn thiện Luận án bằng tất cả khả năng của mình, tuy nhiên, vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những đóng góp quý báu của Quý Thầy Cô và đồng nghiệp Xin chân thành cảm ơn

Trang 6

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng mình và không sao chép của bất kỳ ai Tất cả các tư liệu khảo sát cũng như các kết quả nghiên cứu đều là những sản phẩm khoa học của cá nhân và chưa từng được công cố trong bất kỳ công trình nào khác Nội dung của Luận án có tham khảo và sử dụng các ngữ liệu trích dẫn đúng theo quy định

Trần Trung Hiếu

Trang 7

DẪN NHẬP 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu đề tài 7

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới .7

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 13

1.1.3 Nhận xét 17

1.2 Cơ sở lý luận của luận án 18

1.2.1 Ý nghĩa của từ và sự đa nghĩa (Word meaning and polysemy) 18

1.2.2 Lý thuyết nghiệm thân và cơ thể người (The theory of embodiment and body organs) 20

1.2.3 Kết cấu cố định dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận (Idiomatic structures under the cognitive perspective) .21

1.2.4 Sự tương tác ẩn - hoán dụ ý niệm (The interaction bewtween conceptual metaphors and metonymies) 30

1.3 Tiểu kết 38

CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU “X + BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI” TIẾNG VIỆT 39

2.1 Tổng quan về khối ngữ liệu khảo sát 39

2.1.1 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể người” tiếng Việt 39

2.1.2 Đặc điểm chung của lớp danh từ chỉ bộ phận cơ thể người tiếng Việt 41

2.1.3 Phân chia lớp từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người tiếng Việt 41

2.2 Hình thức của kết cấu “X + bộ phận cơ thể người” tiếng Việt 45

2.2.1 Yếu tố X 45

2.2.2 Trật tự của kết cấu “X + bộ phận cơ thể người” tiếng Việt 49

2.3 Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu “X + bộ phận cơ thể người” tiếng Việt 50

2.3.1 Ẩn dụ ý niệm 50

2.3.2 Hoán dụ ý niệm 71

2.4 Một số tương tác thường gặp giữa ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm trong tiếng Việt 87

2.4.1 Ẩn dụ từ hoán dụ (metaphor from metonymy) 87

2.4.2 Hoán dụ bên trong ẩn dụ (metonymy within metaphor) 89

Trang 8

CHƯƠNG 3: CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU “X + BỘ PHẬN CƠ

THỂ NGƯỜI” TIẾNG ANH 93

3.1 Tổng quan kết cấu “X + bộ phận cơ thể người” tiếng Anh 93

3.1.1 Khái niệm của kết cấu “X + bộ phận cơ thể người” tiếng Anh 93

3.1.2 Hình thức của kết cấu “X + bộ phận cơ thể người” tiếng Anh 93

3.2 Số lượng kết cấu có từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người tiếng Anh 94

3.3 Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu “X + bộ phận cơ thể người” tiếng Anh 95

3.3.1 Ẩn dụ ý niệm 96

3.3.2 Hoán dụ ý niệm 113

3.4 Một số tương tác thường gặp giữa ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm trong tiếng Anh 132

3.4.1 Ẩn dụ từ hoán dụ (metaphor from metonymy) 132

3.4.2 Hoán dụ bên trong ẩn dụ (metonymy within metaphor) 134

3.5 Tiểu kết 135

CHƯƠNG 4: SO SÁNH CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU “X + BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI” TIẾNG VIỆT VỚI TIẾNG ANH 137

4.1 Hình thức của kết cấu “X + bộ phận cơ thể người tiếng Việt và tiếng Anh 137

4.1.1 Điểm tương đồng 137

4.1.2 Điểm khác biệt 137

4.2 Số lượng kết cấu và từ chỉ bộ phận cơ thể tiếng Việt và tiếng Anh 137

4.3 Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu “X + bộ phận cơ thể người” tiếng Việt và tiếng Anh 142

4.3.1 Sự tương đồng trong cách tri nhận của người Việt và người Anh 142

4.3.2 Sự khác biệt trong tri nhận của người Việt và người Anh 154

4.4 Tiểu kết 163

KẾT LUẬN 165

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 171

Trang 9

STT TÊN HÌNH VẼ TRANG Hình 1.1 Mô hình lăng trụ về mối quan hệ và quá trình tạo nghĩa

của kết cấu cố định

24

Hình 1.2 Sự kích hoạt hoán dụ ý niệm bên trong (miền đích) của ẩn

dụ ý niệm

34

Hình 1.3 Sự đồng tạo của ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm trong

cùng một biểu thức ngôn ngữ

34

Hình 1.4 Sự mở rộng HDYN bên trong nguồn của ADYN 35 Hình 1.5 Sự mở rộng HDYN bên trong đích của ADYN 35

Hình 2.1 Mô hình tri nhận lý tưởng CON NGƯỜI VIỆT 73 Hình 2.2 Mô hình tri nhận lý tưởng CHỨC NĂNG CỦA BỘ PHẬN

CƠ THỂ trong tiếng Việt

73

Hình 2.3 HDYN bên trong ADYN “BỤNG” LÀ VẬT CHỨA 89 Hình 2.4 HDYN bên trong ADYN “ĐẦU” LÀ VẬT CHỨA 90 Hình 2.5 Sự mở rộng HDYN bên trong đích của ADYN TRÍ TUỆ,

TRI THỨC LÀ ÁNH SÁNG

90

Hình 3.1 Mô hình tri nhận lý tưởng CON NGƯỜI LÀ CON VẬT

trong tiếng Anh

104

Hình 3.2 Mô hình tri nhận lý tưởng TRÍ TUỆ LÀ HIỆN TƯỢNG

TỰ NHIÊN trong tiếng Anh

Hình 3.5 ADYN NHIỆT ĐỘ LÀ CẢM XÚC TỪ HDYN NHIỆT

ĐỘ LẠNH CỦA CƠ THỂ THAY CHO SỰ BUỒN BÃ

133

Hình 3.6 ADYN TÍCH CỰC/NHIỀU LÀ HƯỚNG LÊN, TIÊU

CỰC/ÍT LÀ HƯỚNG XUỐNG TỪ HDYN BIỂU DÁNG

ĐI XUỐNG CỦA CƠ THỂ THAY CHO SỰ BUỒN BÃ

133

Hình 3.7 SỰ MỞ RỘNG HDYN BÊN TRONG ĐÍCH CỦA

ADYN CON NGƯỜI LÀ CON VẬT

134

Hình 3.8 SỰ MỞ RỘNG HDYN BÊN TRONG ĐÍCH CỦA ADYN

TRÁI TIM LÀ VẬT CHỨA

135

Trang 10

STT TÊN BẢNG TRANG Bảng 2.1 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể người” tiếng Việt

(xếp theo thứ tự ABC tên gọi của từ chỉ bộ phận cơ thể)

39

Bảng 2.2 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể người” tiếng Việt

(xếp theo thứ tự số lượng giảm dần)

40

Bảng 2.3 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể bên trong” tiếng Việt

(xếp theo thứ tự số lượng giảm dần)

42

Bảng 2.4 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể bên ngoài” tiếng Việt

(xếp theo thứ tự số lượng giảm dần)

42

Bảng 2.5 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể vùng đầu” tiếng Việt

(xếp theo thứ tự số lượng giảm dần)

43

Bảng 2.6 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể vùng bụng” tiếng Việt

(xếp theo thứ tự số lượng giảm dần)

44

Bảng 2.7 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể vùng ngực” tiếng Việt

(xếp theo thứ tự số lượng giảm dần)

44

Bảng 2.8 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể thuộc tứ chi” tiếng Việt

(xếp theo thứ tự số lượng giảm dần)

Bảng 3.2 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể người” tiếng Anh

(xếp theo thứ tự số lượng giảm dần)

95

Bảng 4.1 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể người” tiếng Việt và

tiếng Anh (xếp theo thứ tự số lượng giảm dần)

138

Bảng 4.2 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể người ở bên ngoài”

tiếng Việt và tiếng Anh (xếp theo thứ tự số lượng giảm dần)

139

Bảng 4.3 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể người ở bên trong”

tiếng Việt và tiếng Anh (xếp theo thứ tự số lượng giảm dần)

139

Bảng 4.4 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể người vùng đầu” tiếng

Việt và tiếng Anh (xếp theo thứ tự số lượng giảm dần)

140

Bảng 4.5 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể người vùng bụng”

tiếng Việt và tiếng Anh (xếp theo thứ tự số lượng giảm dần)

140

Bảng 4.6 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể người vùng ngực”

tiếng Việt và tiếng Anh (xếp theo thứ tự số lượng giảm dần)

141

Bảng 4.7 Số lượng kết cấu “X + bộ phận cơ thể người vùng tứ chi”

tiếng Việt và tiếng Anh (xếp theo thứ tự số lượng giảm dần)

141

Trang 12

ẩn dụ ý niệm

bản dịch (gốc)

bộ phận cơ thể người

danh từ

đại học quốc gia

động từ

giới từ

Hồ Chí Minh

hoán dụ ý niệm

ngôn ngữ học

ngôn ngữ học tri nhận

ngữ danh từ

ngữ động từ

ngữ giới từ

ngữ trạng từ

ngữ tính từ

nhà xuất bản

DT ĐHQG

ĐT

GT HCM HDYN NNH NNHTN NDT NĐT NGT NTrT NTT NXB

td

TT TP.HCM

Trang 13

DẪN NHẬP

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong tiếng Việt, có rất nhiều kết cấu thuộc dạng “X + bộ phận cơ thể người (BPCTN)” Chúng là một đơn vị ngôn ngữ có hình thức cấu tạo riêng và có tầm quan trọng trong cấu tạo ngữ tiếng Việt Khái niệm của ngữ cố định và đặc điểm của nó trong sự phân biệt với các đơn vị ngôn ngữ khác trong tiếng Việt cũng là một chủ đề thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam Các từ chỉ BPCTN là một trường từ vựng phong phú trong tiếng Việt Theo Nguyễn Văn Chiến (2004; tr.256-259), cách gọi tên các BPCTN trong tiếng Việt có nguồn gốc dựa trên cơ sở văn hóa cái mà được hình thành dựa trên hai nguyên lý tương tác căn bản sau đây: con người là một tiểu vũ trụ trong mối quan hệ với đại vũ trụ nhưng lại là vũ trụ trung tâm; con người tự nhận thức chính bản thân mình trong tính trung tâm của nó – tự giải phẫu cơ thể mình rồi hướng ra đại vũ trụ và ngược lại, nhìn từ đại vũ trụ để nghiệm ra hay soi rọi chính mình trong quá trình nhận thức ấy Nguyễn Văn Chiến cũng liệt kê các đặc trưng về hình thức và cấu trúc ngữ nghĩa của trường từ vựng chỉ BPCTN tiếng Việt như sau: thứ nhất, chúng đều

có ý nghĩa định danh biểu vật các BPCTN từ trên xuống dưới, từ trái qua phải và từ ngoài vào trong cơ thể; thứ hai, dựa trên cơ chế chuyển nghĩa, các từ vựng chỉ BPCTN tiếng Việt đều có thêm một hay nhiều ý nghĩa biểu trưng (là ý nghĩa xã hội); thứ ba, cái ý nghĩa xã hội này nhiều khi lại làm cho từ chỉ BPCTN chuyển loại hẳn thành một từ đồng âm khác nghĩa; thứ tư, một số lượng lớn các từ chỉ BPCTN với ý nghĩa biểu trưng của mình đã kết hợp với nhau tạo thành những từ ghép có từ hai yếu tố trở lên, có tính biểu trưng cao, chứa đựng những đặc trưng văn hóa dân tộc; thứ năm, một số lớn các từ chỉ BPCTN đã trở thành các vật chiếu để cấu tạo các

từ vựng mới, biểu chỉ những khái niệm mới, rộng lớn hơn, liên quan đến thế giới khách quan của con người Còn theo Nguyễn Đức Tồn (2002; tr.405-421), hiện tượng trong tiếng Việt lấy một số bộ phận cơ thể, thường là cơ quan nội tạng, để biểu trưng cho thế giới tâm lý, tình cảm của con người Việt là một hiện tượng khá lý thú Theo ông, người Việt hết sức coi trọng trục tâm – thận và lấy “lòng” làm biểu tượng cho tình cảm nói chung, tình yêu nói riêng Thế giới tâm lý, tình cảm của người Việt được biểu trưng bằng BPCTN là hết sức đa dạng và phong phú, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Nguyễn Đức Tồn cho rằng, về phương diện lý thuyết, mỗi dân tộc theo quan niệm của mình có thể gán một số hiện tượng tâm lý nào đó cho một số BPCTN nhất định và ngược lại, cùng một BPCTN có thể được

Trang 14

phân công có chức năng biểu trưng cho những hiện tượng tâm lý hay tình cảm khác nhau Ông đã thống kê được trong tiếng Việt đã sử dụng 397 đơn vị để gọi tên 289 BPCTN khác nhau (2002; tr.20-54)

Còn theo Kovecses (2010; tr.18-54), các BPCTN là một miền nguồn lý tưởng cho chúng ta, thông qua phép ẩn dụ, để có thể hiểu được thấu đáo những miền đích trừu tượng Kovecses dẫn số liệu từ công trình nghiên cứu được thực hiện bởi một học trò của ông là Réka Benczes, trong đó thống kê rằng trong số 12.000 thành ngữ tìm kiếm được có sử dụng phương tiện ẩn dụ thì đã có hơn 2.000 thành ngữ có bao gồm BPCTN Điều này cho thấy rằng, một số lượng rất lớn các ẩn dụ ý niệm đến từ trải nghiệm thực tế của chúng ta với cơ thể con người

Ngôn ngữ học tri nhận (NNHTN) là một ngành học đang phát triển tại Việt Nam trong thời gian gần đây và hứa hẹn vẫn sẽ còn nhiều tiềm năng to lớn mà trong chừng mực nào đó chúng ta chưa thể nghiên cứu hết được NNHTN, cũng giống như các ngành khoa học ngôn ngữ khác, nghiên cứu để có thể miêu tả và giải thích một cách chính xác nhất tính hệ thống của ngôn ngữ, cấu trúc và chức năng của nó, cũng như trả lời cho câu hỏi bằng cách nào mà chức năng này được ngôn ngữ thể hiện Tuy nhiên, lý do quan trọng nhất để khởi nguồn cho sự xuất hiện của NNHTN

đó là nó phải tìm ra câu trả lời cho câu hỏi liệu ngôn ngữ có phản ánh các mô hình

tư duy của chúng ta hay không? Liệu ngôn ngữ có phản ánh những thuộc tính và những nét khu biệt cơ bản trong kiểu mẫu tư duy của con người hay không? Nói cách khác, nghiên cứu ngôn ngữ dưới cách nhìn của NNHTN phải liên hệ với sử dụng, với cách thức mà con người ý niệm hóa và phạm trù hoá Một lý do nữa làm cho NNHTN có điểm riêng so với các ngành khoa học ngôn ngữ khác đó là yêu cầu giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa ngôn ngữ với tư duy và các trải nghiệm của con người trong thế giới tự nhiên Để giải quyết những giả thuyết đã đặt ra, NNHTN đã dựa trên, xây dựng và phát triển một số các nguyên lý cơ bản nhất bao gồm nghiên cứu cấu trúc và tổ chức của ngôn ngữ (hay còn được gọi là Ngữ pháp học tri nhận), nghiên cứu các khía cạnh của tư duy, tổ chức và cấu trúc của ý niệm (hay còn được gọi là Ngữ nghĩa học tri nhận)

Vì các lý do đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu X + bộ phận cơ thể người” trong tiếng Việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận (so sánh với tiếng Anh)” để làm hướng nghiên cứu cho luận án của mình

Trang 15

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là vận dụng các lý thuyết của NNHTN để tìm hiểu và phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt và tiếng Anh; phân tích các ánh xạ ý niệm của các ẩn dụ ý niệm (ADYN) và hoán dụ ý niệm (HDYN) trong các kết cấu này; tìm ra cơ chế tri nhận và mô hình tri nhận của các ADYN và HDYN; mối tương tác giữa ADYN và HDYN trong phạm vi được khảo sát; so sánh để góp phần chỉ ra những sự tương đồng và khác biệt giữa hai dân tộc Việt và Anh trong tư duy và đặc trưng văn hóa

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án thể hiện ở những vấn đề được đặt ra qua các câu hỏi nghiên cứu sau đây:

a Các mô hình ánh xạ, cơ chế tri nhận và mô hình tri nhận của các ADYN và

HDYN trong các kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt và tiếng Anh được biểu hiện cụ

thể như thế nào?

b Ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm có vai trò như thế nào trong quá trình ý

niệm hóa của các kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt và tiếng Anh?

c Mô hình tri nhận và đặc trưng văn hóa dân tộc của người Việt và người Anh

có gì khác biệt?

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu về kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt; kết cấu “X + BPCTN” tiếng Anh; ADYN và HDYN trong các kết cấu này

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án tiến hành khảo sát ngữ liệu là kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt và tiếng Anh Về giới hạn nghiên cứu, trên ngữ liệu tiếng Việt, đối tượng khảo sát của luận án là các kết cấu có hai hình tiết; bên cạnh đó, trong khi miêu tả ngữ liệu để phân tích, luận án có kết hợp liên hệ đến các kết cấu có bốn hình tiết, thực chất là các ngữ đoạn hai hình tiết kép về mặt kết cấu và có quan hệ với nhau về mặt nghĩa

để biện giải Còn trong tiếng Anh, ngữ liệu nghiên cứu là các kết cấu “X + BPCTN” bao gồm hai hoặc nhiều đơn vị từ trong đó bao gồm yếu tố X kết hợp với một từ chỉ BPCTN và được cấu trúc thành một cụm từ hoặc mệnh đề

Ngoài ra, luận án chỉ lựa chọn tập trung khảo sát một nhóm các BPCTN có liên quan, chứ không khảo sát hết toàn bộ các BPCTN thuộc lục phủ, ngũ tạng theo

Trang 16

giải phẫu sinh lý học Bên cạnh đó, để đảm bảo tính điển mẫu và xác suất trong thống kê, luận án chỉ thống kê và nghiên cứu các BPCTN (cả trong tiếng Việt lẫn tiếng Anh) có tần suất xuất hiện tương đối phù hợp

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu chính bao gồm:

- Phương pháp miêu tả: phân tích các miền ý niệm nguồn và đích để phân tích ngữ nghĩa tri nhận của các yếu tố chỉ BPCTN trong kết cấu

- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: là phương pháp đặc trưng để nghiên cứu ngữ nghĩa, cấu trúc và cơ chế xây dựng ngữ nghĩa của đối tượng

- Phương pháp đối chiếu trường từ vựng – ngữ nghĩa: là phương pháp phân tích trường từ vựng – ngữ nghĩa của kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt và tiếng Anh,

từ đó tìm ra những tương đồng và khác biệt trong văn hoá, tư duy của người Việt và người Anh

- Phương pháp đối chiếu: đây là một phương pháp không thể thiếu để tìm ra những tương đồng và khác biệt trong văn hoá, tư duy của người Việt và người Anh: lấy tiếng Việt làm trung tâm của nghiên cứu và phân tích, còn tiếng Anh là ngôn ngữ được liên hệ để so sánh, đối chiếu

4.2 Nguồn ngữ liệu

- Để có tư liệu nghiên cứu, luận án đã tiến hành khảo sát và thu thập ngữ liệu

từ 29 tác phẩm văn chương nhiều tập, trong đó có 18 tác phẩm văn chương Việt Nam, 3 tác phẩm văn chương Anh (Mỹ) và 8 tác phẩm dịch (bao gồm 3 tác phẩm tiếng Anh (Mỹ) được dịch ra tiếng Việt và 5 tác phẩm tiếng Việt được dịch ra tiếng Anh)

- Ngoài ra, luận án còn tiến hành khảo sát và thu thập ngữ liệu từ 8 cuốn Từ điển tiếng Việt và tiếng Anh, bao gồm 2 cuốn tiếng Việt và 6 cuốn tiếng Anh (trong

đó có 4 Từ điển trực tuyến)

- Phần Phụ lục của luận án thống kê 1242 ngữ cảnh trích từ các nguồn ngữ liệu nêu trên; trong đó có 796 ngữ cảnh trích từ các nguồn ngữ liệu tiếng Việt và 446 ngữ cảnh trích từ các nguồn ngữ liệu tiếng Anh

5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

- Luận án góp phần làm rõ lý luận cho khoa học NNHTN, đặc biệt là trong xác định cấu trúc ngữ nghĩa tri nhận của các kết cấu cố định

Trang 17

- Luận án giúp xác định các tiêu chí để nhận diện và phân loại kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt và tiếng Anh; chỉ ra các đặc điểm về hình thức cũng như ngữ nghĩa của kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt và tiếng Anh

- Luận án cung cấp một nguồn ngữ liệu các kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt cũng như tiếng Anh cùng với ngữ nghĩa tri nhận của chúng để có thể sử dụng vào trong giảng dạy tiếng Việt, giảng dạy tiếng Anh hay trong biên soạn từ điển

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

Ngoài các phần Dẫn nhập, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận án gồm 4

chương (158 trang), cụ thể như sau:

Chương 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN (32 trang)

Chương này trình bày về những vấn đề lý luận cơ bản nhất của NNHTN có liên quan đến luận án cụ thể là tổng quan về NNHTN, ý nghĩa của từ và sự đa nghĩa, quan niệm của NNHTN về kết cấu cố định, tri nhận nghiệm thân luận, các cơ chế và mô hình tri nhận ADYN và HDYN và cuối cùng là một số tương tác thường gặp giữa ADYN và HDYN

Chương 2: CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU “X + BỘ PHẬN

CƠ THỂ NGƯỜI” TIẾNG VIỆT (54 trang)

Chương này trên cơ sở khung lý thuyết đã được trình bày trong chương một phân tích các ADYN và HDYN trong các kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt; phân tích các ánh xạ ý niệm và các mô hình tri nhận ADYN và HDYN, cơ sở tri nhận luận của chúng và cách thức mà các BPCTN tiếng Việt đã được ý niệm hóa

Chương 3: CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU “X + BỘ PHẬN

CƠ THỂ NGƯỜI” TIẾNG ANH (44 trang)

Chương này trên cơ sở khung lý thuyết đã được trình bày trong chương một phân tích các ADYN và HDYN trong các kết cấu “X + BPCTN” tiếng Anh; phân tích các ánh xạ ý niệm và các mô hình tri nhận ADYN và HDYN, cơ sở tri nhận luận của chúng và cách thức mà các BPCTN tiếng Anh đã được ý niệm hóa

Chương 4: SO SÁNH CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU “X + BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI” TIẾNG VIỆT VỚI TIẾNG ANH (28 trang)

Chương này, trên cơ sở so sánh và đối chiếu giữa tiếng Việt và tiếng Anh, lấy tiếng Việt làm trung tâm của nghiên cứu và phân tích còn tiếng Anh là ngôn ngữ được liên hệ để so sánh, đối chiếu, luận án so sánh giữa hai ngôn ngữ Việt và Anh,

từ đó, góp phần chỉ ra những sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ cũng

Trang 18

đồng thời là sự tương đồng và khác biệt giữa hai nền văn hóa và tư duy của hai dân tộc Việt và Anh

Kèm theo phần chính văn của luận án là Phụ lục dài 251 trang, gồm 3 tiểu phụ lục: Phụ lục 1 CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU “X + BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI” TIẾNG VIỆT (79 trang), Phụ lục 2 CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA KẾT CẤU “X + BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI” TIẾNG ANH (57 trang) và Phụ lục

3 NGUỒN VÀ NGỮ CẢNH TRÍCH DẪN CỦA CÁC VÍ DỤ TRONG LUẬN ÁN (115 trang)

Trang 19

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận

 Tổng quan về ngôn ngữ học tri nhận

Có thể nói, một trong những công trình đầu tiên giới thiệu về NNHTN và làm cho nó được chính thức thừa nhận như là một ngành khoa học độc lập đó là công

trình Metaphores We Live By do Lakoff và Johnson (1980) nghiên cứu và công bố,

tái bản vào năm 2003 Công trình này cung cấp cho chúng ta những tri thức ban đầu nhưng rất quan trọng của NNHTN, đặc biệt là lý thuyết về ẩn dụ ý niệm, đã đặt nền tảng cho các nghiên cứu về sau như ý niệm, cấu trúc của ý niệm, các loại ẩn dụ ý niệm, nhân cách hóa, hoán dụ ý niệm, bản chất của cấu trúc ẩn dụ ý niệm, cơ sở của cấu trúc ẩn dụ ý niệm v.v

