1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tốt nghiệp sử dụng câu hỏi trong dạy học phần lịch sử việt nam từ thế kỉ x đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10

77 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử Dụng Câu Hỏi Trong Dạy Học Phần Lịch Sử Việt Nam Từ Thế Kỷ X Đến Nửa Đầu Thế Kỷ XIX Lớp 10
Tác giả Trần Thị Thúy Hằng
Người hướng dẫn ThS. Phan Thị Thúy Châm
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2
Chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học Lịch sử
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với bộ môn Lịch sử ngoài những năng lực chung còn có những năng lực chuyên biệt như: tìm hiểu lịch sử; nhận thức và tư duy lịch sử; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.” [22; tr.6] Tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA LỊCH SỬ

======

TRẦN THỊ THÚY HẰNG

SỬ DU ̣NG CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC PHẦN

LI ̣CH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX LỚP 10 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÌM HIỂU LI ̣CH SỬ CHO HỌC

SINH Ở TRƯỜNG THPT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Lịch sử

Người hướng dẫn khoa học

ThS PHAN THỊ THÚY CHÂM

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, bên cạnh sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, còn có sự quan tâm hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, cũng như sự động viên, ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập

và nghiên cứu

Trước hết, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến ThS Phan Thị Thúy Châm

- người thầy đã tận tâm giúp đỡ và cung cấp những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Lịch

sử đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng các thầy cô trong tổ Xã hội và các em học sinh trường THPT Tiên Du số 1 (Bắc Ninh) nơi tôi về thực tập đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành thực nghiệm và hoàn thành khóa luận

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài không tránh khỏi những thiếu xót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của mọi người để khóa luận được hoàn chỉnh hơn

Em xin trân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Trần Thị Thúy Hằng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của mình Những

số liệu và kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Trần Thị Thúy Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mu ̣c đích và nhiê ̣m vu ̣ của đề tài 6

5 Cơ sơ ̉ pháp luâ ̣n và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đo ́ ng góp của khóa luâ ̣n 8

7 Ý nghi ̃a khoa ho ̣c và thực tiễn của đề tài 8

8 Cấu trúc của khóa luận 8

NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC SỬ DỤNG CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX LỚP 10 NHẰM PHÁT HUY NĂNG LỰC TÌM HIỂU LỊCH SỬ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT 9

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 9

1.1.1 Mô ̣t số khái niê ̣m cơ bản 9

1.1.2 Đă ̣c trưng kiến thức li ̣ch sử 13

1.1.3 Đă ̣c điểm tâm lí và nhâ ̣n thức của ho ̣c sinh lớp 10 ở trường THPT 14

1.1.4 Đi ̣nh hướng đổi mới PPDH trong da ̣y ho ̣c Li ̣ch sử ở trường THPT 19

1.1.5 Vai tro ̀, ý nghĩa của viê ̣c sử du ̣ng câu hỏi trong da ̣y ho ̣c Li ̣ch sử nhằm pha ́ t triển năng lực tìm hiểu li ̣ch sử cho ho ̣c sinh ở trường THPT 20 1.2 Cơ sở thực tiễn 24

1.2.1 Thực trạng dạy và học lịch sử ở trường THPT 24

1.2.2.Thư ̣c tra ̣ng sử du ̣ng câu hỏi trong da ̣y ho ̣c li ̣ch sử nhằm phát triển năng lực tìm hiểu li ̣ch sử ở trường THPT 25

Trang 5

Tiểu kết chương 1 32

CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC PHẦN LI ̣CH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX LỚP 10 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÌM HIỂU LI ̣CH SỬ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT 33

2.1 Vi ̣ trí, mu ̣c tiêu, nô ̣i dung phần li ̣ch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX (SGK Li ̣ch sử 10, chương trình chuẩn) 33

2.1.1 Vi ̣ trí 33

2.1.2 Mu ̣c tiêu 34

2.1.3.Nô ̣i dung 35

2.2 Nguyên tắc sư ̉ du ̣ng câu hỏi trong da ̣y ho ̣c Li ̣ch sử ở trường THPT 37 2.2.1.Đa ̉ m bảo nô ̣i dung bài ho ̣c li ̣ch sử 37

2.2.2 Đa ̉ m bảo tính vừa sức 38

2.2.3 Đa ̉ m bảo tính đa da ̣ng trong viê ̣c thiết kế câu hỏi 40

2.2.4 Đa ̉ m bảo tính hê ̣ thống 41

2.3.Quy tri ̀nh sử du ̣ng câu hỏi trong da ̣y ho ̣c Li ̣ch sử để phát triển năng lực tìm hiểu Li ̣ch sử cho HS ở trường THPT 41

2.4 Mô ̣t số biê ̣n pháp sử du ̣ng câu hỏi trong da ̣y ho ̣c phần Li ̣ch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lơ ́ p 10 nhằm phát triển năng lực ti ̀m hiểu li ̣ch sử cho ho ̣c sinh ở trường THPT 43

2.4.1 Sư ̉ du ̣ng câu hỏi nhằm phát triển năng lực nhâ ̣n diê ̣n và sử du ̣ng tư liê ̣u li ̣ch sử 43

2.4.2 Sư ̉ du ̣ng câu hỏi nhằm phát triển năng lư ̣c tái hiê ̣n và trình bày li ̣ch sử 49

2.5.Thư ̣c nghiê ̣m sư pha ̣m 53

2.5.1.Mu ̣c đích thực hiê ̣n 53

2.5.2.Đối tươ ̣ng và đi ̣a bàn thực nghiê ̣m 53

2.5.3.Nô ̣i dung và phương pháp thực nghiê ̣m 53

Trang 6

2.5.4.Kết qua ̉ thực nghiê ̣m 54

2.5.5 Kết luâ ̣n sau thực nghiê ̣m 56

Tiểu kết chương 2 57

KẾT LUẬN 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong thời đại hội nhập như hiện nay, giáo dục là lĩnh vực có vai trò vô cùng quan trọng đối với mọi quốc gia, mọi dân tộc Đảng và nhà nước ta đã

khẳng định: “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Do vậy việc đổi mới giáo

dục là rất cần thiết và là mối quan tâm hàng đầu của các cấp, các ngành, các nhà giáo dục và của toàn xã hội

Để nâng cao chất lượng giáo dục, cần đổi mớ i từ mu ̣c tiêu, chương trình,

sách giáo khoa đến phương pháp da ̣y ho ̣c Đă ̣c biê ̣t phải đổi mới PPDH từ

cách ho ̣c “ truyền thu ̣ mô ̣t chiều” sang viê ̣c HS đươ ̣c chủ đô ̣ng khám phá và chiếm lĩnh kiến thức dưới sự hướng dẫn và đi ̣nh hướng của GV Có rất nhiều biện pháp đổi mới PPDH như cải tiến các PPDH truyền thống, kết hợp đa

dạng các PPDH, PPDH tích cực,…

Lịch sử không chỉ giúp người ho ̣c có được những kiến thức lịch sử mà còn hình thành và phát triển phẩm chất năng lực cho người học Đất nước ta đã trải qua một chặng đường lịch sử với bao thăng trầm của thời đại, có rất nhiều chiến công huy hoàng cũng có những đau thương, mất mát không thể nào

quên Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “ Dân ta phải biết sử ta/ cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”, câu nói này như một lời kêu gọi và yêu cầu của Bác với nhân dân đặc biệt là thế hệ học sinh phải hiểu rõ được lịch sử nước nhà , bởi nếu không có quá khứ thì sẽ không có hiện tại và tương lai Tuy nhiên, thực tế cho thấy môn Lịch sử đang bị ho ̣c sinh thờ ơ, xem nhẹ, chỉ coi

là môn phụ và học theo kiểu đối phó Đồng thời một số GV còn chưa thực sự hiểu sâu về phương pháp dạy học và kiến thức còn lệ thuộc vào SGK, chưa chủ động đổi mới dẫn đến giờ học nặng nề, khó khăn

Đặt câu hỏi là kỹ năng quan trọng đối với mỗi GV và là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng lĩnh hội kiến thức của học sinh Nội dung của câu hỏi sẽ giúp học sinh kích thích tư duy, hướng HS vào nội dung bài

Trang 9

học, đồng thời giúp học sinh dễ dàng khám phá và ghi nhớ kiến thức mới Thế nhưng, trên thực tế viê ̣c đă ̣t câu hỏi trong da ̣y ho ̣c vẫn thường bi ̣ xem nhe ̣ GV chỉ đă ̣t ra những câu hỏi “cho có” chưa chú ý đến kết quả nhâ ̣n đươ ̣c sau khi

HS trả lời Các câu hỏi thường chưa tâ ̣p trung vào nô ̣i du ̣ng kiến thức, thâ ̣m trí

học sinh chỉ đo ̣c la ̣i nguyên trong sách giáo khoa mà không hiểu bản chất câu trả lời, không ta ̣o sự kích thích tìm tòi dẫn đến viê ̣c ho ̣c trở nên năng nề Chương trình giáo du ̣c phổ thông tổng thể và chương trình môn ho ̣c nhấn

mạnh: “giáo dục phải giúp học sinh phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết, khả năng tự học và đi ̣nh hướng nghề nghiệp phù hợp với năng lực

và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân Hệ thống các năng lực chung và năng lực chuyên biệt cho học sinh ở từng môn học đã được đưa ra trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Đối với bộ môn Lịch sử ngoài những năng lực chung còn có những năng lực chuyên biệt như: tìm hiểu lịch sử; nhận thức và tư duy lịch sử; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.” [22; tr.6] Trong đó, NLTHLS là một trong những năng lực quan trọng

giúp học sinh tìm hiểu, khai thác tư liệu để hình thành kiến thức, kĩ năng và thái độ trong quá trình học tập, đồng thời, đây cũng là cơ sở, nền tảng để phát triển các năng lực cần thiết khác

Phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX có vị trí và tầm quan trọng trong đó có nhiều sự kiện quan trọng, nhân vật tiêu biểu, để lại nhiều ý nghĩa, có sử dụng nhiều khái niệm lịch sử đòi hỏi học sinh phải nhận thức đúng bản chất của nó đặc biệt trong giai đoạn này có nhiều tư liệu, sử liệu có giá trị cần khai thác Bở i xem đây là một giai đoa ̣n khó và buô ̣c GV phải có những PPDH tích cực để phát triển NL cho HS đặc biệt là NL THLS

Xuất phát từ những lí do trên tôi quyết định chọn đề tài: “Sử dụng câu hỏi trong dạy học phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp

10 nhằm phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ở trường THPT”

làm đề tài khóa luận của mình

Trang 10

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc sử dụng câu hỏi trong dạy học nhằm phát triển năng lực cho học sinh

ở trường THPT là rất quan trọng Vấn đề này đã được khá nhiều các nhà nghiên cứu và các nhà giáo dục trình bày trong bài viết của mình

Ta ̀i liê ̣u nước ngoài

B.P Exipop đã viết “Những cơ sở lý luận dạy học” (1971), tập 3 NXB Giáo dục, “nhấn mạnh đến việc nâng cao tính tích cực, sáng tạo, độc lập, ham hiểu biết của HS trong quá trình học tập, đồng thời nêu rõ nhiệm vụ của nhà trường là phải phát triển tính tích cực và phương pháp làm việc tự lập cho HS” [9; tr.112]

Trong cuố n Phương pha ́ p và kĩ thuật lên lớp của N.Miacolep do

Nguyễn Hữu Chương di ̣ch (NXB Giáo du ̣c Hà Nô ̣i, 1973) Tác giả đã khẳng

đi ̣nh : “ Mỗi câu hỏi phải là một bậc thang để khái quát viê ̣c đưa ra chứ nhất quyế t không re ̃ sang hướng khác.” [14 ;tr.121]

Trong giáo dục lịch sử, N.G Dari với cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” NXB Giáo dục, Hà Nội, 1973 đã viết: “Tác giả đã đưa ra những yêu cầu quan trọng của giờ học lịch sủ, trong đó hoạt động nhận thức tích cực của HS là một điều kiện bắt buộc đối với giờ học được tổ chức khoa học

A.V Petrovsiki trong cuố n Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm,

tập 1, (NXB Giáo dục, 1982) đã trình bày về đă ̣c điểm tâm lý của HS THPT

từ đó có các biê ̣n pháp phù hơ ̣p để giáo du ̣c trẻ

Trang 11

Tác phẩm “Dạy học nêu vấn đề của I.La.Lecne “ do Phan Tất Đắc di ̣ch

(NXB Giáo du ̣c Hà Nô ̣i, 1997), tác giả khẳng đi ̣nh : “ sự cần thiết của viê ̣c đặt nhiê ̣m vụ nhận thức cho HS trong suốt giờ học bằng cách lập một hê ̣ thố ng câu ho ̉i liên quan chặt chẽ với nhau Các tài liê ̣u sử dụng để đặt câu

ho ̉i phải đa dạng, chính xác và phù hợp với mức độ nhận thức của HS Đồng thơ ̀ i đề cập đến vai trò của người giáo viên trong dạy học, đặc biê ̣t là vai trò

đi ̣nh hướng của GV nhằm phát triển năng lực cho HS.” [11;tr.85]

Ta ̀i liê ̣u trong nước:

“Vấn đề đặt câu hỏi của Giáo viên ở lớp kiểm tra đánh giá viê ̣c học tập

cu ̉a học sinh” cuả Nguyễn Đình Chỉnh (NXB Giáo du ̣c Hà Nô ̣i, 1995), tác giả

đã nêu lên sự cần thiết của viê ̣c đă ̣t câu hỏi trong quá trình da ̣y ho ̣c, nêu lên những yêu cầu khi GV đă ̣t câu hỏi cho HS và nêu lên mô ̣t số loa ̣i câu hỏi có thể sử du ̣ng trong da ̣y ho ̣c kiểm tra đánh giá

Trần Thị Tuyết Oanh trong cuố n Giáo trình giáo dục học tập 1 (NXB

ĐHSPHN, Hà Nội, 2005) tác giả đã đề câ ̣p đến viê ̣c da ̣y ho ̣c tiếp cận năng lực cho HS ở trường THPT và mô ̣t số biê ̣n pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo

Cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới”, NXB Giáo

dục (2010), tác giả Thái Duy Tuyên tiếp tục đề cập đến phương pháp dạy học hiện đại, trình bày những cơ sở lí luận và hệ thống các phương pháp dạy học

hiện đại Tác giả cũng dành một phần “Những vấn đề cấp thiết” trình bày về

nội dung đổi mới phương pháp dạy học- tái hiện và sáng tạo trong dạy học,

tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh và nhấn mạnh “Điều quan

Trang 12

trọng nhất trong việc đổi mới phương pháp dạy học là Thầy dạy thế nào để học sinh động não, để làm thay đổi chất lượng hoạt động trí tuệ của học sinh, làm phát triển trí thông minh, trí sáng tạo của họ Đó là bản chất của vấn đề,

là sự vận động nội tại của phương pháp giảng dạy” [6; tr.68]

Trong giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” (2012), NXB ĐHSP

Hà Nội, (Phan Ngọc Liên chủ biên) “Việc phát triển năng lực nhận thức và hành động cho học sinh trong quá trình học tập lịch sử không chỉ làm cho học sinh hiểu biết sâu sắc hơn, mà còn luyện tập cho các em trở thành người có tư duy độc lập, chủ động tích cực trong suy nghĩ và hành động”.[4;tr.59]

Trong luận văn Thiết kế và sử dụng câu hỏi trong dạy học li ̣ch sử ở trường THPT (qua ví dụ Li ̣ch sử Việt Nam giai đoạn 1930-1945 ở lớp 12)

củ a Nguyễn Thi ̣ Duyên (2001), tác giả khẳng đi ̣nh “…viê ̣c sử dụng câu hỏi

la ̀ m phương tiê ̣c kích thích tính tích cực, độc lập trong nhận thức, tư duy học sinh – cu ̀ ng với kết hợp đồng bộ, hợp lí của các phương pháp, biê ̣n pháp sư pha ̣m khác đã góp phần nân cao hiê ̣u quả bài học li ̣ch sử.” [ 19;tr.125]

Trong luận văn Sử dụng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học li ̣ch sử để pha ́ t huy tính tích cực, chủ động của học sinh (2012) của Mã Thi ̣ Xuân Thu

Tác giả đã nhấn ma ̣nh: “ Viê ̣c đặt câu hỏi trong dạy học li ̣ch sử là một trong như ̃ng biê ̣n pháp quan trọng để phát triển tư duy học sinh Song sử dụng câu

ho ̉i và hê ̣ thống câu hỏi như thế nào để phát huy tính tích cực của học sinh là

mô ̣t vấn đề khó và phức tạp.” [21; tr.67]

Chương trình giáo du ̣c phổ thông tổng thể (Ban hành kèm theo Thông

tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã nêu : “Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc

Trang 13

tham gia vào cuộc sống lao động, khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới.” [22;tr.6]

Khi tìm hiểu các nguồn tài liệu có thể thấy việc sử du ̣ng câu hỏi trong DHLS và da ̣y ho ̣c phát triển năng lực nhâ ̣n được sự quan tâm, nghiên cứu Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về việc sử du ̣ng câu hỏi trong dạy ho ̣c nhằm phát triển NL THLS trong phần Li ̣ch sử Viê ̣t Nam từ thế

kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX (SGK lịch sử 10 chương trình chuẩn) do đó tôi

lựa chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu của mình

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc sử dụng câu hỏi trong dạy học phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 nhằm phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ở trường THPT

- Đề xuất một số biện pháp sử du ̣ng câu hỏi trong da ̣y ho ̣c phần Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớ p 10 (chương trình chuẩn) nhằm phát triển năng lực tìm hiểu li ̣ch sử cho ho ̣c sinh ở trường THPT

Trang 14

- Các câu hỏi có thể vận dụng vào dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX (lớp 10, chương trình chuẩn) nhằm phát triển năng lực nhâ ̣n diê ̣n và sử du ̣ng tư liê ̣u li ̣ch sử

- Các câu hỏi có thể vận dụng vào dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX (lớp 10, chương trình chuẩn) nhằm phát triển năng lực tái hiê ̣n và trình bày li ̣ch sử

- Nguyên tắ c sử du ̣ng câu hỏi trong da ̣y ho ̣c Li ̣ch sử ở trường THPT

- Quy trình sử du ̣ng câu hỏi trong da ̣y ho ̣c Li ̣ch sử để phát triển năng lực tìm hiểu Lịch sử cho HS ở trường THPT

- Một số biê ̣n pháp sử du ̣ng câu hỏi trong da ̣y ho ̣c phần Li ̣ch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớ p 10 nhằm phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho ho ̣c sinh ở trường THPT

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính đú ng đắn của những đề tài đưa ra

5 Cơ sở pháp luâ ̣n và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta về giáo dục

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu lí thuyết: Tìm hiểu và phân tích, tổng hợp sách báo, tạp chí, khóa luận, bài nghiên cứu, internet… về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học LS, vấn đề sử dụng câu hỏi trong dạy học Lịch sử ở trường trung học phổ thông; phân tích nội dung chương trình, SGK lớp 10 hiện hành

Trang 15

Nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, dự giờ, trao đổi với giáo viên, học sinh, điều tra xã hội học để đánh giá về thực trạng sử dụng câu hỏi trong dạy học Lịch sử ở trường trung học phổ thông; Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra, đối chứng kết quả nghiên cứu của đề tài

Thực nghiệm sư phạm: sử dụng câu hỏi nhằm phát huy năng lực tìm hiểu lịch sử của học sinh lớp 10 ở trường THPT Tiên Du số 1

6 Đóng góp của khóa luâ ̣n

Đề tài góp phần:

Khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học Lịch sử phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 nhằm phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ở trường THPT

Đề xuất một số biện pháp sử dụng câu hỏi trong DH Lịch sử

7 Ý nghi ̃a khoa ho ̣c và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm đa dạng lí luận dạy học bộ môn lịch sử

Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp GV và HS tiếp nhận kiến thức LS, kiến thức lí luận dạy học bộ môn, đặc biệt là việc sử dụng câu hỏi trong dạy học nhằm phát huy NL cho HS

8 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận bao gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sơ ̉ lí luận và thực tiễn của viê ̣c sử dụng câu hỏi trong dạy

ho ̣c phần li ̣ch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 nhằm pha ́ t triển năng lực tìm hiểu li ̣ch sử cho học sinh ở trường THPT

Chương 2: Biện pháp sử dụng câu hỏi trong dạy học phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 nhằm phát huy năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ở trường THPT

Trang 16

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC SỬ DỤNG CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX LỚP 10 NHẰM PHÁT HUY NĂNG LỰC TÌM HIỂU

LỊCH SỬ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT

[8;tr.62]

Theo chương trình giáo du ̣c phổ thông tổng thể: “năng lực là thuộc tính

cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” [22;tr.14 ]

Tóm lại, dựa trên nhiều ý kiến ở trên ta có thể đưa ra định nghĩa như sau: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”

Năng lực được chia thành 2 loại là năng lực chung và năng lực chuyên biệt

Trang 17

Năng lực chung là những năng lực cốt lõi của các hoạt động trong cuộc sống, học tập và lao động và đươ ̣c hình thành, phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người và quá trình giáo dục Bao gồm các nhóm NL chung như sau:

- NL công cụ: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL ICT

- NL chung số ng/ NL xã hô ̣i: NL giao tiếp, NL hơ ̣p tác

- NL làm chủ và phát triển bản thân: NL thẩm mĩ, NL tự chủ

NL chuyên biệt được hiểu là những NL được hình thành và phát triển

dựa trên cơ sở các NL chung theo hướng chuyên sâu hơn, đă ̣c thù trong các loại hình công việc hoặc tình huống, môi trường cụ thể

Trong quá trình dạy học Lịch sử, việc phát triển năng lực chuyên biệt rất được chú trọng Năng lực chuyên biệt được chia thành ba loại năng lực:

- NL THLS: “ học sinh co ́ khả năng nhận diện được các tư liệu lịch sử, khai thác và sử dụng được tư liệu lịch sử nhằm phu ̣c vụ quá trình học tập của

mi ̀nh Đồng thời tái hiện nội dung lịch sử thông qua hình thức nói hoặc viết từ đơn giản đến phức tạp; xác định được các sự kiện trong không gian và thời gian cụ thể” [23;tr.7]

- NL nhận thức và tư duy lịch sử: “ Hs co ́ khả năng chỉ ra được quá trình phát triển của lịch sử; ti ̀m hiểu được sự giống và khác nhau giữa các sự kiện; lí giải được mối quan hệ ca ́ c sự kiê ̣n trong tiến trình của lịch sử Đưa ra được những đánh giá của bản thân về các sự kiện, nhân vật trên cơ sở nhận thức và tư duy; hiểu được sự tiếp nối và thay đổi của lịch sử, biết suy nghĩ theo những hướng khác nhau khi đánh giá về sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử” [23;tr.7]

- NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: “ rút ra được bài học và sư ̉ dụng được kiến thức lịch sử để lí giải những ti ̀nh huống thực tiễn; tự tìm hiểu những vấn đề lịch sử, phát triển năng lực sáng tạo, có khả năng tiếp cận và

Trang 18

xử lý thông tin từ những nguồn khác nhau, có ý thức và năng lực tự học lịch

sử suốt đời.” [23;tr.7]

Nhận thấy NLTHLS là mô ̣t năng lực quan tro ̣ng và cần thiết cho ho ̣c sinh khi học môn li ̣ch sử Bởi li ̣ch sử là quá khứ, ta chỉ có thể tiếp câ ̣n quá khứ qua tài liê ̣u, sử liê ̣u,… nhằm tái hiê ̣n sự kiê ̣n trong quá khứ Trong da ̣y

học Li ̣ch sử GV không thể giới thiê ̣u hết tất cả các kiến thức LS cho HS mà chỉ có thể giúp HS nắm những kiến thức cơ bản Hơn nữa muố n so sánh, sử

dụng kiến thức thì đầu tiên ta phải nắm chắc bản chất của sự kiê ̣n ấy, vì vâ ̣y NLTHLS đóng vai trò là nền tảng cho sự hình thành các NL chuyên biê ̣t khác

Do đó, tôi tâ ̣p trung nghiên cứu phát triển NL tìm hiểu li ̣ch sử cho HS

1.1.1.2 Câu ho ̉ i

Thườ ng ngày ta thường sử dụng và phải giải quyết các câu hỏi Nhưng không mấy ai hiểu rõ được khái niệm chung nhất về câu hỏi, có rất nhiều ý kiến và khái niệm khác nhau

Khi nhắc đến câu hỏi, ta phải xác định trên 2 khía cạnh

Về nội dung: câu hỏi là câu nói lên sự thắc mắc, hoài nghi về một vấn

đề nào đó và cần được làm rõ

Về hình thức: có dấu chấm hỏi “?” hoặc có từ để hỏi: “ tại sao”?, “ như

thế nào”?, “ở đâu”?,… Tuy nhiên trong một số trường hợp, câu hỏi chứ a nội dung nghi vấn tuy nhiên không có dấu chấm hỏi hay có từ để hỏi nhưng chúng ta vẫn nhận biết qua ngữ điệu

Trong dạy học lịch sử, câu hỏi thường nêu lên mâu thuẫn giữa kiến thức đã học với kiến thức mới, giữa kiến thức và cách giải quyết kiến thức

Có nhiều căn cứ để phân chia câu hỏi: theo các khâu, theo các giai đoạn của bài học, theo nội dung, theo mục đích của câu hỏi, theo định hướng câu trả lời,theo không gian sử dụng…

Trang 19

- Dựa vào mức độ nhận thức của học sinh thì câu hỏi được chia thành: + Câu hỏi tái hiện: học sinh tái hiện những kiến thức đã được học + Câu hỏi phát hiện (câu hỏi tìm kiếm): học sinh đọc SGK, tư liệu là có thể trả lời được, tạo hứng thú học tập, cung cấp kiến thức mới

+ Câu hỏi phát triển: Đòi hỏi học sinh phải độc lập suy nghĩ và có tính sang tạo, không chỉ ghi nhớ mà còn nắm vững bản chất sự kiện,…

Nếu dựa vào thời điểm sử dụng, câu hỏi được chia thành các loại sau:

+ Câu hỏi nêu vấn đề: được dung vào đầu giờ, đầu mục để đặt ra nhiệm

vụ nhận thức cho học sinh

+ Câu hỏi gợi mở: Dùng trong quá trình biễn tiến bài học, nhằm tìm hiểu nội dung của bài học

+ Câu hỏi củng cố, kiểm tra: Sử dụng ở cuối bài học

Tuy nhiên, đa số mọi người thường chia câu hỏi theo mức độ nhâ ̣n thức của câu hỏi bao gồm:

+ Câu hỏi nhận biết: Yêu cầu học sinh nhớ hoặc nhận ra những kiến thức cơ bản đã biết, đã đươ ̣c ho ̣c Có nghĩa là học sinh phải nhắc lại một loạt

các sự kiê ̣n, từ các sự kiện đơn giản đến các khái niệm lí thuyết, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết Đây là mức độ thấp nhất đạt được trong lĩnh vực nhận thức.Ví dụ như trình bày diễn biến, mốc thời gian, liệt kê các sự kiện chính,…

+ Câu hỏi thông hiểu: Yêu cầu học sinh giải thích được bản chất sự kiện, mối liên hệ giữa các sự kiện, diễn đạt được kiến thức đã học theo ý hiểu của mình và trả lời được các câu hỏi tương tự Điều đó có thể được thể hiện bằng việc chuyển tài liệu từ dạng này sang dạng khác (từ các số liệu sang ngôn từ ), bằng cách giải thích được tài liệu (giải thích hoặc tóm tắt), mô tả theo ngôn từ của mình Câu hỏi này ở mức độ này cao hơn so với mức độ nhận biết Ví du ̣ như giải thích nguyên nhân, phân tích mố i quan hê ̣ của sự kiện này với sự kiê ̣n kia,…

Trang 20

+ Câu hỏi vận dụng: Yêu cầu học sinh vận dụng những kiến thức đã học để giải quyết một vấn đề nào đó của lịch sử như đánh giá sự kiện đã học với thực ta ̣i Ở mức đô ̣ này học sinh vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần mà có thể sử dụng, xử lý các kiến thứ c li ̣ch sử của chủ đề trong các tình huống tương

tự Ví du ̣ như: Đánh giá sự ảnh hưởng giữa 2 sự kiê ̣n, liên hê ̣ sự kiê ̣n này với

sự kiê ̣n kia,

1.1.2 Đă ̣c trưng kiến thức li ̣ch sử

Thứ nhất là tính quá khứ: “ Lịch sử là một dòng chảy liên tục trên trục thời gian từ quá khứ, hiện tại đến tương lai Nhận thức lịch sử trong khoa học lịch sử là nhận thức phần quá khứ trên trục thời gian ấy, bởi vậy người ta không thể tận mắt chứng kiến mà chỉ tiếp cận được chúng thông qua các tài liệu lịch sử.” [1;tr104] Yêu cầu củ a GV là giúp HS tiếp cận lịch sử một cách khách quan, trung thực Để đảm bảo đươ ̣c điều này, mỗi câu hỏi của GV đă ̣t

ra phải giúp HS khai thác tài liê ̣u li ̣ch sử nhằm hình thành và phát triển kiến thứ c của bản thân

Thứ hai là tính không lặp lại: “ Không có một sự kiện, hiện tượng Lịch sử nào xảy ra cùng thời điểm, trong các thời kì khác nhau là hoàn toàn giống nhau, dù có điểm giống nhau, không lặp lại mà là sự kế thừa, phát triển, sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại” [1; tr105]

Do đó khi đă ̣t câu hỏi trình bày một sự kiện, hiện tượng nào đó trong lịch sử phải chú ý đến thời gian và không gian làm xảy ra sự kiện, hiện tượng đó

Thứ ba là tính cụ thể: “ Các nước, các dân tộc khác nhau đều mang những nét đặc sắc riêng trong tiến trình lịch sử và quy luật của nó Mỗi sự kiện cụ thể đều có hoàn cảnh, diễn biến, kết quả, ý nghĩa cụ thể.” [1; tr110]

Vì vâ ̣y GV cần đă ̣t những câu hỏi giúp HS hướng tới viê ̣c trình bày các

sự kiện lịch sử một cách chi tiết, sinh động càng trở nên cần thiết

Thứ tư là tính hệ thống (logic): “Nội dung tri thức trong môn Lịch sử rất phong phú, đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người, bao

Trang 21

gồm cả chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa - nghệ thuật, khoa học - kĩ thuật Nô ̣i dung được nằm trong hệ thống, quan hệ chặt chẽ với nhau Việc tìm hiểu kiến thức mới va ̀ nhắc lại kiến thức cũ cần làm rõ mối quan hệ giữa các sự kiện để thấy được tính logic của Lịch sử.” [1; tr141]

Các câu hỏi liên hê ̣ các sự kiê ̣n với nhau sẽ giúp HS nhìn nhận lịch sử như một bức tranh toàn cảnh trên tất cả những lĩnh vực kinh tế, chính trị văn hóa – xã hội của từng giai đoạn, thời kỳ lịch sử

Thứ năm là tính thống nhất giữa “sử” và “luận”: trước tiên ta hiểu phần phần “sử” và phần “luận” như sau: “Phần sử là các sự kiện, hiện tượng đã xảy ra trong xã hội loài người (Lịch sử thế giới) cũng như của dân tộc (Lịch

sử dân tộc Phần luận là cách giải thích, đánh giá, nhận xét, bình luận về các

sự kiện lịch sử đã sảy ra Hai phần sử và luận có mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời nhau” [1; tr.148]

Mọi sự kiện nếu muốn được sáng tỏ thì buộc phải giải thích, lý giải bản chất của nó , ngược lại mọi sự lý giải, giải thích, chứng minh đều phải lấy cơ

sở từ sự kiện lịch sử cụ thể Từ đặc điểm này, trong quá trình giảng dạy giáo viên cần đảm bảo sự thống nhất và liên kết giữa trình bày sự kiện với việc giải thích, bình luận sự kiện bằ ng cách đă ̣t các câu hỏi dựa vào thông tin sự kiê ̣n ở

mứ c đô ̣ thấp để đánh giá sự kiê ̣n ở mức đô ̣ cao hơn

Việc xác định những điều này giúp chúng ta tìm ra phương pháp, con đường thích hợp, có hiệu quả cho việc dạy học LS ở trường phổ thông

1.1.3 Đă ̣c điểm tâm lí và nhâ ̣n thức của ho ̣c sinh lớp 10 ở trường THPT

* Đặc điểm tâm lý

Lứa tuổi này bắt đầu từ 16 đến 18 tuổi Trong tâm lý học, các nhà nghiên cứu đã xếp HS THPT thuộc giai đoạn tuổi đầu thanh niên- độ tuổi có

Trang 22

nhiều sự thay đổi mới trong quá trình phát triển Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối, hoàn chỉnh về chiều cao, cân nặng, Đồng thời, tâm lý ở tuổi HS THPT cũng thể hiện tính chất phức tạp và không cố định chính vì vậy các nhà tâm lý học Macxit cho rằng:

“Khi nghiên cứu tuổi HS THPT thì cần phải kết hợp với quan điểm của tâm lý học xã hội và phải tính đến quy luật bên trong của sự phát triển lứa tuổi”

Thứ nhất, nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe hơn tuổi HS

THPT Sự phát triển sẽ có tác đô ̣ng đến nhân cách và tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của HS

Thứ hai là điều kiện sống và hoạt động (gia đình, trường học, xã hội):

Các em thấy được trách nhiệm của mình đối với gia đình khi được tham gia vào các vấn đề quan trọng Ở trườ ng ho ̣c, hoạt động chủ đạo vẫn là ho ̣c tâ ̣p và đòi hỏi các em tích cực, chăm chỉ, cố gắng vận dụng tri thức một cách phù

hợp

Trong lứa tuổi này HS THPT phát triển rất nhiều so với HS THCS chính vì vậy cần phải thay đổi phương pháp dạy học nói chung và phương pháp đặt câu hỏi nói riêng nhằm kích thích, khơi gợi hứng thú và hiệu quả học tập cho học sinh ở tất cả các môn học trong đó có môn Lịch sử

Ở lứa tuổi này HS có thể xác định mục đích, khuynh hướng học tập Các em bắt đầu tập trung vào các môn học yêu thích của mình Đồng thời các

em cũng đã hiểu mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời và những môn học chính là điều kiện cần thiết để tham gia hiệu quả vào cuộc sống lao động

xã hội Do đó , thái độ học tập các môn học của HS THPT có những chuyển biến rõ rệt nhằm chuẩn bị cho nghề nghiệp trong tương lai

Sự phát triển tâm lí xã hội:

Thứ nhất là sự phát triển xúc cảm, tình cảm: Khả năng tự kiểm soát và

tự điều chỉnh cảm xúc của các em đã được ổn định hơn Nội dung, chất lượng của tình cảm dần trở nên phong phú , tình cảm đạo đức dần được hình thành

Trang 23

Đặc biệt là sự xuất hiện của một loại tình cảm là tình cảm nam nữ, biểu hiện của loại tình cảm này khá phức tạp và nhảy cảm Chính vì vậy, giáo viên nên

có những thái độ và biện pháp thích hợp, tế nhị và không nên can thiệp một cách thô bạo tránh những phản ứng tiêu cực từ phía HS

Thứ hai là sự phát triển về nhu cầu: ở lứa tuổi này quan hệ bạn bè

chiếm vị trí quan trọng hơn hẳn Các em coi người bạn của mình như “ cái tôi” thứ 2 để giãi bày tâm sự Vì vậy GV cần tạo điều kiện cho HS phát triển quan hệ giao tiếp, hợp tác trong tập thể nhằm tạo các mối quan hệ, tình bạn sự gắn bó tốt đẹp giữa các bạn học sinh với nhau Một đặc điểm nổi bật của lứa tuổi này là cảm giác mình đã trở thành người lớn và mong muốn trưởng thành của HS thể hiện rất rõ Do vậy HS có nhu cầu về tính độc lập, khao khát được khẳng định cái “tôi” của mình dẫn đến đôi khi các em ấm ức thậm trí là phản kháng khi GV chưa nhìn nhận mình là một người lớn và không hiểu được tâm

tư nguyện vọng cùa mình Một điều kiện thuận lợi để phát triển năng lực của

HS là khuynh hướng học tập các môn học đã gần được hình thành rõ rệt Nhà trường nên quan tâm tổ chức học tập cho thích hợp nhằm phát huy tối đã tiềm năng và nhu cầu học tập của HS

Thứ ba là sự phát triển khả năng tự đánh giá, tự ý thức và tự giáo dục: Biểu hiện đặc trưng của khả năng tự ý thức ở độ tuổi này là khả năng tự đánh giá bản thân theo chuẩn mực của xã hội Tuy nhiên lòng tự trọng ở lứa tuổi này phát triển mạnh, biểu hiện ở chỗ các em không chấp nhận mình kém coi hay thua người khác Lòng tự trọng thường phát triển theo hai chiều hướng là tính tự trọng cao (đánh giá mình không thấp hơn người khác, biết bảo vệ nhân cách của mình) hoặc tính tự trọng thấp (không hài lòng về bản thân, xem thường chính mình, tự ti) Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhân cách của HS THPT

Do đó , với những đặc điểm riêng biệt và sự trưởng thành về tư duy và nhu cầu về môn học định hướng nghề nghiệp đòi hỏi người GV cần phải biết

Trang 24

thay đổi phương pháp phù hợp, có hiệu quả Ho ̣c tâ ̣p nhờ khám phá luôn mang lại sự những sự thú vị nhất đi ̣nh cho HS, đặc biệt đặc trưng của Lịch sử

là tìm hiều về quá khứ, về những gì đã diễn ra từ đó yêu cầu GV cần phải sử dụng linh hoạt và có hiệu quả các câu hỏi nhằm giúp HS khai thác, ghi nhớ và hiểu bản chất sự kiện một cách chính xác nhất

*) Đặc điểm nhận thức

Bao gồm những điểm chung và điểm riêng biệt đốivới quá trình nhận thức của loài người

Thứ nhất (điểm chung): Trong học tập Lịch sử, quá trình nhận thức trải

qua các giai đoạn từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính Quá trình này

là kết quả của việc tiếp nhận và ghi nhớ kiến thức LS, tạo biểu tượng

Thứ hai (điểm riêng): Khác so với quá trình nhận thức chung của loài người là sự nhận thức của HS mang tính gián tiếp, tính được hướng dẫn và tính giáo dục

- Tính gián tiếp: HS tiếp cận li ̣ch sử thông qua tài liệu và GV Do đặc trưng tính quá khứ của Lịch sử nên HS không thể trực tiếp tiếp câ ̣n với quá khứ mà phải thông qua tri giác với tư liệu, hiện vật LS

- Tính được hướng dẫn: quá trình học tâ ̣p của HS được tiến hành ở mô ̣t điều kiện sư phạm nhất định và dưới sự hướng dẫn của GV Ở HS THPT, tư duy trừu tượng đang phát triển, nên cần chú ý tăng cường các hoạt động kích thích để hoàn thành giai đoạn nhận thức đó Tuy nhiên quá trình nhận thức của HS không tự diễn ra mà phải có sự kích thích; do đó việc sử dụng hệ thống câu hỏi trong quá trình dạy học có ý nghĩa quan trọng và thiết thực để kích thích quá trình học tâ ̣p của HS Vai trò định hướng của GV và sự chủ động của HS là yếu tố quyết định đến kết quả của quá trình giảng dạy và học tập

- Tính giáo dục: Quá trình học tâ ̣p của học sinh là quá trình tiếp thu tri thứ c để phát triển các năng lực cần thiết Tính giáo dục trong dạy học phải

Trang 25

được định hướng, kết hợp chặt chẽ với nội dung kiến thức Các câu hỏi sẽ giúp HS định hướng và đi đến kiến thức cần đạt

Do đó , GV cần quan tâm đặc biệt đến phương pháp giảng dạy nói chung và các biện pháp sử dụng câu hỏi nói riêng nhằm góp phần phát triển năng lực cho HS Được tự mình khám phá những vấn đề lịch sử giúp HS nhớ lâu kiến thức, hiểu rõ bản chất Nếu GV sử dụng tốt các câu hỏi sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn ở trường phổ thông

Sự phát triển về nhận thức:

Thứ nhất về sự phát triển tri giác: việc học tập và chỉ số tri giác của HS THPT lớn so với lứa tuổi THCS HS bắt đầu tập trung quan sát để tìm ra “cái riêng” của mỗi đối tượng khác nhau

Thứ hai về sự tập trung chú ý: được quy định bởi sự lựa chọn các môn

học yêu thích của mình Ở lứa tuổi này các em đã biết phối hợp giữa việc ghi chép, nghe giảng, và tham gia tìm hiểu bài học một các chủ động hơn

Thứ ba là sự phát triển trí nhớ: nhờ sự phát triển của thể chất mà trí nhớ

cũng có sự phát triển Trong các giờ học các em đã biết ghi nhớ kiến thức có chọn lọc và theo các phương pháp nhất định Vì vậy trong dạy học GV cần chủ ý bồi dưỡng và định hướng cho các em khả năng ghi nhớ logic, hệ thống hóa kiến thức

Thứ tư là về sự phát triển tư duy: đây là giai đoạn hoàn thiện của năng

lực trí tuệ Theo Piaget, ở độ tuổi này HS đã hình thức tư duy hình thức và tư duy logic Tư duy ở lứa tuổi này có tính chặt chẽ hơn và có căn cứ nhất quán hơn, phân biệt cái thực và cái còn nghi ngờ Đồng thời tính phê phán tư duy

cũng phát triển Thứ năm về sự phát triển tưởng tượng: sự tưởng tượng của

HS được xây dựng bằng những chất liệu do hiện thực cung cấp qua hệ thần kinh, các giác quan được phối hợp giữa những yếu tố hiện thực và những hình tượng tưởng tượng Một biểu hiện rõ rệt nhất của tưởng tượng chính là sáng tạo và sự sáng tạo ấy phụ thuộc vào sự phong phú của kinh nghiệm thực tiễn

Trang 26

Kinh nghiệm càng phong phú thì sáng tạo càng đặc sắc Bởi vậy cần tăng cường hoạt động giáo dục kinh nghiệm cho HS đê các em được nghe, được thấy, được nhìn nhiều hơn

1.1.4 Đi ̣nh hướng đổi mới PPDH trong da ̣y ho ̣c Li ̣ch sử ở trường THPT

Trong rất nhiều các giải pháp nhằm nâng cao chất lươ ̣ng đào ta ̣o thì giải pháp đổi mới phương pháp dạy học đươ ̣c xem là khâu vô cùng quan tro ̣ng ở tất cả các cơ sở giáo dục Thực trạng phương pháp dạy học ngày nay vẫn là phương pháp thuyết trình với quan điểm: “Lấy người dạy làm trung tâm”

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật

và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.” (27)

Trong chương trình giáo du ̣c phổ thông tổng thể ban hành ngày

27/12/2018 đã đề câ ̣p đến viê ̣c : “ đổi mới phương pháp dạy học nhằm thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái

gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất cho học sinh.” [23;tr9]

Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức(tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:

Trang 27

+ Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập

+ Chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài liệu học tập

+Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở

thành môi trường giao tiếp GV - HS và HS – HS

+ Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt

tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học)

Tóm lại, có rất nhiều phương hướng đổi mới phương pháp dạy học với những cách tiếp cận khác nhau, tuy thuộc vào đă ̣c thù và mu ̣c tiêu của từng môn học Chương trình đổi mới môn Lịch sử quán triệt đầy đủ quan điểm, mục tiêu, định hướng chung về xây dựng và phát triển chương trình giáo dục phổ thông, đặc biệt là quan điểm phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh Dạy ho ̣c Li ̣ch sử phải mang tính khoa ho ̣c, hê ̣ thống, chú tro ̣ng đến viê ̣c thực hành, phát triển năng lực, đồng thời giáo du ̣c tư tưởng, tình cảm cho HS Việc đổi mới cách thức và nâng cao hê ̣ thống câu hỏi có ý nghĩa quan tro ̣ng đối với viê ̣c đổi mới phương pháp da ̣y ho ̣c Li ̣ch sử với mu ̣c tiêu hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cho HS Việc đă ̣t câu hỏi đóng vai trò chủ

đa ̣o trong bất kì các PPDH nào và nó càng trở nên quan tro ̣ng khi thực hiê ̣n PPDH tích cực

1.1.5 Vai tro ̀, ý nghĩa của viê ̣c sử du ̣ng câu hỏi trong da ̣y ho ̣c Li ̣ch sử nhằm pha ́ t triển năng lực tìm hiểu li ̣ch sử cho ho ̣c sinh ở trường THPT

1.1.5.1 Vai trò

* Đối với GV

Các câu hỏi được cho là một trong những công cụ mạnh nhất trong kho

vũ khí của giáo viên Giáo viên luôn dựa vào các câu hỏi để khai thác, kiểm tra và đánh giá học sinh của họ Chỉ thông qua các đánh giá, giáo viên mới có thể đo lường kiến thức và hiểu biết của học sinh về nội dung học tập Và trong môi trường lớp học truyền thống, đánh giá thường chuyển thành các câu

Trang 28

hỏi Bằng cách đặt câu hỏi đúng, giáo viên sẽ đánh giá đúng một học sinh đã hiểu các khái niệm và thông tin được dạy trong lớp hay chưa đồng thời câu hỏi còn giúp giáo viên xác định lỗ hổng kiến thức, hoặc HS đang gặp khó khăn với tài liệu nào và cần trợ giúp điều gì

Các câu hỏi có sức mạnh làm tăng sự tương tác học tập giữa GV và HS

và giữa các HS với nhau Khi GV đặt câu hỏi thì buộc HS tham gia trả lời câu hỏi và đóng góp vào câu hỏi đó Các câu hỏi sẽ xóa bỏ sự đơn điệu của lớp học và khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình học tập

* Đối với học sinh

Các câu hỏi đối với HS về cơ bản có thể được coi như là một hoạt động cửa ngõ Nếu một câu hỏi không thể khơi dậy sự tò mò của mình, có lẽ bạn sẽ không bao giờ muốn tìm ra câu trả lời Mặt khác, nếu một câu hỏi thú vị, kích thích khiến bạn tò mò thì chắc chắn bạn sẽ theo dõi dấu vết của nó và đi đến câu trả lời cuối cùng Và hơn thế nữa, bạn có thể hiểu nó và ghi nhớ nó một cách dễ dàng hơn

Tử Hạ đã nói: "Mỗi ngày biết thêm điều mình chưa biết, như vậy mới đáng gọi là người ham học" Một học sinh biết cách học tốt là người biết cách

khai thác câu hỏi và tìm ra câu trả lời được chính xác cho câu hỏi đó Nếu câu hỏi càng được suy ngẫm lâu, càng tốn nhiều thời gian khám phá, tìm tòi câu trả lời thì kiến thức càng vững chắc, càng khó bị "vô ý"" xoá khỏi trí nhớ Tóm lại việc sử dụng câu hỏi là một trong những con đường, phương pháp học tập hiệu quả nhằm phát huy năng lực tìm hiểu lịch sử cho

HS, góp phần thực hiện mục tiêu môn học

1.1.5.2 Ý nghĩa

“Garbage in, Garbage out” là một câu phổ biến trong lĩnh vực tin ho ̣c: nếu bạn cung cấp thông tin đầu vào sai thì kết quả trả về sẽ bị sai Đây cũng là quy tắc phổ biến trong giao tiếp: nếu bạn đặt câu hỏi sai thì bạn sẽ nhận được câu trả lời sai hoặc một câu trả lời không như trông đợi

Trang 29

Việc đặt câu hỏi không chỉ có ý nghĩa đă ̣c biê ̣t trong việc kiểm tra đánh giá mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện cho HS

Về kiến thức: Sử dụng câu hỏi trong học tập giúp HS nắm vững kiến

thức lịch sử trên cả 3 mức độ biết, hiểu và vận dụng

Thứ nhất, việc sử dụng các câu hỏi trong học tập như câu hỏi gợi mở,

câu hỏi khai thác, câu hỏi kiểm tra đánh giá… giúp tích cực nghiên cứu bài hơn nữa HS ở trường THPT có thể phân hóa kiến thức và ghi nhớ thành: kiến thức nào cần nhớ chi tiết kiến thức nào cần khái quát và vấn đề nào cần hiểu sâu Đồng thời GV dễ dàng gợi mở, cung cấp kiến thức nâng cao, liên hệ thực

tế cho học sinh thông qua các câu hỏi mở, câu hỏi liên hệ

Ví dụ khi dạy Bài 24 Tình hình văn hóa ở các thế kỉ XVI – XVIII

GV sử dụng câu hỏi: “Em ha ̃y trình bày những thành tựu tiêu biểu về nghê ̣ thuật và khoa học – kĩ thuật ở các thế kỉ XVI – XVIII? ” để giúp học

sinh tìm hiểu về một số công trình nghê ̣ thuâ ̣t và thành tựu khoa ho ̣c thời kì

này

Thứ hai, giúp HS tìm ra bản chất các vấn đề, sự kiện lịch sử GV định

hướng cho HS khám phá, nghiên cứu những sự kiện một cách sâu sắc để tìm

ra bản chất của sự kiện, nhân vật một giai đoạn lịch sử

Ví dụ khi dạy bài “ Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỷ XVI – XVIII” phần “1 Sự sụp đổ của triều Lê sơ Nhà Mạc được thành lập”

GV sử dụng câu hỏi: “ Hiện nay việc đặt tên đường Mạc Thái Tổ và Mạc Thái Tông ở Hà Nội đang gây tranh cãi bởi sự ra đời và những chính sách của nhà Mạc trước kia Vậy em đánh giá như nào về vương triều này?” giúp HS hiểu

rõ bản chất của vương triều nhà Mạc đồng thời sử dụng những kiến thức đó

để giải quyết các vấn đề thực tế

Thứ ba, học tập thông qua các câu hỏi giú p HS lĩnh hội tổng hợp nhiều kiến thức khác nhau Để trả lời đươ ̣c các câu hỏi thì đòi hỏi HS phải vận dụng

Trang 30

liên hệ linh hoạt nhiều lĩnh vực kiến thức khác nhau như văn học, địa lý, nghệ thuật,…

Ví dụ khi dạy bài 23 “ Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc cuối thế kỉ XVIII” GV sử dụng 2 câu thơ “ Mà nay áo vải

cờ đào/ Giúp dân dựng nước xiết bao công trình” trong bài thơ Ai tư vãn của Ngọc Hân công chúa và đặt câu hỏi: “ Hai câu thơ trên nhắc về nhân vật lịch sử nào?” giúp khơi gợi và xây dựng hình tượng người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ cho HS thông qua việc vận dụng kiến thức văn học để trả lời câu hỏi

Về kĩ năng:

Thứ nhất, câu hỏi góp phần phát triển tư duy và rèn luyện cho HS khả

năng tiếp nhận, diễn đạt một vấn đề lịch sử các kỹ năng giao tiếp cá nhân khi trả lời như: tiếp nhận câu hỏi, phân tích, trình bày, thuyết trình, lập luận giúp học sinh tự tin và nhận thức vấn đề sâu sắc hơn

Thứ hai, câu hỏi góp phần hình thành khả năng tự đánh giá, tự ý thức

và tự tìm hiểu cho HS Các câu hỏi giúp HS tự đánh giá quá trình học tập, tìm hiểu, khai thác tài liệu, thông tin của mình Từ đó có biện pháp tự điều chỉnh trong quá trình học tập nhằm đạt kết quả cao nhất

Về thái độ: sử dụng câu hỏi góp phần bồi dưỡng, giáo dục tư tưởng,

tình cảm phẩm chất đạo đức cho HS THPT

Thứ nhất, giúp HS rèn luyện tinh thần kiên trì, cần cù trong học tập

Khi gặp một câu hỏi khó, chưa thể dễ dàng tìm ra câu trả lời HS cần kiên trì tìm hiểu ở nhiều nguồn tài liệu khác nhau để tìm ra câu trả lời chính xác nhất

và quá trình này chắc chắn gặp rất nhiều khó khăn

Thứ hai, việc sử dụng các câu hỏi còn thể hiện thái độ hợp tác, tích cực

tham gia đóng góp vào tiết học của học sinh Khi câu hỏi được đặt ra, sự hào hứng và cách giải quyết câu hỏi đó của HS là những biểu hiện rõ ràng nhất cho tinh thần học tập

Trang 31

Thứ ba, đáp ứng mục tiêu bài học: Với các mục tiêu thái độ được đặt

ra trước mỗi bài học thông qua các câu hỏi HS có thể trình bày, thể hiện quan điểm của bản thân với những vấn đề LS

Về định hướng phát triển năng lực:

Thứ nhất, các câu hỏi góp phần hình thành và phát triển cho HS những

năng lực chung như: NL tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo, NL giao tiếp, hợp tác

Thứ hai, ngoài việc hình thành và phát triển các NL chung các câu hỏi

còn góp phần phát triển các NL chuyên biệt trong môn lịch sử như:

Trang 32

nhân tiếp theo là do quan niệm không đúng về vị thế, chức năng, nhiệm vụ của môn học trong việc giáo dục nền tảng đạo đức và tinh thần cho thế hệ trẻ Việt Nam

Chúng ta có thể thấy một thực tế, hầu hết mỗi tiết học môn Lịch sử các

em thật nhàm chán, vô vị khi chỉ được tiếp nhận một chiều hay lối học đọc chép truyền thống đã ăm sâu vào cách học của chúng ta Trong kì thi tốt nghiệp Trung học phổ thông những năm gần đây, rất ít các em lựa chọn môn Lịch sử trở thành môn thi tốt nghiệp, đã có trường hợp chỉ có duy nhất một thí sinh dự thi môn Lịch sử Điều đó đã phản ánh một thực trạng học tập bộ môn Lịch sử của học sinh ở trường phổ thông hiện nay

Bên cạnh sự thờ ơ của học sinh thì việc môn Lịch sử ngày càng bị xem nhẹ còn do một số giáo viên chưa thực hiện tốt vai trò của mình: còn chưa thực sự hiểu sâu về phương pháp dạy học và kiến thức còn lệ thuộc vào sách giáo khoa, tức là chưa làm chủ được kiến thức dẫn đến giờ học khô khan nhàm chán và nặng nề chính tình trạng này đã làm mất đi tính hấp dẫn của môn lịch sử Một vấn đề cần phải xét tới là trong khi môn lịch sử được phân

bổ rất ít tiết nhưng chương trình SGK lại quá dài cho nên GV phải chạy đuổi theo chương trình cho kịp tránh tình trạng cháy giáo án; vì vậy giáo viên không có thời gian để phân tích, đặt câu hỏi, đánh giá còn học sinh cũng có quá ít thời gian để tìm hiểu, nghiên cứu vì phải học nhiều môn Bài học sẽ trở nên đơn điệu với phần trình bày của giáo viên mà không có sự tương tác, tham gia đóng góp của HS

Môn lịch sử luôn luôn được khẳng định là quan trọng, nhưng trên thực

tế đã chưa được coi trọng Thực tế đã phản ánh một thực trạng khá buồn của việc dạy và học Lịch sử hiện nay ở trường THPT

1.2.2.Thư ̣c tra ̣ng sử du ̣ng câu hỏi trong da ̣y ho ̣c li ̣ch sử nhằm phát triển năng lực tìm hiểu li ̣ch sử ở trường THPT

Trang 33

Để hiểu được thực trạng, tôi tiến hành phát phiếu điều tra nhiều GV và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm Bao gồm có 10 giáo viên ở các trường: THPT Tiên Du số 1 (Bắc Ninh), THPT Hàn Thuyên (Bắc Ninh), THPT Xuân Áng (Phú Thọ) và học sinh ở Trường THPT Tiên Du số 1 (lớp 10ª2, lớp 10ª3), THPT Xuân Áng ( lớp 10H, lớp 10G,) với số phiếu phát ra là

120 phiếu thu về 120 phiếu

Nội dung điều tra gồm: Quan điểm nhận thức của GV và HS về bộ môn Lịch sử và chất lượng dạy và học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay; Mức

độ, tần suất và hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi trong dạy và học trong DHLS; Hình thức, phương pháp sử dụng các câu hỏi

Hình thức, PP điều tra: Tôi tiến hành trao đổi với GV và HS của trường

thực nghiệm, phát phiếu điều tra cho GV và HS ở 3 trường THPT

Qua điều tra tổng hợp kết quả điều tra thực tiễn, tôi thu được kết quả như sau:

1.2.2.1 Về phi ́a ho ̣c sinh

Điều này cho thấy không phải hầu hết các em học sinh đều quay lưng lại với

Mức độ yêu thích môn Lịch sử

Rất thích Thích Bình thường Không thích

Trang 34

điều này đòi hỏi nhà trường, giáo viên cần có những biê ̣n pháp nhằm tăng sự

hứ ng thú và chất lươ ̣ng giáo du ̣c cho HS đố i với bô ̣ mô ̣n Li ̣ch sử

Từ kết quả thống kê cho thấy, nguyên nhân HS chưa yêu thích và khó khăn trong viê ̣c tiếp thu môn LS có rất nhiều nguyên nhân và một trong những nguyên nhân ấy là do PPDH của GV chưa thực sự cuốn hút Chính vì thế GV cần đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy năng lực, tính tích cực, chủ động của HS

Phương pháp giảng dạy nhàm chán

Phải nhớ nhiều sự kiện, mốc thời gian

Khó vận dụng vào thực tế

Ý kiến khác

Khó khăn khi học môn Lịch sử

Mức độ sử dụng câu hỏi của giáo viên

Thường xuyên Thỉnh thoảng Rất ít

Chưa bao giờ

Trang 35

Từ số liê ̣u kết quả của hai câu hỏi trên ta thấy, ở trường THPT GV đã thực hiện viê ̣c đă ̣t câu hỏi trong quá trình giảng da ̣y Tuy nhiên, viê ̣c này la ̣i không mang lại hiê ̣u quả biểu hiê ̣n là đa số các em không hào hứng và không thích

cách đă ̣t câu hỏi của GV Đây cũng là mô ̣t trong những nguyên nhân khiến

HS chưa thâ ̣t sự yêu thích môn LS và đa số HS đều nhâ ̣n thấy vai trò và ý nghĩa của viê ̣c sử du ̣ng câu hỏi của giáo viên

Từ viê ̣c nhâ ̣n thức đươ ̣c vai trò của câu hỏi, số lươ ̣ng HS mong muố n thay đổi cách đă ̣t câu hỏi theo hướng đảm bảo về hình thức và nô ̣i dung chiếm

Mức độ yêu thích các câu hỏi

Có Không

Ngắn gọn, rõ nghĩa

Phù hợp với khả năng

Thú vị, hình thức bắt mắt

Tất cả các đáp án trên

Mẫu câu hỏi mong muốn

Trang 36

tỉ lê ̣ cao hơn hẳn Điều này đă ̣t ra yêu cầu GV cần phải đổi mới cách đă ̣t câu

hỏi phù hợp nhu cầu và sự phát triển của người ho ̣c

1.2.2.2 Về phi ́a giáo viên

Nhìn vào bảng số liệu trên cho thấy, các GV đều thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc sử dụng câu hỏi

Nhằm tìm hiểu nội dung của bài học

Khơi gợi hứng thú học tập của học sinh

Kiểm tra, đánh giá

Tất cả các phương án trên

Tác dụng của câu hỏi

Trang 37

Nhìn vào bảng số liệu trên cho thấy, các GV đều cho rằng trong xu thế hội nhập như hiện nay việc đổi mới cách học Tuy nhiên do tâm lí ngại thay đổi, chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và ý nghĩa của việc đổi mới nên vẫn còn ý kiến cho rằng không nhất thiết phải thay đổi Một thực trạng đáng buồn ở các trường THPT là việc dạy và học theo phát triển NL vẫn còn chưa được phổ biến và chưa được quan tâm, chú trọng

Nguyên nhân khó học môn Lịch sử

Do cơ sở vật chất

Do phương pháp dạy và học

Do thời lượng tiết học Ý kiến khác

Mức độ tiếp nhận và trả lời câu hỏi

Rất tốt Tốt Không tốt

Trang 38

Nhìn vào bảng kết quả điều tra trên ta thấy mức đô ̣ tiếp nhâ ̣n và trả lời câu hỏ i của HS ở mức đô ̣ thấp vẫn chiếm tỉ lê ̣ cao Điều này phản ánh chất lươ ̣ng và cách đă ̣t câu hỏi của GV chưa thâ ̣t sự đa ̣t hiê ̣u quả Giáo viên thường xuyên sử dụng các câu hỏi vào nhiều mục đích khác nhau tuy nhiên lại chưa đem lại hiệu quả

Ý nghĩa của việc phát triển năng lực tìm hiểu li ̣ch sử

cho học sinh

%

Giúp học sinh nắm vững hiểu sâu, mở rộng vốn kiến

thức lịch sử của mình

4

Giúp học sinh phát triển khả năng tự học, khả năng sử

dụng, khai thác tư liệu

5

Rèn luyện kĩ năng trình bày, thuyết trình các vấn đề lịch

sử bằng lời nói hoặc viết

5

Điều này chứng tỏ GV đã bước đầu chú ý đến viê ̣c da ̣y ho ̣c phát triển

NL cho HS Tuy nhiên vẫn cò n số ít GV vẫn chưa hiểu đầy đủ về phát triển NL THLS một trong số nguyên nhân đó là viê ̣c tâ ̣p huấn cho GV về PPDH chưa thật sự hiê ̣u quả

Từ viê ̣c điều tra thực tra ̣ng sử du ̣ng câu hỏi và NL THLS của HS S ở trường THPT Tiên Du số 1, THPT Xuân Áng tôi nhận thấy:

Việc đặt câu hỏi đóng vai trò quan trọng trong qua trình dạy và học ở trường THPT đối với cả học sinh và giáo viên Việc đặt câu hỏi đã được tiến hành từ lâu tuy nhiên vẫn còn mang nhiều hạn chế như chưa khơi gợi được hứng thú học tập Từ đó, chưa đa ̣t đươ ̣c hiệu quả ho ̣c, chưa phát triển NL cho HS Do đó, đặt câu hỏi phải được quan tâm và tiến hành trong các giờ học Lịch sử một cách khoa học và đạt hiệu quả cao

Ngày đăng: 11/07/2021, 15:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w