1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đối với đời sống văn hóa xã hội phương tây hiện đại và định hướng tiếp nhận nó ở việt nam

116 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ nghĩa hiện sinh cũng không còn dùng lối t- duy trừu t-ợng và những lập luận t- biện của các triết gia x-a kia nữa mà nó đã “xuống đường”, “nhập cuộc” vào văn học nghệ thuật quần chún

Trang 1

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chủ nghĩa hiện sinh hình thành ở châu Âu từ nửa cuối thế kỷ IXX, phát triển mạnh vào những năm tr-ớc và sau đại chiến thế giới thứ hai, bắt đầu suy tàn từ đầu thập niên 60 thế kỷ XX

Chủ nghĩa hiện sinh là triết học về con ng-ời Nó từ bỏ những triết lý

viển vông về Th-ợng đế, ý niệm tuyệt đối, vật tự nó… của triết học truyền

thống để đến thẳng với con ng-ời và những vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống con ng-ời Chủ nghĩa hiện sinh cũng không còn dùng lối t- duy trừu t-ợng và những lập luận t- biện của các triết gia x-a kia nữa mà nó đã

“xuống đường”, “nhập cuộc” vào văn học nghệ thuật quần chúng (kịch, tiểu thuyết, báo chí…) và đời sống xã hội gây nên một phong trào hiện sinh rầm rộ trong một thời gian dài ở các n-ớc ph-ơng Tây và sau đó lan rộng ra nhiều khu vực khác trên thế giới

Chủ nghĩa hiện sinh thực sự trở thành một trong những trào l-u t- t-ởng

có ảnh h-ởng sâu rộng và góp phần quan trọng khắc hoạ nên diện mạo văn hoá tinh thần ph-ơng Tây hiện đại Đến nay chủ nghĩa hiện sinh đã lùi vào dĩ

vãng Nhưng sự kết thúc đó chỉ là trên bình diện lý luận, còn thực tế “Nó đã

ăn sâu vào quan niệm sống của ng-ời Âu Mỹ Nó đã lắng vào lòng ng-ời thời

đại, và trở thành một cái gì quá quen thuộc” (Trần Thái Đỉnh)

Chủ nghĩa hiện sinh có mặt ngay từ những năm đầu thập niên 60 ở miền Nam Việt Nam và đã từng là bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ t- t-ởng của chế độ Ngụy quyền Sài Gòn Hiện nay ở n-ớc ta nó cũng thấp thoáng bóng dáng và có xu h-ớng tăng lên trong các tác phẩm văn học nghệ thuật và

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thuý Vân Các tài liệu và số liệu trong luận văn này là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 10 tháng 07 năm 2010

Tác giả luận văn

NGUYỄN ĐẮC VĨNH

Trang 3

4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 6

Chương 1 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH 13

1.1 Tiền đề lý luận và điều kiện lịch sử ra đời Chủ nghĩa hiện sinh 13

1.1.1 Tiền đề lý luận 13

1.1.2 Điều kiện lịch sử 17

1.2 Các giai đoạn phát triển và các phái hiện sinh chủ yếu 19

1.2.1 Các giai đoạn phát triển 19

1.2.2 Các phái hiện sinh chủ yếu 22

1.3 Lập trường triết học, đối tượng và phương pháp của Chủ nghĩa hiện sinh 24

1.3.1 Lập trường triết học 24

1.3.2 Đối tượng 26

1.3.3 Phương pháp 28

1.4 Những phạm trù cơ bản của Chủ nghĩa hiện sinh 31

1.4.1 Kiện tính và siêu việt 31

1.4.2 Tha hoá và hiện sinh đích thực 34

1.4.3 Tự do – lựa chọn – lo âu – tham gia 37

1.4.4 Tha nhân và cái nhìn 41

1.4.5 Phi lý và buồn nôn 42

1.4.6 Hư vô và cái chết 44

Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ XÃ HỘI PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI 47

2.1 Ảnh hưởng tư tưởng hiện sinh đối với một số ngành nghệ thuật 47

Trang 4

5

2.1.1 Văn học 47

2.1.2 Sân khấu 58

2.1.3 Điện ảnh 62

2.2 Ảnh hưởng tư tưởng hiện sinh đối với một số ngành khoa học xã hội và nhân văn 64

2.2.1 Giáo dục học 64

2.2.2 Tâm lý học 68

2.2.3 Tôn giáo 71

2.3 Ảnh hưởng tư tưởng hiện sinh đối với một số phong trào xã hội 74 2.3.1 Phong trào hippie 75

2.3.2 Phong trào tự do tình dục 76

2.3.3 Phong trào nữ quyền 78

Chương 3 ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG TIẾP NHẬN NÓ HIỆN NAY

81 3.1 Ảnh hưởng của Chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam 81

3.1.1 Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam (trước năm 1975) 81

3.1.2 Chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay 88

3.2 Một số định hướng tiếp nhận Chủ nghĩa hiện sinh ở nước ta hiện nay 92

3.2.1 Đứng trên lập trường Marxist, vận dụng đúng đắn phương pháp biện chứng duy vật khi tiếp nhận Chủ nghĩa hiện sinh 92

3.2.2 Xoá bỏ thiên kiến, nghiên cứu toàn diện và vạch đúng bản chất Chủ nghĩa hiện sinh để có cách tiếp nhận phù hợp 97

KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 5

Chủ nghĩa hiện sinh là triết học về con người Nó từ bỏ những triết lý

viển vông về Thượng đế, ý niệm tuyệt đối, vật tự nó… của triết học truyền

thống để đến thẳng con người và những vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống con người Chủ nghĩa hiện sinh cũng không còn dùng lối tư duy trừu tượng và những lập luận tư biện của các triết gia xưa kia nữa mà nó đã

“xuống đường”, “nhập cuộc” vào văn học nghệ thuật quần chúng (kịch, tiểu thuyết, báo chí…) và đời sống xã hội gây nên một phong trào hiện sinh rầm rộ trong một thời gian dài ở các nước phương Tây và sau đó lan rộng ra nhiều khu vực khác trên thế giới

Chủ nghĩa hiện sinh thực sự trở thành một trong những trào lưu tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng và góp phần quan trọng khắc hoạ nên diện mạo văn hoá tinh thần phương Tây hiện đại Đến nay, xét trên bình diện lý luận thì Chủ nghĩa hiện sinh đã lùi vào dĩ vãng, nhưng dấu ấn của nó trong đời sống văn hoá xã hội phương Tây vẫn còn rất sâu đậm, đúng như giáo sư Trần Thái Đỉnh từng nhận xét: Chủ nghĩa hiện sinh “đã ăn sâu vào quan niệm sống của người Âu Mỹ Nó đã lắng vào lòng người thời đại, và trở thành một cái gì quá quen thuộc”

Chủ nghĩa hiện sinh có mặt ngay từ những năm đầu thập niên 60 thế kỷ

XX ở miền Nam Việt Nam và đã từng là bộ phận cấu thành quan trọng trong

hệ tư tưởng của chế độ Ngụy quyền Sài Gòn Ở nước ta từ sau giải phóng đến nay, Chủ nghĩa hiện sinh vẫn thấp thoáng bóng dáng và ngày càng đậm nét

Trang 6

7

hơn trong các tác phẩm văn học nghệ thuật và lối sống của một bộ phận thanh thiếu niên, nhất là ở những đô thị lớn

Ở Việt Nam một thời gian dài trước đây, do việc nghiên cứu chưa đầy

đủ, do nhấn mạnh đến đấu tranh giai cấp, các học giả thường đưa ra những nhận định phiến diện về Chủ nghĩa hiện sinh

Do vậy, khảo sát lại toàn bộ phong trào hiện sinh để có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn trào lưu tư tưởng này trong thời kỳ hội nhập hiện nay

là cần thiết Việc đó một mặt giúp chúng ta tiếp thu được những giá trị đích thực của Chủ nghĩa hiện sinh, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hoá tinh thần của chúng ta; mặt khác giúp chúng ta có cơ sở để phê phán và đấu tranh chống lại những biểu hiện tiêu cực của nó trong xã hội ta hiện nay

Chính những lý do trên đây, tôi quyết định chọn đề tài: “Ảnh hưởng của Chủ nghĩa hiện sinh đối với đời sống văn hoá xã hội phương Tây hiện đại và định hướng tiếp nhận nó ở Việt Nam hiện nay” cho Luận văn thạc sĩ

của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trên thế giới, nhất là ở phương Tây, Chủ nghĩa hiện sinh đã được nghiên cứu khá kỹ lưỡng Cũng đã có những công trình phân tích ảnh hưởng

tư tưởng hiện sinh ở một lĩnh vực nào đó trong đời sống văn hoá xã hội phương Tây hiện đại Xin nêu ra một số công trình tiêu biểu sau:

Walter Kaufmann (1956), Existentialism: From Dostoevsky to Sartre, New York; Ernst Breisach (1962), Introduction to Modern Existentialism, New York; V.C Moris (1966), Existentialism in Education, Waveland Press, Inc; Warnock, M (1967), Existentialist Ethics, London: Macmillan and Co, Ltd; Wesley Barnes (1968), The Philosophy and Literature of Existentialism, Barron's Educational Series; Marcel, G (1968), The philosophy of Existentialism, New York: Citadel Press; Aron, R (1969), Marxism and the

Trang 7

8

Existentialists, New York: Harper; John Macquerrie (1972), Existentialism, New York; Yalom, Ivin D (1980), Existential Psychotherapy, New York; Cooper, D.E (1999), Existentialism: A Reconstruction, Basil Blackwell

Những công trình nghiên cứu tiêu biểu về Chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam gồm có:

Sách chuyên khảo: Trần Thiện Đạo (2001), Chủ nghĩa hiện sinh và thuyết cấu trúc (tái bản), Nxb Văn học, Hà Nội, nghiên cứu về Chủ nghĩa hiện

sinh và Thuyết cấu trúc trong văn học và văn nghệ; Trần Thái Đỉnh (2005),

Triết học hiện sinh (tái bản), Nxb Văn học, Hà Nội, trình bày những đề tài và

những ngành chính của phong trào hiện sinh, giới thiệu những triết gia hiện sinh tiêu biểu: Kierkegaard, Nietzche, Husserl, Jaspers, Marcel, Sartre,

Heidegger; Đỗ Đức Hiểu (1978), Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa, Nxb

Văn học, Hà Nội, phê phán những tư tưởng triết học hiện sinh và biểu hiện của những tư tưởng đó ở một số tác phẩm văn học hiện sinh và kịch phi lý của Sartre, Camus, Sagan, Ionesco… Ngoài ra, những nội dung căn bản của Chủ nghĩa hiện sinh cũng được trình bày trong một số giáo trình lịch sử triết học

như: Phạm Minh Lăng (1984), Mấy trào lưu triết học phương Tây hiện đại, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội; Nguyễn Hữu Vui chủ biên (1998), Lịch sử triết học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (2003), Lược khảo triết học phương Tây hiện đại, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn

Thanh (2008), Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại, Nxb Tổng

hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh

Luận án tiến sĩ: Nguyễn Phúc (1995), Khảo sát sự du nhập của Phân tâm học và Chủ nghĩa hiện sinh vào văn học đô thị miền Nam trước 1975,

Thành phố Hồ Chí Minh, phân tích một số tác phẩm văn học của các tác giả

miền Nam chịu ảnh hưởng tư tưởng triết học hiện sinh; Lê Kim Châu (1996),

Trang 8

9

Chủ nghĩa hiện sinh và một vài ảnh hưởng của nó ở miền Nam Việt Nam,

Viện triết học, Hà Nội, làm rõ một số nội dung cơ bản của Chủ nghĩa hiện sinh và bước đầu tìm hiểu quá trình du nhập và một số biểu hiện của nó ở

miền Nam dưới chế độ Mỹ – Ngụy; Nguyễn Tiến Dũng (1996), Tiếp cận chủ nghĩa hiện sinh: lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam, Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, Hà Nội, trình bày sự ra đời và phát triển của Chủ nghĩa hiện sinh, quá trình du nhập và ảnh hưởng của nó đối với các tác phẩm văn học miền Nam Việt Nam và một số tác phẩm văn học hiện nay; Bùi Thị Tỉnh

(2007), Triết học hiện sinh về giới của Simone de Beauvoir, Đại học Khoa

học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, trình bày tư tưởng hiện sinh về giới của Beauvoir thông qua sự phê phán của bà đối với những quan niệm về giới trong lịch sử và các khoa học hiện đại, từ đó đề ra những tư tưởng giải phóng phụ nữ

Bài nghiên cứu: Hoàng Văn Thắng (2004), “Quan niệm về con người của G.P Xáctơrơ trong “Hiện sinh là một nhân bản thuyết””, Tạp chí triết học

(9), phân tích những quan niệm chủ yếu về con người qua những phạm trù hiện sinh cơ bản được trình bày trong tác phẩm “L’existentialisme est un Humanisme” của J.P.Sartre; Đặng Hữu Toàn (2005), “G.P Xáctơrơ người

sáng lập chủ nghĩa hiện sinh vô thần Pháp”, Tạp trí triết học (10), phân tích

vai trò của Sartre trong việc phát triển Chủ nghĩa hiện sinh vô thần ở Pháp; Chu Văn Tuấn (2008), “Quan niệm của M.Heidegger về bản chất chân lý”,

Tạp chí triết học (8), làm rõ sự khác biệt căn bản quan niệm về chân lý của Heidegger so với quan niệm truyền thống; Đỗ Minh Hợp (2009), “Tự do và trách nhiệm cá nhân trong “Tồn tại và hư vô” của J.P.Sartre”, Tạp chí triết học (3), luận giải quan niệm của Sartre về tự do với tư cách phương thức hiện

hữu của tồn tại người trong mối quan hệ không thể tách rời với trách nhiệm đối với thế giới và bản thân mình; Nguyễn Lê Thạch (2009), “M.Heidegger

Trang 9

10

với “Tồn tại và thời gian””, Tạp chí triết học (6), phân tích các phương thức

tồn tại người Heidegger trình bày trong tác phẩm triết học cơ bản “Sein und

Zeit” của ông

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc trình bày tổng quát những tư tưởng triết học hiện sinh cơ bản hoặc phân tích quan điểm của một triết gia hiện sinh tiêu biểu, hoặc trình bày lịch sử du nhập và một số ảnh hưởng của Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam trước 1975 Chưa có công trình nào khảo sát một cách toàn diện ảnh hưởng của Chủ nghĩa hiện sinh đối với các lĩnh vực của đời sống văn hoá xã hội phương Tây hiện đại cũng như những biểu hiện của nó ở Việt Nam hiện nay Luận văn này sẽ thực hiện công việc đó

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Đề xuất một số hướng tiếp nhận phù hợp đối với Chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam thời kỳ hội nhập hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Trang 10

11

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Luận văn này là những tư tưởng triết học hiện sinh cơ bản và ảnh hưởng của những tư tưởng ấy đối với đời sống văn hoá xã hội phương Tây hiện đại và Việt Nam từ khi du nhập đến nay

Phạm vi nghiên cứu:

Tư tưởng hiện sinh đã có từ lâu và tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử tư tưởng nhân loại (Socrates, Phật giáo, Thánh Augustin, Pascal…) Tuy nhiên, Chủ nghĩa hiện sinh phát triển thành một hệ thống hoàn chỉnh, một trào lưu tư tưởng thì chỉ mới bắt đầu từ Kierkegaard và Nietzche vào nửa cuối thế kỷ XIX Trong quá trình tồn tại và phát triển, Chủ nghĩa hiện sinh đã lan toả ảnh hưởng của nó ở nhiều nước khác nhau trên nhiều lĩnh vực Người ta nói đến Chủ nghĩa hiện sinh Đức, Chủ nghĩa hiện sinh Pháp, Chủ nghĩa hiện sinh Mỹ… với nhiều trường phái như: Chủ nghĩa hữu thần (hay Chủ nghĩa hiện sinh Kitô giáo), Chủ nghĩa hiện sinh vô thần… Ngay giữa những nhà triết học hiện sinh cùng trường phái cũng có những quan điểm rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau Mức độ và phạm vi thâm nhập của những tư tưởng hiện sinh vào đời sống văn hoá xã hội phương Tây hiện đại cũng hết sức đa dạng và phức tạp Do khuôn khổ không cho phép, Luận văn này chỉ tập trung vào trình bày những chủ đề cơ bản mà hầu hết các nhà triết học hiện sinh thuộc các trường phái khác nhau đều bàn đến và chỉ khảo sát những lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp và rõ ràng nhất từ những tư tưởng triết học hiện sinh như: văn học, sân khấu, điện ảnh, tâm lý học, giáo dục học, tôn giáo, và một số phong trào xã hội tiêu biểu ở phương Tây thế kỷ XX vừa qua và ở Việt Nam

từ khi du nhập đến nay

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận:

Luận văn dựa trên thế giới quan, phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Marx – Lenin và các quan điểm của Đảng

Trang 11

12

Phương pháp nghiên cứu:

Ngoài phương pháp luận chung nêu trên, Luận văn còn sử dụng một số phương pháp cụ thể sau:

Phương pháp lịch sử (nghiên cứu phong trào hiện sinh theo quá trình phát sinh, tồn tại, phát triển của nó)

Phương pháp logic (nghiên cứu khái quát nhằm tìm ra cái bản chất của Chủ nghĩa hiện sinh để có cách đánh giá đúng hơn về nó)

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu văn bản và tài liệu liên quan đến tư tưởng hiện sinh và ảnh hưởng của chúng trong các lĩnh vực

6 Đóng góp của luận văn

Về mặt khoa học:

Luận văn góp phần làm sáng tỏ giá trị của những tư tưởng hiện sinh tích cực, đồng thời chỉ ra tác hại của một số tư tưởng hiện sinh tiêu cực trong đời sống văn hoá xã hội phương Tây hiện đại và ở nước ta từ trước đến nay

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương, 9 tiết và 26 tiểu tiết:

Chương 1: Một số nội dung cơ bản của Chủ nghĩa hiện sinh

Chương 2: Ảnh hưởng của Chủ nghĩa hiện sinh đối với đời sống văn hoá xã hội phương Tây hiện đại

Trang 12

13 Chương 3: Ảnh hưởng của Chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam và một số định hướng tiếp nhận nó hiện nay

Trang 13

14

Chương 1 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH 1.1 Tiền đề lý luận và điều kiện lịch sử ra đời Chủ nghĩa hiện sinh

Chủ nghĩa hiện sinh hiện đại ra đời vào những năm giữa thế kỷ XIX do triết gia Đan Mạch Soren Kierkegaard khởi xướng Tuy nhiên, sự xuất hiện của Chủ nghĩa hiện sinh không phải ngẫu nhiên, không phải là sự sáng tạo thuần túy của một số cá nhân, nó là sự kế thừa những di sản tư tưởng quá khứ

và do những điều kiện lịch sử đương thời quy định

1.1.1 Tiền đề lý luận

Chủ nghĩa hiện sinh hiện đại bắt đầu hình thành từ giữa thế kỷ XIX, nhưng những tư tưởng hiện sinh thì đã có từ rất lâu trong tư tưởng nhân loại Người đầu tiên có những suy tư rất hiện sinh là triết gia Hy Lạp Cổ đại Socrates (469 – 399 trước công nguyên) Trong khi các nhà triết học đương thời mải mê đi tìm khởi nguyên của vũ trụ thì Socrates tuyên bố rằng triết học

là sự tự ý thức của con người về chính bản thân mình Ông lấy câu nói lừng

danh ở đền Delphes: “Hãy tự biết lấy chính mình” làm nội dung triết học cơ bản của ông

Người ta cũng thấy tư tưởng hiện sinh rải rác trong Cơ đốc giáo: Kinh Cựu ước và Tân ước, cuộc đời Thánh Job, cuộc đời của Christ (Chúa Kitô), đặc biệt là những tư tưởng của Thánh Augustine (354 – 430) Tư tưởng hiện sinh của Thánh Augustine thể hiện trước hết ở lời phán quyết: “Ở trong Người (Chúa), cái đã được tạo dựng, đó là sự sống” [29, tr.132] Ý tưởng này cũng tương tự như ý tưởng của Socrates, nó nói đến cuộc sống của con người trước hết, chứ không phải là tự nhiên hay vũ trụ Và muốn hiểu được cuộc sống con người, theo Augustine, phải hiểu biết Thiên chúa, vì cuộc sống con người là do Thiên chúa tạo dựng theo ý tưởng của Ngài; con người xa rời Thiên chúa thì không hiểu được Ngài, và do đó cũng không hiểu được chính

Trang 14

15

mình - đó là nguồn gốc của những tội lỗi mà con người phạm phải khi xa rời Thiên chúa

Những tư tưởng hiện sinh thể hiện rõ ràng nhất trong những trang bản

thảo được xuất bản năm 1670 dưới tiêu đề Tư tưởng (Pensées) của nhà triết

học Pháp Blaise Pascal (1623 – 1662) Ở đó, ông đã mô tả nhiều chủ đề cơ bản giống với các triết gia hiện sinh sau này Pascal lập luận rằng không có Chúa, cuộc sống sẽ rất đau khổ và vô nghĩa Con người chỉ có thể tạo ra những vật cản và vượt qua chúng để cố thoát khỏi sự nhàm chán Nhưng những chiến thắng có tính tượng trưng đó cuối cùng cũng thành vô nghĩa, vì con người thực sự sẽ chết Theo Pascal, đó là lý do khiến người ta phải lựa chọn làm người hữu thần

Bên cạnh sự hệ thống hoá những tư tưởng hiện sinh rời rạc tồn tại trong lịch sử, sự ra đời của Chủ nghĩa hiện sinh còn dựa trên sự phê phán và kế thừa toàn bộ di sản triết học phương Tây

Chủ nghĩa hiện sinh trước hết là sự phản ứng trước sự thống trị của Chủ nghĩa duy lý (Rasonalism) vốn là truyền thống của triết học phương Tây: Từ

Hy Lạp Cổ đại (Plato, Aristotle), qua Trung cổ (Thomas Aquinas), Cận đại (Decartes, Leibniz, Spinoza, Kant, Hegel…), đến Hiện đại (Russell, Wittgenstein…) Chủ nghĩa duy lý, về mặt bản thể luận, coi thế giới là một chỉnh thể thống nhất tuân theo những quy luật tất yếu (những quy luật này vốn có của bản thân thế giới hay do lực lượng siêu nhiên như “Ý niệm”,

“Thượng đế”, “Lý tính thế giới”, “Ý niệm tuyệt đối”… quy định); về mặt nhận thức luận, nó coi tư duy, lý tính con người có thể đạt đến chân lý khách quan, tức là nhận thức được toàn bộ thế giới Phản đối quan điểm duy lý trên, Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng thế giới là một khối hỗn độn không tuân theo quy luật nào cả, lý tính con người hoàn toàn bất lực trong việc nhận thức, lý

Trang 15

16

giải nó; do vậy, mỗi người có quyền gán cho thế giới một ý nghĩa nào đó tuỳ thích

Triết học phương Tây, bên cạnh Chủ nghĩa duy lý luôn tồn tại mặt đối

lập với nó là Chủ nghĩa phi duy lý (Irrationalism) phủ nhận các quy luật tất

yếu của thế giới, phủ nhận vai trò của tư duy, lý tính con người trong việc nhận thức thế giới Yếu tố phi lý tính có trong những câu cách ngôn tối nghĩa của Heraclitus, những khái niệm về số mệnh theo ý chí tuỳ tiện của các vị thần trên đỉnh Olymp (Hy Lạp Cổ đại); có trong đức tin tôn giáo: “Tôi tin vì

nó phi lý” – Tertullianus (Trung cổ); trong tư tưởng của Pascal: “trái tim có những lý lẽ riêng của nó mà lý trí không biết đến” (“heart has its reasons that are unknown to reason”) [63, tr.2] (Cận đại)… Đến thế kỷ XX, Chủ nghĩa duy

lý được đẩy lên đỉnh điểm khi đề cao vai trò tuyệt đối của khoa học, thì hàng loạt các trào lưu triết học phi lý tính ra đời để phản ứng lại Chủ nghĩa hiện sinh là một trong những học thuyết nằm trong trào lưu phi lý tính hiện đại, nó

kế thừa tất cả những yếu tố phi lý tính trong lịch sử tư tưởng nhân loại, đặc

biệt là các trào lưu phi lý tính đương thời: Chủ nghĩa duy ý chí (Voluntarism) của A Schopenhauer (1788 – 1860), Chủ nghĩa trực giác (Intituitionism) của

H Bergson (1859 – 1941), Phân tâm học (Psychoanalysis) của S Freud (1856 – 1938), Hiện tượng học (Phenomenlogy) của E Husserl (1859 –

1939)

Chủ nghĩa duy ý chí của Schopenhauer đề cao vai trò tuyệt đối của chủ

thể, coi “vũ trụ chỉ là cái nhìn của tôi” [12, tr.119] Đạo đức cá nhân theo ông không bị quy định bởi lý tính hay xã hội (như quan niệm của Kant và Hegel),

mà được thúc đẩy, dẫn dắt bởi những ham muốn bản năng hoặc Ý chí sống (Will to Live) Chủ nghĩa duy ý chí là nguồn gốc sinh ra thuyết chủ thể tính

(subjectivity) ở Chủ nghĩa hiện sinh

Trang 16

17

Chủ nghĩa trực giác của Bergson cho rằng tâm linh con người gồm hai

phần: trí tuệ và trực giác Tư duy, trí tuệ con người chỉ nhận thức được thế giới vật chất (thế giới của những sự vật có những hình thù tĩnh, những đường nét chính xác, tuân theo những quy luật cơ học chính xác…), khi bước vào lĩnh vực sự sống, nó hoàn toàn bất lực Bởi vì, theo Bergson, sự sống là sự tiến hoá sáng tạo, liên tục sáng tạo, nó có tính năng động, tự chuyển động, biến đổi không ngừng do những động lực bên trong Từ đó ông đưa ra hai khái niệm quan trọng: Thời biến (Duration) và Dòng ý thức (Stream of

conciousness) để hiểu sự sống Thời biến là cái trường tồn qua những biến đổi

và diễn biến của thời gian Thời biến là yếu tố của sự vận động, sự tiến hoá của sự sống Sự sống là liên tục, không thể chia cắt, không thể phá huỷ, quá khứ xâm nhập vào hiện tại, hợp thành một cái toàn vẹn không thể phân chia

Dòng ý thức được ông định nghĩa là “một câu duy nhất, có những dấu phảy,

nhưng không bao giờ có dấu chấm, bởi vì kỷ niệm của quá khứ hoà vào hiện tại ngay khi hình như hiện tại bỗng đoạn tuyệt với quá khứ” [21, tr.42] Để

nhận thức được sự sống cần phải có một phương thức mới mà ông gọi là trực giác (intuition): đó là một kinh nghiệm siêu hình không cần môi giới, một

phương thức nhận thức có tính vô thức, một sự “hoà tan kỳ diệu” của khách thể với chủ thể

Triết học hiện sinh đã khai thác những yếu tố bản năng, trực giác (tức cái

“thế giới bên trong” u uẩn ở con người) trong Học thuyết của Bergson

Phân tâm học của Freud không coi ý thức là cấu thành bản chất tâm thần con người, mà khẳng định cái vô thức (unconciousness) mới là cái bản chất,

cái quyết định cuộc sống tâm thần Cuộc sống con người theo Freud bị chi phối bởi cái vô thức: những ham muốn, đòi hỏi, nhu cầu mang tính bản năng

của con người, trong đó bản năng tính dục (libido) xuất hiện từ thủa ấu thơ là

căn bản và quyết định nhất Ông chia tinh thần con người thành ba bộ phận:

Trang 17

18

cái nó (the id): những nhu cầu tràn đầy khao khát bản năng cần được thoả mãn; cái tôi (the ego): cái có ý thức được hình thành nên từ kinh nghiệm sống hàng ngày; và cái siêu tôi (the supper ego): những thiết chế, lễ nghi, chuẩn mực đạo đức xã hội… Cái nó và cái siêu tôi là hai mặt đối lập xung đột với nhau dữ dội và liên tục Cái tôi đóng vai trò kìm hãm cái nó hoặc làm cho cái

nó biểu hiện ra dưới những hình thức xã hội chấp nhận được

Nhiều triết gia hiện sinh cũng coi vô thức mới là bản chất đích thực của

con người, còn ý thức là cái bề ngoài giả dối Những quan niệm về tự do, nổi

loạn, hiện sinh đích thực… của Chủ nghĩa hiện sinh rõ ràng có bóng dáng cái

vô thức của Freud

Hiện tượng học của Husserl có một vị trí đặc biệt đối với sự phát triển

của Chủ nghĩa hiện sinh Nó chính là phương pháp chủ yếu mà hầu hết các triết gia hiện sinh sử dụng Có thể nói nếu không có Hiện tượng học, Chủ nghĩa hiện sinh không thể xây dựng triết lý của mình thành một hệ thống hoàn chỉnh Những nội dung cơ bản của Hiện tượng học sẽ được trình bày trong phần Phương pháp của Chủ nghĩa hiện sinh

1.1.2 Điều kiện lịch sử

Các triết gia hiện sinh thường tuyên bố rằng triết lý của họ được xây dựng trên những suy tư về chính cuộc đời của họ, không liên quan gì đến hoàn cảnh bên ngoài: “Tất cả tác phẩm của tôi chà xát lên bản thân tôi, chỉ trên một mình tôi và riêng tôi” (Kierkegaard) [21, tr.25], “Tôi viết sách của tôi bằng máu của tôi” (Nietzche) [21, tr.30] Nhưng trên thực tế thì không hẳn

như vậy K Marx trong Phê phán khoa kinh tế chính trị đã từng khẳng định:

Ý thức không phải là cái gì khác hơn là tồn tại được ý thức Tư tưởng hiện sinh cũng không nằm ngoài quy luật chung đó Nó là sản phẩm của xã hội phương Tây trong một thời kỳ lịch sử đặc biệt (từ nửa cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX) Đây là thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự

Trang 18

19

do cạnh tranh sang độc quyền (chủ nghĩa đế quốc), những mâu thuẫn tiềm tàng trong lòng nó bộc lộ ra gay gắt nhất

Chủ nghĩa tư bản càng phát triển càng lộ rõ bản chất là một chế độ bất công, bất bình đẳng và vô nhân đạo Ở xã hội đó, những tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật không đem đến sự giải phóng sức lao động mà trái lại càng làm trầm trọng thêm tình trạng tha hóa bản chất con người Lao động trở nên nhàm chán, đơn điệu và phụ thuộc một chiều vào máy móc, vào các quy trình sản xuất được tổ chức nghiêm ngặt Ở xã hội đó, sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế đi liền với sự phân cực xã hội và sự suy đồi về đạo đức, lối sống: bạo lực, xung đột, khủng bố, tội ác gia tăng… Giai cấp tư sản vì chạy theo lợi nhuận tối đa đã vắt kiệt sức lao động của người công nhân và trả cho họ đồng lương chết đói Mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản ngày càng trở nên gay gắt Các phong trào đấu tranh của công nhân nổ ra ở nhiều nơi với quy mô ngày càng lớn và tính tổ chức ngày càng cao, nhất là từ khi có lý luận của Chủ nghĩa Marx – Lenin dẫn đường, đã làm lung lay chủ nghĩa tư bản

Do tranh giành nhau về thị trường và thuộc địa, giai cấp tư sản ở các nước tư bản (như Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Italia, Nhật Bản…) đã tiến hành hàng trăm cuộc chiến tranh lớn nhỏ, đặc biệt là hai cuộc đại chiến thế giới, cướp đi sinh mạng hàng trăm triệu người

Hoàn cảnh xã hội phương Tây thời kỳ này đã được phản ánh vào trong tâm tư, tình cảm của con người Người ta hoài nghi lý tưởng “tự do, bình đẳng, bác ái”, hoài nghi tiến bộ xã hội, hoài nghi lý tính con người, hoài nghi các thành tựu khoa học kỹ thuật; người ta thấy cuộc sống thật bấp bênh, đầy dẫy lo âu; người ta mong muốn tìm những con đường giải thoát… Harper nhận xét: “không phải niềm vui, niềm hạnh phúc, sự thành công, mà chính bi kịch, cái chết, tội ác, áp bức… đã buộc người ta phải nhìn nhận toàn bộ hoàn cảnh của mình và thúc đẩy người ta tiến hành lựa chọn” [64, tr.1]