Tiếp sau công trình này thì có các tác giả Langacker (1987) với các công trình

Foundations of Cognitive Grammar Cuốn 1 và 2 trình bày các nội dung lý thuyết về

ngữ pháp học tri nhận cái mà cũng đã đặt nền tảng cho những công trình về sau này Trong đó ông đã chỉ ra rằng, nguyên nhân cơ bản làm xuất hiện các cấu trúc ngữ pháp là các quá trình tri nhận

Về sau đó có nhiều tác giả khác bắt đầu phát triển và nghiên cứu các vấn đề

tổng quan về NNHTN, trong số đó tiêu biểu có Croft và Cruse (2004) với Cognitive Linguistics; Evans và Green (2006) với Cognitive Linguistics: An Introduction hay Geeraerts và Cuyckens (2007) với The Oxford Handbook of Cognitive Linguistics v.v

Croft và Cruse (2004; tr.1-4) cho rằng, NNHTN là một ngành học nghiên cứu

về ngôn ngữ bắt đầu xuất hiện từ những năm 1970 và trở nên phổ biến từ những năm 1980 với rất nhiều những công trình nghiên cứu có liên quan, đầu tiên là về ngữ nghĩa học, cú pháp học và từ vựng học; về sau còn có thêm thụ đắc ngôn ngữ, ngữ âm học và ngôn ngữ học lịch sử

Evans và Green (2006; tr.5) khi trình bày các nghiên cứu tổng quan về NNHTN cũng cho rằng, một trong những lý do quan trọng tại sao chúng ta lại nghiên cứu về NNHTN là vì chúng ta cho rằng, ngôn ngữ chính là những mô hình

tư duy Vì thế, theo quan điểm của NNHTN, nghiên cứu ngôn ngữ chính là nghiên cứu các mô hình ý niệm hoá Điểm khác biệt quan trọng nhất của NNHTN so với

Trang 20

các ngành nghiên cứu ngôn ngữ khác đó là NNHTN thừa nhận rằng ngôn ngữ phản ánh các thuộc tính cơ bản, cụ thể và các nét khu biệt trong sắp xếp của tư duy con người Cũng nghiên cứu về những vấn đề cơ bản nhất, tổng quát nhất về NNHTN, Geeraerts và Cuyckens (2007; tr 3) đã kết luận rằng, NNHTN gắn chặt với khả năng tri nhận phổ quát của con người NNHTN đảm nhận một nhiệm vụ quan trọng

là tiến hành phân tích các cơ sở ý niệm và kinh nghiệm luận của các phạm trù ngôn ngữ học: các cấu trúc ngôn ngữ hình thức được nghiên cứu không phải vì tính tự trị của chúng mà là vì sự phản ánh các cấu trúc ý niệm phổ quát, các nguyên lý của phạm trù hoá, cơ chế xử lý thông tin và các tác động đến từ môi trường và kinh nghiệm luận Vì lý do đó, NNHTN thường quan tâm nghiên cứu các chủ đề bao gồm: đặc điểm cấu trúc hoá của quá trình phạm trù hoá ngôn ngữ (như là tính nguyên mẫu, sự đa nghĩa của từ, các mô hình tri nhận, các hình ảnh tinh thần và ẩn dụ); nguyên tắc hành chức của cấu trúc ngôn ngữ học (như là tính điển dạng và tính tự nhiên); sự phân giới ý niệm giữa cú pháp và ngữ nghĩa học; các điều kiện về mặt kinh nghiệm luận và ngữ dụng học của sử dụng ngôn ngữ; và mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy

Ngoài các tác giả trên đây còn có nhiều tác giả khác cũng nghiên cứu tổng

quan về NNHTN trong số đó có Ibanez và Pena (2005) với Cognitive Linguistics: Internal Dynamics and Interdisciplinary Interaction, Geeraerts (2006) với Cognitive Linguistics: Basic Readings, Ibanez, Dirven, Kristiansen và Achrad (2006) với Cognitive Linguistics: Current Applications and Future Perspectives, Ungerer và Schmid (2006) với An Introduction to Cognitive Linguistics hay Tabakowska, Choinski và Wiraszka (2010) với Cognitive Linguistics in Action From Theory to Application and Back

Bên cạnh các công trình trên đây còn có nhiều bài báo khoa học khác nghiên cứu về NNHTN mà tiêu biểu trong số đó là các bài báo của Ibanez, Sandra và

Cervel (2005) Cognitive Linguistics: Internal Dynamics and Interdisciplinary Interaction và tuyển tập các bài báo khoa học do Ibanez, Dirven, Kristiansen và Achrad (2006) biên tập, Cognitive Linguistics: Current Applications and Future Perspectives cũng đưa ra các quan điểm cụ thể về NNHTN, về nội hàm cũng như là

về các đặc điểm của nó, về những đóng góp mới mà NNHTN có thể mang lại cho ngôn ngữ học Đồng thời với tuyển tập này còn có tuyển tập do Geeraerts (2006)

thực hiện, Cognitive Linguistics: Basic Readings, đã cung cấp những công trình

Trang 21

nghiên cứu mang tính giới thiệu về các khuynh hướng đang phát triển của NNHTN cũng như là tương lai của nó

 Những nghiên cứu cụ thể về ngôn ngữ học tri nhận

Bên cạnh các công trình nghiên cứu tổng quan trên đây còn có các công trình khác đi sâu vào nghiên cứu cụ thể, chi tiết các vấn đề có liên quan quan đến

NNHTN trong đó đáng chú ý là công trình của Fauconnier (1994) Mental Spaces

trình bày lý thuyết về không gian tinh thần, một lý thuyết có vai trò quan trọng trong ngành khoa học NNHTN Thuyết không gian tinh thần là lý thuyết ngữ nghĩa học tri nhận quy định vị trí của ngữ nghĩa trong những biểu tượng tinh thần của người nói và khảo sát những cấu trúc ngôn ngữ như là những nhân tố kích thích người nói sắp xếp các yếu tố trong cấu trúc có liên quan Lý thuyết về không gian tinh thần đã cung cấp cho chúng ta nhiều hiểu biết mới trong NNHTN, giúp soi rọi nhiều hiện tượng ngôn ngữ, trong đó tiêu biểu có phương thức quy chiếu, tính điều kiện, ẩn dụ và tính hợp tố Mô hình không gian tinh thần là một công cụ lý thuyết đắc lực của NNHTN, nó cung cấp cho chúng ta một cách giải thích đúc kết từ việc quan sát các hiện tượng đa dạng, bao gồm cả những hiện tượng hình thức lẫn những hiện tượng ngữ nghĩa

Các công trình nghiên cứu về các mô hình tri nhận ADYN và HDYN, chẳng

hạn như các tác giả Dirven và Pörings (2002) với Metaphor and Metonymy in Comparison and Contrast và Barcelona (2003) với Metaphor and Metonymy At The Crossroads: A Cognitive Perspective Các công trình này đã đi sâu nghiên cứu nội

hàm của các mô hình tri nhận ADYN và HDYN; điểm giống nhau và khác nhau giữa ADYN và HDYN và đáng chú ý hơn nữa là sự tương tác của chúng trên thực

tế Barcelona cho rằng sự liên hệ và tương tác giữa hai cơ chế tri nhận chủ yếu theo lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, ADYN và HDYN, là hết sức phức tạp và trong nhiều trường hợp là không có ranh giới rõ ràng Ông cũng nhấn mạnh thêm rằng, cái khái niệm trung gian ẩn - hoán dụ sẽ khắc phục được một phần khó khăn gây ra bởi sự giới hạn trong nghiên cứu từng loại phạm trù tương ứng Thay vì lúc nào cũng tách biệt giữa ADYN và HDYN, chúng ta cũng có thể suy nghĩ về một phổ AD-HD ý niệm với các trường hợp mờ nghĩa hay có nghĩa không thật sự rõ ràng chen vào trong đó Còn ADYN và HDYN thì có thể được xem như các phạm trù điển dạng ở hai đầu của phổ Ẩn - hoán dụ sẽ làm rõ dãy mờ ở chính giữa phổ; chúng có thể nằm ở gần đầu ADYN hay HDYN hơn của phổ Dirven và Pörings giới thiệu các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trong đó tập trung

Trang 22

đi sâu làm rõ sự khác biệt giữa hai mô hình tri nhận ADYN và HDYN và mối tương tác giữa chúng; trên cơ sở đó đề xuất các mô hình tương tác cụ thể của ADYN và HDYN Các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa kinh nghiệm và nghiệm thân cơ thể người cũng có một vị trí quan trọng trong ngành khoa học NNHTN Trong số đó,

phải kể đến công trình đầu tiên của Lakoff và Johnson (1999), Philosophy In The Flesh: The Embodied Mind And Its Challenge To Western Thought đã cho rằng, tất

cả các phép ẩn dụ trong hệ thống ẩn dụ mà chúng ta đang có đều thể hiện một hiện tượng phổ biến: mỗi một kinh nghiệm là một sự nghiệm thân trong hầu như tất cả các hành vi hay nhận thức của chúng ta, thông qua tương tác tối đa với môi trường sống tự nhiên bằng các bộ phận cơ thể của sự nhận thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, da v.v…) Dựa trên cơ sở của sự trải nghiệm, nhất là sự trải nghiệm từ cơ thể người với thế giới chung quanh, các ý nghĩa được tạo nên và quyết định phương thức con người hiểu biết thế giới; như vậy, cơ sở tri nhận của con người phải được hiểu qua tính nghiệm thân Cùng quan điểm này với Lakoff và Johnson còn có các tác giả Evans và Green (2006; tr.157) khi cả hai đều có đồng quan điểm rằng, cấu trúc ý niệm mang tính nghiệm thân: bản chất của sự cấu thành ý niệm xuất phát từ kinh nghiệm nghiệm thân, do vậy, sự trải nghiệm của cơ thể chính là một trong những yếu tố tạo nên cấu trúc ý niệm, gắn liền và không thể tách rời được với các cấu trúc ý niệm Trong một mô hình tri nhận, các ý niệm sơ đồ hình ảnh là điển hình cho các trường hợp mà kinh nghiệm nghiệm thân đã sinh ra các ý niệm ngữ nghĩa Nói cách khác, tri thức về sự hiểu biết của con người được hình thành thông qua trung gian là các BPCTN Bên cạnh các công trình mang tính tổng quan như trên còn có thể kể đến tuyển tập các bài báo khoa học được biên tập và giới thiệu bởi Geeraerts,

Dirven và Taylor (2007) “Body, Language and Mind - Volume 1: Embodiment”

trình bày những luận điểm khác nhau về mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa trong đó đã cung cấp nhiều kiến thức và các kiến giải cụ thể liên quan đến sự nghiệm thân, cơ sở kinh nghiệm luận của các ý niệm ngôn ngữ, nguồn gốc lịch sử của chủ nghĩa kinh nghiệm luận hay thảo luận sâu về các quan điểm liên quan tới mối quan hệ giữa cơ thể, tư duy và văn hóa

Công trình của Kovecses (2010), Metaphor: A Practical Introduction, là một

công trình nghiên cứu khá toàn diện và chuyên sâu về ADYN bao gồm những lý luận cơ bản nhất về ADYN, về cơ sở tri nhận luận của ADYN, về các ánh xạ ý niệm

và bản chất của ánh xạ ý niệm, về các miền nguồn và đích thông dụng nhất của

Trang 23

ADYN, về HDYN, về các mô hình tri nhận, về tính phổ quát của ADYN và cuối cùng là sự đa dạng và khác biệt về văn hóa trong các ADYN và HDYN

Ngoài các công trình trên đây còn có rất nhiều bài báo khoa học khác trình bày

về các nghiên cứu cụ thể hay ứng dụng lý thuyết của NNHTN Có thể kể đến các công trình đó như bài báo của Fillmore, Kay và O’Connor (1988) “Regularity And Idiomaticity In Grammatical Constructions: The Case of Let Alone”, bài báo của Nunberge, Sag và Wason (1994) “Idioms, Language”, trong đó trên cơ sở đi sâu nghiên cứu chi tiết về cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng học của một cấu trúc cụ thể,

“let alone”, đã đưa ra những quan điểm về tính cố định và tính thành ngữ trong các cấu trúc ngữ pháp

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến từ chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận

Trên thế giới cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về các nội dung có liên quan đến từ chỉ BPCTN dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là liên quan đến mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, giữa ngôn ngữ và tư duy

Trong công trình Culture, Body and Language: Conteptualizations of Internal Organs Across Cultures and Languages, Sharifian, Dirven, Yu và Niemeier (2008)

đã giới thiệu kết quả nghiên cứu của các tác giả khác nhau nghiên cứu về các từ chỉ BPCTN dưới góc nhìn của NNHTN, về biểu trưng ý niệm của từ chỉ BPCTN trong các nền văn hóa khác nhau, về cơ chế tri nhận, mô hình tri nhận, các ánh xạ ý niệm, các miền đích khác nhau mà được miền nguồn là từ chỉ BPCTN ánh xạ đến và đặc biệt là các nghiên cứu có liên quan trong việc chỉ ra những nét đặc thù trong văn hóa, trong tư duy của mỗi dân tộc Trong đó có một số kết quả tiêu biểu sau đây Siahaan đã trình bày mô hình văn hóa của ý niệm “LIVER (gan)” trong tiếng Indonesia Ông chỉ ra rằng, trong văn hóa của người Indonesia, “gan” đóng vai trò

là trung tâm của cảm xúc và các trạng thái tinh thần khác Ông cũng nhấn mạnh rằng, từ “hati”, tương đương với “gan” trong tiếng Anh, không chỉ biểu trưng cho ý niệm “gan” trong văn hóa của người Indonesia mà còn có thể biểu trưng cho các ý niệm như “HEART (tim)” và “MIND (tâm trí)” trong tiếng Anh

Cliff Goddard thì trình bày những nghiên cứu đối chiếu của mình về ngữ nghĩa và tâm lý văn hóa của hai từ chỉ BPCTN “HEART (tim)” trong tiếng Anh và

từ “hati”, tương đương với “gan”, trong tiếng Mã lai Ông đã khẳng định rằng, trong tiếng Anh, “HEAD (đầu)” được xem như là biểu tượng cho lí trí, suy nghĩ và tư duy

Trang 24

của người Anh; và đối lập với nó là ‘tim” được xem như là biểu tượng cho cảm xúc của người Anh

Ibarretxe-Antuñano thì giới thiệu công trình nghiên cứu của mình về quá trình ý niệm hóa bốn cơ quan nội tạng trong ngôn ngữ xứ Basque ở Tây Ban Nha bao gồm “BIHOTZ (heart - tim)”, “GIBEL (liver – gan)”, “URDAIL (stomach - dạ dày)” và “HESTE (intestine - ruột) và cách sử dụng chúng trong các từ ghép và các biểu thức thành ngữ Ông đã phát hiện rằng, có ít nhất ba nhóm ý niệm khác nhau

mà các từ này biểu trưng: (i) nếu phóng chiếu bên trong, chúng là những bộ phận nội tạng; (ii) nếu phóng chiếu ra bên ngoài, chúng biểu trưng cho chức năng của BPCTN và (iii) biểu trưng cho cảm xúc Ông cũng khẳng định rằng cơ sở của những ý niệm này có nguồn gốc từ nghiệm thân văn hóa, là những quy ước của cộng đồng diễn ngôn

Bên cạnh đó, BPCTN “tim” cũng được nhiều nhà nghiên cứu khác quan tâm

và dành sự chú ý lớn Trong số đó có Ning Yu, nhà ngôn ngữ học tri nhận người Trung Quốc Trên cơ sở nghiên cứu về BPCTN “tim”, ông chứng minh rằng, trong tiếng Trung, xuất phát từ triết học cổ đại Trung Quốc, trái tim vừa được coi là cơ quan của suy nghĩ và lý luận, vừa là trung tâm của cảm xúc con người Ông minh chứng rằng, một nghiên cứu lịch sử về sự tiến hóa của ý niệm “tim” trong tiếng Anh đã chỉ ra rằng, tri nhận về trái tim của người Trung Quốc trên thực tế là khá giống với quan niệm của người Anh trong thời kỳ cổ đại và trung đại, khi đó trái tim trong tiếng Anh cũng được ý niệm hóa là trung tâm của cả suy nghĩ và cảm giác

Bên cạnh Ning Yu còn có một số nhà ngôn ngữ học tri nhận phương Đông khác tiến hành các công trình nghiên cứu về “tim” như Yoshihiko Ikegami hay Debra J Occhi người Nhật Bản hay Kyung-Joo Yoon người Hàn Quốc Các công trình này của các ông đều đã chỉ ra rằng, trong văn hóa của các nước phương Đông,

“tim” vừa được coi là cơ quan của suy nghĩ và lý luận, vừa là trung tâm của cảm xúc con người

Chuyển sang nền văn hóa phương Tây, một số các nhà ngôn ngữ học tri nhận bao gồm Sharifian, Geeraerts, Gevaert hay Niemeier đều có cùng quan điểm rằng,

“đầu” trong tiếng Anh luôn được ý niệm hóa như là trung tâm của lý trí và tư duy của người Anh trong sự tương phản với vai trò của “tim”, là trung tâm của cảm xúc Ý niệm hóa này mang đậm nét bản sắc dân tộc của người Anh nói chung và người phương Tây nói riêng xuất phát từ nền văn hóa của người Anglo-Saxon và cơ sở tri nhận luận của ý niệm này có nguồn gốc từ rất lâu đời dựa trên tư duy triết học

Trang 25

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận

Trên bình diện lý thuyết, nghiên cứu về các quan điểm chung nhất, các nguyên lý cơ bản và các nội hàm quan trọng khác của ngôn ngữ học tri nhận như là một ngành khoa học mới xuất hiện ở Việt Nam có công trình nghiên cứu đầu tiên về

NNHTN là của Lý Toàn Thắng (2005) với Ngôn ngữ học tri nhận _ Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt; sau đó có Trần Văn Cơ (2006) với “Ngôn ngữ học

tri nhận là gì”, Lê Quang Thiêm (2006) với “Về khuynh hướng ngữ nghĩa học tri nhận”, Trần Văn Cơ (2007) với “Ngôn ngữ học tri nhận: ghi chép và suy nghĩ” và

“Nhận thức, tri nhận – hai hay một (Tìm hiểu thêm về ngôn ngữ học tri nhận)”, Diệp Quang Ban (2008) với “Cognition: Nhận tri và nhận thức”; “Concept: Ý niệm hay khái niệm”; Nguyễn Thiện Giáp (2011) với “Về ngôn ngữ học tri nhận” và Trịnh Sâm (2011) với “Miền ý niệm sông nước trong tri nhận của người Việt” hay

công trình dịch của Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Hoàng An (2014) Dẫn luận ngôn ngữ học tri nhận (sách dịch) v.v Các công trình này, trên cơ sở nghiên cứu các

công trình của thế giới đã giới thiệu những nguyên lý và nội dung cơ bản nhất của NNHTH, các nội hàm của NNHTH, các cơ sở lý thuyết, các công cụ và phương tiện của nó đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu về NNHTH ở Việt Nam

Bên cạnh đó, cũng trên bình diện lý thuyết còn có các luận án tiến sĩ đi sâu nghiên cứu về các quan điểm, các nguyên lý cơ bản và một số nội hàm khác của NNHTH trong thực tế của tiếng Việt, hay nói cách khác là nghiên cứu để soi rọi về những vấn đề lý thuyết của NNHTH vận hành và áp dụng trong tiếng Việt như thế

nào có luận án Tiến sĩ của Phan Thế Hưng (2009), Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh) đi sâu phân tích về ADYN, vai trò của

tư duy đối với ADYN và trên cơ sở cứ liệu trong tiếng Việt và tiếng Anh đã so sánh, đối chiếu để làm rõ những sự tương đồng và khác biệt trong ngôn ngữ, văn hóa và tư duy của hai dân tộc Việt và Anh; Luận án Tiến sĩ ngữ văn của Nguyễn

Văn Hán (2012), Định vị thời gian trong tiếng Việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận (so sánh với tiếng Anh) nghiên cứu và đề xuất năm phương thức định vị thời

gian trong tiếng Việt, mối quan hệ ngữ nghĩa giữa không gian và thời gian trong tiếng

Việt; Luận án tiến sĩ của Lê Thị Thanh Tâm (2010), Cơ sở tri nhận của hiện tượng chuyển nghĩa trong tiếng Việt, nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tri nhận ở

hiện tượng chuyển nghĩa của các từ đa nghĩa; luận án đi sâu nghiên cứu các từ chỉ hướng không gian bao gồm hai nhóm: các từ chỉ chuyển động có hướng và các từ

Trang 26

chỉ sự định hướng và phương vị trong không gian; luận án Tiến sĩ ngữ văn của Hà

Thanh Hải (2011), Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh – Việt, nghiên cứu về ADYN trong các bản tin

kinh tế tiếng Việt và tiếng Anh

Ở bình diện thực hành, trên cơ sở áp dụng các quan điểm, nguyên lý cơ bản và các nội hàm quan trọng khác của ngôn ngữ học tri nhận, nghiên cứu vào tình hình cụ thể của tiếng Việt có các công trình: Nguyễn Đức Tồn (1993, 2008, 2009), Lê Văn Thanh, Lý Toàn Thắng (2002), Lê Quang Thiêm (2006), Trần Văn Cơ (2006

và 2007), Lý Toàn Thắng (2008), Lê Thị Kiều Vân (2008), Phan Thế Hưng (2008), Nguyễn Đức Dân (2009), Nguyễn Thiện Giáp, (2011), Trịnh Sâm (2011, 2013,

2015, 2016, 2018, 2019) và Nguyễn Tiến Long (2019) Các bài báo này nghiên cứu các nội dung khác nhau có liên quan đến NNHTN bao gồm các lý thuyết cơ bản của NNHTN, đặc điểm của NNHTN, các cơ chế tri nhận, lý thuyết về các mô hình tri nhận, các mô hình ánh xạ, ADYN hay HDYN và các vấn đề khác có liên quan Các công trình này đã cho chúng ta những hiểu biết sâu hơn về NNHTN và vận dụng nghiên cứu NNHTN vào thực tiễn tiếng Việt; đưa ra các trường hợp nghiên cứu cụ thể trong tiếng Việt, góp phần soi rọi lý thuyết của NNHTN trong tiếng Việt

Cũng trên bình diện thực hành còn có các luận án tiến sĩ, thông qua nghiên cứu về các cơ chế tri nhận, cách thức tri nhận, quá trình ý niệm hóa của người Việt đã đi sâu phân tích và so sánh với tiếng Anh trong một số ý niệm cụ thể giữa hai ngôn ngữ, từ đó chỉ ra một số đặc điểm tương đồng và khác biệt giữa hai nền văn hóa Việt và Anh cũng như cách tư duy của hai dân tộc Tiêu biểu trong số đó có các

luận án tiến sĩ ngôn ngữ học của Nguyễn Thị Dự (2004), Ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của nhóm tính từ chỉ không gian (trên ngữ liệu Anh - Việt), nghiên cứu các tính từ chỉ kích thước cơ bản; luận án tiến sĩ của Lý Lan (2012), Ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của các từ biểu đạt tình cảm trong tiếng Anh (liên hệ với tiếng Việt), nghiên

cứu về phương diện cơ sở tri nhận nghiệm thân trong cách biểu đạt bốn ý niệm tình cảm cơ bản là HAPPINESS (vui), LOVE (yêu), FEAR (sợ) và ANGER (giận) cũng như quá trình ý niệm hóa bốn tình cảm ương ứng này thông qua các ánh xạ ADYN

và HDYN; luận án Tiến sĩ ngữ văn của Trần Thị Phương Lý (2012), Ẩn dụ ý niệm của phạm trù thực vật trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh), nghiên cứu về các

biểu thức ngôn ngữ liên quan đến thực vật trong tiếng Việt; luận án Tiến sĩ ngữ văn

của Lê Thị Kiều Vân (2012), Tìm hiểu đặc trưng văn hóa và tri nhận của người Việt thông qua một số từ khóa (so sánh, đối chiếu tiếng Việt với tiếng Anh và tiếng Nga),

Trang 27

nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tri nhận của các ý niệm

“phận”, “mặt”, “hồn” và “quê”; luận án Tiến sĩ ngữ văn của Nguyễn Văn Hải

(2012), Các từ chỉ bộ phận cơ thể người và các từ tương đương trong tiếng Anh, tập

trung nghiên cứu nhóm từ gồm 12 từ chỉ BPCTN trong tiếng Việt bao gồm “đầu”,

“mình/thân”, “tay”, “chân”, “mắt” “mũi”, “miệng”, “tim”, “gan”, “lòng/dạ” và các

từ tương đương trong tiếng Anh trên các mặt nghĩa định danh, chuyển nghĩa và hàm

nghĩa; luận án Tiến sĩ ngữ văn của Nguyễn Hoàng Phương (2016), Đặc điểm tri nhận của động từ tri giác tiếng Việt, nghiên cứu phân tích các động từ tri giác:

“nhìn”, “nghe”, “ngửi”, “nếm”, “sờ” trong mối tương quan với từ “thấy”; luận án

Tiến sĩ ngữ văn của Trần Vũ Tuân (2016), Đối chiếu ẩn dụ ý niệm quê hương, đất nước trong tiếng Việt và tiếng Anh, phân tích và làm rõ về hai ý niệm quê hương và

đất nước trong tiếng Việt và tiếng Anh; luận án Tiến sĩ ngữ văn của Trần Thế Phi

(2016), Ẩn dụ ý niệm cảm xúc trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với thành ngữ tiếng Anh) từ bình diện ngữ nghĩa học tri nhận, thông qua khảo sát thành ngữ tiếng

Việt biểu thị cảm xúc (so sánh với thành ngữ tiếng Anh tương ứng), đã tiến hành phân loại hệ thống ADYN cảm xúc, hệ thống hóa khái niệm và tiêu chí nhận diện thành ngữ, xác định đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ biểu thị cảm xúc trong tiếng Việt và tiếng Anh, trên cơ sở đó đã chỉ ra những nét chung và đặc thù ngôn ngữ, văn hóa của thành ngữ biểu thị cảm xúc thể hiện trong tiếng Việt và tiếng Anh; luận

án Tiến sĩ Ngôn ngữ học của Ngô Tuyết Phượng (2017), Ẩn dụ tri nhận trong thành

ngữ, tục ngữ Việt Nam, dưới góc nhìn của NNHTN lý giải những mô hình của

ADYN trên khối ngữ liệu thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt và tiếng Anh; hay luận án

Tiến sĩ ngôn ngữ học của Nguyễn Tiến Dũng (2019), Ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn chính trị (trên tư liệu tiếng Anh và tiếng Việt), trên cơ sở khảo sát các ẩn dụ

cấu trúc trong các diễn ngôn chính trị tiếng Anh và tiếng Việt đã đi sâu nghiên cứu, khảo sát về các ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể trong các diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh, từ đó đã chỉ ra một số điểm tương đồng và khác biệt trong văn hóa cũng như là tư duy giữa hai ngôn ngữ Việt và Anh và cả hai nền văn hóa dân tộc Cũng ở bình diện thực hành và cụ thể, nhưng lại lựa chọn đối tượng nghiên cứu là các chủ thể trong tiếng Anh, thông qua nghiên cứu các cơ chế tri nhận, cách thức tri nhận, quá trình ý niệm hóa để tiến hành nghiên cứu về cách tri nhận cụ thể của người Anh và có so sánh với tiếng Việt là luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị

Hương (2017), Ẩn dụ ý niệm của phạm trù ăn uống trong tiếng Anh (đối chiếu với tiếng Việt), tập trung đi sâu nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm ăn và uống trong tiếng Anh

Trang 28

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu về cấu trúc ngữ nghĩa của từ chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận

Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Vũ (2008), Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, có thể nói là một trong hai luận án duy nhất bên cạnh luận án của Trịnh

Thị Thanh Huệ sẽ được đề cập ở phần sau, là có đề tài nghiên cứu về từ chỉ BPCTN dưới góc nhìn của NNHTN Luận án của Nguyễn Ngọc Vũ tập trung nghiên cứu sâu

về lý luận NNHTN như hoạt động ý niệm hoá, cấu trúc tiền ý niệm, mô hình tri nhận lý tưởng, miền ý niệm hay thành ngữ và quan niệm của NNHTN về thành ngữ Dữ liệu nghiên cứu của luận án này chỉ giới hạn nghiên cứu ở thành ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt và chỉ tập trung vào 6 BPCTN (bao gồm nhóm BPCTN thuộc vùng đầu có “đầu”, “mặt”, “mắt”, “mũi” và “tai” và chỉ có duy nhất một BPCTN bên trong là “tim” được khảo sát) Trên cơ sở nghiên cứu các ADYN và HDYN trong thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt có từ chỉ BPCTN, luận án đã chỉ ra những tương đồng và dị biệt trong ngôn ngữ, tư duy và cả trong đặc trưng văn hóa dân tộc của người Anh và người Việt Luận án đặc biệt đi sâu phân tích và khảo sát các mô hình tri nhận bao gồm ADYN và HDYN có vai trò quan trọng trong việc tạo nghĩa cho thành ngữ có chứa yếu tố chỉ BPCTN tiếng Việt và tiếng Anh Dựa trên kết quả này, luận án tiến hành đối chiếu so sánh thành ngữ có chứa yếu tố chỉ BPCTN tiếng Việt và tiếng Anh để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt trong văn hóa của hai dân tộc

Luận án Tiến sĩ ngữ văn của Trịnh Thị Thanh Huệ (2012), Nghiên cứu so sánh đối chiếu ẩn dụ trong tiếng Việt và tiếng Hán từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên

tư liệu tên gọi bộ phận cơ thể người), bằng cách phân tích cơ sở của việc hình thành

ý nghĩa ẩn dụ của từ chỉ BPCTN trong tiếng Việt và tiếng Hán, nghiên cứu về sự giống và khác nhau giữa miền đích và quá trình ánh xạ của ẩn dụ tri nhận BPCTN trong tiếng Hán và tiếng Việt bao gồm 39 bộ phận cơ thể; luận án cũng nêu ra mô hình ánh xạ và mức độ đối ứng của ẩn dụ tri nhận bằng BPCTN trong hai ngôn ngữ tiếng Hán và tiếng Việt, phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng, đối ứng, cũng như các nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt

Ngoài các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành có liên quan đến từ chỉ BPCTN của các tác giả như: Hoàng Văn Hành (1990), Nguyễn Văn Chiến (1994), Phan Thị Hồng Xuân (1999), Hoàng Dĩ Đình (2000), Phan Thị Hồng (2000), Đỗ Hoàng Ngân

Trang 29

(2002), Trịnh Đức Hiển, Lâm Thu Hương (2003), Tạ Đức Tú (2005), Vũ Đức Nghiệu (2007), Nguyễn Ngọc Vũ (2008, 2009), Trần Thị Minh (2009), Lý Lan (2009), Nguyễn Thanh Thủy (2009), Võ Kim Hà (2011), Phạm Ngọc Hàm, Cẩm Tú Tài (2012), Trần Thị Hồng Hạnh (2012), Trịnh Sâm (2014), Nguyễn Thu Hạnh và Nguyễn Tiến Long (2019) Các bài báo này nghiên cứu các nội dung khác nhau có liên quan đến từ chỉ BPCTN dưới góc nhìn của NNHTN bao gồm các cơ chế tri nhận và mô hình tri nhận có liên quan đến NNHTN, các mô hình ánh xạ bao gồm miền nguồn là BPCTN ánh xạ lên các miền đích khác nhau, ADYN hay HDYN có liên quan đến NNHTN, các vấn đề về đặc thù văn hóa và tư duy của tiếng Việt có

so sánh hay liên hệ với một số ngôn ngữ khác Các công trình này đã trình bày những khía cạnh nghiên cứu cụ thể khác nhau có liên quan đến từ chỉ BPCTN dưới góc nhìn của NNHTN và đã đặt nền móng cho những nghiên cứu có thể sau này

1.1.3 Nhận xét

Các công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã trình bày ở tiểu mục 1.1.2 mặc dầu

là những công trình nghiên cứu chuyên sâu nhưng vẫn đặt ra những giới hạn và trong một chừng mực nào đó vẫn chưa nghiên cứu hết được về cấu trúc ngữ nghĩa của từ chỉ BPCTN dưới góc nhìn của NNHTN

Đối với các luận án Tiến sĩ bao gồm luận án của Nguyễn Ngọc Vũ (2008) thì giới hạn chỉ nghiên cứu ở thành ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt và chỉ tập trung vào 6 BPCTN, gần như tuyệt đối chỉ là các từ chỉ BPCTN thuộc vùng đầu; trong khi đó, luận án Tiến sĩ của Trịnh Thị Thanh Huệ (2012) thì giới hạn chỉ nghiên cứu ở mô hình tri nhận ADYN mà chưa nghiên cứu về HDYN Có hai giới hạn của các công trình này là thứ nhất cả hai đều chưa thực hiện việc mô hình hóa các tri nhận trong tiếng Việt với tư cách là các đơn vị phạm vi ý niệm dân tộc và văn hóa dân tộc; và thứ hai là chưa trình bày chi tiết về mối tương tác giữa ADYN và HDYN trong hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh

Đối với các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành có liên quan đến từ chỉ BPCTN, các tác giả chỉ mới giới thiệu và bàn luận một cách cơ bản nhất,

có tính gợi mở nhất chứ chưa thực sự có các nghiên cứu đầy đủ và trọn vẹn về các

cơ chế và mô hình tri nhận (cả ADYN và HDYN) của các ý niệm được biểu trưng bởi các từ chỉ BPCTN dưới góc nhìn của NNHTN

Như vậy có thể nhận thấy rằng, cho đến nay, trên thế giới và đặc biệt là tại Việt Nam, mặc dầu đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến cấu trúc ngữ nghĩa của BPCTN dưới góc nhìn của NNHTN nhưng chưa có một công trình

Trang 30

nào nghiên cứu về cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu “X + BPCTN” tiếng Việt với tư cách là một kết cấu có hai hình vị, có tính chặt và mang tính biểu trưng thành ngữ dưới góc nhìn của NNHTN và có so sánh với tiếng Anh Việc nghiên cứu cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu này và trên cơ sở đó so sánh, đối chiếu với tiếng Anh, do vậy,

sẽ là hết sức cần thiết phải có thêm các công trình nghiên cứu khác để làm rõ cơ chế tri nhận của chúng, các mô hình tri nhận hóa, cách thức ý niệm hóa và tư duy của người Việt Cùng với đó, việc so sánh, đối chiếu với tiếng Anh sẽ góp phần bổ sung cho các công trình nghiên cứu trước đây giúp chỉ ra những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, hai kiểu loại tư duy của dân tộc và rộng hơn là của hai nền văn hóa

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN

1.2.1 Ý nghĩa của từ và sự đa nghĩa (Word meaning and polysemy)

1.2.1.1 Từ vựng là những phạm trù tỏa tia

Evans và Green (2006; tr.331) đề xuất rằng từ vựng biểu trưng cho những phạm trù tỏa tia Như chúng ta đã biết, phạm trù tỏa tia là một phạm trù ý niệm mà phạm vi ngữ nghĩa của nó có thể được mở rộng sang một ý niệm nguyên mẫu khác Hay nói cách khác, một từ gắn với một không gian tinh thần có thể được áp vào một không gian tinh thần mới; khi đó, từ sẽ được mở rộng nghĩa, tức là, nó thu được một mạng lưới tỏa tia Phạm trù tỏa tia sẽ có cùng cấu trúc với các phạm trù ý niệm khác trong phạm vi có liên quan với ý niệm từ vựng nguyên mẫu: phạm trù ý niệm nào gần trung tâm hơn sẽ có tính nguyên mẫu hơn và ngược lại Evans và Green (2006; tr.331-332) lập luận thêm rằng, trung tâm của lý thuyết này là quan điểm cho rằng các phạm trù ý niệm tỏa tia sẽ được mô tả bởi các bộ nhớ ngữ nghĩa dài hạn Theo

quan điểm này, lý do mà chúng ta có thể dùng từ OVER với nghĩa là “KIỂM SOÁT”

(xem ví dụ (1)) là bởi vì ngữ nghĩa này đã được mô tả bởi bộ nhớ ngữ nghĩa dài

hạn Có nghĩa là, phạm vi ngữ nghĩa của OVER đã được ước lệ hóa và hầu hết

người Anh đơn giản đều có sự liên tưởng với phạm vi ngữ nghĩa này

(1) Jane has a strange power over him (td: Jane kiểm soát được anh ta một

cách kỳ lạ)

Với quan điểm đó, một phạm trù ý niệm tỏa tia không phải là một công cụ để sản sinh các nét nghĩa riêng biệt từ một phạm trù nguyên mẫu mà nó chỉ là một kiểu mẫu của các ngữ nghĩa khác nhau nhưng có mối liên hệ với nhau và được lưu giữ trong bộ nhớ ngữ nghĩa của chúng ta Như vậy, tính đa nghĩa của từ nhìn ở góc độ ngôn ngữ học tri nhận xuất phát từ tính đơn nghĩa của từ mà trong đó một khái niệm

Trang 31

từ vựng trừu tượng được lưu trữ với một sự lấp đầy ngữ nghĩa sử dụng trong các ngữ cảnh khác nhau

1.2.1.2 Sự đa nghĩa của từ là một hiện tượng ý niệm

Một mối quan tâm rất lớn dành cho các nhà ngữ nghĩa học tri nhận đó là phải giải thích bằng cách nào mà ngữ nghĩa được sinh ra Do các nhà ngữ nghĩa học tri nhận giả định rằng, về mặt nguyên tắc, các phạm trù ngôn ngữ học cũng không có điểm gì khác biệt so với các phạm trù ý niệm, vì vậy, chúng ta có thể thấy rằng, các phạm trù ngôn ngữ học cũng sẽ được cấu trúc hoá bởi cùng một cơ chế tri nhận chung giống như các cơ chế đã cấu trúc hoá các phạm trù ý niệm kia Theo quan điểm này, Evans và Green (2006; tr.332) cho rằng, quá trình mở rộng ngữ nghĩa, trong đó bao gồm cả các biến đổi ADYN và sơ đồ hình ảnh, sẽ diễn ra khi những nét nghĩa gần với nguyên mẫu tạo ra thêm các nét nghĩa khác xa nguyên mẫu hơn Những cơ chế này sẽ dẫn đến việc mở rộng có hệ thống các phạm trù từ vựng, từ đó sản sinh ra các chuỗi ý nghĩa; đây chính là cơ sở cho hiện tượng đa nghĩa của từ Kovecses (2010; tr 251) thì cho rằng, sự đa nghĩa là trường hợp một từ mà có nhiều nghĩa khác nhau nhưng có liên quan với nhau và đây cũng là quan điểm được các nhà ngôn ngữ học tri nhận chấp nhận Nhưng một câu hỏi hết sức quan trọng được đặt ra là chúng ta nhận thức như thế nào về việc các nghĩa khác nhau nhưng lại có liên quan với nhau? Bằng cách trả lời thấu đáo cho câu hỏi này, các nhà ngôn ngữ học tri nhận sẽ góp phần làm rõ hơn lý thuyết về sự đa nghĩa của từ Chúng ta

có thể giả thuyết rằng, sự đa nghĩa của từ thường được dựa trên phép ẩn dụ và hoán dụ; hay nói cách khác, trong nhiều trường hợp, sẽ có một mối quan hệ ẩn dụ và hoán dụ có tính hệ thống giữa các ngữ nghĩa khác nhau của một từ

Theo Kovecses, những ví dụ rõ ràng nhất và dễ nhất để chứng minh cho hiện tượng sự đa nghĩa của từ thường được dựa trên phép ẩn dụ đó là trường hợp của các

giới từ over, up, down, on, in v.v Từ “UP” chẳng hạn, sẽ có rất nhiều nghĩa Hãy

xem xét hai trường hợp cụ thể sau đây:

(2) He went up the stairs, so we can see him (td: Anh ấy đã đi lên lầu, do vậy

giờ chúng ta có thể gặp được anh ấy rồi)

(3) He spoke up the stairs, so we can hear him (td: Anh ấy đã nói lớn rồi, do

vậy giờ chúng ta có thể nghe anh ấy được rồi)

Trong ví dụ (2), từ “up” có nghĩa là “hướng lên phía trên”, trong khi đó, trong ví dụ (3), từ “up” có nghĩa là “có cường độ cao hơn” vậy thì hai ngữ nghĩa này của

từ “up” có liên hệ với nhau như thế nào? Câu trả lời là chúng có mối liên hệ với

Trang 32

nhau dựa trên cơ sở tri nhận luận của ẩn dụ MORE IS UP (NHIỀU LÀ HƯỚNG ĐI LÊN) Trong ví dụ (3), “có cường độ cao hơn” có thể được hiểu là dung lượng của

âm thanh được nói ra nằm ở một thang độ cao hơn Như vậy, rõ ràng là ẩn dụ MORE IS UP đã tạo ra một mối liên kết có tính hệ thống giữa hai ngữ nghĩa khác

nhau của cùng một từ Bản chất của lý giải này là từ “up” có một nghĩa đen là

“hướng lên phía trên” và nghĩa đen này đã được mở rộng nghĩa thông qua công cụ

là ADYN Nói cách khác, từ trung tâm đóng vai trò là miền nguồn để ý niệm hóa những miền đích mà ngữ nghĩa của chúng sẽ có tính bóng bẩy hơn như là cường độ trong ví dụ (3)

1.2.2 Lý thuyết nghiệm thân và cơ thể người (The theory of embodiment and body organs)

Theo Evans (2007), lý thuyết về sự nghiệm thân được định nghĩa như sau: “Tư duy của con người và việc tổ chức, sắp xếp các ý niệm là cách thức mà trong đó các bộ phận cơ thể của chúng ta tương tác với môi trường sống ở bên ngoài Nói cách khác bản chất của các ý niệm và cách thức mà chúng được sắp xếp được giới hạn bởi kinh nghiệm nghiệm thân của chúng ta” Một mặt, điều này kéo theo là chúng ta

có được một cái nhìn đối với thế giới thực thể nhờ vào các bộ phận trên cơ thể con người; mặt khác, vì ngôn ngữ phản ánh các cấu trúc ý niệm nên nó cũng phản ánh các kinh nghiệm nghiệm thân Điều này có nghĩa là, tư duy của con người và các tổ chức ý niệm được hình thành dựa trên cơ sở là sự tương tác của cơ thể chúng ta với môi trường sống; bản chất của các ý niệm và cách thức mà chúng được cấu trúc được quyết định bởi những kiến thức mang tính nghiệm thân của chúng ta; nói cách khác, sự tri nhận của chúng ta về thế giới khách quan phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm vốn có của cơ thể Một trong những ví dụ rõ ràng nhất cho chúng ta thấy chủ nghĩa nghiệm thân ảnh hưởng đến bản chất của kinh nghiệm đó là qua ý niệm màu sắc Trong khi con người có ba cơ quan cảm quan để tri nhận màu sắc thì các sinh vật sống khác có số lượng cơ quan cảm quan rất khác nhau tuỳ thuộc vào mỗi loài:

có loài có hai, có loài có ba, có loài thì có bốn Điều đó chứng tỏ rằng cơ quan thị giác, một bộ phận của cơ thể, sẽ góp phần quyết định kinh nghiệm của chúng ta về màu sắc Tương tự như vậy, các bộ phận khác của cơ thể người, cái mà luôn tương tác với môi trường sống chung quanh sẽ quyết định các kinh nghiệm khác của chúng ta về thế giới Hiện tượng mà các sinh vật sống khác nhau có kinh nghiệm sống khác nhau dựa vào bản chất nghiệm thân của chúng được gọi là sự nghiệm thân biến thiên

Trang 33

Evans và Green (2006; tr.45) đưa ra quan điểm rằng, tri thức và sự hiểu biết của chúng ta về thế giới khách quan được hình thành là nhờ vào bản chất vốn có của các bộ phận cơ thể của con người Vì vậy, cấu trúc ý niệm cũng sẽ mang tính nghiệm thân: bản chất của sự cấu thành ý niệm xuất phát từ kinh nghiệm nghiệm thân, do vậy một phần của các yếu tố tạo nên cấu trúc ý niệm chính là sự trải nghiệm của cơ thể, cái mà các cấu trúc ý niệm gắn liền với nó

Theo Trịnh Sâm (2019), có ba dạng thức tương tác có thể xảy ra: tương tác dễ quan sát nhất là với chính cơ thể con người mà ngôn ngữ học gọi là nghiệm thân sinh lý Ví dụ, con người là một thực thể tách biệt trong không gian, vật thể này có thể di chuyển, cho nên, tất cả các kinh nghiệm về phân giới, trước sau, phải, trái, rồi sự vận động lên xuống v.v đều là nguồn gốc của sự phóng chiếu và có thể dùng làm kinh nghiệm để tương tác Loại thứ hai là tương tác với môi trường vật chất chung quanh gọi là nghiệm thân tự nhiên là loại tương tác mà chủ thể tri nhận và môi trường tri nhận có mối quan hệ qua lại tác động lẫn nhau; đây là lúc mà chức năng phóng chiếu của hiện thực, với tư cách là miền nguồn, thể hiện rõ vai trò của

nó Loại tương tác thứ ba là nghiệm thân xã hội hay còn được gọi là nghiệm thân văn hóa Kinh nghiệm nghiệm thân của chúng ta ngoài việc có thể thụ đắc từ chính chủ thể phát ngôn cũng có thể được hấp thụ từ kinh nghiệm của cộng đồng diễn ngôn, được truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác với các ràng buộc gắn liền với tri thức nền, với những chia sẻ của nền văn hóa chung

1.2.3 Kết cấu cố định dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận (Idiomatic structures under the cognitive perspective)

1.2.3.1 Khái niệm về kết cấu cố định

Langlotz (2006; tr 5) đưa ra định nghĩa về thành ngữ (idioms) hoặc những kết cấu có tính thành ngữ (idiomatic constructions) như sau:

Thành ngữ (idioms) là một kết cấu có tính tổ chức bao gồm hai hoặc

nhiều mục từ và được cấu trúc thành một cụm từ hoặc nửa mệnh đề, cái mà có những đặc tính rất riêng biệt về mặt cấu trúc Một thành ngữ trước hết sẽ có chức năng diễn ngôn, mang tính bóng bẩy và có hình thái khu biệt; ngữ nghĩa của cấu trúc về nguồn gốc là không mang tính sắp xếp; ngoài ra, thành ngữ có hình thức cố định và rất bị hạn chế trong sắp đặt

Kovecses (2010; tr 231-232) đưa ra quan điểm rằng “Cái đơn vị ngôn ngữ mà

chúng ta hay gọi là thành ngữ (idioms) là rất đa dạng Nó là một đơn vị ngôn ngữ

trên từ, thường được cấu tạo từ hai thành tố trở lên và ngữ nghĩa của nó không thể

Trang 34

suy ra được từ ngữ nghĩa của các thành tố ở bên trong nó Thành ngữ có thể bao gồm các biến thể khác nhau như là ẩn dụ, hoán dụ, cụm từ thành ngữ, thành ngữ cú pháp, cấu trúc so sánh hay đặc ngữ v.v

Croft và Cruse (2004; tr 230) khi phân tích về thành ngữ đã đưa ra định nghĩa

về thành ngữ (idioms) như sau: “Thành ngữ (idioms) là những đơn vị ngôn ngữ lớn

hơn từ và có tính khu biệt hóa.” Hai ông khi phân tích công trình nghiên cứu của Nunberg, Sag và Wasow (1994) về thành ngữ đã đưa ra mô tả của Nunberg, Sag và Wasow như sau: điểm đặc trưng của thành ngữ là tính rập khuôn theo quy ước, có nghĩa là, ý nghĩa hoặc sự sử dụng của thành ngữ không thể đoán biết được nếu chỉ dựa trên tri thức của các quy ước độc lập, cái mà sẽ quy định việc sử dụng các từ thành phần khi chúng xuất hiện đơn lẻ và không phụ thuộc vào thành phần khác Các đặc tính điển hình khác của thành ngữ bao gồm tính hạn chế trong cú pháp, luôn biểu đạt các ý nghĩa bóng bẩy, có tính cách ngôn, mang tính không chính thức

và có tính tác động

Evans và Green thì dùng thuật ngữ “đặc ngữ” (idiomatic expressions) khi nói

về các kết cấu có tính thành ngữ này Evans và Green (2006; tr.643) lập luận rằng,

đặc ngữ (idiomatic expressions) là các biểu thức ngôn ngữ mà người nói không thể

tạo ra chỉ đơn giản bằng cách biết ngữ pháp và từ vựng của ngôn ngữ đó Đây là lý

do tại sao mà các đặc ngữ được mô tả như là một đơn vị ngôn ngữ có sẵn Thay vào

đó, người nói phải nghiên cứu toàn thể biểu thức chứ không phải chỉ từng mục từ vựng riêng lẽ

Chúng tôi thiết nghĩ rằng, dựa trên quan điểm của các nhà nghiên cứu NNHTN trên đây và dựa vào quan điểm của luận án về định nghĩa khái niệm của kết cấu cố định, chúng ta có thể thấy rằng, trong tiếng Anh, nội hàm của kết cấu cố định có tính bao quát hơn nhiều so với các thuật ngữ có liên quan khác, bao gồm thành ngữ và kết cấu có tính thành ngữ Trong rất nhiều các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới hiện nay, mặc dù “idioms” là thuật ngữ được

sử dụng thông dụng nhất, nhưng các nhà ngôn ngữ học vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất hoàn toàn về thành ngữ, đặc biệt là trong mối liên quan với các đơn vị ngôn ngữ tương đồng khác (như phần trên luận án đã trình bày, Langlotz dùng thuật ngữ “kết cấu có tính thành ngữ”; Kovecses cùng Croft và Cruse đều dùng thuật ngữ

“thành ngữ”; Evans và Green thì dùng thuật ngữ “đặc ngữ”; còn Geeraerts trong

Dirven & Pörings (2003; tr.435) dùng thuật ngữ “tổ hợp” (composite expressions)

Từ đó chúng ta có thể thấy rằng, cách gọi tương đương trong tiếng Việt là “thành

Trang 35

ngữ” sẽ không phải là tuyệt đối; nếu gọi như vậy thì nó chỉ phản ánh một phần của tri thức, mà chưa thể bao quát hết tất cả nội hàm của thuật ngữ

Để phục vụ cho việc nghiên cứu của luận án, đặc biệt là để có sự liên hệ một cách chính xác giữa hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, trên cơ sở đó, tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, hai nền văn hóa, một yêu cầu đặt ra cho luận án là cần có một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về kết cấu cố định theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận Chúng tôi, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và dựa trên quan điểm của các nhà nghiên cứu NNHTN ở trên đây, đặc biệt là quan điểm của Evans và Green, đưa ra một quan điểm như sau về khái niệm của kết cấu cố định trong ngôn ngữ học tri nhận:

“Kết cấu cố định là một đơn vị ngôn ngữ cho sẵn, có tính tổ chức cao và chặt chẽ bao gồm hai hoặc nhiều mục từ và được cấu trúc thành một cụm từ hoặc mệnh

đề, có những đặc tính riêng biệt về mặt cấu trúc Ngữ nghĩa của kết cấu cố định mang tính bóng bẩy, về nguồn gốc là không mang tính sắp xếp Ngoài ra, kết cấu cố định có hình thức ổn định và có trật tự rất bị hạn chế trong sắp đặt”

1.2.3.2 Cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu cố định

Langlotz (2006; tr 4) cho rằng, ngữ nghĩa của các kết cấu cố định không chỉ

được tạo ra từ ngữ nghĩa của các thành tố riêng lẻ mà còn là nét nghĩa toàn diện của cả cấu trúc Mối quan hệ giữa ngữ nghĩa tổng quát của cả kết cấu với ngữ nghĩa của từng thành tố cộng lại được phản ánh qua mô hình bóng bẩy hóa ngữ nghĩa gồm hai giai đoạn: đầu tiên là sự tổng hợp các ngữ nghĩa riêng lẻ của từng thành tố cộng lại

và tiếp theo đó là quá trình mở rộng ngữ nghĩa của cả cấu trúc dựa trên các công cụ biểu trưng hoá bao gồm ADYN và HDYN

Còn theo Geeraerts trong Dirven và Pörings (2003; tr.435-436), ngữ nghĩa của kết cấu cố định có tính thành ngữ được hình thành qua hai giai đoạn: giai đoạn một

là giai đoạn mà nghĩa đen được tạo thành, nói cách khác, ngữ nghĩa của kết cấu được hình thành dựa trên sự kết hợp nghĩa của từng thành tố trong kết cấu đó Ở giai đoạn tiếp theo, nghĩa đen này sẽ được kích hoạt trong mối liên hội giữa ngữ nghĩa của toàn bộ cấu trúc với ngữ nghĩa của từng thành phần của kết cấu, trong đó

có vai trò quan trọng của các cơ chế tri nhận bao gồm ADYN, HDYN, tri nhận nghiệm thân và mô hình văn hóa Geeraerts, Dirven và Pörings (2003; tr.438), đề

xuất mô hình lăng trụ (xem hình 1.1) để mô tả các mối quan hệ và quá trình tạo

nghĩa của một kết cấu cố định Nội hàm của thuật ngữ này được giải thích như sau Thứ nhất, phạm vi các mối quan hệ ngang và quan hệ dọc của kết cấu cố định có

Trang 36

tính hai chiều Trong quan hệ theo chiều ngang, đầu tiên sẽ là sự liên hệ giữa ngữ nghĩa gốc (nghĩa đen) với ngữ nghĩa phát sinh (nghĩa bóng) của toàn bộ kết cấu; sau

đó sẽ là mối liên hệ giữa ngữ nghĩa gốc của từng thành tố trong kết cấu với nghĩa bóng của chúng vừa phát sinh Trong quan hệ theo chiều dọc, đầu tiên sẽ có sự liên

hệ về ngữ nghĩa giữa từng thành tố trong kết cấu; sau đó sẽ là mối liên hệ ngữ nghĩa của toàn bộ kết cấu và tất nhiên là trên cả hai mặt, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng

trong kết cấu theo nghĩa phái sinh

1.2.3.3 Các mô hình ý niệm quyết định cấu trúc ngữ nghĩa của kết cấu cố định

Kovecses (2010; tr 233) cho rằng, hầu hết các thành ngữ đều là sản phẩm của

hệ thống ý niệm của chúng ta và chúng không đơn giản chỉ là một vấn đề thuộc từ vựng học Một thành ngữ không đơn thuần chỉ là một biểu thức có mối quan hệ ý nghĩa đặc biệt với ngữ nghĩa của các bộ phận cấu thành của nó mà là nó phải được sinh ra từ tri thức tổng quát của chúng ta về thế giới, cái mà được nghiệm thân trong

hệ thống ý niệm của chúng ta; nói cách khác, thành ngữ (hoặc ít nhất phần lớn trong số chúng) về mặt bản chất là mang tính ý niệm Nếu vậy, chúng ta có thể dựa vào tri thức này để hiểu được ngữ nghĩa của thành ngữ Vì lý do đó, chúng ta cần nhận thức được rằng, ngữ nghĩa của thành ngữ cần được kích hoạt chứ không phải là tùy tiện; tri thức tổng quát của chúng ta về thế giới sẽ kích hoạt cho ý nghĩa phổ quát của thành ngữ Kovecses cũng nhấn mạnh thêm rằng, trong hầu hết các thành ngữ,

từ vựng có thể được kích hoạt là nhờ vào những cơ chế tri nhận bao gồm phép ẩn dụ, hoán dụ và tri thức có tính quy ước cái mà có vai trò quyết định của yếu tố văn hóa

1

4

Trang 37

 Ẩn dụ ý niệm (Conceptual metaphor)

Kovecses (2010; tr 234) đưa ra quan điểm cho rằng, ẩn dụ ý niệm (ADYN) sẽ phát huy hiệu quả cho sự kết nối giữa hai miền tri thức nguồn và đích; chúng được xem như là nguồn ý niệm để thúc đẩy cho việc kích hoạt từng thành tố trong kết cấu cố định Nhờ có mối liên hệ mà chúng thực hiện trong hệ thống ý niệm, ADYN cho phép chúng ta sử dụng các ý niệm của miền nguồn để ánh xạ đến một ý niệm khác trong miền đích Nói cách khác, ngữ nghĩa của kết cấu cố định sẽ phụ thuộc vào và không thể tách rời khỏi hệ thống ADYN, cái mà về mặt bản chất là hệ thống các ánh xạ từ miền nguồn lên miền đích xảy ra trong nội bộ của kết cấu đó

Barcelona (2003; tr.9) đưa ra một định nghĩa như sau về ADYN: “ADYN là sự

ánh xạ của một miền lên trên một miền khác, cả hai đều phải theo quy ước và có chủ thức và được xem như là những miền tách biệt, không bao gồm miền tổng thể

chung (the same superordinate domain) Khi chúng ta nói rằng ADYN là sự ánh xạ

giữa hai miền riêng biệt, điều đó có nghĩa là hai miền này phải được xem xét riêng biệt một cách có chủ thức

Theo Lakoff và Johnson (2003), ADYN được chia ra làm ba loại: ADYN cấu trúc, ADYN bản thể và ADYN định hướng Luận án trình bày sơ lược về ba loại ADYN đó như sau:

Ẩn dụ ý niệm cấu trúc

Lakoff và Johnson (2003; tr.7-13) cho rằng, ADYN cấu trúc cung cấp cho hệ thống tri nhận của chúng ta hàng loạt những ánh xạ được tổ chức theo hệ thống từ miền nguồn lên miền đích, cái mà trên cơ sở đó chúng ta có thể tri nhận được các miền đích khác nhau, đặc biệt là những miền đích trừu tượng Ẩn dụ ý niệm cấu trúc cũng có cơ sở từ những trải nghiệm nghiệm thân của con người đối với thế giới khách quan Lakoff và Johnson cũng nhấn mạnh rằng trong một ánh xạ ADYN không phải tất cả những thành tố cấu thành của miền nguồn đều được ánh xạ hết lên miền đích Bản chất của một ADYN là hiểu một đối tượng này trên cơ sở đặc điểm của một đối tượng khác; tuy nhiên, để gia tăng sự tập trung và tính khu biệt cho các ý niệm thì chỉ có một số các đặc điểm của miền nguồn được lựa chọn để ánh xạ lên miền đích chứ không phải là tất cả; các đặc điểm phụ trợ hoặc không có tính tiêu biểu ở miền nguồn sẽ được dấu đi và không được ánh xạ lên miền đích Một điểm đáng chú ý nữa là, ADYN có tính hệ thống và do vậy các ánh xạ ý niệm cũng mang tính hệ thống Các tiểu phạm trù trong miền nguồn được lựa chọn ánh xạ lên miền

Trang 38

đích là có tính quy tắc và liên hệ chặt chẽ với nhau theo các tiêu chuẩn và nguyên tắc thống nhất

Ẩn dụ ý niệm định hướng

Theo Lakoff và Johnson (2003; tr.14) khác với ADYN cấu trúc cung cấp cho

hệ thống tri nhận những ánh xạ được tổ chức theo hệ thống từ miền nguồn lên miền đích, ADYN định hướng tổ chức cả một hệ thống ý niệm này trong mối liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau với một hệ thống ý niệm khác Ẩn dụ này được gọi là ADYN định hướng là do hầu hết chúng đều có liên quan đến các định hướng trong không gian bao gồm trên - dưới, trong - ngoài, đằng trước - đằng sau, tắt - mở, nông

- cạn, trung tâm - ngoại vi v.v Những định hướng không gian này có sơ sở tri nhận

từ trải nghiệm nghiệm thân tự nhiên của con người: con người tương tác với môi trường tự nhiên theo phương thẳng đứng với đầu người luôn ở vị trí cao nhất

Ẩn dụ ý niệm bản thể

Lakoff và Johnson (2003; tr.25-26) phân loại ADYN bản thể dựa trên cơ sở là thông qua các BPCTN, việc chúng ta có được những trải nghiệm nghiệm thân với môi trường chung quanh, tiếp xúc với thế giới khách quan đặc biệt là với các vật thể

cơ học đã cho phép chúng ta có thể chọn lọc các trải nghiệm đó và tri nhận các ý niệm về sự kiện, hoạt động, cảm xúc, ý tưởng v.v , thậm chí ngay cả với các khái niệm trừu tượng, như là những thực thể hay vật chất cơ học trong thế giới tự nhiên Việc này có thể được thực hiện nhờ vào việc chúng ta tri nhận chúng như là những vật chất và giới hạn chúng vào những vật chứa đã được bao chứa chung quanh

 Hoán dụ ý niệm (Conceptual metonymy)

Kovecses (2010; tr.242-243) nhấn mạnh rằng ADYN không phải là cơ chế tri nhận duy nhất để kích hoạt các kết cấu cố định mà bên cạnh đó còn có hoán dụ ý niệm (HDYN) cũng tham gia vào quá trình này

Mô hình tri nhận lý tưởng theo cách hiểu rộng nhất bao gồm ba yếu tố có tính bản thể sau: ý niệm, dạng thức (đặc biệt là ngôn ngữ học) và các thực thể trong thế giới khách quan Thông qua ba yếu tố này, chúng ta sẽ có thể xác định được năm mối quan hệ hoán dụ có thể xảy ra: mối quan hệ ký hiệu giữa dạng thức và ý niệm,

ba mối quan hệ quy chiếu (dạng thức/thực thể, ý niệm/thực thể và ý niệm - dạng thức/thực thể) và cuối cùng là mối quan hệ giữa một tín hiệu này (ý niệm - dạng thức) với một tín hiệu khác Trong số năm mối quan hệ hoán dụ đó mối quan hệ giữa một tín hiệu này với một tín hiệu khác được hầu hết các nhà ngôn ngữ học xem như là trường hợp có tính hoán dụ nhất

Trang 39

Có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về hoán dụ trong NNHTN, trong số đó chúng tôi chọn quan điểm của Panther và Thornburg trong Geeraerts và Cuyckens (2007; tr.242) để đưa ra một khái niệm của mình như sau về HDYN:

“HDYN là một quá trình tri nhận mà trong cùng một miền tri nhận, từ một ngữ

nghĩa ban đầu là bản thể nguồn (vehicle) nó có thể tạo ra một ngữ nghĩa mới khác là bản thể đích (target) Mối quan hệ giữa hai ngữ nghĩa này là mang tính tương liên:

ngữ nghĩa nguồn sẽ có tính nền trong khi đó ngữ nghĩa đích thì sẽ được làm nổi bật Mối liên kết hoán dụ giữa miền nguồn và miền đích có rõ ràng hay không là tùy thuộc vào khoảng cách ý niệm giữa chúng và sự nổi bật của nguồn hoán dụ

Hoán dụ ý niệm có một chức năng rất quan trọng đối với các mô hình ý niệm hoá của kết cấu cố định Hầu như các kích hoạt HDYN không được dựa trên các mối quan hệ liên tưởng về mặt vật lý mà chỉ là các ánh xạ trừu tượng dựa trên các kịch bản xảy ra của hành động Do các kích hoạt hoán dụ phụ thuộc rất nhiều vào sự tương liên ý niệm, nghĩa là sự kích hoạt của các khung và kịch bản với các cấu trúc

và bản thể tương ứng của chúng, kết cấu cố định phát sinh từ hoán dụ chỉ có thể rõ ràng khi mà các kiến thức có liên quan làm nền tảng cho sự chuyển đổi hoán dụ vẫn nằm trong phạm vi tiếp cận của người sử dụng ngôn ngữ Sự thiếu vắng hoặc suy yếu của các miền liên kết trong các kết cấu cố định dựa trên HDYN, do đó, có thể được xem như là một trong những yếu tố chính dẫn đến sự mờ nghĩa của từ

Kovecses minh chứng cho quan điểm trên đây của ông bằng cách phân tích một số trường hợp mà trong đó ngữ nghĩa thành ngữ trong các kết cấu cố định được kích hoạt dựa trên HDYN Một trong số các ví dụ điển hình đó là HDYN THE HAND STANDS FOR ACTIVITY (TAY THAY CHO HOẠT ĐỘNG) Cơ sở tri nhận luận của HDYN này là dựa vào sự nghiệm thân tự nhiên: rất nhiều các hoạt động có tính biểu trưng cho con người đều được thực hiện bằng HAND (tay) Xem xét ví dụ sau đây:

(4) to hold one’s hand (td nghĩa đen: giữ, cầm tay của ai): khi chúng ta “giữ

tay” hay “cầm tay” ai, người đó sẽ ngừng hoạt động đang làm Do vậy, kết cấu cố

định to hold one’s hand được kích hoạt ngữ nghĩa trên cơ sở HDYN TAY THAY

CHO HOẠT ĐỘNG sẽ cho chúng ta một ngữ nghĩa thành ngữ là “trì hoãn, cầm chừng” việc thực hiện một hành động hay hoạt động nào đó

 Tri thức có tính quy ước

Kovecses (2010; tr 234) cho rằng tri thức có tính quy ước với tư cách là một

cơ chế tri nhận có thể được hiểu đơn giản như là những tri thức được mọi người

Trang 40

trong một nền văn hóa nhất định chia sẻ như là một miền ý niệm chung Tri thức có tính quy ước này, do vậy, rõ ràng là được quy định rất lớn bởi các đặc thiết chế văn hóa và tư duy của từng dân tộc Chúng ta hãy xem xét một số tri thức có tính quy ước phổ quát qua các ví dụ sau đây:

(5) to have one’s hands full (td nghĩa đen: “đầy tay”): Nếu chúng ta đang

cầm trong tay một đồ vật nào đó thì chúng ta không thể dùng cái tay đó để tiếp tục cầm, nắm một đồ vật hay có thể làm bất cứ việc gì khác nữa Từ đó, một tri thức có tính quy ước được kích hoạt là nếu tay chúng ta đang “đầy” có ý nghĩa biểu trưng là chúng ta đang bận làm một việc gì đó mà không thể thực hiện hoặc tham gia vào các hoạt động khác được nữa

Hãy xem xét một trường hợp khác sau đây:

(6) She gives her love to peope with an open hand (td nghĩa đen: “Cô ấy cho mọi người tình yêu thương của mình với một bàn tay rộng mở”): hình ảnh một

người đưa cho người khác một đồ vật nào đó với đôi bàn tay “mở rộng” gợi mở cho chúng ta một tri thức rằng việc lưu chuyển món đồ đó từ tay người đưa sang người nhận sẽ được thực hiện một cách rất dễ dàng Từ đây xuất hiện một tri thức có tính quy ước đó là người có bàn tay mở rộng sẽ luôn sẵn sàng đón nhận mọi thứ; tri thức này do vậy đã kích hoạt ngữ nghĩa thành ngữ của kết cấu cố định

1.2.3.4 Kết cấu “X + bộ phận cơ thể người” tiếng Việt

Trong lý luận ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu đề xuất các quan điểm khác nhau về tên gọi, nhận dạng cũng như các đặc điểm của kết cấu này Trước hết, hãy bàn về một số quan điểm khác nhau của các nhà Việt ngữ học về đơn vị ngôn ngữ này Theo Nguyễn Văn Tu (1976; tr.178-182), kết cấu cố định là một nhóm các từ kết hợp lại với nhau có quan hệ về nghĩa từ vựng và ngữ pháp Các kết cấu cố định này không phải do chúng ta tùy tiện tạo ra mà đã hình thành sẵn trong lịch sử; là những đơn vị có sẵn như là từ trong ngôn ngữ Chúng là những kết cấu có tính hoàn chỉnh cả về cú pháp lẫn ngữ nghĩa và do vậy được dùng tương đương như một từ và

là đối tượng của từ vựng học

Đồng quan điểm này với Nguyễn Văn Tu, theo Diệp Quang Ban (1989; 7), ngữ cố định (hay còn gọi là tổ hợp từ cố định) là những kết cấu từ vựng cho sẵn

tr.6-có từ hai hình vị trở lên, tr.6-có tính chất cố định, bền vững về từ vựng và ngữ pháp Trong ngữ cố định, các từ cùng nhau biểu thị một (hay một vài) ý nghĩa và ý nghĩa

đó thường là khác rõ rệt so với ý nghĩa của các từ trong tổ hợp cộng lại Từ dùng trong ngữ cố định thường là từ cho sẵn; quan hệ ngữ pháp giữa chúng là những

Ngày đăng: 11/07/2021, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban. (1989). Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông – Tập 2. Hà Nội: NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông – Tập 2
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1989
2. Diệp Quang Ban. (1996). Ngữ pháp tiếng Việt. Hà Nội: NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
3. Diệp Quang Ban. (2008). Cognition: Nhận tri và nhận thức; Concept: Ý niệm hay khái niệm. Ngôn ngữ (Số 2), 1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ (Số 2)
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 2008
4. Đinh Văn Đức. (2001). Ngữ pháp tiếng Việt: Từ loại. Hà Nội: NXB ĐHQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: Từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2001
5. Đỗ Hoàng Ngân. (2002). Một số nhận xét về thành ngữ có từ chỉ BPCT trong tiếng Nhật. Ngôn ngữ (Số 8), 68-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ (Số 8)
Tác giả: Đỗ Hoàng Ngân
Năm: 2002
6. Đỗ Hữu Châu. (1997). Các bình diện của từ và từ tiếng Việt. Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
7. Đỗ Hữu Châu. (1998). Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng. Hà Nội: NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
8. Đỗ Hữu Châu. (1999). Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt. Hà Nội: NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
9. Đỗ Thị Thùy Dương. (2010). Đặc trưng văn hóa-dân tộc của tư duy ngôn ngữ qua hiện tượng tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người (trên tư liệu tiếng Anh và tiếng Việt (Luận văn Thạc sĩ). Đại học KHXH&NV Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng văn hóa-dân tộc của tư duy ngôn ngữ qua hiện tượng tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người (trên tư liệu tiếng Anh và tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Thị Thùy Dương
Năm: 2010
10. Hà Thanh Hải. (2011). Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh – Việt (Luận án Tiến sĩ). Đại học KHXH&NV TP.HCM, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh – Việt
Tác giả: Hà Thanh Hải
Năm: 2011
11. Hoàng Dĩ Đình. (2000). Tản mạn về từ “bụng” của người Việt. Ngôn ngữ và đời sống (Số 1), 24-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: bụng” của người Việt. "Ngôn ngữ và đời sống (Số 1)
Tác giả: Hoàng Dĩ Đình
Năm: 2000
12. Hoàng Văn Hành. (1990). Tìm hiểu thêm về các tổ hợp song tiết kiểu “vui tính”, “mát tay” trong tiếng Việt”. Ngôn ngữ, (Số 35), 35-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: vui tính”, “mát tay” trong tiếng Việt”." Ngôn ngữ, (Số 35)
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1990
13. Hoàng Văn Hành, Hà Quang Năng, và Nguyễn Văn Khang. (1998). Từ tiếng Việt – hình thái – cấu trúc –từ láy – từ ghép – chuyển loại. Hà Nội: NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ tiếng Việt – hình thái – cấu trúc –từ láy – từ ghép – chuyển loại
Tác giả: Hoàng Văn Hành, Hà Quang Năng, và Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
14. Chomsky, N. (2011). Ngôn ngữ và ý thức. (Hoàng Văn Vân dịch). Hà Nội: NXB ĐHQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và ý thức
Tác giả: Chomsky, N
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2011
15. Hồ Lê. (1976). Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại. Hà Nội: NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hồ Lê
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1976
16. Hữu Đạt. (2007). Thử áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận vào phân tích nhóm từ đồng nghĩa chỉ vận động “rời chổ” trong tiếng Việt. Ngôn ngữ(Số 11), 20-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: rời chổ” trong tiếng Việt. "Ngôn ngữ (Số 11)
Tác giả: Hữu Đạt
Năm: 2007
17. Lee, D. (2001). Dẫn luận ngôn ngữ học tri nhận. (Nguyễn Văn Hiệp & Nguyễn Hoàng An dịch). Hà Nội: NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học tri nhận
Tác giả: Lee, D
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
18. Lê Quang Thiêm. (2006). Về khuynh hướng ngữ nghĩa học tri nhận. Ngôn ngữ (Số 11), 6-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ (Số 11)
Tác giả: Lê Quang Thiêm
Năm: 2006
19. Lê Thị Khánh Hòa. (2011). Về cấu trúc “Vị từ + tên gọi bộ phận cơ thể người” (kiểu như mát tay, lên mặt, nóng ruột...) (Luận văn Thạc sĩ ngôn ngữ học). Đại học Sư phạm TP.HCM, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cấu trúc “Vị từ + tên gọi bộ phận cơ thể người” (kiểu như mát tay, lên mặt, nóng ruột...)
Tác giả: Lê Thị Khánh Hòa
Năm: 2011
20. Lê Thị Kiều Vân. (2008). Về miền ý niệm mặt trong giao tiếp của người Việt từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận. Hội thảo khoa học Giáo dục ngôn ngữ tại Việt Nam. TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo khoa học Giáo dục ngôn ngữ tại Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Kiều Vân
Năm: 2008

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm