1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chuyên đề: XU HƯỚNG ỨNG DỤNG DI TRUYỀN PHÂN TỬ TRONG CHỌN GIỐNG GIA SÚC

35 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Khái niệm về phương pháp lựa chọn giống gia súc qua kiểu hình và kiểu (3)
  • 1.2. Tình hình về ứng dụng di truyền phân tử trong công tác chọn giống trên thế giới (4)
  • 1.3. Những nghiên cứu ứng dụng di truyền phân tử trong công tác chọn giống ở nước ta (5)
  • II. PHÂN TÍCH XU HƯỚNG ỨNG DỤNG DI TRUYỀN PHÂN TỬ (8)
    • 2.1. Tình hình nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc theo thời gian (9)
    • 2.2. Tình hình nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc tại các quốc gia (11)
    • 2.3. Tình hình nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc theo chỉ số phân loại sáng chế quốc tế IPC (14)
  • III. NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG DI TRUYỀN PHÂN TỬ TRONG CÔNG TÁC CHỌN GIỐNG GIA SÚC CỦA VIỆN KHKT NÔNG NGHIỆP MIỀN (16)
    • 3.1. Ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc để ngăn ngừa các bệnh di truyền. Kết quả cụ thể, hiệu quả kinh tế, khả năng ứng dụng vào thực tiễn (16)
    • 3.2. Ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc để nâng cao khả năng sản xuất. Kết quả cụ thể, hiệu quả kinh tế, khả năng ứng dụng thực tiễn (23)
    • 3.3. Ứng dụng công nghệ cao trong chăn nuôi bò sữa và kết quả đạt được tại trại bò sữa công nghệ cao Israel (27)

Nội dung

Khái niệm về phương pháp lựa chọn giống gia súc qua kiểu hình và kiểu

và kiểu gen a Lựa chọn giống gia súc qua kiểu hình (truyền thống và phổ biến)

Lựa chọn giống gia súc dựa trên kiểu hình thông qua việc đo lường các tính trạng như sinh sản, tăng trọng và chất lượng thịt Kiểu hình được điều chỉnh theo nhu cầu của người chăn nuôi và hiệu quả kinh tế, dựa vào chỉ số ước lượng giá trị chăn nuôi (Estimate Breeding Value - EBVs) EBV cho phép ước lượng cách mà các tính trạng của cá thể sẽ thể hiện ở thế hệ con cháu, từ đó tạo ra một mặt bằng so sánh đồng nhất cho tất cả cá thể trong đàn hoặc giống Điều này giúp người chăn nuôi đưa ra quyết định chọn giống phù hợp dựa trên sự so sánh tương đồng của các tính trạng, bất chấp hệ thống hay điều kiện sản xuất.

Lựa chọn dựa trên kiểu gen gồm:

Chọn giống cây trồng thông qua phương pháp chọn lọc hỗ trợ bởi marker (marker assisted selection - MAS) là một kỹ thuật tiên tiến, trong đó các marker phân tử liên kết với gen quan trọng được sử dụng để xác định và chọn lựa giống Các marker này đóng vai trò gián tiếp trong việc nâng cao hiệu quả của quá trình chọn giống, giúp nhà nghiên cứu nhanh chóng nhận diện các đặc tính di truyền mong muốn.

- Chọn lọc với sự hỗ trợ của gen (gene assisted selection- GAS): Chọn giống trực tiếp trên gen quan tâm, marker đóng vai trò trực tiếp

- Chọn lọc dựa trên Genomic (Genomic selection-GS)

Lựa chọn giống gia súc dựa trên kiểu gen mang lại nhiều lợi ích, bao gồm việc nâng cao độ chính xác của quá trình chọn lọc nhờ vào thông tin trực tiếp liên quan đến kiểu gen Điều này giúp thu hẹp khoảng cách giữa các giống và tối ưu hóa chất lượng giống gia súc.

Khoảng cách giữa các thế hệ có thể được rút ngắn bằng cách lựa chọn các tính trạng ở vật nuôi khi chúng còn trẻ Công nghệ gen cho phép kiểm tra tính trạng mà không phụ thuộc vào giới tính hay tuổi tác, từ đó tăng độ chính xác trong việc chọn lọc các tính trạng khó Điều này giúp giảm số lượng quần thể kiểm định và hậu bị do việc chọn lọc dựa trên kiểu gen.

Tình hình về ứng dụng di truyền phân tử trong công tác chọn giống trên thế giới

Thuần hóa động vật là bước quan trọng trong phát triển chăn nuôi, với các công cụ tiến hóa như đột biến, chọn giống và cô lập di truyền tạo ra sự đa dạng trong quần thể Trong những thập niên qua, chăn nuôi tập trung vào việc cải thiện di truyền qua chương trình lựa chọn hiệu quả Đa dạng di truyền giữa các giống và dòng vật nuôi là cần thiết để đảm bảo sự thích ứng với hệ thống chăn nuôi và biến đổi môi trường Nghiên cứu về đặc tính di truyền phân tử của các quần thể chăn nuôi đang ngày càng trở nên quan trọng để giải quyết các vấn đề liên quan đến sự phát triển bền vững trong ngành chăn nuôi.

1 Tổ tiên của các loài hoang dã và nơi đã diễn ra sự thuần hóa đầu tiên cùa loài?

Thời gian, đặc điểm di truyền từ cha mẹ và sự đa dạng nhiễm sắc thể đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu biết về lịch sử tiến hóa và quy mô bầy đàn trong chăn nuôi Những yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và sức khỏe của vật nuôi mà còn phản ánh cách mà các giống loài thích nghi và phát triển qua các thế hệ Sự đa dạng nhiễm sắc thể giúp tăng cường khả năng chống chịu với bệnh tật, trong khi đặc điểm giống cha mẹ quyết định những phẩm chất di truyền cụ thể, ảnh hưởng đến hiệu suất chăn nuôi Thời gian cũng là một yếu tố quyết định trong việc lựa chọn và cải thiện giống, qua đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm từ chăn nuôi.

3 Gen nào có liên quan đến kiểu hình?

4 Quản lý sự đa dạng di truyền của giống vật nuôi như thế nào?

Tiến bộ trong công nghệ gen đã mở ra những cơ hội mới, với ba loại marker di truyền được phân loại dựa trên các phạm vi ứng dụng khác nhau.

Ti thể DNA (mtDNA) là loại DNA được di truyền từ mẹ sang con, có khả năng biến đổi cao và có thể được truy xuất từ quần thể đầu tiên trong nội địa (Pellecchia et al 2007; White et al 2008).

- Nhiễm sắc thể haplotype Y là marker dòng nội động vật có vú, có thể tiết lộ sự lựa chọn của giống đực

- Biến đổi của nhiễm sắc thể DNA thường: liên kết chặt chẽ nhất với kiểu hình

Dữ liệu phân tử đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình thuần hóa lợn thông qua việc nghiên cứu mtDNA Các nghiên cứu ban đầu chỉ ra rằng lợn Châu Âu và Trung Quốc được thuần hóa độc lập từ các phân loài heo rừng hoang dã, nhưng sau đó đã xác định ít nhất 7 sự kiện thuần hóa trên khắp Eurasia và Đông Á Nghiên cứu của Fang et al (2009) về biến thể di truyền trong gen MC1R giữa các giống hoang dã và giống lợn nội địa đã giúp giải thích sự đa dạng màu lông giữa vật nuôi và tổ tiên hoang dã Trên toàn cầu, gần 400 giống lợn đã được phát triển, với số lượng giống phong phú nhất tập trung ở Châu Âu và Châu Á.

Hiện nay, nhiều công ty cung cấp giống gia súc hàng đầu trên toàn cầu, như ABS Global, PIC, Monsanto, Semex và Dansire, đã áp dụng kỹ thuật di truyền phân tử trong quá trình chọn lọc và lai tạo giống.

Những nghiên cứu ứng dụng di truyền phân tử trong công tác chọn giống ở nước ta

Trong 40 năm qua, các nhà khoa học đã áp dụng nhiều biện pháp như cải thiện điều kiện chăm sóc, nâng cao chất lượng thức ăn và thực hiện các chương trình lai tạo dựa trên đặc điểm ngoại hình và chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả, nhưng những biện pháp này vẫn gặp khó khăn do tốn thời gian, độ chính xác không cao và khó kiểm soát đặc điểm ngoại hình Do đó, chọn lọc di truyền được xem là phương pháp hiệu quả hơn.

4 và chính xác để cải thiện nguồn giống vật nuôi nhằm nâng cao năng suất sản xuất

Sự phát triển mạnh mẽ của sinh học phân tử đã thúc đẩy việc áp dụng các kỹ thuật di truyền vào chọn giống lợn và bò Tuy nhiên, tại Việt Nam, nghiên cứu về ứng dụng di truyền phân tử vẫn còn mới mẻ, với phần lớn các kết quả nghiên cứu tập trung vào thực vật như lúa, đỗ tương, và ngô, trong khi nghiên cứu trên gia súc còn hạn chế.

Việc áp dụng kỹ thuật di truyền phân tử để phân lập và mã hóa các gen liên quan đến tính trạng thịt và sữa tại Việt Nam là rất quan trọng cho công tác chọn giống Nghiên cứu này đã được thực hiện bởi các nhà khoa học từ nhiều cơ sở như Viện Chăn nuôi, phòng ADN ứng dụng, và các trường đại học Những kết quả nghiên cứu này cung cấp dữ liệu ban đầu về ứng dụng kỹ thuật gen đối với lợn và bò ở Việt Nam.

Công tác chọn giống bò tập trung vào việc lựa chọn qua kiểu hình dựa trên các tính trạng quan trọng như khả năng tăng trọng, tỷ lệ thịt xẻ, năng suất và chất lượng sữa, cùng với một tính trạng sinh sản.

Mô hình thí điểm ứng dụng kỹ thuật di truyền phân tử trong chọn giống bò sữa tại thành phố Hồ Chí Minh, được thực hiện tại trại bò Israel, là một trung tâm tiên phong trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chăn nuôi bò sữa Trại bò Israel, thuộc Trung tâm quản lý và kiểm định giống cây trồng-vật nuôi TP Hồ Chí Minh tại xã Phạm Văn Hai, huyện Hoóc Môn, áp dụng nhiều biện pháp lai tạo giống hiện đại và quy trình chăn nuôi tiên tiến của Israel để nhân nhanh đàn bò.

Thành phố Hồ Chí Minh đang tích cực triển khai nhiều dự án về di truyền giống bò sữa bằng phương pháp tiên tiến Ủy ban nhân dân TP HCM đã phê duyệt chương trình phát triển chăn nuôi bò, nhằm nâng cao chất lượng và năng suất trong ngành chăn nuôi.

Trong giai đoạn 2011-2015, TP HCM đã chú trọng phát triển các vùng sản xuất giống sữa chất lượng cao Việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ sinh học, đã được đẩy mạnh nhằm lai tạo giống và nâng cao năng suất, chất lượng cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm sữa.

Công tác chọn giống heo hiện nay chủ yếu được thực hiện tại các trại heo quy mô lớn, áp dụng các phương pháp chọn lọc dựa trên kiểu hình và các chỉ số chọn lọc như SPI (Sow Productivity Index), MLI (Material Line Index) và SLI (Sire Line Index) Mặc dù di truyền phân tử đang được thử nghiệm trong quá trình chọn giống, nhưng việc áp dụng rộng rãi vẫn chưa đạt mức như các công ty sản xuất giống nước ngoài.

PHÂN TÍCH XU HƯỚNG ỨNG DỤNG DI TRUYỀN PHÂN TỬ

Tình hình nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc theo thời gian

truyền phân tử trong chọn giống gia súc theo thời gian

Hiện nay, có khoảng 350 sáng chế được đăng ký bảo hộ liên quan đến ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc Sáng chế đầu tiên về lĩnh vực này được nộp đơn đăng ký bảo hộ vào năm 1989.

Mỹ, số lượng sáng chế tăng không liên tục theo từng mốc thời gian và đạt số lượng nộp đơn nhiều nhất là 40 sáng chế vào năm 2013

Biểu đồ1: Tình hình nộp đơn bảo hộ sáng chế về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc theo thời gian

Xu hướng ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc ngày càng rõ nét, thể hiện qua sự gia tăng số lượng bài báo khoa học công bố hàng năm về lĩnh vực này, bên cạnh số lượng sáng chế đăng ký.

Theo dữ liệu từ Google Scholar, vào năm 1989, có 5.020 bài báo khoa học về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc Số lượng bài báo này tăng dần theo thời gian, đạt đỉnh vào năm 2005 với 21.700 bài báo công bố Từ năm 2005 đến 2015, số lượng bài báo không tăng thêm nhưng vẫn duy trì trung bình 20.000 bài báo mỗi năm.

Số lượng bài báo khoa học công bố về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc đã cho thấy xu hướng ngày càng tăng, cho thấy sự quan tâm của thế giới đối với chủ đề này vẫn đang tiếp tục cho đến hiện nay.

Sự gia tăng số lượng sáng chế đăng ký trong lĩnh vực này được thể hiện rõ qua sự phân chia theo từng giai đoạn thời gian.

Thập niên 80 đánh dấu sự ra đời của sáng chế đầu tiên liên quan đến ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc Từ đó, số lượng sáng chế đã tăng nhanh chóng, từ 27 sáng chế trong thập niên 90 lên 152 sáng chế trong giai đoạn 2000-2009, và chỉ trong nửa đầu thập niên 2010-2019, đã có tới 168 sáng chế được đăng ký Sự bùng nổ này cho thấy sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực di truyền và chọn giống gia súc từ những năm 90.

FAO đã mở rộng nghiên cứu về nguồn gen động vật phục vụ cho lương thực và nông nghiệp, bắt đầu triển khai dự án toàn cầu về nguồn gen động vật từ năm 2007.

Biểu đồ 3: Tình hình nộp đơn bảo hộ sáng chế về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc theo từng giai đoạn

Tình hình nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc tại các quốc gia

truyền phân tử trong chọn giống gia súc tại các quốc gia

Sáng chế về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc đã được đăng ký bảo hộ tại 24 quốc gia và 2 tổ chức trên toàn thế giới, bao gồm các châu lục Châu Á, Châu Mỹ, Châu Úc, Châu Âu và Châu Phi.

Hình 1: Sự phân bố khu vực có sáng chế nộp đơn bảo hộ về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống trên thế giới

Châu Á: có 197 sáng chế đăng kí bảo hộ tại 7 quốc gia: Trung Quốc, Hàn

Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Singapore, Israel và Hồng Kông

Thập niên 80 Thập niên 90 Giai đoạn

Châu Mỹ: có 56 sáng chế đăng kí bảo hộ tại 5 quốc gia: Mỹ, Canada,

Châu Úc: có 27 sáng chế đăng kí bảo hộ tại 2 quốc gia: Úc và New

Châu Âu: có 14 sáng chế đăng kí bảo hộ tại 9 quốc gia: Tây Ban Nha,

Hungary, Đức, Anh, Nga, Hà Lan, Czech, Ukraina, Romani

Châu Phi: có 2 sáng chế đăng kí bảo hộ tại quốc gia duy nhất là Nam Phi

Chín quốc gia hàng đầu về đăng ký bảo hộ sáng chế liên quan đến nghiên cứu ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc bao gồm: Trung Quốc với 163 sáng chế, Mỹ 29 sáng chế, Úc 21 sáng chế, Hàn Quốc 18 sáng chế, Canada 12 sáng chế, Nhật Bản 9 sáng chế, Mexico 9 sáng chế, New Zealand 6 sáng chế và Brazil 5 sáng chế.

Biểu đồ 4: Tình hình nộp đơn bảo hộ sáng chế về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc tại các quốc gia dẫn đầu

Trung Quốc: vào thập niên 90 có một sáng chế đầu tiên nộp đơn, và bắt đầu tăng lên 35 sáng chế giai đoạn 2000-2009, đến giai đoạn 2010-2016 nhận

126 sáng chế, ta thấy chỉ trong khoảng nửa thập niên đầu số sáng chế đã tăng vượt trội gấp 3 lần so với giai đoạn 2000-2009

Mỹ là quốc gia tiên phong trong việc nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế di truyền phân tử trong chọn giống gia súc từ thập niên 80 Trong thập niên 90, số lượng sáng chế không có sự biến đổi đáng kể, nhưng từ 2000-2009, số lượng đã tăng gấp 3 lần, đạt 15 sáng chế Giai đoạn 2010-2016, có thêm 8 sáng chế được nộp đơn bảo hộ Tại Úc, trong thập niên 90 cũng có 3 sáng chế được đăng ký bảo hộ về di truyền phân tử trong chọn giống gia súc, và số lượng này tiếp tục tăng trong giai đoạn 2000-2009.

15 sáng chế, gấp 5 lần so với giai đoạn đầu, giai đoạn 2010-2016 có 3 sáng chế nộp đơn bảo hộ về vấn đề này

Trong giai đoạn 2000-2009, Hàn Quốc bắt đầu đăng ký sáng chế về di truyền phân tử trong chọn giống gia súc, với tổng cộng 13 sáng chế được nộp đơn Tiếp theo, từ năm 2010 đến 2016, có thêm 5 sáng chế được nộp đơn trong lĩnh vực này.

Canada đã nộp đơn đăng ký bảo hộ 3 sáng chế liên quan đến di truyền phân tử trong chọn giống gia súc vào thập niên 90 Từ năm 2000 đến 2009, số lượng sáng chế này đã tăng đáng kể.

6 sáng chế, giai đoạn 2010-2016, có 3 sáng chế nộp đơn về vấn đề này

Biểu đồ 5 thể hiện tình hình nộp đơn bảo hộ sáng chế liên quan đến ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc tại năm quốc gia hàng đầu theo thời gian.

Tình hình nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc theo chỉ số phân loại sáng chế quốc tế IPC

truyền phân tử trong chọn giống gia súc theo chỉ số phân loại sáng chế quốc tế IPC

Theo bảng phân loại sáng chế quốc tế IPC, các sáng chế liên quan đến ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc chủ yếu tập trung vào một số hướng nghiên cứu chính.

Hướng nghiên cứu liên quan đến các phương pháp đo lường hoặc thử nghiệm sử dụng enzyme và vi sinh vật trong lĩnh vực di truyền phân tử chiếm 45,4% tổng số lượng sáng chế.

- Hướng nghiên cứu về kỹ thuật di truyền: quá trình phân lập DNA,

RNA, kỹ thuật tái tổ hợp AND, các gen mã hóa protein động vật chiếm

- Hướng nghiên cứu về quá trình sinh trưởng, sinh sản và giống mới của vật nuôi chiếm 11,5% tổng lượng sáng chế

- Các hướng nghiên cứu khác chiếm 6% tổng lượng sáng chế

Biểu đồ 6 thể hiện tình hình nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế liên quan đến ứng dụng di truyền phân tử trong việc chọn giống gia súc, dựa trên chỉ số phân loại sáng chế quốc tế IPC Các số liệu cho thấy sự gia tăng đáng kể trong việc đăng ký sáng chế, phản ánh sự quan tâm ngày càng cao của ngành chăn nuôi đối với công nghệ di truyền Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả chọn giống mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.

6.0% Hướng nghiên cứu về các phương pháp đo và thử nghiệm

Hướng nghiên cứu về kỹ thuật di truyền

Hướng nghiên cứu về quá trình sinh trưởng, sinh sản và giống mớicủa vật nuôi

Các hướng nghiên cứu khác

Các sáng chế được đăng ký bảo hộ liên quan đến ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc tại năm quốc gia hàng đầu chủ yếu tập trung vào ba hướng nghiên cứu chính Trong số đó, Trung Quốc chiếm ưu thế với số lượng sáng chế đăng ký bảo hộ lớn nhất trong cả ba lĩnh vực nghiên cứu.

Tại Trung Quốc: tập trung vào hướng nghiên cứu kỹ thuật di truyền

Tại Mỹ, nghiên cứu đang tập trung vào các phương pháp đo và thử nghiệm sử dụng enzym hoặc vi sinh vật trong lĩnh vực di truyền phân tử.

Tại Úc: tập trung hướng nghiên cứu quá trình sinh trưởng, sinh sản và giống mới của vật nuôi

Tại Hàn Quốc, nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các phương pháp đo lường và thử nghiệm sử dụng enzym hoặc vi sinh vật trong lĩnh vực di truyền phân tử.

Tại Canada: tập trung vào hướng nghiên cứu quá trình sinh trưởng, sinh sản và giống mới của vật nuôi

Biểu đồ 7 thể hiện tình hình đăng ký sáng chế bảo hộ liên quan đến ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc tại các quốc gia Thông qua việc phân tích dữ liệu, có thể nhận thấy xu hướng và mức độ quan tâm của các quốc gia đối với nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực này Sự gia tăng trong số lượng đăng ký sáng chế cho thấy tiềm năng ứng dụng công nghệ di truyền phân tử trong cải thiện giống vật nuôi.

Các phương pháp đo và thử nghiệm

Quá trình sinh trưởng, sinh sản và giống mới 0%

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG DI TRUYỀN PHÂN TỬ TRONG CÔNG TÁC CHỌN GIỐNG GIA SÚC CỦA VIỆN KHKT NÔNG NGHIỆP MIỀN

Ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc để ngăn ngừa các bệnh di truyền Kết quả cụ thể, hiệu quả kinh tế, khả năng ứng dụng vào thực tiễn

3.1.1 Các bệnh di truyền trên bò

Theo Gholap (2014), có khoảng 17 bệnh di truyền ảnh hưởng đến bộ xương, hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, da, cơ và mắt của bò, trong đó bệnh BLAD là một trong những bệnh phổ biến nhất ở đàn bò sữa.

Bệnh di truyền xuất phát từ những biến đổi trong gen, do đó, việc phát hiện bệnh không thể thực hiện bằng các phương pháp thông thường mà cần sử dụng công nghệ sinh học phân tử.

Mặc dù ban đầu tỷ lệ nhiễm bệnh (di truyền) thấp, nhưng sẽ tăng nhanh qua các thế hệ nên gây hậu quả kinh tế lớn

Hiện nay, không có phương pháp điều trị cho các bệnh di truyền ở gia súc Cách hiệu quả để ngăn ngừa là loại bỏ những cá thể mang đột biến xấu, nhằm bảo vệ sức khỏe và nâng cao khả năng sản xuất.

3.1.2 Kết quả nghiên cứu cụ thể ngăn ngừa bệnh di truyền BLAD trên bò

Cơ sở khoa học phát sinh bệnh di truyền BLAD trên bò

Bệnh di truyền BLAD (Bovine Leukocyte Adhesion Deficiency) ảnh hưởng đặc biệt đến giống bò Holstein, được xác định lần đầu vào những năm 1980 Năm 1983, trường hợp đầu tiên về rối loạn chức năng bạch cầu ở bò Holstein được công bố, và đến năm 1987, nhiều trường hợp liên quan đến triệu chứng như hoại tử và viêm phổi đã được ghi nhận tại Nhật Bản Đến năm 1990, sự thiếu hụt β2 integrin do bạch cầu gây ra từ một con bê bị granulocytopathy đã dẫn đến việc đặt tên cho bệnh này là Bovine Leukocyte Adhesion Deficiency (BLAD), tương tự như bệnh LAD ở người.

Bệnh do kiểu gen đồng hợp lặn (autosomal recessive disease) ảnh hưởng đến nhiễm sắc thể thường, như BLAD, làm giảm khả năng miễn dịch của gia súc do thiếu phức hợp protein β2-integrin trên bề mặt bạch cầu Những protein này, là glyco-protein, giúp bạch cầu gắn kết vào thành mạch và di chuyển đến vị trí viêm để tiêu diệt tác nhân gây bệnh Ở những cá thể mang gene BLAD, bạch cầu có khả năng nhận biết nhưng không thể kết nối với tế bào bị xâm nhiễm, dẫn đến việc không thể di chuyển vào bên trong để tiêu diệt tác nhân gây bệnh Phức hợp β2-integrin, hay còn gọi là CD11/CD18, bao gồm cấu trúc β (CD18) và các cấu trúc α (CD11a, CD11b, CD11c), trong đó CD11c rất quan trọng cho khả năng bám dính và xâm nhập của bạch cầu vào các thể viêm Việc biểu hiện của integrin phụ thuộc vào mối liên hệ nội bào giữa CD11 và CD18, do đó khiếm khuyết CD18 sẽ ngăn cản mọi hoạt động của bạch cầu.

Integrin đóng vai trò quan trọng trong khả năng kết dính của bạch cầu, và tình trạng giảm hoặc thiếu khả năng này dẫn đến bệnh lý LAD (Leukocyte Adhesion Deficiency) ở người Nguyên nhân phân tử của BLAD là do đột biến điểm trong gen CD18, nơi Adenine được thay thế bằng Guanine tại nucleotide thứ 383, dẫn đến sự thay thế Aspartic acid bằng Glycine ở amino acid thứ 128 (D128G) trong glycoprotein Những cá thể mang đột biến này sản sinh ra CD18 khiếm khuyết, làm cho bạch cầu không thể hoạt động bình thường nếu không có sự kết hợp của các tiểu phần CD11 và CD18.

Trong nghiên cứu huyết học, gia súc này cho thấy số lượng bạch cầu trung tính (neutrophil > 100.000) cao hơn mức bình thường, cùng với sự thay đổi trong công thức bạch cầu Hơn nữa, hàm lượng albumin thấp, globulin cao, và các chỉ số creatinin, urea nitrogen và glucose cũng ở mức thấp.

Bò mang kiểu gen này thường xuyên biểu hiện các bệnh lý như cúm, viêm nướu răng, các vấn đề về răng miệng, tiêu chảy, viêm ruột non, và chậm lành vết thương, dẫn đến tình trạng sức khỏe kém và dễ bị nhiễm trùng Thời gian sống của bê thường chỉ từ 2-4 tháng, và nếu sống sót sau 2 năm, khả năng tăng trưởng sẽ bị hạn chế Chất lượng sữa của những con bò này cũng thấp hơn so với bình thường Tần suất alen đột biến của bệnh này ở giống bò Holstein là thấp, cùng với mức biểu hiện lâm sàng cũng thấp, cho thấy nhiều con bê có thể chết trước khi được chẩn đoán Một số con bò có thể sống quá 2 năm, nhưng năng suất thịt và sữa vẫn không cao.

Cơ chế sinh học phân tử của bệnh BLAD

Cơ chế sinh học phân tử của BLAD là hiện tượng đột biến điểm tại vị trí

383 của gen CD18 Gen CD18, mxã hóa protein β2-intergrin, nằm trên nhiễm sắc thể số 21 (Suomalainen và ctv 1985, 1986) Một đột biến điểm thay thế

Đột biến trong phân đoạn cDNA 383bp (GenBank, ACC Y12672) và 488bp (GenBank, ACC M81233) dẫn đến việc thay thế aspartic bằng glycine tại vị trí amino acid 128, làm mất vị trí cắt TaqI của enzym giới hạn và tạo ra vị trí cắt mới HaeIII Phương pháp PCR-RFLP để khuyếch đại đoạn gen chứa vị trí 383 của gen CD18 sẽ giúp phân biệt giữa các cá thể bị bệnh, mang gen bệnh và các cá thể bình thường (Shuster, 1992).

Hình 2 Cơ chế đột biến điểm

Kriegesmann và cộng sự đã phân lập một đoạn gen CD18 dài 1618 bp (số đăng ký Gene bank: Y12672) và đưa vào plasmid PGEM 4Z, sau đó tiến hành giải trình tự để phục vụ cho việc xét nghiệm bệnh BLAD.

Hình 3 minh họa phân đoạn 1618 bp của gen CD18, trong đó đoạn intron được biểu thị bằng đường thẳng và đoạn exon được hiển thị dưới dạng hộp Vị trí của các primers bắt cặp được đánh dấu bằng mũi tên nhỏ, đồng thời cũng chỉ ra vị trí đột biến gen A/G trên gen CD18.

Hình 4 Trình tự gen CD18 (Kriegesmann và ctv, 1997)

3.1.3 Các phương pháp xác định bệnh BLAD trên bò

Hình 5 Các biểu hiện lâm sàng của bò bị bệnh BLAD

Bò mắc bệnh BLAD thường xuất hiện triệu chứng hoại tử liên tục và viêm nhiễm không đau ở các mô mềm như màng nhầy và thành ruột Các đặc điểm nhận thấy bao gồm sốt, biếng ăn, viêm phổi mãn tính, và tiêu chảy tái phát nhiều lần.

Loét lở nghiêm trọng ở màng nhày miệng và bao tử, cùng với viêm nướu răng, có thể dẫn đến tình trạng còi cọc và chậm lớn Đặc biệt, sự gia tăng bạch cầu liên tụ thường đi kèm với giảm albumin máu, tăng globulins, giảm glucose huyết và protein tổng số trong huyết thanh, trong đó mức độ γ-globulin cũng gia tăng.

Chẩn đoán bằng các phương pháp sinh học phân tử

Hình 6 Kết quả phân tích Northern Blot (Shuster và ctv)

Phương pháp phân tích RNA tổng số của tế bạch cầu bao gồm việc phân lập tế bạch cầu qua ly tâm và phân giải tế bào hồng cầu bằng phương pháp ly giải áp suất thẩm thấu thấp với guanidinium isothiocyanate Sau đó, RNA tổng số (10µg) được điện di trong agarose 1% có chứa formaldehyde và chuyển lên màng nylon để lai với cDNA CD18 đánh dấu [α-32P]ATP Quá trình lai diễn ra trong dung dịch chứa 50% formamide, 5X dung dịch Denhardt’s, 5X SSPE, 0,5% SDS ở 42°C qua đêm Cuối cùng, màng được rửa hai lần trong dung dịch 6X SSPE, 0,5% SDS ở 25°C và hai lần trong dung dịch 1X SSPE, 0,5% SDS ở 37°C.

Phương pháp này hiệu quả trong việc xác định các cá thể dị hợp tử, đồng hợp tử trội và đồng hợp tử lặn thông qua thiết kế primer gần vị trí 383bp, nơi xảy ra đột biến điểm thay thế Guanin bằng Adenin Primer này khuyếch đại đoạn sản phẩm xung quanh vùng đột biến, và sản phẩm PCR sau đó được cắt bằng enzym TaqI hoặc Hae III Kết quả phân cách bằng enzym giới hạn cho phép xác định kiểu gen dị hợp tử (mang alen bệnh), kiểu gen đồng hợp trội (bình thường) và kiểu gen đồng hợp tử lặn (bệnh) liên quan đến bệnh BLAD.

3.1.4 Kết quả nghiên cứu của phòng Công nghệ sinh học- Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc để nâng cao khả năng sản xuất Kết quả cụ thể, hiệu quả kinh tế, khả năng ứng dụng thực tiễn

3.2.1 Cơ sở khoa học sử dụng kiểu gen PIT-1 trong chọn giống heo

PIT-1, hay còn gọi là Growth hormone factor 1 (GHF1), là một yếu tố biểu hiện đặc hiệu tại thùy trước của tuyến yên, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và tiết hormone từ ba trong số năm loại tế bào nội tiết.

Li và cộng sự 1990; Lin và cộng sự 1992 lược khảo từ Jacobson và cộng sự,

Hình7 tương ứng ở mỗi thùy

(Posterior lobe: Thùy sau; Intermediate lobe: Thùy giữa; Anterior lobe: Thùy trước)

Dấu chéo (X) trên somatotropes, lactotropes, và thyrotropes cho biết những tế bào này không phát triển ở những cá thể đột biến PIT-1

PIT-1 là một protein thuộc nhóm POU domain, nổi bật trong việc điều hòa phiên mã và có vai trò quan trọng trong sự tăng sinh và biệt hóa tế bào POU domain, được đặt theo các chữ cái đầu của các protein Pit, Oct, và UNC, là một miền gắn DNA đặc hiệu.

Trong nghiên cứu về phiên mã ở động vật có vú, ba nhân tố quan trọng là PIT-1, OCT-1, OCT-2 và UNC-86 của giun tròn Caenorhabditis elegans đã được xác định (Herr và cộng sự, 1988; Jacobson và cộng sự, 1997) Đến nay, nhiều thành viên khác của họ POU đã được phát hiện ở các sinh vật đa bào, từ ruồi giấm đến con người Các gene thuộc họ POU được phân loại thành 6 nhóm khác nhau dựa trên sự tương đồng của vùng POU domain và đoạn nối không bảo tồn, với vai trò quan trọng trong sự biệt hóa tế bào.

Miền POU bao gồm hai vùng bảo tồn cao là miền POUS (đặc hiệu POU) và miền homeodomain (POUH), được kết nối bởi một đoạn linker biến đổi Cả hai subdomain đều chứa các motif helix-turn-helix Mặc dù đoạn POUS và POUH có cấu trúc độc lập, chúng thường xuất hiện cùng nhau và tiến hóa đồng thời Cả hai miền POUS và POUH đều cần thiết cho quá trình gắn kết với DNA.

Hình 8 Giản đồ POU domain

Mặc dù các nhân tố POU domain có sự tương đồng cao, gene mã hóa cho chúng lại phân bố trên nhiều nhiễm sắc thể khác nhau Trong môi trường in vivo, nhiều protein POU đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa quá trình phát triển và có mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống thần kinh.

Chức năng sinh học của PIT-1

Các nghiên cứu phát sinh cá thể cho thấy gene PIT-1 bắt đầu được biểu hiện tại ngày thứ 14,5 của phôi thai ở chuột, dẫn đến sự hình thành các tế bào sinh hormone như somatotropes, lactotropes và thyrotropes Trong suốt quá trình phát triển và trưởng thành, gene PIT-1 tiếp tục biểu hiện và đóng vai trò quan trọng trong sự biệt hóa và tăng sinh của ba loại tế bào này Cụ thể, PIT-1 điều hòa phiên mã các gene GH, PRL và TSHβ (Andersen và Rosenfeld, 2001).

Gene PIT-1 đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa sự phiên mã của gene GHRH-R, như đã được nghiên cứu bởi Lin và cộng sự (1992) cũng như Rhodes và cộng sự (1993), theo lược khảo của Zhao và cộng sự (2002) Ảnh hưởng sinh lý của PIT-1 rất đáng chú ý trong các quá trình sinh học liên quan.

Vai trò của gene PIT-1 trong sự phát triển tế bào và tiết hormone đã được xác nhận qua các thí nghiệm đột biến gene ở chuột và người Chuột Snell, do đột biến lặn trên gene PIT-1, và chuột Jackson, với gene PIT-1 bị biến đổi hoàn toàn, cho thấy sự thiếu hụt hormone tuyến yên và liên quan đến CPHD Đột biến PIT-1 ở người cũng gây ra tình trạng tương tự Những đột biến này ngăn cản sự phát triển và tăng sinh của các tế bào somatotrope, lactotrope, và thyrotrope, dẫn đến sự thiếu hụt các hormone tuyến yên như GH, PRL và TSH-β, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh trưởng.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng gene PIT-1 có mối liên hệ chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng, đặc tính thịt và sản lượng sữa ở động vật Cụ thể, gene PIT-1 ảnh hưởng đến khối lượng sơ sinh, khối lượng khi cai sữa, tăng trọng trung bình hằng ngày và độ dày mỡ lưng ở heo Ngoài ra, gene này cũng liên quan đến tỷ lệ nạc/mỡ, cho thấy vai trò quan trọng của nó trong chăn nuôi và cải thiện giống.

Gene PIT-1 ở heo nằm trên nhiễm sắc thể 13, bao gồm 6 exon và 5 intron, với chiều dài DNA mạch thẳng là 16.116 bp Vùng mã hóa protein PIT-1 đã được giải trình tự và công bố trên Genbank (NCBI, gene ID 397325) Gene này có mức tương đồng cao với gene PIT-1 của nhiều loài khác như người, chuột và bò Ở heo, có nhiều dạng cắt nối PIT-1, bao gồm Δ3Pit1 (mất exon 3), Δ4Pit1 (mất exon 4) và Pit1β (chèn thêm 26 amino acids vào trước exon 2) PIT-1 heo có khả năng gắn lên vùng promoter GH và PRL của chuột, cho thấy chức năng được bảo tồn qua các loài.

PIT-1 có khả năng gắn kết với DNA mục tiêu giữa các loài, trong khi Δ3PIT1 thì không, ngay cả khi nồng độ protein rất cao Khi kết hợp PIT-1 và Δ3PIT1, Δ3PIT1 không làm ảnh hưởng đến khả năng gắn kết của PIT-1 với DNA mục tiêu (Yu và cs, 2001).

3.2.2 Kết quả nghiên cứu của Phòng Công nghệ sinh học, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam liên quan đến gen PIT-1

Mục tiêu của nghiên cứu này bao gồm việc xác định tần suất gen PIT-1 trên đàn heo giống tại các trại lớn, phân tích mối liên hệ giữa kiểu hình (tính trạng sinh trưởng và chất lượng thịt) với kiểu gen PIT-1, và xây dựng công thức lai cụ thể cho đàn heo giống nhằm tạo ra đàn heo thương phẩm mang gen PIT-1 có lợi Để đạt được những mục tiêu này, nghiên cứu đã triển khai ba nội dung chính.

Nghiên cứu đã xây dựng quy trình xác định kiểu gen PIT-1 tại vị trí nucleotide 179466112 trong intron 3 và 179467897 trong intron 4 bằng phương pháp PCR-FRLP với hai enzyme MspI và RsaI, từ đó xác định tần suất allele và kiểu gen PIT1/MspI và PIT1/RsaI trên 211 mẫu tinh dịch Đồng thời, nghiên cứu cũng tìm hiểu mối liên quan giữa các kiểu gen PIT-1 với các tính trạng tăng trọng và chất lượng thịt heo, bao gồm tỷ lệ mỡ giắt, dày mỡ lưng và dày thịt lưng trên 120 con heo thí nghiệm, nhằm xác định ảnh hưởng của kiểu gen PIT-1 đến các tính trạng này Cuối cùng, đề tài đã đề xuất các công thức ghép đôi giao phối để tăng tần suất các kiểu gen PIT-1 có lợi trong đàn heo thương phẩm, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng thịt heo.

- Xây dựng quy trình PCR-RFLP để xác định kiểu gen PI -

– khảo sát Trong đàn heo khảo sát, các kiểu gen PIT1/MspI và PIT1/RsaI

25 hiện không ở trạng thái cân bằng theo Hardy- Weiberg

Trong nghiên cứu về 120 con heo có kiểu gen PIT1/MspI, những con heo mang allele C cho thấy mức tăng trọng cao hơn Tuy nhiên, chất lượng thịt của chúng lại thấp hơn, chủ yếu thể hiện ở tỷ lệ mỡ giắt, trong khi không có sự ảnh hưởng đáng kể đến độ dày mỡ lưng và độ dày thịt lưng.

Đã đề xuất ba công thức ghép đôi giao phối nhằm tạo ra đàn heo thương phẩm có kiểu gen PIT1/MspI, góp phần cải thiện đáng kể tăng trọng và chất lượng thịt.

Ứng dụng công nghệ cao trong chăn nuôi bò sữa và kết quả đạt được tại trại bò sữa công nghệ cao Israel

3.3.1 Công nghệ mới đƣợc chuyển giao và ứng dụng

Phân khu thức ăn : hoạt động từ ngày 20/12/2012

+ Ngày 20/12/2012: làm thức ăn ủ chua với nguyên liệu là thân cây bắp. + Ngày 20/12/2012: Bắt đầu sử dụng khẩu phần thức ăn hỗn hợp hoàn

26 chỉnh (TMR) với các nguyên liệu sẵn có tại trại (chưa sử dụng khẩu phần do chuyên gia đề nghị)

Vào ngày 10/01/2013, thức ăn TMR được áp dụng với khẩu phần do chuyên gia đề nghị, trong đó có bắp ủ chua tăng dần từ 16,2% đến 41,3% TMR Bên cạnh đó, tỉ lệ sử dụng các loại vitamin rất cao, đạt 0,9% TMR, nhằm cải thiện thể trạng và khả năng sinh sản của đàn bò nền.

Quản lý dữ liệu số lượng từng loại nguyên liệu sử dụng trên từng nhóm bò hàng ngày

Chọn lựa nguyên liệu và tính toán khẩu phần thức ăn cho từng nhóm bò

Phân khu sữa :hoạt động từ ngày 15/01/2013

+ Trước ngày 15/01/2013: vắt sữa bằng máy đơn

+ Từ ngày 15/01- 04/8/2013: vắt sữa bằng hệ thống Afi-milk, 02 lần/ngày

+ Từ ngày 05/8/2013 đến nay: vắt sữa bằng hệ thống Afi-milk, 03 lần/ngày

 Quản lý chi tiết thông tin từng cá thể bò,

giúp phát hiện bò lên giống

Cài đặt tự động hóa các quy trình thú y, kiểm tra sức khỏe từng cá thể

Quy trình làm mát cho bò

Từ ngày 07/02 – 30/4/2013 , làm mát tại khu vắt sữa 04 lần/ ngày đêm;

Từ ngày 01/5 đến 31/12/2013, việc làm mát tại khu vắt sữa được thực hiện 5-6 lần mỗi ngày đêm, kết hợp với việc vận hành hệ thống quạt thông gió tại khu chuồng Mỗi chu kỳ làm mát kéo dài 45 phút, bao gồm 1 phút phun nước và 4 phút quạt mát, theo quy trình được chuyên gia đề xuất nhằm tối ưu hóa hiệu quả chăn nuôi tại trại.

Từ ngày 01/10/2013 đến nay : vận hành thêm hệ thống quạt-phun sương tại vị trí bò đứng ăn (05 lần/ ngày đêm); 60 – 90 phút/lần

Công tác huấn luyện, đào tạo

Trong ba năm qua, chương trình đào tạo và chuyển giao kỹ thuật đã thu hút 15 chuyên gia Israel, tập trung vào các kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng bò hậu bị, dinh dưỡng, thú y, giống, và cải thiện nguồn thức ăn thô xanh cho bò sữa Các lớp huấn luyện về thú y và gieo tinh đặc biệt chú trọng vào kỹ năng thực hành, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn và tay nghề cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật, từ đó giúp đạt được các mục tiêu của dự án.

Ngoài việc đào tạo cán bộ kỹ thuật cho dự án, các lớp huấn luyện và chuyển giao kỹ thuật còn mở rộng cho cán bộ Khuyến Nông, Thú y và các công ty liên quan đến bò sữa, cũng như một số hộ chăn nuôi bò sữa quy mô lớn Điều này giúp nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ chăn nuôi bò sữa thông qua việc tiếp cận thông tin và kỹ thuật tiên tiến.

Trại trình diễn và thực nghiệm chăn nuôi bò sữa công nghệ cao Israel là nơi giao lưu và chia sẻ kinh nghiệm cho nông dân, nhà đầu tư, và các nhà khoa học, đặc biệt là giảng viên Trường Đại học Nông lâm thành phố Đây cũng là môi trường thực hành lý tưởng cho sinh viên yêu thích ngành chăn nuôi bò sữa Từ năm 2013 đến 2015, trại đã tiếp đón 50 đoàn khách tham quan với khoảng 1.200 lượt người và 15 sinh viên từ các trường Trung cấp, Đại học chuyên ngành chăn nuôi, thú y tham gia thực hiện các khóa luận tốt nghiệp.

Trung tâm đã thành lập Tổ tiếp nhận và chuyển giao công nghệ, với chuyên gia huấn luyện trực tiếp hàng tuần để nâng cao kỹ năng công nghệ Đồng thời, trại bò sữa Israel đang biên soạn và cập nhật tài liệu chuyên đề, chuẩn bị cho hoạt động chuyển giao kỹ thuật sắp tới.

3.3.2 Một số kết quả bước đầu đạt được trong giai đoạn 2013 – 2016

Đến cuối năm 2016, tổng đàn bò sữa đạt 230 con, tăng 10,43% so với đầu năm, trong đó có 91 con vắt sữa Cụ thể, 17 con đang khai thác sữa lứa 4 (18,68%), 27 con lứa 3 (29,67%), 17 con lứa 2 (18,68%), và 29 con lứa 1, cùng với 41 con cạn sữa Tổng số bò mang thai dự kiến sinh sản đến tháng 11/2016 là 63 con, trong đó 17 con là tơ chửa Trại đã hoàn thành mục tiêu dự án với tổng đàn vượt 200 con, trong đó 60% là cái sinh sản.

Tính đến năm 2016, trại đã ghi nhận hơn 200 con bê được sinh ra từ các dòng tinh bò sữa cao sản Israel, theo khuyến cáo của chuyên gia Trong số đó, có 2 cặp bê cái được sinh ra vào năm 2014 và 18 bê từ dòng tinh giới tính Trọng lượng trung bình của bê sơ sinh đạt trên 35 kg, cao hơn 16% so với trọng lượng sinh tại các hộ chăn nuôi (30 kg) Tỉ lệ nuôi sống bê qua các năm 2013 -

Năm 2016, ngành chăn nuôi bò sữa đạt tỷ lệ trên 98% và có tốc độ tăng trưởng ấn tượng Dự kiến, vào đầu năm 2017, nhóm bò hậu bị từ dòng tinh Israel sẽ bước vào giai đoạn khai thác sữa, mang lại năng suất sữa cao hơn so với đàn bò nền hiện tại.

Khả năng sản suất sữa

 Sản lượng sữa khai thác

Tổng sản lượng sữa khai thác tăng dần qua các năm: năm 2013 đạt 269 tấn ; năm 2014 đạt 538 tấn (tăng 100% so với năm 2013), năm 2015 đạt 592 tấn

(tăng 11% so với năm 2014) và dự kiến đến cuối năm 2016 đạt ( 722 tấn tăng

Năng suất sữa bình quân của đàn khai thác sữa ngày càng được cải thiệ

: năm 2013 năng suất sữa bình quân đạt 15,6 kg/con/ngày (trung bình với 45 bò vắt sữ ạt 22,15

29 kg/con/ngày (trung bình vớ ), năm 2015 đạt 21,55 kg/con/ngày

(trung bình 70 bò vắt sữa); so vớ ữa thành phố 15,5 kg/con/ngày và đến 05/2016 đạt 21,80 kg/con/ngày (trung bình 95 bò vắt sữa)

Kể từ tháng 01/2013, khi áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật từ các chuyên gia Israel, năng suất sữa trung bình của đàn bò khai thác sữa đã liên tục tăng trưởng.

Trước khi áp dụng kỹ thuật công nghệ Israel vào tháng 01/2013, năng suất sữa trung bình chỉ đạt 8,5 kg sữa/con/ngày Nguyên nhân chủ yếu là do đàn bò di chuyển nhiều trong khu chuồng nuôi rộng rãi nhưng chế độ dinh dưỡng chưa đầy đủ và thiếu hệ thống làm mát.

Sau 3 tháng áp dụng kỹ thuật nuôi dưỡng từ chuyên gia Israel bắt đầu từ tháng 01/2013, với chế độ vắt sữa 2 ca, năng suất sữa bình quân đã tăng lên 14,9 kg/con/ngày vào tháng 3/2013 và đạt 15,3 kg/con/ngày vào tháng 6/2013.

Từ ngày 05/08/2013, việc áp dụng phương pháp vắt sữa 3 ca đã giúp nâng cao năng suất sữa trung bình đạt 17,3 kg/con/ngày Đặc biệt, có 35% số lượng bò cái trong tổng đàn 56 con đạt năng suất trên 20 kg/con/ngày.

+ Năm 2014, năng suất sữa bình quân đạt 22,15 kg/con/ngày,

(so vớ ữa thành phố là 15,6 kg/con/ngày); cao hơn 1,58 lần (so với năng suất bình quân của cả nước là

+ Năm 2015 đạt 21,55 kg/con/ngày (trung bình 70 bò vắt sữa);

1,43 (so vớ ữa thành phố 15,5 kg/con/ngày)

+ Đến tháng11/2016 đạt 22,80 kg/con/ngày (trung bình 91 bò vắt sữa)

Năng suất trung bình của đàn bò sữa trong giai đoạn 2013 - 2016 có xu hướng tăng dần qua các năm Đặc biệt, năng suất cao nhất được ghi nhận vào tháng 1 và tháng 2 hàng năm, nhờ vào điều kiện thời tiết mát mẻ, giúp tăng năng suất sữa từ 5 - 8% so với các tháng khác.

30 sữa trung bình của đàn khai thác sữa trong cả năm Cụ thể, vào thời điểm tháng

Vào tháng 2 năm 2015, năng suất sữa bình quân đạt 24,4 kg/con/ngày, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2014 Tuy nhiên, thời tiết nắng nóng kéo dài từ giữa tháng 3 đến cuối tháng 5 đã làm giảm năng suất sữa trong hai tháng 4 và 5 Nhiệt độ cao cũng ảnh hưởng đến sự ngon miệng của bò do "stress nhiệt" Đến tháng 11 năm 2016, năng suất sữa đã ổn định ở mức 22,80 kg/con/ngày nhờ vào sự gia tăng của bò lứa 3 và 4, cùng với các bê từ dòng tinh Israel được chăm sóc tốt tại Trại, phù hợp với điều kiện khí hậu và dinh dưỡng.

Ngày đăng: 11/07/2021, 12:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w