Trang 19

20

Tâm trạng phổ biến của người phương Tây thời kỳ này đã được một số trí thức nhạy bén nắm bắt và khái quát thành lý luận mà ngày nay được tập hợp lại thành cái gọi là Chủ nghĩa hiện sinh

Chủ nghĩa hiện sinh phát triển mạnh nhất ở Đức và Pháp sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai Đó là những nước khủng khoảng xã hội sâu sắc nhất và chịu hậu quả nặng nề nhất của chiến tranh

Những phạm trù triết học hiện sinh như “phi lý”, “tha hóa”, “lo âu”, “hư vô”, “cái chết”, “siêu việt”, “hiện sinh đích thực”… dù mang đậm màu sắc tư biện, nhưng thực chất là phản ánh tâm trạng phổ biến của con người phương Tây trong giai đoạn lịch sử đầy biến động này

1.2 Các giai đoạn phát triển và các phái hiện sinh chủ yếu

1.2.1 Các giai đoạn phát triển

Tư tưởng hiện sinh không chỉ thể hiện qua các phạm trù triết học trừu tượng mà còn thể hiện qua các hình tượng nghệ thuật cụ thể hấp dẫn và trong lối sống Căn cứ vào sự giống nhau về mặt quan điểm triết lý, có thể xếp những người sau đây vào trào lưu hiện sinh

Triết học gồm có: Triết gia Đan Mạch S Kierkegaard; các triết gia Đức:

F Nietzche, K Jaspers, M Heidegger và M Buber; các triết gia Tây Ban Nha: Muguel de Unamuno và Ortega y Gasset; các triết gia Nga: Nicholai Berdyaev và Lev Shestov; các triết gia Pháp: J.P Sartre, G Marcel, Merleau – Ponty, Jean Wahl, Mounier, A Camus, Simone de Beauvoir…

Văn học gồm có: F Dostoevsky (Nga), F Kafka (Cộng hoà Czech), Knut Hamsen (Na Uy) và các nhà văn Pháp: J Genet, A Gide, A Malraux, S Beckett (gốc Ireland), E Ionesco (gốc Rumania)…

Trang 20

21

Hội họa gồm có: A Giacommeti, J Pollock, A Gorky, Willem de Kooning…

Điện ảnh gồm có: Jean – Luc Godard, Ingmar Bergman…

Nhưng những nhân vật trung tâm góp phần quyết định vào việc xây dựng và hoàn chỉnh triết thuyết này chỉ có thể kể đến là S Kierkegaard, F Nietzche, K Jaspers, M Heidegger, G Marcel, J.P Sartre, A Camus và Simone de Beauvoir

Theo logic phát triển nội tại của nó, có thể chia Chủ nghĩa hiện sinh thành các giai đoạn cơ bản sau:

Giai đoạn hình thành với hai triết gia tiêu biểu S Kierkegaard và F

Nietzche Họ đã đưa ra hầu hết những tư tưởng hiện sinh chủ yếu mà sau này được những người đi sau kế thừa và phát triển

S Kierkegaard (1813 – 1855) triết gia Đan Mạch, sinh ra ở Copenhagen trong một gia đình thương nhân giàu có, thủa nhỏ chịu sự giáo dục nghiêm khắc của cha Năm 1830, ông vào đại học Copenhagen, trải qua những năm tháng sống phóng túng của một công tử nhà giàu Năm 1841, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ thần học và sang Đức nghe các bài giảng của Schelling Ông là người yếu đuối, nhiều bệnh tật, luôn sống trong tâm trạng bi quan, u uất; đã từng đính hôn với Regina Olson, cô gái hiền lành, 17 tuổi, nhưng chẳng bao lâu phải cắt đứt quan hệ với nàng Từ đó, ông dồn hết thời gian, sức lực và một tài sản lớn được kế thừa vào việc viết và xuất bản những tác phẩm triết học Khi cạn kiệt sức lực, bất tỉnh trên đường phố thì ông không còn một đồng xu dính túi Những tác phẩm chủ yếu của ông gồm:

“Hoặc là hoặc là” (1843), “Sợ hãi và run rẩy” (1843), “Khái niệm lo âu” (1844), “Mảnh vụn triết học” (1844), “Những giai đoạn trên con đường nhân sinh” (1845), “Khái niệm tuyệt vọng” (1845), “Viết thêm lần cuối Mảnh vụn triết học” (1846)…

Trang 21

22

F Nietzche (1844 - 1900) triết gia Đức, sinh ra ở Rocken, là sinh viên xuất sắc ở Đại học Leipzig Ông được bổ nhiệm làm phó giáo sư và sau đó là giáo sư về ngôn ngữ học cổ điển ở Đại học Basel, mặc dù ông chưa từng được cấp bằng tiến sĩ Năm 1879 vì sức khỏe yếu, ông từ chức giáo sư, sống lang thang ở Ý và Thụy Sĩ, trải qua mười năm trong cảnh cô đơn của một học giả Ông gục ngã trên đường phố ở Turin năm 1889 và chết năm 1890 sau 11 năm

chìm trong điên loạn Những tác phẩm chính của ông gồm có: “Nguồn gốc của bi kịch” (1872), “Con người, tất cả cũng chỉ là con người” (1878), “Khoa học vui vẻ” (1882), “Zarathustra đã nói như thế” (1883 – 1885), “Vượt ra ngoài vòng thiện ác” (1886), “Buổi hoàng hôn của những thần tượng” (1888),

“Ý chí sức mạnh” (bản thảo chưa xuất bản)…

Giai đoạn phát triển với các triết gia tiêu biểu như M Heidegger, K

Jaspers và J.P Sartre… Dựa trên phương pháp hiện tượng học của Husserl,

họ đã phát triển những tư tưởng rời rạc của Kierkegaard và Nietzche thành một hệ thống chặt chẽ và hoàn chỉnh

M Heidegger (1884 – 1976) triết gia Đức, sinh ra ở Messkirch, học triết học Husserl ở Đại học Freiburg, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ triết học (1913) Từ 1923 – 1928, ông được mời làm giáo sư triết học ở Đại học Marburg Năm 1928, khi Husserl về hưu, ông trở lại Freiburg kế nhiệm vị trí giáo sư của Husserl Ông có lập trường chính trị thân Fasist nên khi Hitler lên nắm quyền không lâu ông được bổ nhiệm làm hiệu trưởng Đại học Freiburg Trong bài phát biểu nhậm chức, ông đã công khai ca ngợi Hitler Năm 1945, chế độ Fasist sụp đổ, ông bị chính quyền mới cấm giảng dạy ở đại học Nhưng từ năm 1951 ông được phép trở lại dạy học ở Đại học Freiburg Năm

1957, ông về hưu và sống âm thầm trong căn nhà nhỏ trên đồi ở Freiburg, hiếm khi xuống giảng bài ở đại học Những tác phẩm chính của ông bao gồm:

“Lý thuyết phạm trù và nghĩa ở Duns Scotus” (1916), “Tồn tại và thời gian”

Trang 22

23

(1927), “Siêu hình học là gì” (1929), “Kant và vấn đề siêu hình học” (1929),

“Về bản chất của lý tính” (1929), “Về bản chất chân lý” (1943), “Tư tưởng là gì” (1954), “Về vấn đề tồn tại” (1955), “Triết lý là gì” (1956), “Buông xả thanh thản” (1959), “Trên đường đến với ngôn ngữ” (1959)

K Jaspers (1883 – 1973) triết gia Đức, sinh ra ở Oldenburg, nhận bằng tiến sĩ y khoa năm 1909 Ông làm việc ở khoa tâm thần và là giảng viên tâm

lý học Đại học Heidelburg Từ tâm thần học và tâm lý học, ông chuyển sang quan tâm đến siêu hình học Năm 1921, ông được chỉ định làm giáo sư triết học ở Đại học Heidelburg Trong suốt thời kỳ Hitler nắm chính quyền, ông bị cấm giảng dạy và bị tước chức vụ giáo sư năm 1937 Năm 1945, chính quyền Hitler sụp đổ, ông được phục chức và được bổ nhiệm làm giáo sư triết học ở

Basel từ năm 1948 Những tác phẩm chính của ông gồm: “Triết học” - 3 tập (1932), “Lý tính và hiện hữu” (1933), “Nietzche” (1936), “Descartes và triết học” (1937), “Chủ nghĩa hiện sinh” (1938), “Nietzche và đạo Cơ đốc” (1946),

“Lý tính và phi lý tính trong thời đại chúng ta” (1950), “Các triết gia vĩ đại” (1957), “Triết học nhập môn” (1966), “Mật mã của siêu việt” (1970)…

J.P Sartre (1905 – 1980) triết gia Pháp, sinh ra ở Paris, mồ côi cha từ nhỏ, theo mẹ về ở nhà ông ngoại; học Trường Cao đẳng Normale, bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ, đỗ đầu bảng, làm quen với bạn cùng khóa là Simone de Beauvoir và gắn bó suốt đời với bà Từ năm 1931, ông làm giáo viên trung học, đã từng sang Đức nghiên cứu triết học Husserl và Heidegger Khi quân Đức chiếm đóng Pháp, ông là thành viên của tổ chức bí mật chống Fasist Từ năm 1944, ông nghỉ dạy học để chuyên viết sách, làm báo Năm

1964, ông được tặng giải thưởng Nobel văn học nhưng đã từ chối không

nhận Những tác phẩm chủ yếu của ông gồm có: tiểu thuyết: “Buồn nôn” (1938), “Những nẻo đường của tự do” – 3 tập (1945 - 1949); kịch: “Ruồi” (1943), “Kín cửa” (1944); triết học: “Siêu nghiệm của cái tôi” (1937), “Phác

Trang 23

24

thảo lý thuyết cảm xúc” (1939), “Tâm lý học tưởng tượng” (1940), “Tồn tại và

hư vô” (1943), “Chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghĩa nhân bản” (1946),

“Văn học là gì?” (1947), “Phê phán lý tính biện chứng” (1960), “Giữa chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa Marx” (1975)…

Giai đoạn suy tàn từ đầu thập niên 60 thế kỷ XX trở đi, khi chủ nghĩa tư

bản có những điều chỉnh phù hợp làm cho xã hội đi vào ổn định và phát triển, khi chủ nghĩa xã hội đang ở cao trào… thì triết lý hiện sinh rơi vào bế tắc

Trong tác phẩm Phê phán lý tính biện chứng (1960), Sartre công khai thừa

nhận: “Chủ nghĩa Mác là triết học duy nhất bất khả siêu việt của thời đại hiện nay” [1, tr.341] Suy tàn về mặt triết lý, tư tưởng hiện sinh đã “tha hóa” vào trong văn học, nghệ thuật, lối sống… để tiếp tục tồn tại

1.2.2 Các phái hiện sinh chủ yếu

Tất cả các triết gia hiện sinh đều có điểm chung ở chỗ coi: “Tư duy triết học bắt đầu từ chủ thể người - đó không chỉ là chủ thể tư duy mà còn là cá nhân sống, cảm giác và hành động” [61, tr.1] Tuy nhiên, giữa các triết gia hiện sinh có nhiều điểm khác biệt, thậm chí đối lập nhau Căn cứ vào những điểm khác nhau đó, người ta xếp họ vào những phái nhất định, tùy theo tiêu chí phân loại Quan điểm phổ biến hiện nay cho rằng Chủ nghĩa hiện sinh chia thành hai phái lớn: Chủ nghĩa hiện sinh hữu thần (hay Chủ nghĩa hiện sinh

Kitô giáo) và Chủ nghĩa hiện sinh vô thần Chủ nghĩa hiện sinh hữu thần gồm có: S Kierkegaard, K Jaspers, M Buber, Jean Wahl, G Marcel… Chủ nghĩa hiện sinh vô thần gồm có: F Nietzche, M Heidegger, J.P Sartre, A Camus,

Simone de Beauvoir…

Chủ nghĩa hiện sinh hữu thần khởi nguồn từ Kierkegaard, đi theo truyền thống Hy Lạp và Kitô giáo Chủ nghĩa hiện sinh vô thần khởi nguồn từ Nietzche, đi ngược lại truyền thống Hy Lạp và Kitô giáo

Trang 24

25

Điểm khác biệt căn bản giữa Chủ nghĩa hiện sinh hữu thần và Chủ nghĩa hiện sinh vô thần là quan điểm và thái độ đối với Thượng đế hay Chúa (God) Chủ nghĩa hiện sinh hữu thần giả thiết sự hiện hữu của Chúa, coi Ngài là ngọn nguồn của mọi tồn tại, là hình mẫu lý tưởng, là cái đích cuối cùng để con người vươn lên, hướng tới Kierkegaard nói: “Con người tự do nếu nhận

có Chúa” (“You are a free man if you accept God”) [64, tr.1]

Trái lại, Chủ nghĩa hiện sinh vô thần chủ trương phải gạt bỏ Chúa ra ngoài cuộc sống con người, vì còn tin vào Chúa là vẫn còn bị hạn chế, bị một

Vị khác thưởng phạt mình, nghĩa là chưa hoàn toàn được tự do Nietzche tuyên bố: “Chúa đã chết” (“God is dead”), và bây giờ “thế giới là thế giới con người; lịch sử là lịch sử của con người, con người là con người và chỉ là con người” [21, tr.32], cho nên, con người phải tự tạo nên chính mình: “Hãy luôn luôn trở nên chính mình anh, hãy là chủ ông, là nhà điêu khắc để tạc nên chính mình anh” [12, tr.136] Đối với Sartre, “Chúa là một giả thiết lỗi thời và bản thân nó sẽ âm thầm chết đi” [65, tr.4] Ông coi niềm tin vào Chúa là một

hình thức của Niềm tin xấu (Bad Faith) Đối với ông, “Con người là tương lai

của con người” (“man is the future of man”) [65, tr.5], “Con người tự do nếu phủ nhận Chúa” (“You are a free man if you deny God” [64, tr.1]

1.3 Lập trường triết học, đối tượng và phương pháp của Chủ nghĩa hiện sinh

1.3.1 Lập trường triết học

Để hiểu lập trường triết học của Chủ nghĩa hiện sinh, chúng ta hãy điểm qua lập trường triết học truyền thống phương Tây

Truyền thống triết học phương Tây từ Hy Lạp Cổ đại qua Trung cổ đến

Cận đại đều chủ trương đi tìm cơ sở cuối cùng, nguyên nhân tối cao để giải thích mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, kể cả con người

Các nhà triết học Hy Lạp sơ kỳ đi tìm cơ sở của mọi sự vật ở một chất

ban đầu nào đó: Nước (Thales), lửa (Heracritus), không khí (Anaximan),

Trang 25

vật được tạo thành từ hai nguyên nhân chủ yếu: vật chất (matter) và hình thức

(form) Sở dĩ những con vật mà ta gọi là ngựa vì chúng có chung hình thức

“Ngựa” duy nhất, còn những con ngựa cụ thể khác nhau là do chất khác nhau (về cân nặng, màu lông, vóc dáng…)

Triết học Trung cổ cho rằng Chúa tạo ra vạn vật theo bản chất mà Ngài quy định sẵn về chúng, trong đó con người là sản phẩm hoàn hảo nhất vì được sáng tạo theo hình ảnh của Chúa

Các nhà triết học duy tâm chủ quan cận đại (Berkeley, Hume, Mach…) coi cảm giác là cơ sở tồn tại của mọi sự vật: “Tồn tại là được cảm nhận” (“To

be is to be perceived”) (Berkeley)

Các nhà triết học duy vật cận đại (Becon, Diderot, Holbach, Feuerbach…) đều coi mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan là biểu hiện của một thực thể duy nhất là vật chất

Lập trường triết học truyền thống trên đây bị Chủ nghĩa Marx và nhiều

trường phái triết học hiện đại phê phán Chính Marx trong Luận cương về Feuerbach đã từng viết: “Các nhà triết học trước kia chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là ở chỗ cải tạo thế giới” [37, tr.51] Còn Chủ nghĩa thực chứng, với nguyên tắc cơ bản là chứng thực trực tiếp của

khoa học, cho rằng triết học (truyền thống) là vô nghĩa vì đối tượng của nó mang tính “siêu hình” không thể dùng thực nghiệm để kiểm tra tính đúng sai - đây chính là nguyên nhân của cuộc tranh luận vô bổ kéo dài suốt mấy nghìn năm Theo các nhà thực chứng vấn đề triết học đặt ra không có cách giải

Trang 26

27

quyết nên chỉ là vấn đề giả (false problems); chỉ những vấn đề khoa học đặt ra mới là vấn đề chân thực (true problems) và có ý nghĩa Cho nên, khoa học là

hữu ích còn triết học là vô ích, có hại cần phải loại bỏ

Chủ nghĩa hiện sinh không đặt vấn đề loại bỏ triết học nhưng cũng phê phán lập trường triết học truyền thống bởi vì vấn đề nó quan tâm giải quyết quá xa vời và không có ý nghĩa thực tế đối với cuộc sống Thế giới này về bản chất là vật chất hay ý thức, nó tự tồn tại từ xưa đến nay hay do một “Ý niệm tuyệt đối”, một ông Chúa nào đó sáng tạo ra… thì cũng chẳng ảnh hưởng đến

ai Điều luôn day dứt trong mỗi con người là thân phận của mình trong thế giới, là ý nghĩa của sự sống và cái chết… Theo các triết gia hiện sinh đấy mới

là những vấn đề triết học cần quan tâm giải quyết Chính Pascal, ông tổ của Chủ nghĩa hiện sinh, ngay từ thế kỷ XVII đã viết: “Tôi thấy rằng người ta không đào sâu tư tưởng của Copernic là tốt Việc quan trọng cho cả đời người

là phải biết rằng hồn ta có chết đi hay là bất tử Đây mới chính là điểm cần đào sâu” [29, tr.154] Còn Camus thì cho rằng: “Chỉ có một vấn đề thực sự nghiêm túc: đó là sự tự sát Đánh giá cuộc đời đáng sống hoặc không đáng sống chính là trả lời cho vấn đề cơ bản của triết học Những vấn đề còn lại như thế giới có ba chiều hay không, linh hồn ta có chín hay mười loại, tất cả đều xếp ở phía sau” [5, tr.229]

Trang 27

28

cá thể đặc thù, chứ không phải tất cả loài người” (Edler) [66, tr.1] Cá thể đặc thù (The Singular Individual) đó là tôi, anh hay một chị X nào đó…

Toàn bộ quan điểm về con người của Chủ nghĩa hiện sinh được đúc kết

cô đọng trong khẩu hiệu của Sartre: ở con người “hiện hữu có trước bản chất” (“existence précede essence”) [62, tr.6] Quan điểm này khác gì so với

quan điểm triết học truyền thống?

Bản chất (essence) thường được hiểu là tính chất căn bản, thuộc tính chủ yếu nói lên sự vật là gì (là giấy, là gỗ hay là đá…); còn hiện hữu hay tồn tại

(existence) là sự hiện diện của một sự vật cụ thể mang bản chất ấy (tờ giấy này, tờ giấy kia; hòn đá này, hòn đá nọ…) Mọi sự vật đều phải quy về bản chất của nó thì mới hiểu được nó là gì

Các quan điểm triết học truyền thống đều coi “bản chất” có trước “hiện hữu” Đối với Plato những Ý niệm (bản chất) bất biến tồn tại trước còn những

sự vật cụ thể cảm nhận được (hiện hữu) chỉ là cái bóng của những Ý niệm Đối với các nhà thần học Trung cổ, vạn vật đều được Chúa sáng tạo theo những bản chất mà Ngài quy định sẵn Đến triết học Cận đại, dù khái niệm Chúa hay Thượng đế đã bị gạt bỏ, nhưng các nhà triết học cũng đều hiểu sự vật cụ thể (hiện hữu) là một mẫu đặc thù của khái niệm phổ quát (bản chất) Con người cũng giống như vạn vật trong thế giới phải được quy về bản chất người phổ quát Chính vì vậy, hầu hết các nhà triết học trước đây khi nghiên cứu về con người đều đặt ra nhiệm vụ tìm ra bản chất người phổ quát:

động vật có lý tính, động vật có tư duy, hay động vật có khả năng lao động…

Các nhà triết học hiện sinh phản đối quan niệm trên của triết học truyền thống Họ cho rằng bản chất có trước hiện hữu chỉ có thể áp dụng cho các sự vật chứ không thể áp dụng đối với con người Điều này được Sartre giải thích bằng ví dụ sau: Một người thợ trước khi làm ra con dao rọc giấy thì đã có sẵn những “bản chất” của con dao mà người đó sẽ làm ra (con dao đó dùng để

Trang 28

29

làm gì, nó cần sản xuất theo quy trình nào…) Do vậy, ở sự vật thì “bản chất”

có trước “hiện hữu” Nhưng ở con người thì khác hẳn Con người trước khi hiện hữu thì không có sẵn một bản tính người vì không có Thượng đế để nghĩ

ra bản tính ấy Chỉ sau đó trong quá trình sống, gặp gỡ với những người khác, con người mới tự tạo cho mình là thế nọ, là thế kia, tức là khi đó mới có bản chất người Như vậy, ở con người “hiện hữu” có trước “bản chất”

Có thể phân biệt con người trong triết học truyền thống và con người trong Chủ nghĩa hiện sinh ở mấy điểm sau đây:

Con người trong triết học truyền thống là con người có chung bản tính người được quy định sẵn (bởi tự nhiên, các điều kiện xã hội, hay các lực lượng siêu nhiên như Chúa, “Ý niệm tuyệt đối”…), còn con người trong Chủ

nghĩa hiện sinh là những cá thể đặc thù mà bản chất chỉ có thể được “tự tạo

nên trong tình huống” (“self-making-in-a-situation”) [62 , tr.6]

Triết học truyền thống nghiên cứu con người với tư cách là một khách thể, nghĩa là con người cũng giống như những sự vật khác trong thế giới mang sẵn những bản chất chung có thể dùng khái quát hóa triết học để tìm ra Còn Chủ nghĩa hiện sinh coi mỗi người là một chủ thể, nghĩa là mỗi người có quyền tìm cho mình những bản chất riêng biệt khác với tất cả mọi người, chính vì vậy không thể nào dùng khái niệm mà nhận thức được con người Triết học truyền thống vì nhấn mạnh vào bản tính người nói chung nên chỉ thấy mỗi người chúng ta là một đơn vị đồng đều và giống nhau trong tổng

số nhân loại Chính vì vậy, triết học truyền thống luôn có xu hướng muốn thiết định sẵn những quy tắc ứng xử chung, những giá trị chung cho tất cả mọi người Trái lại, Chủ nghĩa hiện sinh vì nhấn mạnh vào hiện hữu của từng cá nhân cụ thể nên luôn đề cao tính chất độc đáo, sự tự do lựa chọn và phản ứng khác nhau của mỗi người trước hoàn cảnh và tình huống nhất định, coi đó là yếu tố quyết định tạo nên bản chất của anh ta

Trang 29

30

1.3.3 Phương pháp

Phương pháp mà các triết gia hiện sinh sử dụng để xây dựng triết học

của mình là phương pháp hiện tượng học (phenomenological method) Phương pháp này được hình thành từ những luận điểm cơ bản của Hiện tượng học (phenomenology) do Husserl xây dựng

E Husserl (1859 – 1938) là triết gia Đức gốc Do Thái, sinh ra ở Prossnitz Ban đầu ông nghiên cứu toán học và khoa học tự nhiên, năm 1883

đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ toán học Từ năm 1884 – 1886, ông theo học ngành triết học tại đại học Vienna, và từ đó ông nguyện hiến cả cuộc đời mình cho triết học Ông đã từng giảng dạy triết học ở Đại học Halle (1887 – 1901), Đại học Gottingen (1901 – 1916) và Đại học Freiberg (1916 – 1919) Khi Hitler lên nắm chính quyền, với chính sách bài Do Thái điên cuồng của hắn, ông đã phải sống những năm tháng cuối cùng trong âm thầm và xa lánh của người đời

Những tác phẩm chính của ông gồm có: “Triết học hình học” (1891),

“Nghiên cứu logic” - 2 tập (1900), “Những ý tưởng về hiện tượng học thuần túy và triết học hiện tượng học” (1913), “Những bài giảng về Hiện tượng học của ý thức thời gian nội tại” (do M Heidegger xuất bản năm 1928), “Logic hình thức và siêu nghiệm” (1929), “Trầm tư Decartes” (1931), “Khủng hoảng của khoa học châu Âu và hiện tượng học siêu nghiệm” (1936), “Kinh nghiệm và phán đoán” (1939)…

Trong lịch sử triết học phương Tây từ lâu đã tồn tại hai khuynh hướng triết học trái ngược nhau:

Khuynh hướng thứ nhất (của các nhà duy tâm) đề cao hay tuyệt đối hóa

vai trò của chủ thể nhận thức, hạ thấp hay phủ nhận vai trò của khách thể Do

đó, đã cho rằng những hiện tượng chủ thể nhận thức có được chỉ là ảo ảnh do

Trang 30

31

cảm giác tạo ra (Berkeley, Hume, Mach…) hoặc chỉ là sự biểu hiện ra bên

ngoài của Ý niệm tuyệt đối (Hegel)

Khuynh hướng thứ hai (của các nhà duy vật siêu hình, các nhà duy

nhiên) đề cao hay tuyệt đối hóa vai của khách thể, hạ thấp hay phủ nhận vai trò của chủ thể Do đó, đã cho những hiện tượng chủ thể nhận thức có được chỉ là những bức ảnh chụp đơn giản của các sự vật bên ngoài

Husserl muốn khắc phục những thái quá của cả hai khuynh hướng trên

Ông đề ra tư tưởng cơ bản cho học thuyết của mình là sự liên quan hay tương

hỗ không thể tách rời giữa chủ thể và khách thể (relation between subject and

object) Tư tưởng này bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

Ý thức bao giờ cũng là ý thức về một cái gì (conciousness is always conciousness of something) [67, tr.14], nghĩa là ý thức bao giờ cũng gắn liền

với một đối tượng nhất định Chẳng hạn, tôi nhìn là nhìn quyển sách đang cầm trên tay, tôi nhớ là nhớ lại hình ảnh cây đa đầu làng hay gương mặt người

bạn tôi từ thủa thiếu thời… Husserl gọi đây là tính ý hướng (intentionality)

của ý thức

Đối tượng bao giờ cũng là đối tượng cho một ý thức, nghĩa là đối tượng

bao giờ cũng là đối tượng cho ý thức của tôi, của anh hay một chị X nào

đó…; không có đối tượng cho một sự vật hay một ý thức nói chung Đối tượng được ý thức (intentional object) ở đây không chỉ là vật thể được tri giác

trực tiếp mà có thể là biểu tượng được nhớ lại, hình ảnh được tưởng tượng ra… Vì mỗi người đều có những nét độc đáo riêng, có lập trường quan điểm

và vị thế khác nhau nên đối tượng xuất hiện trong ý thức của mỗi người không thể giống nhau Chẳng hạn, cùng một anh A, tôi với tư cách là bạn có cách nhìn khác, anh với tư cách là tình địch có cách nhìn khác, chị X với tư cách là người yêu lại có cách nhìn khác Và cái nhìn của mỗi người về anh A cũng không phải là cố định mà thay đổi theo thời gian Mỗi cái nhìn đó

Trang 31

32

Husserl gọi là một hiện tượng (phenomen) Do đó, cái nhìn của ta về đối tượng bao giờ cũng là cái nhìn phiến diện: ở những vị trí khác nhau, ở những thời điểm khác nhau, tôi chỉ nhìn thấy một mặt, một khía cạnh, một diện mạo

(profile) nào đó của đối tượng mà thôi; muốn có cái nhìn toàn diện về đối tượng, tôi phải luôn thay đổi cách nhìn

Từ mối tương hỗ không thể tách rời giữa chủ thể và khách thể như trên, Husserl đề ra phương pháp nhận thức, gọi là phương pháp hiện tượng học

Phương pháp này bao gồm ba giảm trừ (reduction) cơ bản:

Giảm trừ triết học (philosophical reduction): là xét lại tất cả những học

thuyết triết học trước đây, không coi một học thuyết nào là duy nhất Mục đích của giảm trừ này là để chúng ta không bị lệ thuộc vào một cái nhìn cố định có sẵn

Giảm trừ bản chất (eidetic reduction): là “tạm đặt thế giới thiên nhiên

vào trong ngoặc” [12, tr.175] để không phải bận tâm về sự tồn tại của thế giới,

để ta có thể mặc sức quan sát, tưởng tượng, biến đổi đối tượng… trên cơ sở

đó rút ra bản chất đích thực của đối tượng Khi đó mỗi đối tượng và nói chung

tất cả thế giới chỉ là một eidos (một cái gì tôi đã ý thức)

Giảm trừ hiện tượng học (phenomenological reduction): có mục đích

làm cho đối tượng hay thế giới chỉ còn là một hiện tượng cho ý thức thôi, tức

là một cái gì đúng như tôi đã nhìn nhận và trải nghiệm Khi đó ý thức và đối tượng gắn chặt với nhau thành một thực tại duy nhất Thực tại đó, đứng về phía chủ thể gọi là noesis (hình thái ý thức), còn đứng về phía đối tượng sẽ gọi là noema (hình thái cái mà tôi ý thức)

Sau khi hoàn thành giảm trừ hiện tượng học, chúng ta không còn đối diện với vũ trụ tự nhiên hay thế giới khách quan nữa mà đối diện với những hiện tượng, tức là những noema Công việc của chúng ta lúc này là tiến hành

mô tả (describe) hay triển khai (explicication) nhằm gỡ bỏ cái noema ra khỏi

Trang 32

33

cái noesis, nghĩa là gỡ bỏ thế giới hiện tượng (những mặt, khía cạnh, diện mạo… của thế giới mà ta đã đích thân sống và trải nghiệm) ra khỏi ý thức đang gắn chặt lấy nó Tôn chỉ của Husserl là “Trở về chính những sự vật” (“To the things themselves”) [68, tr.4], thì chúng ta phải hiểu sự vật ở đây không phải là một sự vật tồn tại khách quan mà là cái sự vật gợi lên trong ta ở những nơi và những lúc ta đã sống và cảm nhận về nó

Phương pháp hiện tượng học trên đây của Husserl đã được hầu hết các triết gia hiện sinh ít hoặc nhiều, trực tiếp hay gián tiếp sử dụng để xây dựng triết học của mình Bởi vì, đối tượng của Chủ nghĩa hiện sinh là những cá nhân riêng biệt sống trong những hoàn cảnh, những tình huống cụ thể do đó mang những bản chất riêng biệt khác nhau thì không thể nào dùng các công

cụ của triết học và khoa học để thăm dò được; chỉ dùng mô tả hiện tượng học mới cho ta thấy tâm trạng, xúc cảm cá nhân trước những hoàn cảnh, tình huống khác nhau Đây chính là lý do tại sao các triết gia hiện sinh lại hay sử dụng nhật ký, kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn… để thể hiện những tư tưởng triết học của mình

1.4 Những phạm trù cơ bản của Chủ nghĩa hiện sinh

1.4.1 Kiện tính và siêu việt

Các nhà triết học hiện sinh thường nhấn mạnh vào sự khác biệt căn bản giữa sự tồn tại của sự vật với sự hiện hữu của con người Sự vật là tồn tại “sẵn có” (available) và “thường có” (occurrent) Chúng được định nghĩa qua thực tiễn xã hội hoặc lý thuyết khoa học Các thuộc tính căn bản có thể giúp chúng

ta đoán được sự vật là gì Đối với con người, những thuộc tính tự nhiên và xã hội không đủ xác định được con người đối với tôi là gì, bởi vì con người

không phải là tồn tại “sẵn có” và “thường có” mà là một thực thể luôn bận tâm (care) về sự tồn tại của mình và thế giới, luôn ném mình về phía trước,

“dự phóng” về mình, tức là luôn trong quá trình sáng tạo ra những thuộc tính

Trang 33

34

mới… Con người như thế không thể suy tư qua các phạm trù phù hợp với sự

vật như bản thể, sự kiện, quá trình… Có sự khác biệt nội tại ở hiện hữu con

người mà các nhà triết học hiện sinh cố nắm bắt bằng phạm trù “kiện tính” và

“siêu việt”

Kiện tính (facticity) của con người là tất cả những thuộc tính tự nhiên

(chiều cao, cân nặng, màu da…), những sự kiện xã hội (chủng tộc, giai cấp, quốc tịch…), những thuộc tính tâm lý (hệ thống niềm tin, ước muốn, tính nết…), những sự kiện lịch sử (những hành động quá khứ, nền tảng gia đình, bối cảnh lịch sử…)

Triết học truyền thống chỉ chú ý đến khía cạnh kiện tính ở con người; Chủ nghĩa hiện sinh coi kiện tính chỉ là khởi điểm, xét về mặt nhân vị thì đó

là con số không

Siêu việt (transcendence) là khả năng vươn lên, vượt qua tình trạng hiện

thời của bản thân mình thông qua “lựa chọn” (choice) và “quyết định” (decision)

Con người được tạo dựng nên từ kiện tính và siêu việt Ai mà dừng lại ở kiện tính là con người bị sa lầy vào tình trạng sự vật, là tồn tại ở trạng thái “tự nó” (“en soi”); chỉ ai có khả năng siêu việt, nghĩa là ý thức được về bản thân mình, quyết tâm vươn lên, vượt qua tình trạng sự vật để tạo ra những bản tính độc đáo, mới là con người theo đúng nghĩa của nó, mới trở thành tồn tại “cho nó” (“pour soi”), mới khẳng định được bản tính độc đáo của bản thân mình Đối với các triết gia hiện sinh hữu thần, thì siêu việt có nghĩa là vươn lên đạt đến bản chất của Thiên chúa

Kierkegaard chia đời sống con người thành ba giai đoạn chủ yếu: thẩm

mỹ (the aesthetic), đạo đức (the ethical) và tôn giáo (the religious)

Trang 34

35

Giai đoạn thẩm mỹ: con người sống theo những ham muốn bản năng:

say mê những cuộc vui thỏa thích, những yêu đương chốc lát… cuộc sống không mục đích ấy cuối cùng dẫn đến sự chán chường, thất vọng

Giai đoạn đạo đức: để giải quyết bế tắc của lối sống phóng túng, con

người quay về cuộc sống theo thể chế xã hội (luật pháp, đạo đức) Cuộc sống

đó làm cho con người rất an tâm, không có cảm giác lo âu, xao xuyến, nhưng rút cục nó vẫn làm cho con người có cảm giác nhàm chán, vì đó là cuộc sống theo thói quen, theo trách nhiệm và nghĩa vụ chứ không phải là cuộc sống đích thực của mình

Giai đoạn tôn giáo: để tạo dựng được chính mình, con người phải từ bỏ

cuộc đời “đạo hạnh”, trở về với đức tin nơi Thiên chúa, vì đó mới là cuộc sống đích thực

Tương tự như vậy, Jaspers cũng chủ trương con người hiện sinh trung thực phải có ba cách thức hiện hữu: làm sự vật, làm người hiện sinh và làm Thiên chúa Thiên chúa là chuẩn đích, là lý tưởng để con người vươn tới Đối với các triết gia hiện sinh vô thần, vì không công nhận sự tồn tại của Chúa, cho nên siêu việt là hướng đến vô cùng

Nietzche coi “con người là một cái gì phải vượt qua” (“Man is

something that shall be overcome”) [69, tr.3] Ông đưa ra hình tượng Siêu nhân (overman) để thể hiện con người luôn luôn vươn lên ấy Siêu nhân là kẻ

có nơi nương tựa duy nhất là bản thân nó, luôn tự vượt qua nó và tự lựa chọn Siêu nhân đạp bằng mọi chân lý giả tạo, khinh rẻ mọi thứ “luân lý của kẻ nô lệ” để nhảy vào hiện sinh Đó là “người hùng” có “dũng cảm” đảm nhận công việc xây dựng những con người tương lai Nietzche viết: “Con người ở giữa thú vật và siêu nhân – một sợi dây vắt ngang qua vực thẳm – sự vĩ đại ở con người là nó luôn trên cây cầu vô tận” [69, tr.3]

Trang 35

36

Sartre chủ trương con người phải luôn tiến lên và tiến lên mãi, dừng lại ở một trạng thái nào đó là có nguy cơ trở thành sự vật Ông định nghĩa con người “là cái nó chưa là và không phải là cái nó là” (“it is what it is not and is not what it is”) [62, tr.7], cho nên: “con người phải hành động, và chính nhờ hành động mà tự tác thành lấy mình” [12, tr.76]

Siêu việt là đặc tính riêng biệt ở con người, nó quyết định sự khác nhau căn bản giữa sự tồn tại con người và sự tồn tại của sự vật Chính vì vậy các

triết gia hiện sinh mới gọi sự tồn tại, sự hiện hữu của con người là hiện sinh Hiện sinh, tiếng Pháp là exister có nghĩa là đứng, tồn tại (sistere) để ra khỏi, đạt đến (ex) cái gì đấy hiện nay chưa phải là nó; tiếng Đức là Dasein theo nghĩa mà Heidegger sử dụng là tồn tại (sein) để mở ra, đón chào (da) ý nghĩa mới của vạn vật Như vậy, có thể hiểu khi nói đến hiện sinh là nói đến sự tồn

tại con người mà điểm khác biệt căn bản của nó với các tồn tại khác là nó không tồn tại im lìm, bất động mà luôn tự vươn lên, vượt qua, chinh phục nó

để sáng tạo ra nó

1.4.2 Tha hóa và hiện sinh đích thực

Tha hóa (alienation) theo nguyên nghĩa là biến thành cái khác Tha hóa

là một chủ đề đã được nhiều nhà triết học bàn đến với những ý nghĩa khác nhau

Người đầu tiên đề cập đến tha hóa là J.J Rousseau Theo ông, nhà nước

là biểu hiện sự tha hóa của con người Nhà nước lúc đầu ra đời do nguyện vọng chung của mọi người nhưng khi đã ra đời nó trở thành xa lạ với con người: từ chức năng quản lý xã hội nó trở thành bộ máy thống trị lại xã hội Khái niệm tha hóa thực sự trở thành khái niệm triết học trong hệ thống

triết học Hegel Ở Hegel, tha hóa được hiểu là sự biến đổi từ Ý niệm tuyệt đối

thành cái khác nó ở các sự vật, hiện tượng khách quan nhưng về bản chất vẫn

là chính nó

Trang 36

37

Feuerbach hiểu tha hóa là sự đánh mất bản chất của con người trong sinh hoạt tôn giáo: “Bản chất thần thánh không là gì khác, mà là bản chất con người, nhưng đã được tinh chế, khách quan hóa, tách rời với con người hiện thực bằng xương bằng thịt” [45, tr.463]

Marx đã phân tích hiện tượng tha hóa trong quan hệ nền tảng giữa người với người trong sản xuất vật chất, hoạt động kinh tế Theo Marx, lao động vốn

có bản chất là hoạt động tự nhiên, tự nguyện, nó giúp con người hoàn thiện bản thân mình hơn Nhưng khi xuất hiện tư hữu, xã hội phân chia thành giai cấp, quan hệ sản xuất tách rời lực lượng sản xuất, thì lao động bị biến dạng, bị tha hoá thành hoạt động cưỡng bức Từ sự tha hóa trong lao động dẫn đến sự tha hóa ở bình diện rộng hơn – tha hóa bản thân con người, tha hóa loài Con người vốn là một sinh vật có tính loài đặc thù, vượt lên trên các loài khác nhờ lao động; con người vốn là một thực thể tự do có ý thức về bản thân mình Thế mà người công nhân chỉ cảm thấy là mình khi thực hiện chức năng động vật như ăn, uống, sinh đẻ con cái… Gia nhập vào môi trường xã hội, anh ta cảm thấy mình là cái máy, là con vật Môi trường xã hội còn làm cho những người cùng cảnh ngộ xung đột với nhau vì lý do tồn tại thân xác và những cái

bé nhỏ không đáng kể tương tự Ngay cả ông chủ tư sản cũng không thoát khỏi tình trạng tha hóa khi xúc phạm con người đã mang ý nghĩa quan hệ không chân chính, đánh mất nhân tính

Nguồn gốc xã hội dẫn đến tha hóa, theo Marx, là ở sự xuất hiện chế độ

tư hữu Do vậy, thủ tiêu sở hữu tư nhân ở mỗi nấc thang nhất định cũng đồng thời là khắc phục tình trạng tha hóa

Chủ nghĩa hiện sinh cũng chủ yếu đề cập đến tha hóa trong quan hệ giữa con người với con người, nhưng không cho nó có nguồn gốc từ quan hệ sản xuất vật chất như ở Marx, mà coi đó là bản chất của chính những mối quan hệ

xã hội

Trang 37

38

Theo các nhà triết học hiện sinh thì người ta sống ở đời là sống với những người khác Để có thể sống chung được với nhau thì bắt buộc phải có những quy tắc ứng xử chung, những giá trị chung… Đó là cơ sở cho sự giao tiếp giữa người với người, là tiêu chuẩn đánh giá hành vi mỗi người Sống trong khuôn khổ có sẵn ấy, mọi người dần dần trở nên đồng nhất với nhau: Tôi ăn như người ta ăn, mặc như người ta mặc, nói năng như người ta nói năng…

Con người vốn có bản chất tự do, tự chủ, sáng tạo… nhưng vì sống trong môi trường xã hội phải tuân theo những chuẩn mực, những quy tắc chung lâu dần đánh mất mọi khả năng của mình, cuối cùng trở thành một đơn vị trong cộng đồng, đoàn thể mà nó tham gia vào; bản sắc cá nhân, cái tôi độc đáo ở mỗi người bị hoà tan vào khối người chung chung trừu tượng mà Kierkegaard

gọi là đám đông (crowd), Nietzche gọi là bầy đàn (herd), còn Heidegger gọi

là cái người ta (das man)

Như vậy theo quan điểm hiện sinh thì tha hóa có nghĩa là sự đánh mất bản sắc, sự hòa tan cái tôi độc đáo của mỗi cá nhân vào trong cái tập thể vô danh, mơ hồ và trừu tượng…

Nếu Marx coi tha hóa là một hiện tượng lịch sử chỉ gắn với giai đoạn xã hội phân chia thành giai cấp thì Chủ nghĩa hiện sinh coi tha hóa là một hiện tượng vĩnh viễn gắn liền với bản chất của loài người Chủ nghĩa Marx chủ trương dùng bạo lực cách mạng để lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa cộng sản không còn phân chia giai cấp là cách khắc phục tha hóa Các triết gia hiện sinh phản đối chủ trương trên vì họ cho rằng dù có xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản đi nữa thì hiện tượng tha hóa vẫn còn đó, vì con người vẫn cứ phải sống chung với nhau, vẫn phải có những chuẩn mực

chung, quy tắc chung… Cách khắc phục tha hóa đối với họ chỉ là hiện sinh đích thực

Trang 38

39

Hiện sinh đích thực (authenticity) có nghĩa là “tìm thấy cái tôi của

mình”, rồi sống theo cái tôi ấy “Cái tôi” phải đối lập với “cái người ta”, đó không phải là một bản chất sẵn có mà là một phát minh, một sáng tạo thuần túy của chủ thể thông qua lựa chọn tự do

Hiện sinh đích thực chỉ thuộc về một số cá nhân đã ý thức về bản thân mình Còn đám đông là hiện sinh không đích thực vì đám đông chỉ sống trong

dư luận, bị dư luận nhào nặn, hành vi của họ bị điều chỉnh bởi các chuẩn mực

xã hội Người hiện sinh đích thực là người đã vượt qua cuộc sống luân lý thông thường, không bị ảnh hưởng bởi dư luận xã hội, tự tạo nên bản chất độc đáo của riêng mình theo những quy tắc do mình tạo ra

Đối với các triết gia hiện sinh hữu thần thì hiện sinh đích thực là từ bỏ

đời sống đạo hạnh, quay trở về với đời sống tôn giáo, giữ trọn niềm tin của mình nơi Thiên chúa Kierkegaard viết: “Tôi chỉ thực sự là tôi khi tôi ở trước nhan Thiên chúa; tôi càng cảm thấy mình ở trước nhan Thiên chúa thì tôi càng là chính tôi hơn” [12, tr.66]

Đối với các triết gia hiện sinh vô thần thì hiện sinh đích thực là sống theo

“chủ quan tính”, “nội tại tính”, sống “mạo hiểm” ngoài vòng luân lý thông thường hay quay trở về “bản năng tự nhiên”

Người hiện sinh đích thực là người mang trong mình cảm tính cô đơn, còn đám đông thì ít khi cảm thấy cô đơn vì tâm hồn họ là một khối đồng nhất,

họ phản ứng như nhau trước những hoàn cảnh và kích thích bên ngoài

1.4.3 Tự do – lựa chọn – lo âu – tham gia

Trong lịch sử, hầu hết các hệ thống triết học khác nhau đều ít nhiều bàn đến tự do của con người Tuy nhiên, quan niệm về tự do cũng như phương án đạt đến tự do của các triết gia có nhiều điểm khác nhau Chủ nghĩa hiện sinh chủ yếu bàn về con người và cuộc sống của con người nên tự do trở thành vấn

đề trung tâm, trở thành linh hồn của học thuyết này

Trang 39

40

Tự do (freedom) thường được hiểu trong sự liên hệ với tất yếu

(necessity) Quan điểm triết học truyền thống thường coi con người và sự vật căn bản giống nhau đều bị chi phối bởi cái tất yếu Như thế, con người hoặc là không có tự do (theo quan điểm của Quyết định luận), hoặc tự do là nhận thức cái tất yếu và hành động theo cái tất yếu

Trái lại, các triết gia hiện sinh đem đối lập một cách tuyệt đối giữa tự do

và tất yếu: đã tự do thì không thể là tất yếu, đã tất yếu thì không còn tự do Tất nhiên, tự do theo cách hiểu của các triết gia hiện sinh không phải là khả năng làm bất kỳ điều gì mình muốn về mặt thể xác: bay như chim trên trời, bơi như cá dưới nước… mà đó là khả năng lý giải về mặt tinh thần cuộc đời của mình để xác định mình và tạo nên giá trị riêng mình Theo nghĩa này thì người nô lệ là tự do, vì anh ta có thể lý giải cuộc đời mình theo những cách khác nhau Như vậy, con người dù giống vạn vật bị chi phối bởi những quy luật khách quan, tất yếu có sẵn trong tự nhiên đi nữa thì con người vẫn có tự

do, bởi vì con người là thực thể duy nhất có ý thức Tự do là bản chất của con người, nó gắn liền với con người, nói như Sartre: “con người bị kết án tự do” (“man is condemned to be free”) [65, tr.4]

Tự do là tự mình muốn, tự mình thể hiện ra Đó là một loại cảm tính hoàn toàn chủ quan Mục đích của tự do lại chính là bản thân sự tự do đề ra

Tự do vì thế không có nguyên cớ, hoặc có nguyên cớ thì nguyên cớ đó nằm ngay trong chủ quan của mỗi người

Hoạt động tự do không chỉ không có nguyên cớ mà cũng không biết được nữa, nghĩa là không thể giải thích được và càng không biết được kết quả

cụ thể của nó Mục đích càng không xác định thì tự do càng được đảm bảo Vì

thế, các triết gia hiện sinh thường thích nói đến dự phóng (project) hơn là

muốn Muốn nghĩa là muốn một cái gì đã rõ ràng, một mục đích đã xác định

và người ta cứ thế tiến hành nên không còn gì là tự do nữa Trái lại, dự phóng

Trang 40

41

mới chỉ là một hướng trong dự định, một mục đích chưa xác định do đó càng được tự do hơn Ví dụ: khi tôi muốn trở thành người dũng cảm thì tôi chỉ có một con đường trở thành dũng cảm (không được tự do), còn khi dũng cảm mới là dự phóng của tôi thì tôi có thể trở thành người dũng cảm, có thể trở thành kẻ hèn nhát hoặc trở thành người như thế nào đó chưa định sẵn (tự do được đảm bảo hơn)

Tự do theo quan điểm hiện sinh là tự do tuyệt đối, tự do vô điều kiện, tự

do vượt ra ngoài mọi con đường, mọi mẫu có sẵn Giới hạn của tự do nếu có lại nằm ngay trong sự tự do, tức là ngay trong chủ quan của tôi chứ nó không

có một giới hạn nào ngoài nó cả Sartre viết: “Không có giới hạn nào do bên ngoài đặt ra ngăn chặn sự tự do, nhưng giới hạn đó nằm ngay trong bản chất của sự tự do” [29, tr.211]

Tự do trong Chủ nghĩa hiện sinh luôn gắn liền với lựa chọn (choice)

Như chúng ta đã biết, các khuynh hướng của Chủ nghĩa hiện sinh đều nhấn

mạnh đến hiện sinh Hiện sinh tức là thoát khỏi tình trạng một tồn tại thô sơ,

tự chọn cho mình một bản chất, một ý nghĩa đích thực Muốn hiện sinh lại không được ở lỳ trong cái hiện sinh bây giờ mà phải tiếp tục tìm cho mình bản chất khác, ý nghĩa khác Đó là sự vận hành từ tồn tại thô sơ đến hiện sinh,

từ hiện sinh này sang hiện sinh tiếp theo Nếu cứ ở lỳ trong hiện sinh nào đó thì lại trở thành tồn tại thô sơ và không còn hiện sinh nữa Con đường vận hành đó triển khai được là nhờ lựa chọn Mà lựa chọn thì phải lựa chọn một cách tự do, nếu không thì cũng không thực sự hiện sinh

Lựa chọn theo quan điểm truyền thống là lựa chọn một trong vài kiểu người có sẵn Trái lại, Chủ nghĩa hiện sinh khẳng định lựa chọn là lựa chọn kiểu người chưa có sẵn Do đó, lựa chọn gắn liền với việc tự làm ra, tự phát minh ra, tự lập ra

Ngày đăng: 11/07/2021, 15:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Đình Cầu (dịch - 1994), Triết học phương Tây hiện đại - Tập III, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học phương Tây hiện đại -
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
2. Đinh Chân (dịch - 2004), Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
3. Trịnh Cƣ (dịch - 2005), Edmund Husserl, Nxb Thuận hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Edmund Husserl
Nhà XB: Nxb Thuận hoá
4. Lê Hoàng Dân (dịch - 2001), Kẻ xa lạ, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kẻ xa lạ
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
5. Nguyễn Văn Dân (2002), Văn học phi lý, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học phi lý
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2002
6. Nguyễn Văn Dân, Phùng Văn Tửu, Đức Tài (dịch - 2003), Tuyển tập tác phẩm Franz Kafka, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tác phẩm Franz Kafka
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
7. Châu Diên (dịch - 1989), Ruồi, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ruồi
Nhà XB: Nxb Văn học
8. Nguyễn Tiến Dũng (2006), Chủ nghĩa hiện sinh: lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh: lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
9. Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (2003), Lược khảo triết học phương Tây hiện đại, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược khảo triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
10. Trần Thiện Đạo (2001), Chủ nghĩa hiện sinh và Thuyết cấu trúc, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh và Thuyết cấu trúc
Tác giả: Trần Thiện Đạo
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
11. Trần Thiện Đạo (dịch - 1997), Kín cửa, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kín cửa
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
12. Trần Thái Đỉnh (2005), Chủ nghĩa hiện sinh, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh
Tác giả: Trần Thái Đỉnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2005
13. Nguyễn Trọng Định (dịch - 1994), Buồn nôn, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Buồn nôn
Nhà XB: Nxb Văn học
14. Nguyễn Trọng Định (dịch - 2002), Dịch hạch, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch hạch
Nhà XB: Nxb Văn học
15. Nguyễn Trọng Định, Đoàn Ngọc Thanh (dịch - 1996), Giới nữ - Tập 1, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới nữ -
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
16. Huyền Giang (dịch - 1999), Các triết thuyết lớn, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triết thuyết lớn
Nhà XB: Nxb Thế giới
17. Alexis Trần Đức Hải (2008), ““Haecceitas” (Sở ngã tính) và “Dacein” (Hiện thể tính) trong quan niệm của J.D.Scotus và M.Heidegger”, Tạp chí Triết học (9), tr. 56 – 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Haecceitas” (Sở ngã tính) và “Dacein” (Hiện thể tính) trong quan niệm của J.D.Scotus và M.Heidegger”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Alexis Trần Đức Hải
Năm: 2008
18. Nguyễn Hoà Hải, Đỗ Huy, Nguyễn Văn Huyên (1992), Triết học và mỹ học phương Tây hiện đại, Nxb Thanh hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học và mỹ học phương Tây hiện đại
Tác giả: Nguyễn Hoà Hải, Đỗ Huy, Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb Thanh hoá
Năm: 1992
19. Nguyễn Thị Mai Hoa (2008), “E.Husserl (1859 – 1938) – nhà hiện tƣợng học”, Tạp chí Triết học (10), tr.78 – 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: E.Husserl (1859 – 1938) – nhà hiện tƣợng học”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Hoa
Năm: 2008
20. Phong Hiền (dịch - 1987), Triết học hiện đại Pháp và nguồn gốc của nó từ năm 1789 đến nay, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học hiện đại Pháp và nguồn gốc của nó từ năm 1789 đến nay
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm