Với sự đồng ý và tạo điều kiện của thầy, tôi đã thực hiện luận văn thạc sỹ với tiêu đề: “Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai” – trong khuôn khổ đề t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-NGUYỄN THỊ VÂN ANH
TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-NGUYỄN THỊ VÂN ANH
TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
Luận văn Thạc sĩ Việt Nam học
Mã số: 60220113
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trương Quang Hải
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới GS.TS Trương Quang Hải, người thầy đã trực tiếp dìu dắt, truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên môn thiết thực và những chỉ dẫn khoa học quí báu Với sự đồng ý và tạo điều kiện của thầy, tôi đã thực hiện luận văn thạc sỹ với
tiêu đề: “Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai” – trong khuôn khổ đề tài cấp Nhà nước thuộc Chương trình Tây Nguyên 3 mà thầy trực tiếp chỉ đạo thực hiện: “Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch, hoạch định không gian và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch ở Tây Nguyên”, mã số TN3/T18 Đây thực sự là một vinh dự lớn
cho tôi và là một kỉ niệm đáng nhớ của thời học viên.
Đồng thời, trong quá trình triển khai và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình và chuyên nghiệp của các thầy, cô cùng các cán bộ đang công tác tại Viện Việt Nam học và khoa học phát triển, Khoa Địa lý - Đại học khoa học tự nhiên Tôi xin gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô và các anh chị
Cuối cùng, tôi xin gửi tới Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Gia Lai, Uỷ ban nhân dân thành phố Pleiku, Công ty cổ phần lữ hành Gia Lai Xanh và một số cán bộ liên quan đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả thu thập số liệu cũng như thực địa tại các cơ sở, địa điểm cần thiết cho việc thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu nghiêm túc của
cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trương Quang Hải Các số liệu và kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên
Nguyễn Thị Vân Anh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn 5
7 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1: TIỀM NĂNG DU LỊCH THÀNH PHỒ PLEIKU 6
1.1 Khái quát về thành phố Pleiku 6
1.1.1 Vị trí địa lý 6
1.1.2 Lịch sử hình thành và chuyển biến địa danh 6
1.1.3 Điều kiện tự nhiên 8
1.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 12
1.2 Tài nguyên du lịch thành phố Pleiku 19
1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 19
1.2.1.1 Cảnh quan thiên nhiên 19
1.2.1.2 Các điểm du lịch sinh thái 20
1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 24
1.2.2.1 Các di tích lịch sử - văn hóa 24
1.2.2.2 Các công trình văn hóa 32
1.2.2.3 Các công trình tôn giáo 39
1.2.2.4 Các làng nghề truyền thống 42
1.2.2.5 Bản sắc văn hoá các dân tộc 43
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 58
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ PLEIKU 59
2.1 Hệ thống cơ sở dịch vụ 59
2.1.1 Cơ sở lưu trú 59
2.1.2 Cơ sở vui chơi giải trí kết hợp ăn uống 62
2.1.3 Cơ sở vận tải 65
Trang 62.2 Thị trường du lịch và doanh thu du lịch 67
2.2.1 Thị trường du lịch 67
2.2.2 Doanh thu du lịch 72
2.3 Phân hệ quản lý du lịch 75
2.3.1 Quản lý Nhà nước về du lịch 75
2.3.2 Các công ty du lịch 79
2.3.3 Nguồn nhân lực du lịch 81
2.3.4 Hệ thống cụm, tuyến, điểm liên kết du lịch 84
2.4 Sản phẩm du lịch và quảng bá du lịch 86
2.4.1 Sản phẩm du lịch 86
2.4.2 Hoạt động đầu tư và đầu tư, quảng bá du lịch 91
2.5 Phát triển du lịch vì cộng đồng dân cư địa phương 96
2.6 Du lịch Pleiku trong tương quan du lịch tỉnh Gia Lai 99
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 101
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ PLEIKU .102
3.1 Cơ hội và thách thức đối với phát triển du lịch thành phố Pleiku 102
3.1.1 Cơ hội 102
3.1.2 Thách thức 105
3.2 Biện pháp phát triển du lịch thành phố Pleiku 108
3.2.1 Biện pháp đầu tư phát triển du lịch 108
3.2.2 Biện pháp quy họach phát triển du lịch 110
3.2.3 Biện pháp tổ chức quản lý du lịch 112
3.2.4 Biện pháp xây dựng thương hiệu du lịch 114
3.2.5 Biện pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch 115
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 116
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UBND: Uỷ ban nhân dân
VHTT&DL: Văn hóa, thể thao và du lịch
CTC: Công ty cổ phần Gia Lai
VH – TT – TT: Văn hóa – Thông tin – Thể thao HTX VT&DL: Hợp tác xã vận tải và du lịch TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
CSHT: Cơ sở hạ tầng
NXB: Nhà xuất bản
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Lượng mưa bình quân nhiều năm tại trạm quan trắc Pleiku (mm) (1976-2005) 9
Bảng 1.2: Độ ẩm không khí tương đối bình quân nhiều năm tại trạm quan trắc Pleiku (%) (1976-2005) 10
Bảng 1.3: Nhiệt độ bình quân tháng, năm tại trạm quan trắc Pleiku (0C) (1976-2005) 10
Bảng 1.4: Kết quả phân tích vi sinh mẫu nước mặt Biển Hồ 12
Bảng 1.5: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế theo giá hiện hành của thành phố 13
Bảng 2.1: Các cơ sở lưu trú trên địa bàn thành phố Pleiku 59
Bảng 2.2: Các chỉ tiêu cơ bản trong hoạt động kinh doanh lưu trú của 61
Nhà khách Công đoàn 61
Bảng 2.3: Doanh thu du lịch theo giá hiện hành phân theo thành phần kinh tế 73
của thành phố pleiku giai đoạn 2009 – 2013 (Đơn vị tính: Triệu đồng) 73
Bảng 2.4: Số liệu kinh doanh của Công ty lữ hành Gia Lai xanh 80
Bảng 2.5: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch thành phố Pleiku năm 2013 82
Bảng 2.6: Các dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch thành phố Pleiku 91
giai đoạn 2006 – 2012 (Đơn vị tính: Triệu đồng) 91
Bảng 2.7: Thống kê vốn đầu tư các hạng mục công trình phục vụ du lịch của 92
thành phố Pleiku giai đoạn 2008 - 2012 92
Bảng 2.8: Vốn đầu tư phân theo lĩnh vực kinh tế của thành phố Pleiku 93
giai đoạn 2009 – 2013 ( Đơn vị tính: Triệu đồng) 93
Bảng 2.9: Lượng khách du lịch đến Gia Lai qua các năm 2008 – 2013 100
Bảng 3.1: Hiện trạng các cơ sở lưu trú trên địa bàn thành phố Pleiku 144
Bảng 3.2: Thống kê dịch vụ tại các cơ sở vui chơi giải trí của thành phố Pleiku 154
Bảng 3.3: Danh sách các nhà hàng nổi tiếng của thành phố Pleiku 155
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Các hình thức lưu trú được du khách sử dụng khi đến thành phố Pleiku 60
Biểu đồ 2.2: Số ngày khách do các cơ sở lưu trú phục vụ giai đoạn 2009 -2013 61
Biểu đồ 2.3: Nhận xét giá cả dịch vụ du lịch tại thành phố Pleiku của du khách 64
Biểu đồ 2.4: Các loại phương tiện được khách nội địa sử dụng 66
để đến thành phố Pleiku 66
Biểu đồ 2.5: Lượng khách du lịch đến thành phố Pleiku giai đoạn 2008 – 2013 68
Biểu đồ 2.6: Mục đích các chuyến du lịch của du khách đến thành phố Pleiku 69
Biểu đồ 2.7: Cơ cấu doanh thu du lịch phân theo loại hình dịch vụ 73
của thành phố Pleiku (%) 73
Biểu đồ 2.8: Mức độ chi tiêu của du khách tại thành phố Pleiku 74
Biểu đồ 2.9: Các hình thức tổ chức du lịch của khách nội địa đến thành phố Pleiku 81
Biểu đồ 2.11: Đánh giá của cộng đồng địa phương về điểm thu hút 88
khách du lịch tại thành phố Pleiku 88
Biểu đồ 2.12: Đánh giá chất lượng điểm tham quan du lịch 90
tại thành phố Pleiku của du khách (%) 90
Biểu đồ 2.13: Điểm du lịch ấn tượng của Pleiku do khách nội địa bình chọn 90
Biểu đồ 2.14: Các hoạt động quảng bá du lịch của thành phố Pleiku 94
Biểu đồ 2.15: Các nguồn cung cấp tin tức du lịch thành phố Pleiku cho du khách 95
Biểu đồ 2.16: Thu nhập bình quân đầu người/tháng của cộng đồng địa phương 99
Biểu đồ 2.17: Đánh giá khó khăn trong hoạt động phát triển du lịch tại 99
thành phố Pleiku của cộng đồng địa phương 99
Trang 10MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, cùng với xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoá, du lịch đã và đang
trở thành một ngành dịch vụ quan trọng, chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong GDPcủa mỗi quốc gia Sự tăng trưởng mạnh mẽ của du lịch đã thu hút một lực lượng laođộng đông đảo trên khắp thế giới; mang lại lợi ích to lớn về nhiều mặt: là đòn bẩythúc đấy sự phát triển của tất cả các ngành kinh tế, tạo tích lũy ban đầu cho nền kinh
tế quốc dân và là phương tiện quan trọng để thực hiện giao lưu giữa các nền kinh tế
- văn hóa Mặt khác, phát triển du lịch tạo ra sự tiến bộ xã hội, tình hữu nghị hòabình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc Đối với nhiều quốc gia, du lịch thực
sự đã trở thành “con gà đẻ trứng vàng”
Trong bối cảnh chung của thế giới, du lịch Việt Nam đã có những bướcchuyển mình rõ rệt, đóng góp một phần không nhỏ vào công cuộc công nghiệp hóa– hiện đại hoá đất nước Việt Nam - đất nước con người với vẻ đẹp tiềm ẩn, sở hữunhiều tài nguyên thiên nhiên và nhân văn độc đáo, song du lịch Việt Nam hiện naychưa phát triển tương xứng với tiềm năng, cần thiết phải khai thác hiệu quả tiềmnăng kết hợp đánh giá thực trạng phát triển du lịch của các tỉnh thành trong cả nước,
từ đó đưa ra các giải pháp tăng trưởng và phát triển du lịch bền vững
Gia Lai là tỉnh miền núi nằm ở phía bắc cao nguyên Trung Bộ vùng TâyNguyên của Việt Nam Trong đó, thành phố Pleiku là trung tâm kinh tế - chính trị -văn hóa, đóng vai trò hạt nhân trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Trước xuhướng của thời đại, tỉnh Gia Lai nói chung và thành phố Pleiku nói riêng đang trongquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ mà trọngđiểm là du lịch Thành phố Pleiku được thiên nhiên ưu đãi với phong cảnh núi rừnghùng vĩ và những đặc sản đậm đà hương vị phố núi Bên cạnh đó, Pleiku còn nổitiếng với văn hóa cồng chiêng, văn hóa bản làng của các dân tộc Tây Nguyên cùngcác lễ hội và nghệ thuật dân gian đặc sắc… Những năm gần đây, Pleiku ngày càngthay da đổi thịt: nhiều khu vui chơi giải trí được đầu tư xây dựng cùng những côngviên cây xanh, những nhà hàng khách sạn, những điểm thắng cảnh nổi tiếng Có thể
Trang 11nói, tiềm năng tự nhiên và nhân văn cho phát triển “ngành công nghiệp không khói”của Pleiku là rất lớn, tuy nhiên trên thực tế chưa được phát huy tương xứng, tốc độtăng trưởng du lịch chưa cao, do các công trình phục vụ du lịch còn hạn chế, ngườidân chưa quen các loại hình phục vụ du lịch… Không những thế, sự vươn lên củacác tỉnh thành khác trong phát triển du lịch đã đặt ra thách thức và cạnh tranh chothành phố Pleiku, đòi hỏi “Phố núi” phải nhanh chóng quy hoạch đầu tư, phát huythế mạnh và khắc phục những hạn chế để thu hút khách du lịch.
Từ những lí do trên, có thể thấy việc nghiên cứu phát triển du lịch thành phốPleiku trong thời gian tới là vấn đề cấp bách nhằm đưa ngành kinh tế du lịch Pleikutăng trưởng và phát triển theo hướng chuyên nghiệp và bền vững Do vậy, tác giả đãchọn vấn đề “Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch thành phố Pleiku, tỉnh GiaLai” làm đề tài luận văn Thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu du lịch: Từ lâu, du lịch đã được các nhà khoa
học trên thế giới và Việt Nam quan tâm Các công trình du lịch học rất phong phúbởi đối tượng nghiên cứu của du lịch rất đa dạng Có thể kể đến công trình khoa học
của E.N Pertxik (1973)– chỉ ra những nguyên tắc, phương pháp điều tra, đánh giá
tài nguyên trong quy hoạch vùng kinh tế nói chung và quy hoạch vùng du lịch nói
riêng; hay N.Likhanov (1973) - xác định tài nguyên nghỉ ngơi giải trí theo lãnh thổ
phục vụ khai thác cho du lịch Tiếp đó, hai nhà kinh tế học R Lanquar và R Hollie(1992) đã đưa ra những phương pháp marketing thu hút khách du lịch… Bên cạnh
đó, ở Việt Nam, các công trình dẫn luận về du lịch đã được xuất bản, như: Nhập
môn khoa học du lịch (Trần Đức Thanh – 2003) và Tổng quan du lịch (Vũ Đức
Minh – 1999) đã chỉ ra đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu và lịch sử
phát triển của ngành du lịch Hay Giáo trình kinh tế du lịch của Nguyễn Văn Đính –
Trần Thị Minh Hòa (2004) đã chỉ ra xu hướng phát triển, ý nghĩa kinh tế xã hộicùng điều kiện phát triển và tính thời vụ của du lịch Dưới giác độ thị trường, trong
nghiên cứu Thị trường du lịch (1998) tác giả Nguyễn Văn Lưu đã đề cập đến khái
niệm, bản chất, đặc điểm, chức năng và phân loại thị trường du lịch Dưới giác độ
Trang 12địa lý học, tác giả Nguyễn Minh Tuệ với công trình Địa lý du lịch (1999) đã luận
giải những vấn đề lí luận về địa lý du lịch Việt Nam, các nhân tố ảnh hưởng đến sựhình thành và phát triển du lịch của một số vùng địa lí du lịch… Có thể nói, cáccông trình nghiên cứu du lịch nêu trên đã cung cấp những tiền đề lí luận cần thiếtcho luận văn và là những tư liệu tham khảo hết sức hữu ích trong quá trình nghiêncứu tài nguyên, thực trạng và định hướng phát triển du lịch thành phố Pleiku
Các công trình nghiên cứu du lịch tỉnh Gia Lai: Những năm gần đây, việc
nghiên cứu tài nguyên và thực trạng du lịch của các tỉnh thành trong cả nước đã trở
thành việc làm cấp thiết, góp phần phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội củađất nước nói chung và các tỉnh thành nói riêng Khi nghiên cứu phát triển du lịch
tỉnh Gia Lai, không thể không kể đến “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh
Gia Lai đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020” do Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia
Lai hoạch định năm 2011 Quy hoạch này đã chỉ rõ quan điểm phát triển, mục tiêuphát triển và phương hướng phát triển du lịch tỉnh trên cơ sở phát triển hài hòa,đồng bộ, thống nhất với phát triển kinh tế du lịch vùng Tây Nguyên và cả nước
Hay “Chương trình hành động nâng cao chất lượng, hiệu quả các loại hình dịch vụ
và du lịch trên địa bàn tỉnh” do Tỉnh ủy Gia Lai triển khai nhằm kiện toàn bộ máy
quản lý du lịch, phát huy tối đa tiềm năng du lịch và mở rộng thị trường du lịch
Ngoài ra, cũng cần phải kể đến các công trình nghiên cứu như: Thư mục địa chí
Gia Lai do Thư viện tỉnh Gia Lai biên soạn; Địa danh và di tích Gia Lai từ góc nhìn lịch sử - văn hóa của tác giả Nguyễn Thị Kim Vân (2010); Những lễ hội liên quan đến sản xuất nông nghiệp của tộc người Bahnar ở Gia Lai của tác giả Nguyễn Thị
Thu Loan (2002)… Các công trình nghiên cứu này đã phản ánh được tiềm năng dulịch tỉnh Gia Lai nhìn từ các góc độ lịch sử, địa lý, văn hóa… tuy nhiên chưa thểhiện được cái nhìn toàn diện về tài nguyên, thực trạng cũng như chưa định hướngphát triển du lịch tỉnh trong thời gian tới
Các công trình nghiên cứu du lịch thành phố Pleiku: Pleiku là thành phố có
điều kiện và tiền đề lớn để phát triển du lịch Tuy nhiên, cho đến hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào về phát triển du lịch thành phố này, chỉ là sơ
Trang 13lược hoặc nhắc đến trong các tài liệu nghiên cứu và Quy hoạch tổng thể về phát triển du lịch Tây Nguyên, Gia Lai Có thể khẳng định, nghiên cứu phát triển du lịch thành phố Pleiku là đề tài mới, chứa đựng nhiều góc cạnh chưa được khai phá.
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Trên cơ sở đánh giá tiềm năng và phân tích thực trạng du lịch thành
phố Pleiku, tác giả luận văn đề xuất một số giải pháp thúc đẩy du lịch Pleiku phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ hơn, xứng đáng với tiềm năng vốn có của thành phố
Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ: Tìm hiểu các vấn đề phương pháp luận về phát triển du lịch, áp dụng vào nghiên cứu du lịch thành phố Pleiku Đánh giá tiềm năng, phân tích thực trạng du lịch thành phố Pleiku Đề xuất giải pháp phát triển du lịch thành phố Pleiku.
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn cùng
các hoạt động du lịch của thành phố Pleiku.
Phạm vi: Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Pleiku Phạm vi thời gian:
Số liệu hoạt động du lịch chủ yếu trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến 2014
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Trong quá trình thực hiện đề tài,tác giả đã thu thập các số liệu, tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau: Sở VHTT&DLtỉnh Gia Lai, Phòng VHTTTT thành phố Pleiku, Phòng Thống kê thành phố Pleiku,Thư viện tỉnh Gia Lai, Bảo tàng tỉnh Gia Lai, Công ty lữ hành Gia Lai xanh… từ đótiến hành tổng hợp, phân tích các thông tin phục vụ cho mục đích của đề tài
Phương pháp so sánh: Từ các tài liệu thu được kết hợp kinh nghiệm thực địatác giả đã thực hiện so sánh tiềm năng tài nguyên cùng thực trạng phát triển du lịchthành phố Pleiku đặt trong tương quan du lịch tỉnh Gia Lai
Phương pháp thực địa: Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hànhkhảo sát và điền dã kết hợp điều tra xã hội học (phỏng vấn sâu các cán bộ quản lý
du lịch – văn hóa, các công ty lữ hành, dân làng và phỏng vấn bảng hỏi: 50 phiếu du
Trang 14khách nội địa, 30 phiếu cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động du lịch, 20phiếu du khách quốc tế) trên địa bàn thành phố để khai thác các thông tin cần thiết,nâng cao tính thực tiễn của đề tài (Phụ lục 2: Nhật kí thực địa).
Phương pháp phân tích SWOT: Tác giả đã phân tích điểm mạnh, điểm yếutrong phát triển du lịch thành phố Pleiku
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Khác với nghiên cứu chuyên ngành lấyriêng một lĩnh vực hoạt động nào đó của con người làm đối tượng nghiên cứu,phương pháp nghiên cứu liên ngành lấy không gian văn hóa làm đối tượng tìm hiểu,chú trọng tới mối liên hệ mật thiết giữa các lĩnh vực hoạt động của con người vàquan hệ tương tác giữa con người với điều kiện tự nhiên hay hoàn cảnh xã hội Ápdụng phương pháp liên ngành vào nghiên cứu du lịch thành phố Pleiku có nghĩa làđặt nó dưới góc độ nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau nhằm đạt đượcnhận thức toàn diện, tổng thể; từ đó đưa ra các kết luận, đánh giá khách quan
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Kết quả nghiên cứu chủ yếu của luận văn là đánh giá tiềm năng và phân tích
thực trạng du lịch trên địa bàn thành phố Pleiku, từ đó đề xuất phát triển du lịchtheo hướng bền vững Đồng thời, luận văn là kết quả nghiên cứu theo hướng liênngành, sử dụng kiến thức của nhiều ngành khoa học: du lịch, địa lý, lịch sử, kinh tế,văn học… Vì vậy, những đánh giá, phân tích về tiềm năng và thực trạng du lịch củathành phố được nhìn nhận một cách toàn diện, không đơn thuần là số liệu kinh tế
mà còn dựa trên cơ sở phân tích những giá trị nhân văn và biến đổi xã hội, biến đổithiên nhiên trước ảnh hưởng của hoạt động du lịch
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận cùng tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
được cấu trúc thành 3 chương như sau:
Chương 1: Tiềm năng du lịch thành phố Pleiku
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch thành phố Pleiku
Chương 3: Một số biện pháp phát triển du lịch thành phố Pleiku
Trang 15CHƯƠNG 1: TIỀM NĂNG DU LỊCH THÀNH PHỒ PLEIKU1.1 Khái quát về thành phố Pleiku
1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Pleiku là tỉnh lị của tỉnh Gia Lai và cũng là đô thị trung tâm củaBắc Tây Nguyên, với tổng diện tích hơn 261,99 km², dân số 222.050 người1 Tọa độđịa lý được xác định từ 107º50’30’’ đến 108º06’10’’ kinh độ Đông và 13º50’10’’đến 14º05’15’’ vĩ độ Bắc Phía Đông giáp huyện Đak Đoa; phía Tây giáp huyện IaGrai và huyện Chư Păh; phía Nam giáp huyện Chư Prông; phía Bắc giáp huyện ChưPăh và huyện Đak Đoa Thành phố nằm trên cao nguyên Pleiku, có vị trí địa lý quantrọng về kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng
1.1.2 Lịch sử hình thành và chuyển biến địa danh
Địa danh “Pleiku” có nguồn gốc từ tên của 1 làng Jrai là “Aku” Trong tiếngJrai, “Aku” có nghĩa là “cái đuôi” Vì nguyên âm “a” đứng trước một phụ âm là âmcâm, nên khi ghi âm nó đã bị rớt mất Đến nay, mặc dù viết là “Pleiku” nhưng địa
danh này vẫn được hiểu là có nguồn gốc từ “plơi aku = làng đuôi” Trong dân gian,
lưu truyền phổ biến hai truyền thuyết sau đây:
Truyền thuyết thứ nhất do Rơmah Del sưu tầm và dịch, đại ý như sau: Ngàyxưa, ở làng Brel có hai gia đình gả con cho nhau Theo đúng tục lệ của người Jrai,người vợ phải lo mọi lễ vật đám cưới và người chồng phải ở rể suốt đời Cưới đượcvài hôm, cô dâu mới làm lễ tạ ơn cha mẹ chồng, lễ vật gồm một con lợn to và mộtcon trâu đực Tháng sau, chú rể cũng làm lễ tạ ơn cha mẹ vợ tại làng mình Vì chú
rể là con trai của một gia đình giàu có lại rất uy tín nên họ hàng và dân làng kéo đếnchia vui rất đông Rượu ghè nhiều không đếm xuể Già làng phân công những người
có kinh nghiệm giết bò, còn việc mổ heo thì giao cho đám thanh niên Chúng vừađùa giỡn, vừa xẻ thịt nướng ăn và ăn luôn cả cái đuôi lợn Khi mọi việc chuẩn bịxong xuôi, chủ nhà đem thịt lên đặt tại ghè rượu cúng và mời thầy cúng vào làm lễ.Nhìn quanh không thấy đuôi lợn đâu, thầy cúng rất tức giận, nhất định yêu cầu phải
có đuôi lợn mới Người nhà lật đật gọi đám thanh niên giết lợn khác, nhưng lần này
1 Niên giám Thống kê thành phố Pleiku, năm 2013.
Trang 16vì quá đói chúng lại ăn mất cái đuôi Cứ như thế, lục đục mãi đến tối buổi lễ tạ ơnmới bắt đầu Để trừng phạt đám thanh niên đã ăn vụng đuôi lợn, già làng đặt tênlàng này là “plei Ku” nghĩa là “làng cái đuôi”, để mỗi khi gọi đến tên làng thì chúngphải xấu hổ vì hành động của mình Từ làng gốc đó, sau này plei Ku còn tách ranhiều làng nhỏ: plơi Ku Roh, plơi Ku Tong, plơi Ku Blang….
Truyền thuyết thứ hai lại kể có phần khác đi Đã lâu lắm rồi, không còn nhớthời gian nào, nhân ngày hội lớn người Jrai quần tụ quanh nhà Rông làm lễ đâm trâu
để cúng Yang Giữa lúc dân làng đang ăn uống, chuyện trò vui vẻ thì xảy ra cuộc xôxát giữa hai người con trai của tù trưởng Họ tranh nhau cái đuôi trâu để cúng Yang
mà theo phong tục của người Jrai - nếu ai chiếm được sẽ là một vinh dự lớn Cuốicùng, phe chiếm được đuôi trâu lưu lại vùng đất này và đặt tên làng là Aku (cáiđuôi) với dụng ý đề cao chiến thắng của mình
Trong tài liệu thư tịch, trong Nghị định Toàn quyền Đông Dương ngày
4/7/1905, “Plei – Kou” xuất hiện lần đầu tiên trong văn bản, với nội dung: ‘Đem
vùng miền núi phía Tây tỉnh Bình Định thành lập một tỉnh tự trị, lấy tên là Plei – Kou – Derr tỉnh lỵ đặt tại làng Jrai Plei – Kou” Gần hai năm sau, Nghị định Toàn
quyền Đông Dương ngày 25/4/1907 đã xóa tỉnh Plei – Kou – Derr Đất đai của tìnhnày được chia thành hai phần, một phần nhập vào tỉnh Bình Định, một phần nhậpvào tỉnh Phú Yên Theo Nghị định Toàn quyền ngày 24/5/1925, đại lí hành chínhPleiku thuộc tỉnh Kon Tum được thành lập Từ đây, “Pleiku” với ý nghĩa một địadanh cả về cách đọc, cách viết đã ra đời và tồn tại đến ngày nay Ngày 3/12/1929,theo Nghị định Khâm sứ Trung Kỳ, thị xã Pleiku đã được thành lập Gần 3 năm sau
đó, ngày 24/5/1932 và ngày 4/3/1933, Nghị định Toàn quyền tiếp tục tách phần đấtthuộc đại lý Pleiku cũ (trước thuộc tỉnh Kon Tum) để thành lập tỉnh Pleiku Ngày27/7/1953, Nghị định số 495 – Cab/Ml của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đặttrung tâm các tỉnh thuộc Hoàng triều cương thổ phía Nam (Tây Nguyên hiện nay)thành thị trấn – trong đó có thị trấn Pleiku Sau Hiệp định Genève 1954, chínhquyền Sài Gòn vẫn lấy Pleiku làm tỉnh lỵ của tỉnh cùng tên Ngày 26/1/1957, Nghịđịnh số 27 – BNV/HC/NĐ của Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng hòa bãi bỏ Nghị định số
Trang 17495 – Cab/Ml, các thị trấn được đổi thành xã Theo văn bản này, thị trấn Pleiku trởthành xã Pleiku Dưới thời Ngô Đình Diệm, Pleiku vẫn gọi là thị xã nằm trong xãHội Thương – Hội Phú Từ năm 1962, chính quyền Sài Gòn mới quy hoạch mởrộng thị xã Pleiku Như vậy: Từ năm 1932 – 1975, dưới thời thuộc Pháp cũng nhưchính quyền Sài Gòn, Pleiku là tên tỉnh, đồng thời có giai đoạn là tên thị trấn – thị
xã nhưng trực thuộc xã (chứ không phải là cấp hành chính thị xã tương đương cấpquận, huyện hiện nay) và luôn là tỉnh lỵ của tỉnh Pleiku
Sau Giải phóng (3/1975), Pleiku là tên thị xã tỉnh lỵ của tỉnh Gia Lai (trước vàsau khi sáp nhập hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum) và tỉnh Gia Lai – Kon Tum (trong thờigian nhập tỉnh 1976 – 1991) Ngày 24/6/1999 theo Nghị định số 29/NĐ của Chínhphủ, thị xã Pleiku được nâng lên thành phố (đô thị loại III) thuộc tỉnh Gia Lai TheoQuyết định số 249/QĐ – TTg, ngày 25/2/2009 của Thủ tướng Chính phủ, thành phốPleiku được công nhận là đô thị loại II Về tổ chức hành chính, đến 31/12/2013,thành phố Pleiku bao gồm 23 đơn vị trực thuộc - các phường: Hoa Lư, Tây Sơn,Diên Hồng, Ia Kring, Yên Đỗ, Hội Thương, Yên Thế, Thắng Lợi, Trà Bá, Hội Phú,Phù Đổng, Thống Nhất, Đống Đa, Chi Lăng và các xã: Trà Đa, Chư Á, Biển Hồ,Tân Sơn, Gào, An Phú, Diên Phú, Chư Hdrông, Ia Kênh 2
1.1.3 Điều kiện tự nhiên
Địa hình, địa mạo: Thành phố Pleiku nằm trọn vẹn trên cao nguyên Pleiku, ở
phía Tây dải Trường Sơn Cao nguyên có diện tích khoảng 4.550 km2, độ cao trungbình từ 600m – 700m so với mặt nước biển, độ dốc trung bình từ 30 - 150 Địa hình
có dạng vòm bất đối xứng, sống đường phân thuỷ tương đối bằng, kéo dài dọc theoquốc lộ 14, phân chia thành 02 sườn Đông và Tây Sườn phía Tây hẹp, độ cao giảmnhanh từ đường phân thuỷ 500m - 600m, đến rìa phía Tây Nam 250m - 350m, nên
độ chia cắt sâu trung bình 10m 50m và độ chia cắt ngang trung bình 0,35km 0,45km/km2 đến lớn, hình thành nhiều khe suối hợp thuỷ Sườn Đông của caonguyên phân bố trên diện rộng và chênh lệch nhau nhỏ, từ Tây (500m - 600m) sangĐông (400m - 500m), gần như là vùng Bazan liền khối, chia cắt bởi miệng núi lửa
-2 Niên giám Thống kê thành phố Pleiku, năm 2013.
Trang 18địa hình âm, mức độ chia cắt ít, do vậy khả năng xây dựng các công trình thuỷ lợicấp nước là khó khăn Các thành tạo địa mạo ở đây gồm hai kiểu hình thái cơ bản:
bề mặt nằm ngang và hơi nghiêng xen kẽ các bề mặt dạng phun nổ Các bề mặt này
bị lôi kéo vào các hoạt động đào xẻ, phân cắt cùng với quá trình ngoại sinh hoạtđộng mạnh mẽ, dẫn đến rửa trôi, xâm thực xói mòn, phong hóa bạc màu và các quátrình trọng lực xảy ra ở các sườn dốc và vách đứng mà thường là ranh giới giữa cácphân vi địa mạo.3 Đặc điểm địa hình như vậy đã tạo nên sự đa dạng và phong phú
về cảnh quan du lịch – nét hấp dẫn rất riêng của tự nhiên nơi đây
Khí hậu: Pleiku có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, 01 năm 02 mùa rõ
rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, mùa khô kéo dài từ tháng
11 đến tháng 4 năm sau (bảng 1.1) Đây là một trong những nguyên nhân chính ảnhhưởng đến thời vụ du lịch Sự phân hoá sâu sắc có liên quan đến tác dụng chắn giócủa dãy Trường Sơn Mùa hạ trùng mùa mưa ẩm, quá trình hình thành mưa trongluồng gió mùa Tây Nam đã bão hoà hơi nước lại được tăng cường thêm nhờ tácdụng của dãy Trường Sơn chắn gió nên mưa rất lớn Mùa đông trùng với mùa khôhạn, những đợt gió mùa tràn về đã vấp phải núi và đem lại nhiều mưa ở trên vùngthấp ven biển và sườn Đông Trường Sơn Đặc biệt, đầu thời kỳ mùa đông là thời kỳ
có những xoáy thấp và những cơn bão muộn thường hoạt động ở những vĩ độ thấpcủa biển Đông, sau khi vượt qua dãy Trường Sơn để lại một lượng ẩm đáng kể dướidạng mưa bên Đông Trường Sơn nên các khối khí trở nên khô hơn Tình trạng khôhạn rất gay gắt, hàng năm trong suốt 2-3 tháng chỉ có mưa rất ít, thậm chí có nămkhông có mưa Suốt 6 tháng mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 10% lượng mưa năm
Bảng 1.1: Lượng mưa bình quân nhiều năm tại trạm quan trắc Pleiku
(mm) (1976-2005)
Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Tây Nguyên
3Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai (1999), Địa chí Gia Lai, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
Trang 19Độ ẩm không khí trung bình thấp nhất xảy ra vào tháng III (72%) và cao nhấtvào tháng VIII (93%) Độ ẩm lớn nhất thường xảy ra sau vài ba giờ lúc mặt trờimọc và nhỏ nhất xảy ra vào lúc 13 giờ trong ngày Quan sát thực tế ở trạm đo chothấy độ ẩm về ban đêm cao hơn so với ban ngày Độ ẩm nhỏ nhất ngày quan sátđược vào tháng III ở Pleiku chỉ có 8% Độ ẩm quá thấp như vậy đã làm cho mùakhô trở nên gay gắt trong khu vực.
Bảng 1.2: Độ ẩm không khí tương đối bình quân nhiều năm tại
trạm quan trắc Pleiku (%) (1976-2005)
Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Tây Nguyên
Đặc điểm quan trọng của chế độ nhiệt tại Pleiku là sự hạ thấp nhiệt độ theo độcao, càng lên cao nhiệt độ càng giảm và làm cho nhiệt độ các tháng mùa hạ khôngcao lắm trong khi đó nhiệt độ các tháng mùa đông xuống khá thấp Nhiệt độ trungbình năm đạt 21,70C Nhiệt độ trung bình tháng I xuống thấp nhất trong năm, thángnóng nhất là tháng IV - V Chênh lệch nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất vớitháng lạnh nhất chỉ khoảng từ 5 - 60C, nhưng dao động trong 01 ngày đêm của nhiệt
độ không khí thì lại đáng kể từ 9 - 100C, đặc biệt là các tháng trong mùa khô daođộng trong 01 ngày đêm của nhiệt độ không khí có thể lên đến 150C Nhiệt độ tốicao trung bình nhiều năm đạt cao nhất vào tháng IV - 310C, và nhiệt độ tối cao tuyệtđối vào tháng IV - 360C Nhiệt độ tối thấp trung bình nhiều năm đạt thấp nhất vàotháng I - 12.80C, thấp nhất tuyệt đối vào tháng I - 5,60C.
Bảng 1.3: Nhiệt độ bình quân tháng, năm tại trạm quan trắc Pleiku
(0C) (1976-2005)
18,8 20,0 22,0 24,0 24,0 23,0 22,0 22,0 22,0 22,0 20,0 19,0 21,7
Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Tây Nguyên
Số giờ nắng hàng năm khoảng 2.426 giờ/năm Tháng có số giờ nắng nhiềunhất rơi vào tháng III (cuối mùa khô) và đạt tới 278 giờ/tháng Tháng có số giờnắng ít nhất rơi vào tháng VII (giữa mùa mưa) và chỉ đạt 125 giờ/tháng,
Trang 203,5giờ/ngày Tốc độ gió trung bình ít thay đối theo tháng và mùa, nhưng do ảnhhưởng của địa hình nên tốc độ gió và hướng gió cũng có sự thay đổi Vào mùa đônghướng gió thịnh hành trên lưu vực là gió Bắc hoặc Đông Bắc Vào mùa hạ hướnggió thịnh hành là gió Tây Nam và gió Tây ở thời kì đầu mùa hạ Tốc độ gió trungbình năm ở Pleiku là 2,6 m/s Tốc độ gió mạnh nhất đạt từ 20-28m/s trong cơndông, mưa bão Hướng gió thịnh hành là hướng Tây và hướng Đông với tần suấtxuất hiện khoảng 28-36% Hướng Bắc và Nam xuất hiện ít khoảng 1-2%
Bão thường xuất hiện ở biển Đông mà Pleiku nằm cách xa biển và có dãyTrường Sơn án ngữ ở phía Đông nên bão không đổ bộ trực tiếp mà chỉ làm ảnhhưởng đến lưu vực gây mưa lớn và ngập lụt kéo dài vài ba ngày trên diện rộng
Đất: Thành phố Pleiku nằm trên cao nguyên Pleiku với đặc trưng cơ bản là
các vùng đất đỏ bazan màu mỡ chiếm phần lớn diện tích – loại đất có nguồn gốc làsản phẩm phong hóa của đá macma phun trào Đặc điểm địa chất của loại đất này làtầng đất rất dày, kết cấu rộng, khả năng thấm nước cao Nhóm đất này chiếm 90 %diện tích đất của thành phố (trên tổng số 26.199 ha) Phần còn lại là nhóm đất thunglũng dốc tụ, diện tích khoảng 3.896 ha Nguồn gốc từ lắng đọng trầm tích gồm sét,bột, cát, mảnh vụn đá bazan phong hóa dở dang; màu sắc xám nâu xen kẽ xám đen
do nhiễm các vật chất than mùn, hữu cơ; phân bố dọc các thung lũng suối, miệngnúi lửa địa hình âm, chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, có diện tíchnhỏ nhóm đất xói mòn - sản phẩm còn lại của quá trình xói mòn, xâm thực vàphong hóa bạc màu và chia cắt mạnh, đây chủ yếu là diện tích đất chưa sử dụng
Nước: Nước mặt: Thành phố Pleiku có 01 hồ tự nhiên (Biển Hồ, diện tích
250 ha - nguồn cung cấp nước chính cho hoạt động sản xuất, sinh hoạt và các dịch
vụ du lịch của thành phố) cùng nhiều hồ nhân tạo ở khu vực quanh Biển Hồ, Trà Đa(tổng diện tích 120 ha) Ngoài ra, thành phố còn có hai hệ thống suối Tao bưng vàTakian cùng các nhánh nhỏ của chúng Iarơdung, Iakrôm… có chiều dài tổng cộng
45 km, lưu vực 149 km², chảy uốn lượn với độ dốc dòng chảy 5º - 15º, lưu lượngthay đổi theo mùa – trung bình Qth = 45l/s Nói riêng về chất lượng nguồn nướcmặt của Biển Hồ, kết quả phân tích như sau:
Trang 21Bảng 1.4: Kết quả phân tích vi sinh mẫu nước mặt Biển Hồ
(MPN/100ml)
Fecal Coliform (MP N/100ml)
Nguồn: Liên đoàn địa chất thuỷ văn - địa chất công trình Miền trung
Nước ngầm: Đặc điểm nguồn nước ngầm của thành phố là nước trong phun
trào Ba Zan, độ khoáng hoá nhỏ, thay đổi từ 0,15 đến 0,45 g/l, thành phần hoá họcchủ yếu gồm: Bicarbonate clour natri, calci, hàm lượng các ion thường nhỏ Các chỉtiêu lý hoá khác, các chỉ tiêu dấu hiệu nhiễm bẩn đều trong tiêu chuẩn cho phép củanước sinh hoạt Trữ lượng khai thác tiềm năng nước ngầm của thành phố vàokhoảng 1.492,608 m3/ngày, tính riêng khu vực Biển Hồ:
Sinh vật: Lớp phủ thực vật trên địa bàn thành phố Pleiku ở mức che phủ trung
bình Do địa hình khác nhau mà thảm thực vật cũng khác nhau, chủ yếu là thảmthực vật nhân tạo với các giống cây đã thuần hóa như: thông, cao su, keo lá Hiệnnay, thành phố có 2.297 ha rừng trồng (giảm 3% so với năm 2009 – 2.365 ha) Bêncạnh đó, còn có hệ thống cây xanh đường phố, theo số liệu thống kê của UBNDthành phố thì hiện tại thành phố quản lý và chăm sóc trên 13.560 cây xanh
1.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội
Kinh tế: Pleiku là một thành phố trẻ, hiện được đánh giá là địa phương phát
triển năng động với tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức cao Theo số liệuthống kê của Uỷ ban nhân dân (UBND) thành phố Pleiku, năm 2013 tốc độ tăngtrưởng kinh tế của thành phố đạt 13,14% Tổng vốn đầu tư phát triển 3.650 tỷ đồng.Tổng thu ngân sách nhà nước 613 tỷ đồng trở lên Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịchtheo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa: tỷ trọng ngành thương mại - dịch vụchiếm 53,61%, công nghiệp - xây dựng chiếm 41,97%, nông nghiệp chiếm 4,42% GDPbình quân đầu người đạt 44,03 triệu đồng (tăng 10,45% so với cùng kỳ năm 2012)
Về lĩnh vực đầu tư và quy hoạch: Tổng vốn đầu tư trên địa bàn thành phốnăm 2013 là 3.512,273 triệu đồng (tăng 81,3 % so với năm 2009 – 1.936,825 triệu
Trang 22đồng), chủ yếu là vốn đầu tư khu vực ngoài Nhà nước (chiếm 59,7% - 2.097,744triệu đồng) Với ưu thế đất đai rộng, thành phố đã có những chính sách phù hợp đểthu hút đầu tư Điển hình là Khu công nghiệp Trà Đa với diện tích 124,5 ha, tínhđến cuối năm 2013 đã có 30 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký 818 tỷ đồng, hiện
đã có 21 nhà máy đi vào hoạt động Thành phố cũng đang quy hoạch khu côngnghiệp Tây Pleiku với diện tích 284 ha tính đến năm 2015 và mở rộng gần 400 hatính đến năm 2020 Đồng thời, Bộ Xây dựng cũng đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội thành phố Pleiku đến năm 2020
Bảng 1.5: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế theo giá hiện hành của thành phố
Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Pleiku, năm 2013
Xã hội: Thành phố Pleiku có tổng dân số hơn 236.000 người với 28 dân tộc
cùng sinh sống Trong năm 2013 vừa qua, thành phố đã giải quyết việc làm cho hơn4.500 lao động, thực hiện đầy đủ và kịp thời chế độ cho người có công, đối tượng
xã hội Công tác xây dựng nông thôn mới đã cơ bản hoàn thành, tổng ngân sáchphân bổ cho các xã là 1.069 triệu đồng Cho đến nay đã có 3/9 xã đạt 19/19 tiêu chíxây dựng nông thôn mới: Biển Hồ, Diên Phú và An Phú.4 Công tác thông tin - tuyêntruyền được quan tâm chỉ đạo, phục vụ có hiệu quả việc tuyên truyền đến các tầnglớp nhân dân chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
và các nhiệm vụ chính trị của thành phố
4 Niên giám thống kê thành phố Pleiku, năm 2013
Trang 23Giáo dục – Y tế: Cùng với sự phát triển về kinh tế, thành phố cũng rất chú
trọng đến phát triển giáo dục và y tế Sự nghiệp giáo dục - đào tạo chuyển biếnmạnh mẽ, quy mô các ngành học, bậc học được mở rộng Đến nay, thành phố đãhoàn thành phổ cập trung học cơ sở và phổ cập tiểu học đúng độ tuổi Số học sinh
dự thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2012 – 2013 là 3.442 học sinh, tỷ lễ
đỗ tốt nghiệp đạt 99,04 %.5 Cơ sở vật chất trường lớp được quan tâm đầu tư từnhiều nguồn vốn Thành phố có 78 trường với 50.797 học sinh, 2.591 giáo viên trực
tiếp giảng dạy Công tác xã hội hóa giáo dục có chuyển biến khá tích cực, các
trường dân lập, tư thục không ngừng tăng lên nhờ hàng trăm tỷ đồng đầu tư của các
cá nhân, doanh nghiệp cùng chung tay thực hiện Công tác chăm sóc sức khỏe nhândân cũng được chú trọng đúng mức Mạng lưới trạm y tế xã, phường được xây dựngtheo hướng đạt chuẩn Đến nay, toàn thành phố đã có 32 cơ sở y tế với 1.379giường bệnh và 1.474 cán bộ y – dược 6
Chất lượng sống: Quá trình đô thị hóa đã làm đổi thay nhanh chóng bộ mặt
thành phố, đời sống nhân dân được cải thiện, trình độ dân trí ngày càng cao Nếunhư năm 2009, tỷ lệ hộ nghèo là 5,8 % thì đến cuối năm 2013, trên địa bàn thànhphố chỉ còn 306 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 0,61%.7 Thu nhập bình quân đầu người47,87 triệu đồng/ năm theo giá hiện hành Đến nay, hầu hết các tuyến đường nộithành đã nhựa hóa, bê tông hóa; vỉa hè các tuyến đường trung tâm được lát gạchblock; hệ thống điện chiếu sáng với hơn 500 bộ cao áp ; 99% số hộ sử dụng nướcsạch và điện lưới quốc gia Những khu đô thị mới như: Hoa Lư - Phù Đổng, VK-Highland, Phượng Hoàng I, Phú An… đã và đang được đầu tư xây dựng, góp phầnnâng cao chất lượng sống của nhân dân Cùng với đó, công tác thu gom rác thải, vệsinh đường phố, chỉnh trang đô thị cũng ngày càng được quan tâm
Chất lượng môi trường: Thành phố Pleiku với lợi thế là phố núi cao nguyên
nên có môi trường sinh thái được đánh giá rất phong phú, đa dạng Môi trường tựnhiên (nước, đất, không khí và tiếng ồn, chất thải ) chưa có dấu hiệu ô nhiễm đáng
5 Niên giám thống kê thành phố Pleiku, 2013.
6 Niên giám thống kê thành phố Pleiku, 2013.
7 Niên giám thống kê thành phố Pleiku, 2013.
Trang 24kể do hoạt động công nghiệp phát triển chưa mạnh, chưa nhiều khu công nghiệp,nhà máy sản xuất các ngành hàng có tác động lớn đến môi trường Bên cạnh đó,môi trường xã hội trên địa bàn thành phố tương đối ổn định Công tác xây dựng đờisống văn hóa cơ sở được chú trọng Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đờisống văn hóa”; xây dựng nếp sống văn minh, xây dựng làng văn hóa; phong tràovăn hóa văn nghệ, thể dục thể thao và xây dựng các thiết chế văn hóa ở cơ sở nhưnhà rông, nhà văn hóa, thư viện ngày càng phát triển, góp phần nâng cao đời sống
tinh thần của người dân thành phố Đến nay, số lượng hộ dân cư, thôn/ấp/bản/tổ dân
phố đạt chuẩn văn hóa của 23 xã phường trực thuộc thành phố đã đạt 44.752 hộ 8
(tăng 12 % so với năm 2009 – 39.925 hộ)
Cơ sở hạ tầng – vật chất kỹ thuật: Hiện nay, thành phố đã thi công hoàn
thành 36 công trình, đang thi công 22 công trình Năm qua, thành phố đã cấp 6.129giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 478,11 ha; cho phép chuyển mụcđích sử dụng 1384 trường hợp với diện tích 15,16 ha; giao đất mới cho 65 hộ giađình và cá nhân với diện tích 1,08 ha; bố trí đất tái định cư cho 22 hộ gia đình, cánhân thuộc dự án mở rộng hoa viên Quang Trung và Nhà Thi đấu đa năng tỉnh Đến nay, thành phố có tổng cộng 850 km đường bộ - bao gồm 18,7 km đường bêtông ximăng; 100,7 km đường bê tông nhựa; 467,8 km đường láng nhựa; 8,5 kmđường cấp phối và 254,3 km đường đất Đường giao thông nông thôn từ nguồn vốnvay ưu đãi đã thực hiện được 28.216 m, đạt 100% Đường hẻm có chiều rộng dưới3m đã thực hiện được 760m, đạt 100% Trong 03 năm (2011-2013), thành phố đãtriển khai đầu tư 35 tuyến đường trên địa bàn 11 phường, tổng số 1.415 hộ hiến đất
mở đường với tổng số diện tích 17.212 m2, 1.023 hộ di dời hàng rào và vật kiếntrúc diện tích 11.563 m2, 197 hộ giải tỏa nhà diện tích 2.888 m2, giải tỏa 190 trụđiện, 5.754 mét cáp quang, 6 hố cáp quang, 9.203 mét ống nước, 85 cây xanh 9
Giao thông: Trên địa bàn thành phố có 04 tuyến quốc lộ đi qua: Quốc lộ 14
-Xuất phát từ Đăk Rông (Quảng Trị) và kết thúc tại tỉnh Bình Phước, tổng chiều dài
890 km, đi qua địa bàn tỉnh Gia Lai 113,5 km (từ Km494+470, điểm tiếp giáp tỉnh
8 Niên giám thống kê thành phố Pleiku, 2013.
9 Số liệu được cung cấp bởi Chánh văn phòng UBND thành phố Pleiku.
Trang 25Kon Tum qua thành phố Pleiku đến Km608, điểm tiếp giáp tỉnh Đắk Lăk) Quốc lộ
19 - Tuyến đường kết nối giữa tỉnh Bình Định và tỉnh Gia Lai, bắt đầu từ thành phố
Qui Nhơn (Bình Định) và kết thúc tại cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh (Gia Lai), tiếp nốivới quốc lộ 78 qua tỉnh Ratanakiri của Campuchia Đoạn đi qua tỉnh Gia Lai dài
180 km (từ Km67 tiếp giáp tỉnh Bình Định qua thành phố Pleiku đến Km247 tiếpgiáp quốc lộ 78 - Campuchia) Đây là trục ngang quan trọng của tỉnh Gia Lai và khu
vực Tây Nguyên theo hướng Đông Tây Quốc lộ 25 - Tuyến đường kết nối giữa tỉnh
Phú Yên và tỉnh Gia Lai, bắt đầu từ thành phố Tuy Hòa (Phú Yên) và kết thúc tạihuyện Chư Sê (Gia Lai) với tổng chiều dài là 181 km Đoạn đi qua tỉnh Gia Lai dài
112 km (từ Km69 tiếp giáp tỉnh Phú Yên, qua thành phố Pleiku đến Km181 thuộcđịa phận huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai) Đây cũng là trục ngang quan trọng của tỉnh
Gia Lai và khu vực Tây Nguyên theo hướng Đông Tây Quốc lộ 14C - Tuyến
đường dọc biên giới Việt Nam - Campuchia có chiều dài hơn 426 km, bắt đầu từPlei Cần (Kon Tum) kết thúc tại cửa khẩu Bu Porang (Đăk Nông) Đoạn đi qua tỉnhGia Lai dài 112 km (từ Km107, tiếp giáp tỉnh Kon Tum qua thành phố Pleiku đếnKm219 tiếp giáp tỉnh Đăk Lăk) Đây là trục dọc quan trọng của tỉnh Gia Lai và khu
vực Tây Nguyên theo hướng Bắc Nam Cùng với đó là các tuyến: Tỉnh lộ 664 dài
53 km (từ quốc lộ 14 tại thành phố Pleiku qua huyện Ia Grai, hướng về phía tây, nối
vào quốc lộ 14C tại sông Sê San); Tỉnh lộ 671 dài 24 km (từ quốc lộ 14, đoạn qua ngả tư Biển Hồ nối vào tỉnh lộ 670 tại xã Nam Yang, huyện Đăk Đoa) Tỉnh lộ
672 dài 29 km (là đường vành đai thành phố Pleiku) Tỉnh lộ 675 dài 60 km (từ
quốc lộ 19 tại thành phố Pleiku nối vào quốc lộ 14C tại Ia Men)
Theo Quy hoạch phát triển mạng lưới giao thông vận tải tỉnh Gia Lai đến
năm 2020 (2011), ở thời điểm hiện tại, Quốc lộ 19 – 25 -14 đang được nâng cấp đạt
tiêu chuẩn cấp III (đồng bằng và miền núi), Quốc lộ 14C được nâng cấp nền, mă ̣tđường và các công trình trên tuyến, phấn đấu đến năm 2015 hoàn chỉnh quy mô
đường cấp IV miền núi Đặc biệt, theo Quyết định số 38/2004/QHXI, dự án đường
Hồ Chí Minh sẽ đi qua 30 tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó đoạn qua địa phậnGia Lai có chiều dài 97 km, sẽ đi qua 6 huyện, thành phố (Chư Pah, thành phố
Trang 26Pleiku, Đak Đoa, Chư Prông, Chư Sê và Chư Pưh), với tổng mức kinh phí đầu tư16.082 tỷ đồng Với việc đường Hồ Chí Minh được thi công hoàn thiện, sẽ kết nốivào quốc lộ 19, quốc lộ 25 và hệ thống đường tỉnh để hình thành một hệ thốngđường từ Đông sang Tây, từ Bắc đến Nam, tạo đà cho các địa phương trong tỉnhthuận lợi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng- an ninh Ở một tầm caohơn, khi tuyến đường Hồ Chí Minh hoàn thành, tỉnh Gia Lai mà trung tâm kinh tế -chính trị - văn hóa của nó là thành phố Pleiku, sẽ có một vị trí đặc biệt quan trọng,trở thành cửa ngõ nối liền Tây Nguyên với các tỉnh Duyên hải miền Trung (Quốc lộ
14 kết giao nhau với Quốc lộ 19 tại thành phố Pleiku và giao nhau với Quốc lộ 25tại Chư Sê), nơi có 06 khu kinh tế, 54 khu công nghiệp, 13 cảng biển và tuyếnđường sắt Bắc - Nam chạy qua Đồng thời, dự kiến giai đoạn 2015 - 2020 sẽ xâydựng tuyến cao tốc Tây Nguyên dài 392 km, quy mô tiêu chuẩn kỹ thuật từ 4-6 làn
xe, cao tốc cấp 80-100, với tổng mức kinh phí đầu tư là 66.788 tỷ đồng
Đường hàng không: Cảng hàng không Pleiku có diện tích 247,5 ha; nằm cách
trung tâm thành phố Pleiku 03 km về phía Đông Bắc Đây là cảng hàng không dândụng kết hợp với hoạt động bay quân sự, là cảng nội địa phục vụ cho hoạt động baynội vùng và liên vùng, công suất trung bình 3000 chuyến tàu bay hạ/cất cánh và trên300.000 lượt hành khách thông qua ga cùng hơn 50 tấn hàng hóa mỗi năm Cảnghàng không Pleiku có vị trí kinh tế, chính trị đặc biệt quan trọng, là cửa ngõ giaothương của thành phố Pleiku nói riêng và tỉnh Gia Lai nói chung với các địa phươngkhác Đây vừa là tiềm năng cần đầu tư khai thác, vừa là một lợi thế rất lớn trongcạnh tranh với các cảng hàng không địa phương lân cận nhằm từng bước biến Cảnghàng không Pleiku thành một thương cảng, một trung tâm trung chuyển hàng khôngcủa khu vực Tây nguyên và các tỉnh lân cận, các nước Lào, Campuchia Tháng3/2011, Cục Hàng không Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Gia Lai đã công bốđiều chỉnh Quy hoạch cảng hàng không Pleiku đến năm 2020 và định hướng đếnnăm 2030 Theo đó, sau 2020, Cảng hàng không Pleiku sẽ đạt cấp 4C theo tiêuchuẩn của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO)
Trang 27Điện: Hiện tại thành phố được cấp điện từ 02 trạm biến áp Trạm biến áp Biển
Hồ 110/35/22KV-10MW và trạm biến áp Diên Hồng 110/35/22KV Theo Quy
hoạch chung xây dựng thành phố Pleiku đến năm 2020 của UBND thành phố
(2005), năm 2020 cả hai trạm biến áp này sẽ đạt mức 2x125 MAV Tất cả đều đượctrang bị lưới 22 KV dùng cáp ngầm có kết nối mạch vòng bình thường vận hành hở,
ở khu vực có địa hình phức tạp có thể đi nổi dùng dây bọc nhựa PVC Theo đó, cáctrạm biến áp trong khu vực nội thị được xây dựng kiểu kín và bố trí hợp lý ở trungtâm phụ tải khu vực đảm bảo bán kính phục vụ của lưới hạ thế 0,4 KV
Nước: Do đặc điểm thành phố Pleiku không có sông chảy qua nên nguồn
cung cấp nước chủ yếu là từ công trình thủy lợi Biển Hồ, được khai thác bởi Nhàmáy nước Biển Hồ, với công suất 8.000m3 - 10.000 m3/ngày đêm chủ yếu phục vụnhu cầu sinh hoạt và sản xuất trong nội vi thành phố, trung bình cấp 38 lítnước/người/ngày Công trình thủy lợi Biển Hồ được UBND tỉnh Gia Lai – KonTum và Bộ Thủy lợi ký kết tiến hành đầu tư xây dựng ngay từ những năm đầu giảiphóng cùng với hai công trình thủy lợi khác của tỉnh là hồ Ayun Hạ và hồ ĐakCấm Công trình được xây dựng tại lưu vực chứa nước của hai suối Rơnhing và Plơi
Kô Hướng quy hoạch là xây dựng hai hồ chứa, một hồ nằm trên suối Plơi Kô cólượng nước trữ 63 triệu m³, đảm bảo tưới cho 9.100 ha (trong đó tự chảy 6.200 ha,bơm 2.900 ha) Đợt I: xây dựng một hồ chứa gọi là Công trình khai thác thủy lợiBiển Hồ, tưới tự chảy cho 2.300 ha Đợt II: khi có nguồn điện cung cấp sẽ thiết kếxây dựng hai trạm bơm điện lấy nước từ hồ này tưới cho vùng Lệ Chí và xungquanh Biển Hồ 2.300 ha Mùng 3 Tết năm 1978, công trình được khởi công Sau banăm xây dựng, nước Biển Hồ đã qua cống đập chính, dẫn nước ra suối chính xa 10
km và được chặn lại bởi một đập dâng rồi tưới cho cánh đồng Ia Sao và cả vùng câycông nghiệp xung quanh Năm 1983, hồ đã tích đến mực nước thiết kế Năm 1986,
hồ được giao cho Công ty quản lý Thủy nông tỉnh khai thác Từ năm 1998, thànhphố đã triển khai chương trình dự án nước sạch cho đô thị bằng nguồn vốn ODA,cải tạo dây chuyền công nghệ xử lý nước, mở rộng mạng lưới đường ống cấp nước
Trang 28Đến năm 2005, khi dự án hoàn thành, công suất đạt 38.000 m³ nước/ngày đêm,trung bình cấp 128 lít nước/người/ngày
Thông tin liên lạc: Cùng với sự phát triển nhanh chóng của các ngành kinh
tế, lĩnh vực thông tin liên lạc của thành phố ngày càng được đầu tư, xây dựng theohướng hiện đại, bắt kịp với xu thế chung của cả nước Bưu điện tỉnh Gia Lai vớihơn 35 năm kinh nghiệm, cơ sở hạ tầng hiện đại, đội xe chuyên dụng quy mô lớn,đội ngũ bưu tá am hiểu địa bàn, đảm bảo cung cấp cho khách hàng các dịch vụ bưuchính phổ thông, dịch vụ viễn thông, dịch vụ tài chính một cách tối ưu nhất Đồng
thời, các nhà mạng Viettel, Mobifone, Vina phủ sóng rộng khắp thành phố, đảm bảo
nhanh chóng và thuận tiện
1.2 Tài nguyên du lịch thành phố Pleiku
1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
1.2.1.1 Cảnh quan thiên nhiên
Có thể nói, thành phố Pleiku được thiên nhiên vô cùng ưu đãi Do đặc điểmđịa hình và khí hậu, một ngày ở phố núi có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông hội
tụ Sáng sớm trời se se lạnh, buổi trưa không khí trở nên oi bức như mùa hè, khichiều vừa tắt nắng đã có những cơn gió thoang thoảng của mùa thu làm dịu mát cáinắng gay gắt và khi màn đêm xuống nghĩa là Đông đã về Lạ một điều là dù trời40º, giữa cái nắng vàng như mật và dưới bầu trời xanh ngắt không gợn mây, người
ta vẫn có thể cảm nhận những làn gió mơn man da thịt, nóng mà không hề có mộtgiọt mồ hôi Hòa trong cái nóng cái lạnh của phố núi cao nguyên, là bầu không khítrong lành và sự bình yên của cuộc sống nơi đây Không gian, cảnh quan với đườngphố là những triền dốc uốn quanh mang đặc trưng phố núi tạo cảm giác khác biệt,khiến con người ta xua tan mệt nhọc của cuộc sống thường nhật Cách đây mấychục năm, nhà thơ Nguyễn Hữu Định khi có dịp công tác nơi phố núi, tức cảnh sinh
tình, ông đã dành những câu thơ rất trữ tình cho đất và người Pleiku: “Phố núi cao
phố núi đầy sương; Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn; Anh khách lạ đi lên đi xuống; May mà có em đời còn dễ thương Em Pleiku má đỏ môi hồng; Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông; Nên tóc em ướt và mắt em cũng ướt ; Nên da em mềm
Trang 29như mây chiều trong Phố núi cao phố núi trời gần; Phố xá không xa nên phố tình thân; Đi dăm phút đã về chốn cũ; Một buổi chiều nao lòng vẫn bâng khuâng Xin cảm ơn thành phố có em; Xin cảm ơn một mái tóc mềm; Mai xa lắc trên đồn biên giới; Còn một chút gì để nhớ để quên ”
Trong mấy năm trở lại đây, có một hình thức du ngoạn cảnh quan về chiều vàđêm rất được các du khách ưa chuộng, đó là ngồi xe ngựa dạo một vòng quanhthành phố Thú đi xe ngựa ung dung, tao nhã và mang đậm dấu ấn văn hóa phươngĐông Tiếng vó ngựa gõ nhịp trên đường phố gợi lại trong ta cảm giác trở về thời xaxưa Sải ngựa một vòng qua Bưu điện tỉnh, vào hồ Đức An thưởng thức phong cảnhthiên nhiên mây trời gió nước, ngược lên đường Đống Đa, qua Trường Cao đẳng Sưphạm, đi qua Hồ Ia Pe, xuống đường Phan Đình Phùng sầm uất, trở về Ngã ba Hoa
Lư, diễu qua Bảo tàng Hồ Chí Minh trang nghiêm, quay về Quãng trường Đại đoànkết các dân tộc Tây Nguyên ngắm chiêng đồng Gia rai, Bahnar, cảm giác như đượcquyện vào thiên nhiên, hòa lẫn vào nhịp sống hiện đại mà không xô bồ của ngườidân phố núi hiền hòa mến khách
1.2.1.2 Các điểm du lịch sinh thái
Công viên văn hóa Đồng Xanh: Thuộc địa phận xã An Phú, thành phố
Pleiku – do Công ty cổ phần Văn hóa - Du lịch Gia Lai (CTC), trước đây là Công tyĐiện ảnh Gia Lai, đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác dịch vụ văn hóa từ năm
1999 Công viên nằm trên vùng gò đồi ở phía Tây cánh đồng An Phú, trên trụcQuốc lộ 19, cách trung tâm thành phố Pleiku 7km về phía Đông Nam Từ năm
1998, trên cơ sở nhà kho và sân phơi đã xuống cấp của Hợp tác xã An Phú, CTC đãđầu tư xây dựng khu vui chơi giải trí ngay tại cửa ngõ đi vào thành phố Pleiku Vớitổng diện tích khai thác 08 ha, Công viên Đồng Xanh đã được chú trọng nhiều hạngmục và tạo cảnh công phu, từ vườn hoa với đủ kỳ hoa dị thảo đến hồ cá, non bộ,công viên nước (đưa vào sử dụng từ năm 2000)… Năm 2002, diện tích sử dụng củacông viên tiếp tục được mở rộng thêm hơn 03 ha thảm thực vật vùng nhiệt đới vớihàng cọ Thái bên lầu Vọng Nguyệt giữa rừng keo và bạch đàn Đặc biệt, Công viênĐồng Xanh sở hữu cây cổ thụ hóa thạch có niên đại hàng triệu năm với đường kính
Trang 30hơn 01 mét, dài hàng chục mét được tìm thấy tại miệng núi lửa xã Chư A Thai,huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai Nền văn hóa bản địa Gia rai và Bahnar được tậptrung giới thiệu qua các ngôi nhà rông, nhà dài, nhà sàn, kho gạo, nhà mồ và tượngnhà mồ, nhạc cụ T’rưng nước, đài cảnh Tây nguyên, các tượng Vua Nước - VuaLửa (hai biểu tượng quan trọng trong tín ngưỡng tự nhiên của các dân tộc Tâynguyên), tượng chàng Đam Săn đi tìm nữ thần Mặt Trời cùng hàng trăm mô hìnhkhắc họa cuộc sống, sinh hoạt và sản xuất của đồng bào… đã tạo cho Công viênĐồng Xanh một sắc thái riêng khó lẫn với những công trình khác
Trong tinh thần hướng về nguồn cội, Công viên Đồng Xanh đã dành mộtkhông gian quan trọng xây dựng đền thờ Quốc tổ Hùng Vương, được khánh thànhvào dịp lễ giỗ Quốc tổ (10-3 Âm lịch) năm 2009 Với mái nhà rông cách điệu cao18m tượng trưng cho 18 đời Vua Hùng, đền thờ Quốc tổ tại Công viên Đồng Xanh
có quy mô lớn nhất miền Trung và Tây nguyên Ngoài tượng Quốc tổ bằng gỗ cao06m được tôn trí trong chánh điện, phía trước điện thờ còn bài trí 18 tượng VuaHùng cao 36m tạo nên một không gian hoành tráng, trang nghiêm Công viên ĐồngXanh còn tạo dấu ấn với việc dựng chùa Một Cột theo nguyên mẫu tại Hà Nội, lầuThần tài, tượng Phật Quan Âm cứu khổ cứu nạn, cổng Tam quan bằng đá NinhBình và hai chú Voi bằng đá tượng trưng cho nghệ thuật săn bắt thuần dưỡng voirừng của cư dân bản địa Tây nguyên…
Trong nỗ lực tôn vinh không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên - di sảnvăn hóa phi vật thể của nhân loại và chào đón Festival cồng chiêng quốc tế được tổchức tại tỉnh Gia Lai vào năm 2009, chiếc chiêng đồng lớn nhất Việt Nam vớiđường kính 2,5m, nặng 700kg đã được ra mắt công chúng vào dịp Tết 2008 (tácphẩm thực hiện bởi các nghệ nhân làng đúc đồng Phước Kiều, Quảng Nam), hiệnđược trưng bày giữa khu tượng nhà mồ và nhà rông tại đây
Công viên Diên Hồng: Nằm ở cuối đường Thống Nhất, thuộc địa bàn
phường Ia Kring, thành phố Pleiku Sau ngày giải phóng, khu vực đồi bên hồ Đức
An được giao cho lực lượng thanh niên xung phong thị xã Pleiku quản lý để trồngtràm Đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, vùng đất này được chuyển giao cho Phòng
Trang 31Văn hóa – Thông tin – Thể thao (VHTTTT) Pleiku để làm Khu văn hóa – thể thao.Năm 1994, UBND thị xã Pleiku đã lập dự án xây dựng công viên Diên Hồng nhằmđáp ứng nhu cầu giải trí của nhân dân trong tỉnh Từ đó đến nay, công viên luônđược đầu tư, nâng cấp và có thêm nhiều hạng mục mới hấp dẫn du khách Tổngdiện tích tự nhiên của công viên là 95.000 m², trung tâm là hồ Đức An – diện tích17.000 m², được kè đá xung quanh, tạo thành do chặn dòng suối Ia Kring Đây làđiểm vui chơi giải trí hấp dẫn với thanh thiếu niên ở thành phố cao nguyên, với cácdịch vụ bơi thuyền, đạp vịt, nhà cười, cafe và cũng là điểm đến lí tưởng cho các
em nhỏ với vườn bách thú; cho người trung niên mỗi sáng hay chiều với hệ thốngđường nội bộ lát bê tông trải dài dưới những cây cổ thụ rợp bóng cùng hệ thốngmáy tập thể dục; hay là nơi hẹn hò lãng mạn cho các cặp đôi với bạt ngàn hoa, hàngthông và liễu rủ ven hồ Tên của công viên là Diên Hồng vì lúc hình thành, vùng đấtnày thuộc địa bàn phường Diên Hồng Nổi bật với không gian văn hóa Bắc TâyNguyên cùng bầu khí trong lành, mát mẻ của chốn hương đồng gió nội, không khóhiểu khi Công viên Diên Hồng nhanh chóng trở thành điểm nghỉ dưỡng giải trí kháthú vị của người dân hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum
Khu du lịch sinh thái – lễ hội Về Nguồn: Nằm trên đường Nguyễn Văn Cừ
nối dài, tỉnh lộ 664 cách thành phố Pleiku 03 km Khu du lịch sinh thái - lễ hội Vềnguồn được hoàn thành vào năm 2006, với tổng diện tích 15 ha Dọc hai bên lối vào
là bức tranh 54 dân tộc anh em với những đặc trưng riêng có của mình, tạo cảm giácđoàn kết gắn bó Nơi đây có không gian thoáng mát, yên tĩnh, phong cảnh đẹp lànơi thư giãn cuối tuần cho du khách Khu du lịch có các dịch vụ hấp dẫn như: Dãngoại, cắm trại, câu cá thư giãn; Khu tổ chức lễ hội, vườn cây ăn trái phục vụ tạichỗ; khu nghỉ phong cách làng Việt yên tĩnh, thoáng mát; 02 nhà hàng sang trọngvới sức chứa 2.000 khách, phòng ăn theo kiến trúc Tây Nguyên, món ăn kiểu TháiLan và đặc sản thôn quê; Phòng hội nghị với sức chứa 1.000 khách
Khu du lịch sinh thái Đại Vinh Gia Trang: Nằm trên đường Vạn Kiếp,
phường Thống Nhất, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; được xây dựng vào năm 2002trên diện tích khoảng 03 ha ngay trung tâm thành phố Đến với Đại Vinh Gia Trang,
Trang 32du khách được tận hưởng một không gian thoáng mát, rộng rãi, cảnh quan thiênnhiên kỳ thú và hài hoà Bố cục nơi đây gồm có: Khu tham quan du lịch sinh tháivới hồ hoa Thiên Cảnh uốn lượn theo hình chữ S với chiều dài trên 400m, cây chuốilập dị trên 100 nải được trồng đầu tiên ở Gia Lai; Khu vui chơi giải trí với duthuyền, câu cá sấu, đu quay, đi tàu, hát cho nhau nghe… Bên cạnh đó là những món
ăn mang hương vị dân dã dưới các mái chòi tranh của nhà hàng Đại Vinh như: cơmlam Tây Nguyên, bò nướng Đại Vinh, bao tử hầm tiêu… Không những thế ĐạiVinh còn có khu tổ chức những buổi tiệc cưới, hội nghị, sinh nhật, sinh hoạt tập thểvừa trang trọng vừa lịch sự Trong một không gian thật yên tĩnh và thoáng mát vớinhững chậu hoa kiểng, bon sai, vườn cây ăn quả… Đại Vinh Gia Trang mang lạimột không gian hữu tình trong lòng thành phố cao nguyên
Hồ cá Năm Dũng: Nằm ở trung tâm thành phố Pleiku trên đường Nguyễn
Viết Xuân, phường Hội Phú, đối diện với chùa Minh Thành Giữa những ồn ào, náonhiệt và xô bồ của cuộc sống đô thị, Hồ cá Năm Dũng đã làm lắng lòng khách vãnglai với một không gian trong lành, thoáng mát, yên bình và dân dã Hình ảnh nhữngnhững khóm tre ngà vươn mình đón nắng, tiếng nước suối nhỏ chảy róc rách êmtai, những chiếc cầu đơn sơ, giản dị bắt ngang qua bờ ao tạo nên một khung cảnh rấtnên thơ Men theo lối đi quanh bờ ao là những chòi lá nhỏ ven hồ - một không giangiao hòa giữa sông nước thiên nhiên đem đến những phút giây thư giãn sau những
tất bật, lo toan của cuộc sống thường ngày Đây cũng là một địa điểm tuyệt vời để
tổ chức những buổi tiệc sinh nhật, liên hoan, họp lớp Bên cạnh phong cách làngquê là ngôi nhà sàn mang đậm phong cách Tây Nguyên hay những ngôi nhà mangphong thái Texas Đặc biệt, không gian quán về đêm vô cùng lung linh huyền ảo vớicách bố trí ánh sáng điện màu vừa phải, có những điểm nhấn kết hợp đèn lồng lãngmạn Sau những giờ phút thư giãn, gặp gỡ bạn bè, du khách có cơ hội chiêmngưỡng và lắng đọng “hồn đất và người Tây Nguyên” với phòng trưng bày các hiệnvật của đời sống sản xuất và sinh hoạt của đồng bào Gia rai và Bahnar: cồng,chiêng, đàn t’rưng, ly tách, tẩu thuốc lá, bộ đồ dệt bằng thổ cẩm, tượng nhà mồ…
hay phòng triển lãm ảnh “Pleiku xưa” với những con đường, ngôi nhà, rạp hát,
Trang 33khiến cho người xem như sống lại một thời ký ức - hình ảnh dãy núi Hàm Rồng trơtrọi, những con đường đất nối dài với hàng cây xanh thẳng tắp, những chợ chòi đếnnhững chiếc xe lam đưa đón người đi.
1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
1.2.2.1 Các di tích lịch sử - văn hóa
Núi Hàm Rồng: Hay còn gọi là Kông Hơdrong/Chư Hdung/Chư Hơgrông
-ngọn núi cao nhất cao nguyên Pleiku (1.028m), cách trung tâm thành phố 11 km vềphía Nam Đây là dấu tích miệng núi lửa đã tắt cách ngày nay hàng triệu năm Nhìn
từ hướng Pleiku lại, ngọn núi có dạng hình nón cụt, khá cân đối nhưng nhìn từhướng Thanh An (phía Tây Nam) lại thấy ngọn núi này gần giống một con rồng,đầu hướng về phía Đông, thân trải dài trên cao nguyên phía Tây Trước đây, núiHàm Rồng là căn cứ quân sự của Mỹ Ngày nay, khu vực này là một rừng thôngxanh ngát, từ trên đỉnh có thể phóng tầm mắt ngắm toàn cảnh thành phố Pleiku sầmuất và những nông trường cà phê, cao su, chè, bạt ngàn ở những vùng lân cận Riêng về tên gọi, người Việt chỉ mới gọi tên núi là “Hàm Rồng” với hainghĩa: Thứ nhất, Hàm Rồng là biến âm từ cách gọi tên núi của người Gia rai vàBahnar; Thứ hai, như đã nêu ở trên, núi có hình dạng con rồng trải dài Còn ngườiBahnar hay gọi là “Kông Hơdrông” và người Jrai gọi là “Chư Hdung” Về nguồngốc tên gọi “Hơdrông”, người Bahnar đã cho biết đó là từ đồng nghĩa với “Gia rai”– tức người Gia rai, đất Gia rai Hơdrông xưa được ước đoán là trung tâm của khuvực Pleiku và vùng phụ cận hiện nay – một vùng đất của người Gia rai Trong dângian, hiện còn lưu truyền câu chuyện về “Hơdrông”, có thể tóm tắt như sau: Mộtnăm nọ, ở vùng này bỗng nhiên xuất hiện một loài sâu lạ trên mặt đất Cả người Giarai và Bahnar đều lo sợ bởi loài vật ấy rất hung hãn, thường xuyên phá hoại mùamàng Họ đã cầu xin thần linh giúp đỡ nhưng sự việc chẳng những không như ý màngày càng trở nên nghiêm trọng hơn Năm này qua năm khác, lúa bắp bị sâu phákhông thương tiếc Để chống lại cái đói, người Jrai và Bahnar quyết định hợp lạivới nhau đánh sâu cứu lấy lúa bắp của mình Trải qua bao khó khăn, dân làng đãđẩy lùi được đám sâu bọ Vùng núi Hàm Rồng chính là nơi loài sâu bị tiêu diệt
Trang 34nhiều nhất, xác chúng chất thành gò, thành đồi, thành núi như bây giờ chúng ta vẫnthấy Các già làng kể lại rằng, bao nhiêu sâu thua trận đã tháo chạy tan tác khắp nơi,duy nhất một con đầu đàn là không kịp thoát thân, đành nằm chết ở chỗ ấy, lâu ngàyxác nó biến thành núi đồi như ngày nay
Biển Hồ: Hay còn gọi là hồ Tơ Nưng/Ia Nueng (Tiếng Gia rai)/Tum
Tơnueng (tiếng Bahnar), nằm ở phía Bắc thành phố Pleiku, cách trung tâm thànhphố khoảng 11km về phía Đông Bắc Đây là danh lam thắng cảnh duy nhất ở tỉnhGia Lai đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) công nhận là di tíchlịch sử - văn hóa theo Quyết định số 1288/VH/QĐ, ngày 16/11/1988
Biển Hồ là dấu tích một miệng núi lửa đã tắt từ lâu, với diện tích khu vực
460 ha, trong đó diện tích mặt nước khoảng 250 ha và có độ sâu trung bình 15-18
m, mực nước trong năm dao động không nhiều Những nghiên cứu gần đây chobiết, điểm đặc biệt của hồ nước tự nhiên này là nó hình thành trên bề mặt địa hìnhnúi lửa âm bởi ba túi trũng từ các dãy núi xung quanh Hai túi lớn thông nhau quamột eo khá rộng và có độ sâu tương tự nhau (16m đo được vào mùa khô) Túi trũngphía Nam còn lại có độ sâu 10m Đáy của Biển Hồ bằng phẳng chứ không có nhiềuvực sâu như người ta vẫn tưởng Với sức chứa khoảng 23 triệu m³, lượng nước hồphụ thuộc đáng kể vào dòng ngầm ngoài khu vực [10] Biển Hồ còn có một hệ sinhthái nước giá trị, với sự góp mặt của nhiều loài chim như sin sít lông tím, bói cálông sặc sỡ, cuốc đen, chim kơ vông, kơ túc, le le, vịt trờì, đ’rao, trắc-la, và làmột vựa cá của Tây Nguyên, gồm đủ các loại cá nước ngọt như cá trắm, cá chép, cátrôi, cá đá, cá niềng trong đó có 02 loài cá đặc hữu không nơi nào có Đặc điểmnày giúp cho Biển Hồ trở thành Khu bảo tồn đất ngập nước có tầm quan trọng cấpQuốc gia. Mặt hồ bốn mùa phẳng lặng, xanh màu ngọc bích và trong đến mê hoặclòng người Từ bờ Tây Nam có một doi đất nhỏ như cánh tay vươn ra lòng hồ để dukhách có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp mà tạo hóa đã ban tặng cho người dân nơi đây.Khu vực này đã được quy hoạch phát triển thành Khu Lâm viên Biển Hồ phục vụ
du lịch, với các hoạt động nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí như dã ngoại, cắm trại,
Trang 35câu cá, canô du ngoạn, đạp vịt Người Gia rai giải thích nguồn gốc Biển Hồ bằngnhững truyền thuyết rất bi thương.
Truyền thuyết thứ nhất là “Sự tích Biển Hồ” do Nay Ju sưu tầm từ các giàlàng Gia rai: Ơi Djao, Ơi Nglao, Ơi Nglonh ở Plei Roh và Ơi Khim ở Plei Bruk
Nội dung sự tích này có thể tóm tắt như sau: Ngày xưa, tại vị trí Biển Hồ hiện tại có
một làng của người Gia rai Hdrung Một năm, hạn hán khắp vùng, trâu bò bị dịchchết không còn một con Ngày cúng Yang lon Pin la (thần Đất và thần Nước) đãđến, theo phong tục người Gia rai phải cúng bằng trâu bò nhưng lại không tìm đâu
ra trâu bò để cúng Vì sợ bị Yang phạt nên tộc trưởng ra lệnh cho dân làng đi săn vàbắt sống một con nai về cúng thần Chiều hôm sau, khi đã săn được nai, tất cả dânlàng đều tập trung tại nơi làm lễ, họ mang theo rượu để chung vui, cùng đánhchiêng trống và ca múa vui vẻ Kết thúc lễ cúng, mỗi người được chia một phần thịt
và bắt đầu ăn uống Vừa lúc ấy mặt đất rung chuyển, một trận động đất lớn làm chođất sụp xuống, nước dâng lên chôn vùi cả làng không còn ai, trừ hai vợ chồng Măk– May vì đi thăm bà con ở làng khác nên còn sống Khi về tới làng, họ chỉ thấy một
hồ nước mênh mông, họ chạy đến các làng trong vùng báo cho mọi người biếtchuyện lạ lùng này Từ đó, người Jrai không dám làm thịt thú rừng để cúng nữa Hồnước đó chính là Biển Hồ ngày nay
Truyền thuyết thứ hai là “Sự tích Ia Nueng” do Rơmah Del sưu tầm và dịch.Cách đây lâu lắm rồi, gần núi Nâm có ba làng Gia rai Ia Nueng là bến nước chungcủa họ Hồi đó, Ia Nueng chỉ bằng một giếng khơi, nước trong soi thấy mặt người,mưa lũ dài ngày nước cũng không tràn ra ngoài, hạn hán hàng năm nước vẫn lailáng ngang miệng Từ khi dân làng đến đây lập nghiệp, đời sống lúc nào cũng sungtúc Một hôm, khi mặt trời mọc ngang đầu núi, yă Pôm và yă Chao đi múc nước ở
Ia Nueng, giữa đường bắt gặp một chú lợn màu trắng rất đẹp Yă Chao rất thích nênbàn với yă Pôm mang lợn về nhà nuôi, yă Pôm đồng ý Hàng ngày, lợn trắng khôngchịu ăn uống gì, chỉ quanh quẩn ở nhà và kêu ủn ỉn suốt ngày Một lần tình cờ, yăChao phát hiện lợn trắng thích ăn cát Từ đó, nó lớn nhanh như thổi, to bằng contrâu, cả vùng không ai có con lợn nào bằng Sau mùa thu hoạch, thóc lúa đầy kho,
Trang 36cả làng bàn nhau làm nhà Rông mới nhưng tìm khắp vùng không có lấy một con lợn
to như mong muốn Yok là thanh niên trong làng được giao nhiệm vụ thuyết phục
yă Chao giao lợn cho làng Lần này qua lần khác, yă Chao đều không chịu, Rok và
em trai đã bắt trộm lợn trắng, rồi mổ thịt đem đến mời yă Chao, vì quá tức giận, bà
đã thề độc: “Nếu tôi ăn thịt này thì đất sẽ động, Ianueng sẽ sụp lở” Tuy nhiên, cháucủa yă thấy thịt đòi ăn, khóc suốt một ngày Quá thương cháu, bà đành lấy mộtmiếng thịt nhỏ nướng cho nó ăn Do yă Chao không giữ đúng lời thề nên ông trờinổi giận, trong chốc lát đất trời rung chuyển, Ia Nueng sụp xuống biến thành hồ, vùixuống đáy tất cả buôn làng, trâu bò, lợn gà Yă Chao hốt hoảng cõng cháu lên cổchạy nhưng chạy đến đâu, đất sụp đến đấy Hai bà cháu chết đi biến thành tượng đádưới đáy hồ Người duy nhất sống sót sau trận động đất là yă Pôm Thương tiếc dânlàng, bà đúc bàn thờ đặt bên bờ hồ nhưng vì lâu ngày, bàn thờ đó không còn nữa Nếu đứng ở “sống mũi” của Biển Hồ mà ngắm “đôi mắt” Pleiku thì sẽ thấy
mơ màng, thơ mộng đến hoang sơ Khí hậu Biển Hồ vào buổi tối và sáng sớm rấtlạnh, nhất là dịp cuối đông đầu xuân Cái lạnh sẽ gợi trong lòng người xa xứ nỗi
buồn cố hương như nhà văn Vũ Bằng từng mô tả: “Vào khoảng năm tàn tháng hết ở
Miền Nam, nước Việt có những buổi chiều đìu hiu lạnh như mùa thu đất Bắc…”
Nhà lao Pleiku: Hiện nằm trên đường Thống Nhất, phường Ia Kring, thành
phố Pleiku (Trước là đường Hùng Vương, phường Diên Hồng, thành phố Pleiku).Nơi này đã được Bộ trưởng Bộ VHTT&DL công nhận là di tích lịch sử - Văn hóatheo Quyết định số 3211 QĐ/BT ngày 12/12/1994
Năm 1925, ngay từ khi thành lập Tòa đại lý hành chính Pleiku, thực dân Pháp
đã cho xây cất nhà lao Pleiku làm nơi giam giữ thường phạm (phần lớn là nhữngngười dân tộc thiểu số bất hợp tác) Đến năm 1932, Tòa Công sứ tỉnh Pleiku ra đời,nhà lao Pleiku được củng cố Năm 1940, khi phong trào công nhân trong các đồnđiền Bàu Cạn, Biển Hồ, Ia Châm… lên cao, thực dân Pháp đã dùng nơi này để giamgiữ một số “chính trị phạm” như đồng chí Trần Ren (bí danh Thạch Hải) là Đảngviên chi bộ Tân Định (Sài Gòn); đồng chí Phan Thị Út (bí danh Thủy Tú) ở Huế lênlánh lưới mật thám… Do mục đích sử dụng thay đổi, năm 1941, thực dân Pháp cho
Trang 37lực lượng lính khố xanh xây dựng lại nhà lao Pleiku với quy mô lớn hơn và kiên cốhơn Dấu vết của sự kiện này là hàng chữ “GI 1941” trên tường đầu hồi phía ngoàinhà giam chính Sau Cách mạng Tháng Tám, ngày 25/6/1946, thực dân Pháp táichiếm Tây Nguyên Trước tình hình chiến sự cấp bách, Ủy ban Kháng chiến Hànhchính tỉnh đã ra lệnh “Tiêu thổ kháng chiến” và tản cư xuống đồng bằng Thực hiệnchủ trương này, nhà lao Pleiku cũng bị phá hủy Năm 1947, thực dân Pháp cho xâydựng lại nhà lao tại vị trí cũ Năm 1952 – 1953, do thực dân Pháp chuyển tù chínhtrị từ các nơi khác tới như nhà lao Buôn Mê Thuột, ngục Kon Tum… nên nhà laoPleiku lúc bây giờ rất chật chội và đông đúc (năm 1950 giam 150 tù nhân, đến 1953lên tới 300 tù nhân), khu nhà giam chính không đủ sức chứa, phòng nhì Pháp choxây thêm một dãy nhà giam ở phía Đông Bắc nhà giam chính thay vào vị trí dãy nhàbếp và nhà ăn cũ và vẫn giữ nguyên hướng Đông – Tây của ngôi nhà Dưới thời Mỹ
- Diệm, chúng mở rộng nhà lao sang phía Đông Từ năm 1957, chúng gọi nơi đây làTrung tâm cải huấn Pleiku nhưng về bản chất vẫn chỉ là một nhà giam Để phù hợpvới tên gọi mới, ngoài việc sửa sang bố trí lại các phòng giam như: nối thêm mộtphòng giam từ đầu hồi phía Nam nhà giam chính; ngăn phòng giam chính ở phíaNam ra thành ba phòng nhỏ để giam giữ những loại tội phạm khác nhau: phòng 1giam tù chính trị là người dân tộc thiểu số, phòng 2 giam quân phạm, phòng 3 giam
tù công vụ, phòng 4 giam tù thường phạm, phòng 5 (khu xà lim) nhốt tù chính trịngười Việt, ngoài 6 xà lim có từ thời Pháp, chúng ngăn thêm hai xà lim mới
Ngày đầu xây dựng, nhà lao Pleiku nằm trọn trên sườn Bắc thung lũng DiênHồng Khuôn viên nhà lao có dạng hình thang vuông, với tổng diện tích gần 3500m², cổng chính nằm ở góc Đông Nam, bố trí thành ba khu vực chính và được baoquanh bằng bức tường rào kiên cố Khu vực nhà giam ở phía Tây gồm một nhàgiam chính theo hướng Bắc, do lực lượng lính khố xanh xây từ năm 1941: rộng 7,5m; dài 35 m; cao 4,5 m, lợp tôn Dãy nhà này chia làm năm phòng giam lớn và sáu
xà lim, mỗi xà lim có diện tích 1,8 m x 2,4 m còn khá nguyên vẹn Ngoài ra, khuvực này còn có một dãy nhà dài chạy theo hướng Đông Tây dùng làm phòng giam
nữ, nhà bếp, nhà ăn, phòng ở của lính coi tù và phòng đi lễ cho các tù nhân có đạo
Trang 38Khu vực ban quản lý trại giam nằm ở phía Đông gồm: một dãy nhà của trung tâmcải huấn chạy theo hướng Đông Tây với diện tích 53,6 m², là nơi tiếp nhận tù nhân
và một dãy nhà ngang theo hướng Bắc Nam ở ngay sát cổng ra vào là nhà của banquản đốc nhà lao chia làm hai phòng chính, phòng giám thị và văn phòng phụ tráchcông việc hành chính ở nhà lao Góc Đông Nam nhà lao là một nhà hầm có diện tích
48 m², đây là nơi dùng để tra tấn tù nhân, ngày nay nhà hầm này không còn nữa
Trong suốt quá trình tồn tại, giai đoạn 1968 - 1969 là thời điểm nhà laoPleiku có số lượng tù đông nhất Tổng số tù nhân trong sáu phòng giam (có thêmmột phòng giam nữ) lên đến 789 người, trong số này, đồng bào Jrai và Bahnar đãchiếm 650 người Phần lớn trong số họ là nòng cốt ở các huyện và các xã vùng ven
bị bắt sau Tết Mậu Thân Để có thể nhốt hết số tù nhân đông đúc đó trong một diệntích chật hẹp, mỗi phòng, ngoài mặt sàn đã có từ trước, chúng đều bố trí thêm mộttầng sạp bằng ván để tù nhân nằm thành hai lớp Rất nhiều hình thức tra tấn tù nhânhiện đại và dã man đều được áp dụng tại nhà lao này, như là: đóng đinh vào 10 đầungón tay, quay điện vào hai lỗ tai và dương vật, bỏ tù nhân vào thùng phi rồi chohai người đập mạnh hai bên, treo lên xà nhà và đánh cho tới khi ngất xỉu, đổ nước
xà bông vào miệng rồi dẫm đạp lên bụng cho tới khi nước phọt hết ra…
Hơn 50 năm tồn tại, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã thực thi tại nhà laoPleiku những chính sách đàn áp và diệt tù man rợ, nhưng hầu hết các chiến sĩ cộngsản bị địch bắt và giam cầm tại nhà lao này vẫn giữ vững khí tiết, một lòng kiêntrung với Đảng, biến nhà tù của địch thành trường học cách mạng Tháng 6/1948,Chi bộ nhà lao Pleiku được thành lập, do đồng chí Lương Tân (bí danh Kim Anh)làm bí thư Chi bộ đã có những hoạt động tích cực tập hợp quần chúng, học tậpchính trị và đấu tranh đòi cải thiện đời sống, tuyên truyền xây dựng cơ sở Đảngtrong và ngoài nhà lao Trong những cuộc đấu tranh này, rất nhiều đồng chí đã anh
dũng hi sinh với tinh thần: “Chúng tôi sẵn sàng xếp hàng cho các ông bắn chứ dứt
khoát không đi làm khi chưa giải quyết đời sống cho chúng tôi” Đến thời kì kháng
chiến chống Mỹ, vì nhiều lí do, tháng 7/1968, Chi bộ nhà lao Pleiku được thành lậplại, đồng chí Nguyễn Kim Kỳ làm bí thư Tháng 10/1968, Đảng bộ nhà lao được
Trang 39thành lập, bao gồm 3 chi bộ: Chi bộ phòng 1 (tù có án an trí) do đồng chí Siu Weolàm bí thư; Chi bộ phòng 2 do đồng chí Trần Đắc làm bí thư; Chi bộ phòng 5 (tùchính trị người Kinh) do đồng chí Nguyễn Kim Kỳ làm bí thư Từ khi Đảng bộ nhàlao được hình thành và trực tiếp lãnh đạo, phong trào đấu tranh trong nhà lao đã tiếnnhững bước mới đáng kể, đời sống được cải thiện phần nào Ngày 15/3/1975, trướckhí thế hừng hực của chiến dịch Tây Nguyên, vào lúc 17h, tù chính trị tại nhà lao đãphá ra ngoài và tổ chức một bộ phận ra vùng ven đón cánh quân ta từ ngã ba Trà Bávào phối hợp cùng quân dân địa phương, góp phần tạo nên chiến thắng lịch sử Trảiqua bao thăng trầm biến cố, nhà lao Pleiku là một bằng chứng hùng hồn về tội áccủa kẻ thù và tinh thần đấu tranh anh dũng của các thế hệ chiến sĩ cộng sản trên địabàn tỉnh Gia Lai nói riêng, khu vực miền Trung và Tây Nguyên nói chung trongsuốt hai cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc.
Đền tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh trong Tết Mậu Thân: Cuộc tiến công
và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) ở Gia Lai nổ ra đúng trọng điểm là thị xã Pleiku(thành phố Pleiku bây giờ) Bộ đội ta đánh vào sân bay, khu biệt động quân ở Biển
Hồ, tiểu khu Pleiku, khu cảnh sát vùng II, tòa hành chính với mục đích tiêu diệt các
ổ đề kháng của địch từ ngã ba Diệp Kính theo đường Hoàng Diệu (nay là đườngHùng Vương), đường Trịnh Minh Thế (nay là đường Trần Hưng Đạo) Địch dùngpháo, máy bay phản kích, xe tăng, xe bọc thép bao vây bộ đội ta trụ bám tại nhiềunhà dân ở Thần Phong, Hội Phú, Sư Vạn Hạnh Sau trận bao vây, phần lớn nơi đây
đã bốc cháy, 350 cán bộ và đồng bào ta đã ngã xuống, 177 người bị thương và mấttích, 1849 người bị bắt và giam cầm Mặc dù phải chịu tổn thất không nhỏ nhưngquân và dân trong tỉnh đã góp phần cùng cả nước giáng một đòn quyết định làm phásản chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lược ViệtNam Tháng 12 năm 2004, đền tưởng niệm các liệt sĩ hi sinh trong Tết Mậu Thân đãđược khởi công xây dựng trên đường Nguyễn Viết Xuân, phường Hội Phú, thànhphố Pleiku Đền được hình thành trên nền khu mộ cũ – nơi yên nghỉ của 200 liệt sĩ
vô danh đã hi sinh trong cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc Tổng diện tíchcông trình hơn 5000 m² với các hạng mục: đền tưởng niệm, khu mộ chung, nhà văn
Trang 40bia… Đây là công trình lịch sử của thành phố - nơi để thế hệ hôm nay và mai sau tri
ân những người anh hùng đã ngã xuống vì nền độc lập và hòa bình của Tổ quốc
Di chỉ khảo cổ học Biển Hồ: nằm ở phía Đông Nam Biển Hồ (thuộc địa
phận thôn 3, xã Biển Hồ, thành phố Pleiku), trên một gò cao 38m so với mặt hồ.Người đầu tiên giới thiệu về dấu tích của cư dân thời tiền sử trên đất Gia Lai nóichung và Pleiku nói riêng là B.P.Lafont Ghi chú của P.Lafont khẳng định rằng, tạiđây chưa tìm thấy các di vật đồng, xương và sừng Dẫu phạm vi vật phát hiện ngẫunhiên, không qua khai quật, song phạm vi phân bố rộng của chúng cho thấy đây làmột vùng phân bố dân cư thời đại đá mới: biên giới phía Nam là Plei Kly với sôngHleo – tức vĩ tuyến 15º Bắc, phía Tây có thể giáp Camphuchia, phía Đông tớiđường 11 và phía Bắc tới vùng hồ Ia Nueng Sau P Lafont, các hiện vật tiếp theođược phát hiện tại đây vào năm 1978 bởi các đơn vị thi công đập nước tại Biển Hồ.Đầu năm 1980, Bảo tàng tỉnh Gia Lai đã cử cán bộ tới khảo sát, kết quả thu thậpđược một số rìu đá, bàn mài, mảnh gốm và khuyên tai 03 mấu Đến năm 1984, thuthập thêm được 18 rìu và mảnh vòng Tuyệt đại đa số các rìu đá thu được ở Biển Hồđều là loại rìu có chuôi, tra cán (hay còn gọi là rìu có vai) với hai hình dạng cơ bản:hình răng trâu và hình tứ giác, được làm từ đá basalt và đá lửa rất cứng, mài nhẵntoàn thân, đa số có vết ghè lưới Bàn mài có số lượng nhiều hơn cả, chất liệu cũngrất khác nhau: từ rất thô đến tương đối thô và đá mịn, hình dạng có bàn mài bằng,bàn mài trong, bàn mài rãnh và bàn mài cạnh Các mảnh vòng thường có mặt cắtngang hình tam giác cân, tam giác dẹt, đặc biệt có mặt cắt ngang hình chữ “T” với
kĩ thuật gia công điêu luyện Đồ gốm với các di vật là dụng cụ đánh cá kiểu chì lướibằng đất nung, khía bằng hai đầu; hay những viên bi dùng cho việc săn bắn; nhữngmảnh bình, vò, chén, mâm bồng, vung với nhiều kiểu: gốm thô đỏ, thô xám, thôđen, cứng mịn., thô bở, chiếm đa số là các loại bình, vò có miệng loe cong và chân
đế cao, rời Hoa văn gốm được trang trí rất đa dạng: dây thừng, chải, khắc vạch, ấn
lỗ, chấm giải, trổ ống gia; có di vật trang trí đơn hoa văn, có di vật kết hợp nhiềukiểu hoa văn tạo mô típ trang trí khác nhau Đây là di chỉ khảo cổ học đầu tiên đượckhai quật ở khu vực Bắc Tây Nguyên (5/1993), chủ trì khai quật là Viện khảo cổ và