1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kỷ yếu hệ thống tài chính ngân hàng với sự phát triển kinh tế xã hội miền trung tây nguyên trong cuộc cách mạng 4.0

548 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 548
Dung lượng 38,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TT Tên bài viết Tác giả Trang PHẦN A: NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG 1 Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước thành phố Đà Nẵng – Cầu nối triển khai cơ chế chính sách và hiệu quả điều hành của Ngân h

Trang 1

Đà Nẵng, tháng 07 năm 2020

Trang 3

TRƯỞNG BAN

1 PGS.TS Nguyễn Mạnh Toàn

Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - ĐHĐN

PHÓ TRƯỞNG BAN

2 Mời PGS.TS Lê Đức Niêm

Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Tây Nguyên

3 Mời PGS.TS Nguyễn Đức Trung

Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh

4 PGS.TS Võ Thị Thúy Anh

Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - ĐHĐN

ỦY VIÊN

5 PGS.TS Lâm Chí Dũng

Trưởng Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế

6 Mời PGS.TS Phan Diên Vỹ

Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học & Công nghệ Ngân hàng, ĐH Ngân hàng Tp HCM

Trưởng phòng Cơ sở vật chất – Trường ĐHKT- ĐHĐN

10 ThS Phan Kim Tuấn

Trưởng phòng Tổ chức Hành Chính – Trường ĐHKT- ĐHĐN

11 Bà Hồng Thị Thủy

Trưởng phòng Kế hoạch Tài chính – Trường ĐHKT- ĐHĐN

Trang 4

TRƯỞNG BAN

1 PGS.TS Lâm Chí Dũng

Trưởng Khoa Ngân hàng, Trường ĐHKT-ĐHĐN

PHÓ TRƯỞNG BAN

2 Mời PGS.TS Lê Đức Niêm

Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Tây Nguyên

3 Mời PGS.TS Phan Diên Vỹ

Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học & Công nghệ Ngân hàng, ĐH Ngân hàng Tp HCM

ỦY VIÊN

4 Mời TS Hà Văn Dũng

Trưởng phòng QLKH, Trường Đại học Ngân hàng Tp Hồ Chí Minh

5 Mời PGS.TS Nguyễn Thị Mùi

Nguyên PGĐ Học Viện Tài chính, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia

6 PGS.TS Đoàn Ngọc Phi Anh

Trưởng Khoa Kế toán, Trường ĐHKT-ĐHĐN

Phó trưởng Phòng KH&HTQT, Trường ĐHKT-ĐHĐN

11 PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân

Trưởng bộ môn Tài chính doanh nghiệp, Trường ĐHKT-ĐHĐN

Trang 5

Trưởng bộ môn Tài chính công, Trường ĐHKT-ĐHĐN

Khoa Ngân hàng, Trường ĐHKT-ĐHĐN

17 TS Nguyễn Thị Thiều Quang

Khoa Ngân hàng, Trường ĐHKT-ĐHĐN

18 Mời TS Nguyễn Thị Hải Yến

Trường Đại học Tây Nguyên

Trang 6

Phó trưởng Phòng KH&HTQT, Trường ĐHKT-ĐHĐN

4 ThS Nguyễn Thị Hải Đường

Phó Trưởng Phòng Tổ chức – Hành chính, Trường ĐHKT

5 Kỹ sư Lê Phùng

Phó Trưởng Phòng Cơ sở vật chất, Trường ĐHKT

6 ThS Nguyễn Thị Hải Đường

Phó Trưởng Phòng Tổ chức – Hành chính, Trường ĐHKT

7 TS Hoàng Dương Việt Anh

Trưởng bộ môn Tài chính công, ĐHKT-ĐHĐN

8 Mời ThS Trương Ngọc Hằng

Trưởng bộ môn Tài chính- Ngân hàng, ĐH Tây Nguyên

9 Mời ThS Võ Thị Thúy Kiều

Trường Đại học Ngân hàng Tp Hồ Chí Minh

10 ThS Dương Quỳnh Anh

Phòng KH&HTQT, Trường ĐHKT-ĐHĐN

11 ThS Vương Bảo Bảo

Khoa Ngân hàng, Trường ĐHKT-ĐHĐN

12 ThS Phạm Thị Thanh Hà

Khoa Ngân hàng, Trường ĐHKT-ĐHĐN

13 Bà Hà Nguyễn Phương Linh

Phòng KH&HTQT, Trường ĐHKT-ĐHĐN

14 ThS Nguyễn Thùy Linh

Phòng Kế hoạch- Tài chính, Trường ĐHKT-ĐHĐN

Trang 7

TT Tên bài viết Tác giả Trang

PHẦN A: NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG

1

Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước thành phố Đà Nẵng –

Cầu nối triển khai cơ chế chính sách và hiệu quả điều

hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Võ Minh Lưu Thị Mỹ Hạnh Trịnh Minh Nhật Vũ Đào Thị Thùy Dung

01

2 Đánh giá cơ chế phân cấp trong quản trị các Ngân hàng

thương mại Việt Nam - Khảo sát từ phía các chi nhánh

Lâm Chí Dũng Nguyễn Ngọc Anh

Hồ Hữu Tiến

10

3

Phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng xanh tại các

Ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh cách

mạng công nghệ 4.0

Trần Thị Ngọc Hạnh

21

4 Công nghệ tài chính đối với hoạt động chuyển đổi số của

31

5 Hệ thống tài chính và sự phát triển Vùng kinh tế trọng

38

6 Vốn tín dụng Ngân hàng với lĩnh vực giao thông Tây

Nguyên

Phan Diên Vỹ Nguyễn Thị Ngọc Nga

46

7

Nghiên cứu đánh giá các quy định pháp luật về phân cấp

quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi Ngân sách nhà nước giữa

Trung ương và địa phương

Nguyễn Chí Đức Huỳnh Quốc Huy

50

8 Quản lý Nhà nước về huy động vốn của các Ngân hàng

thương mại trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Võ Xuân Hội Phạm Thanh Hùng Nguyễn Thị Phương Thảo

56

9

Nghiên cứu khả năng áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế

mới về công cụ tài chính (IFRS 9) trong kế toán dự phòng

rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

Đào Nam Giang Trần Nhật Tân

64

10 Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng chính sách trên

địa bàn Tây Nguyên

Nguyễn Ngọc Anh Đinh Văn Nghĩa

75

11

Tăng trưởng cho vay hộ, cá nhân sản xuất nông nghiệp:

Góc nhìn từ thực trạng tăng trưởng của ngân hàng thương

mại cổ phần triển khai tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk

13 Nâng cao năng lực tài chính của Ngân hàng thương mại

98

Trang 8

14 Thực trạng và giải pháp thu hút đầu tư tư nhân vào phát

triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Phạm Thanh Hùng

Ao Xuân Hòa Nguyễn Đức Quyền

15 Chứng khoán hóa - Kinh nghiệm ở một số quốc gia có nền

kinh tế mới nổi

Hồ Hữu Tiến

Lê Thị Phương Uyên

121

16 Những thay đổi của các Ngân hàng Việt Nam trước tác

131

17 Tình hình phân cấp Ngân sách ở Việt Nam giai đoạn

18 Blockchain - Công nghệ tài chính trong tương lai phát

triển bền vững của lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Đặng Trương Thanh Nhàn Nguyễn Phương Thảo

144

19 Tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức

nhằm hạn chế tín dụng đen trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Lê Xuân Lãm Đoàn Thị Thu Phương

156

20 Những ứng dụng của cách mạng công nghiệp 4.0 trong

hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng Việt Nam

Bùi Thị Thu Hằng Nguyễn Thị Phương Thảo Phạm Thị Oanh

166

21 Tác động của việc tăng thuế suất thuế Giá trị gia tăng đến

nền kinh tế Việt Nam

Nguyễn Thị Hương

Võ Hoàng Diễm Trinh

175

22 Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng Vùng

23 Tác động của các Hiệp định tự do thương mại (FTA) thế

hệ mới lên ngành Tài chính và Ngân hàng Việt Nam Phạm Thanh Nga

188

24 Phát triển tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa:

Trường hợp nghiên cứu tại Vietinbank Đắk Lắk

Nguyễn Thị Hải Yến

Lê Phúc Đông

196

25

Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay đối với Học sinh

sinh viên có hoàn cảnh khó khăn của Ngân hàng chính

sách xã hội

Đoàn Ngọc Chung

204

26 Vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế: Bằng chứng

215

27 Tài trợ qua chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp nhỏ và

vừa

Phan Đình Anh Nguyễn Thị Lan Anh Nguyễn Thị Loan

229

28 Phân tích hiệu quả hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân

dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Nguyễn Thị Phương Thảo

244

30 Chính sách ưu đãi về thuế nhằm khuyến khích, hỗ trợ và Lê Đình Quang Phúc 255

Trang 9

pháp lý

31 Việt Nam cần chuẩn bị gì trước nguy cơ đảo ngược toàn

261

32 Phát triển tín dụng chính sách xã hội đối với đồng bào dân

tộc thiểu số tại khu vực Tây Nguyên

Nguyễn Chí Đức Đinh Thị Thu Hiền

273

33 Ngân hàng số ở Việt Nam: Xu hướng, cơ hội và thách

282

34 Phát triển mô hình phân phối bảo hiểm qua Ngân hàng

(Bancassurance) trong bối cảnh Cách mạng công nghệ Lê Hà Trang

290

35 Phát triển dịch vụ thanh toán của các Ngân hàng thương

mại trong nước ở Tây Nguyên

Phạm Thị Phương Lan Đào Thị Huyền Trang

300

PHẦN B: NGHIÊN CỨU HỌC THUẬT

1

Đặc trưng và những nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách

địa phương – Trường hợp các tỉnh Vùng Kinh tế trọng

điểm miền Trung

Lâm Chí Dũng

309

2 Tác động của đầu tư công nghệ đến tỷ suất sinh lời trên

tổng tài sản của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam Võ Thị Thúy Kiều

320

3 Giá trị thương hiệu Agribank: Trường hợp nghiên cứu tại

thị trường Buôn Ma Thuột

Trương Ngọc Hằng

Từ Thị Thanh Hiệp

328

4

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ sử dụng

dịch vụ ngân hàng số: Kết quả thực nghiệm tại các Ngân

hàng thương mại trên địa bàn TP Đà Nẵng

Lê Công Toàn Ngô Đức Chiến

340

5 Xây dựng mô hình điều phối tối ưu quan hệ tín dụng

thông qua môi giới điện tử trong thời đại công nghệ số

Lê Diên Tuấn Phan Đặng My Phương

355

6 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng và hiệu quả tài chính của

364

7 Vai trò của Ngân hàng đối với tăng trưởng kinh tế:

Nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam

Nguyễn Thị Thiều Quang Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

374

8 Tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế: Nghiên

cứu thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển

Hoàng Dương Việt Anh Nguyễn Thành Đạt

381

9

Tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của

doanh nghiệp có vốn nhà nước đầu tư niêm yết trên thị

trường chứng khoán Việt Nam

Vũ Ngọc Tuấn

389

10 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng thẻ

Ngân hàng tại Việt Nam

Đường Thị Liên Hà

Võ Quang Trí Đinh Thị Lệ Trâm

397

11 Tác động của chính sách lãi suất đến khả năng sinh lời của Hồ Thị Hải Ly 406

Trang 10

12

Mối quan hệ giữa cấu trúc thu nhập, quy mô hoạt động và

khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt

Nam

Nguyễn Trần Thuần Mai Thị Thanh Chung

Hà Xuân Thùy

415

13

Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách

hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử của Ngân hàng

thương mại cổ phẩn Hàng Hải Việt Nam

Tôn Thất Viên

425

14 Hệ số co giãn thay thế trong tăng trưởng kinh tế: khái

niệm, thực nghiệm và hàm ý chính sách Nguyễn Ngọc Thạch

440

15

Ứng dụng mô hình lý thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử

dụng công nghệ (UTAUT) để nghiên cứu các yếu tố ảnh

hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ Mobile banking tại

thành phố Đà Nẵng

Nguyễn Văn Hân

458

16

Đánh giá tổng quan tác động các biến vĩ mô qua mô hình

6 nhân tố lên giá cổ phiếu Vietcombank – Một tình huống

trong ngành ngân hàng Việt Nam

Đinh Trần Ngọc Huy Nguyễn Thu Thủy

Lê Thị Hân

Vũ Thị Thu Hà

Lê Ngọc Nương Phạm Thị Hồng Nhung Trương Thu Hà

469

17 Lượng hóa tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến

tăng trưởng kinh tế miền Trung Việt Nam Dương Nguyễn Minh Huy

483

18 Các yếu tố tác động đến đầu tư ở Việt Nam: Thực nghiệm

19 Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với

chất lượng dịch vụ thẻ tại BIDV- Chi nhánh Quảng Ngãi

Lê Đức Toàn Nguyễn Hữu Phú

Hồ Văn Nhàn Nguyễn Hoàng Thảo Vy

498

20

Sự đóng góp phương pháp định giá giá trị hiện tại cho

kinh tế lượng trong tài chính: Lỗ hổng nghiên cứu về sai

Áp dụng công nghệ trong thị trường nông sản: Trường

hợp chấp nhận sử dụng mã QR trong thanh toán sản phẩm

nông nghiệp tại Việt Nam – Đề xuất nghiên cứu

Vương Bảo Bảo Chu Mỹ Giang

519

Trang 11

“HỆ THỐNG TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG VỚI SỰ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI MIỀN TRUNG – TÂY NGUYÊN

TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ”

Tuy nhiên, trên thực tế các tiềm năng vẫn chưa được khai thác tốt Đơn cử, theo số liệu của Tổng Cục Thống kê, thu nhập bình quân/tháng của cư dân vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung năm 2018 chỉ đạt 3.015 (nghìn đ/tháng) và Tây Nguyên là 2.898 Con số này chỉ cao hơn vùng Trung du và Miền núi Phía Bắc (2455) và so với tất cả các vùng còn lại đều thấp hơn: Đồng bằng Sông Hồng (4.834); Đông Nam Bộ (5.709), Đồng bằng Sông Cửu Long (3.588) và chỉ đạt từ 74,7% đến 77,78% so với mức bình quân cả nước Trong khi đó, chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư là khá cao Cũng số liệu năm 2018, chênh lệch giữa nhóm 20% có thu nhập cao nhất và nhóm 20% có thu nhập thấp nhất của Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là 8,13 lần; của Tây Nguyên là 9,9 lần

Vì vậy, phát triển kinh tế - xã hội miền Trung – Tây nguyên nhằm rút ngắn khoảng cách vùng, miền và giải quyết ngày càng tốt hơn các vấn đề xã hội là một mục tiêu có tính bức thiết

Để hoàn thành mục tiêu này, hệ thống Tài chính – ngân hàng có vai trò cực kỳ quan trọng Ở một góc nhìn khác, mục tiêu nói trên cũng đồng thời tạo ra các cơ hội và thách thức cho chính các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng tại khu vực với 3 đặc điểm nổi bật sau đây:

(i) Phạm vi thẩm quyền quản trị của các tổ chức tài chính – ngân hàng và các cơ quan quản lý tài chính công chỉ là ở cấp độ địa phương Trong khi đó, xu hướng tập trung hóa trong hoạt động quản trị ngày càng được tăng cường do quá trình hiện đại hóa công nghệ diễn ra ngày càng mạnh mẽ dẫn đến hệ quả là phạm vi thẩm quyền nói trên ngày càng hạn chế

(ii) Các địa phương trong khu vực đều ở xa các trung tâm của thị trường tài chính Mặc dù thị trường tài chính là thống nhất, không chia cắt theo các địa phương và quá trình hiện đại hóa công nghệ đã tạo nên những tiền đề vật chất cho phép gỡ bỏ những rào cản về không gian, thời

Trang 12

đã, đang và sẽ có những tác động nhất định lên hoạt động tài chính – ngân hàng

(iii) Một đặc điểm khá phổ biến nữa là nền tảng khách hàng của các đơn vị kinh doanh dịch vụ tài chính – ngân hàng đại đa số là các DN nhỏ, siêu nhỏ, hộ và cá nhân Đặc điểm này chi phối lớn đến cấu trúc kinh doanh và quản trị của các đơn vị này

Vấn đề được đặt ra như một logic tự nhiên là: làm thế nào để hệ thống tài chính – ngân hàng có thể khai thác tốt nhất các cơ hội và hóa giải các thách thức cho mục tiêu phát triển kinh

tế - xã hội miền Trung – Tây Nguyên, thích ứng với những đặc điểm của chính hệ thống này và môi trường hoạt động của nó? Mặt khác, không thể thảo luận những vấn đề có tính đặc thù khu vực mà có thể thoát ly những chủ đề có tính lý thuyết hoặc có phạm vi bao trùm hơn Vì vậy, những chủ đề mà Ban Tổ chức Hội thảo mong muốn nhận được các báo cáo tham luận bao gồm:

- Tác động của hệ thống tài chính đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội;

- Tác động của công nghệ đối với hoạt động của hệ thống tài chính;

- Tác động của công nghệ số hóa/cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong hoạt động tài chính đến sự phát triển kinh tế - xã hội;

- Quản trị Ngân hàng và các tổ chức tài chính khác trong bối cảnh cách mạng công nghệ

từ thực tiễn khu vực miền Trung – Tây Nguyên;

- Vấn đề phân cấp, phân quyền giữa TƯ và địa phương trong quản lý tài chính công;

- Thúc đẩy liên kết giữa các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực Tài chính – ngân hàng và vận dụng các công cụ tài chính nhằm thúc đẩy liên kết kinh tế khu vực miền Trung – Tây Nguyên;

- Hiệu quả kinh doanh và quản trị rủi ro của Ngân hàng và các tổ chức tài chính khác: đặc thù địa phương và những đặc điểm có tính phổ quát;

- Và một số chủ đề khác có liên quan

Những bài tham luận được gửi đến Ban Tổ chức đều trải qua quá trình phản biện nghiêm túc, (kể cả kiểm tra trên phần mềm Tunitin theo thông lệ của Trường ĐH Kinh tế - ĐH Đà Nẵng) Kết quả cuối cùng, Hội thảo đã chấp nhận 57 bài tham luận tạm xếp thành 4 nhóm chủ

đề chủ yếu sau:

- Quan hệ giữa hiện đại hóa công nghệ với hoạt động của hệ thống tài chính – ngân hàng nói chung và hoạt động kinh doanh dịch vụ tài chính – ngân hàng nói riêng Các vấn đề được đề cập khá đa dạng từ tổng thuật lý thuyết đến nghiên cứu thực nghiệm, từ những chủ đề vĩ mô đến những vấn đề cụ thể phát sinh trong thực tiễn kinh doanh của các định chế tài chính Việt Nam

- Nhóm chủ đề thứ hai bao gồm các tham luận đề cập đến các nghiên cứu liên quan đến hoạt động quản trị ngân hàng, chẳng hạn: vấn đề phân cấp trong quản trị các NHTM; đa dạng hóa thu nhập; quan hệ giữa các biến nhân tố như: chính sách lãi suất; rủi ro tín dụng; đầu tư công nghệ; cấu trúc thu nhập, quy mô hoạt động đến năng lực sinh lời của các NHTM

- Các tham luận nghiên cứu về quản lý tài chính công cũng là nhóm chủ đề nhận được nhiều quan tâm của các tác giả Theo đó, các nội dung chính được đề cập ngoài những vấn đề

Trang 13

vấn đề về phân cấp ngân sách cũng được nhiều tác giả chú ý

- Cuối cùng, nhóm chủ đề nhận được nhiều tham luận nhất và cũng là trọng tâm của Hội thảo là các nghiên cứu liên quan đến các chủ đề có tính đặc thù khu vực Các tham luận mà Hội thảo nhận được bao phủ nhiều lĩnh vực khác nhau từ hoạt động của Ngân hàng nhà nước, NHTM đến hoạt động của NHCSXH và Quỹ tín dụng nhân dân Từ hoạt động kinh doanh dịch

vụ tài chính –ngân hàng đến những chủ đề về tài chính công; từ các nghiên cứu có phạm vi toàn vùng đến những nghiên cứu có phạm vi nhỏ hơn, chẳng hạn Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung hoặc một tỉnh, thành phố nhất định

Cần nói thêm là việc phân định thành các nhóm chủ đề chỉ có tính chất tương đối và chỉ nhằm có một cái nhìn khái quát Nhiều tham luận nằm ở giao điểm của các chủ đề Một số tham luận có chủ đề nghiên cứu không thuộc các nhóm trên nhưng cũng có liên quan nhất định đến chủ đề chung của Hội thảo Xét về mục đích nghiên cứu, có thể tạm phân chia các tham luận thành hai phần: các nghiên cứu nặng tính chất học thuật hơn và các nghiên cứu nặng tính chất ứng dụng hơn Sở dĩ nói như vậy là vì nhiều nghiên cứu dù có mục đích ứng dụng nhưng cũng đảm bảo các tiêu chuẩn học thuật, ngược lại, một số nghiên cứu tuy về cấu trúc hình thức có tính chất học thuật nhưng cũng có tính ứng dụng cao

Ngoài những tham luận đã được tập hợp và in toàn văn trong Kỷ yếu Hội thảo, Ban Tổ chức cũng sẽ lựa chọn một số tham luận có tính điển hình theo từng nhóm chủ đề và phù hợp nhất với mục tiêu của Hội thảo để trình bày và trao đổi ý kiến trực tiếp tại Hội thảo Điều này sẽ giúp nhìn nhận sâu hơn, từ nhiều góc nhìn và cách tiếp cận đa dạng, cho phép đối chiếu, so sánh

và tìm kiếm sự đồng thuận trên cơ sở nhận thức mới hơn về những vấn đề được bàn luận và chủ

đề chung của Hội thảo

Cuối cùng, Hội thảo của chúng ta từ trong quá trình chuẩn bị cho đến thời điểm hiện nay

đã chịu tác động tiêu cực rất lớn do đại dịch Covid-19 Covid-19 đã làm thay đổi nhiều thứ, mà trước hết buộc chúng ta phải nhận thức lại về nhiều điều Xét riêng, đối với hệ thống Tài chính – ngân hàng, khía cạnh tích cực cơ bản nhất mà Covid -19 mang lại là gia tăng động lực đổi mới công nghệ, tạo nền tảng tăng cường kênh cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử Nhưng tác động tiêu cực mà nó gây ra cho hệ thống này là rất lớn và nhiều hậu quả là chưa tiên lượng được hết Hội thảo của chúng ta hy vọng cũng sẽ nhận được những liên kết giữa các chủ đề được thảo luận với những gợi ý, khuyến nghị từ các nhà khoa học và đặc biệt là những phân tích giàu chất liệu đời sống thực từ các nhà hoạt động thực tiễn./

TM BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO PGS.TS LÂM CHÍ DŨNG

Trưởng Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế - ĐHĐN

Trang 15

PHẦN A

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG

Trang 17

HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG – CẦU NỐI TRIỂN KHAI CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU HÀNH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Võ Minh 1 , Lưu Thị Mỹ Hạnh 2 , Trịnh Minh Nhật Vũ 3 , Đào Thị Thùy Dung 4

1 Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Tp Đà Nẵng

Từ khóa: Ngân hàng Nhà nước chi nhánh thành phố Đà Nẵng, cơ chế điều hành chính sách tiền tệ, hiệu

quả điều hành

1 Đặt vấn đề

Sau 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX), thành phố Đà Nẵng đã có những bước phát triển nhanh, khá toàn diện, đạt được những thành tựu cơ bản trên hầu hết các lĩnh vực, diện mạo đô thị thay đổi ấn tượng Nhìn chung, tình hình kinh tế - xã hội năm 2019 của thành phố Đà Nẵng tăng trưởng so với năm 2018 với nhiều chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra Nhiều hoạt động được khẩn trương triển khai để thực hiện mục tiêu năm 2019 “Năm đẩy mạnh thu hút đầu tư” như tổ chức thành công Tọa đàm mùa Xuân 2019; là địa phương xếp hạng nhất Chính quyền điện tử khối tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; xếp hạng nhất về Chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng Công nghệ thông tin Việt Nam (Vietnam ICT Index), đánh dấu 11 năm liên tiếp (2009 - 2019) Thành phố vinh dự dẫn đầu bảng xếp hạng này trong toàn quốc và đã vinh dự nhận giải thưởng ASOCIO Smart City 2019 Theo công bố của Cục thống kê thành phố, quy mô kinh tế năm 2019 của Đà Nẵng đạt hơn 109 nghìn tỷ đồng, tăng gần 8,5 nghìn tỷ đồng so với năm

2018 Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người đạt 95,7 triệu đồng/người/năm, tương đương 4.095 USD (tăng 4,37% so với năm 2018) Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2019 của Thành phố tăng 6,47% so với năm trước

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020, Thành phố đã triển khai các chương trình trọng tâm như chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng Thành phố theo hướng phát triển mạnh các ngành dịch vụ, du lịch, thương mại; tập trung thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ thông tin; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ; cải cách hành chính; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng thành phố văn minh, môi trường… Dưới góc độ là ngành dịch

vụ hoạt động trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, hệ thống các ngân hàng trên địa bàn tham gia vào quá trình này, vừa thể hiện vai trò là đối tượng của chương trình thực hiện cơ cấu hệ thống ngân hàng gắn liền với xử lý

nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020, đồng thời cũng là vai trò của định chế tài chính trung gian, đáp ứng nhu cầu vốn, dịch vụ ngân hàng cho quá trình thực hiện các chương trình mục tiêu của Thành phố đề ra

Năm 2019 có ý nghĩa lớn trong việc hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch của giai đoạn này, đây cũng là năm hoạt động ngân hàng nói chung, trên địa bàn thành phố nói riêng đạt được nhiều kết quả quan trọng, ấn tượng, hội tụ và mang lại từ hiệu quả cơ chế chính sách và điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương (NHTW), đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo tiền đề cho chu kỳ phát triển kinh tế trong những năm tiếp theo Đánh giá tổng quan hoạt động của hệ thống ngân hàng

Trang 18

trên địa bàn đã thể hiện được vai trò của mình là cầu nối cơ chế chính sách và hiệu quả điều hành của NHTW, thể hiện qua các kết quả được trình bày cụ thể dưới đây

2 Cơ chế điều hành chính sách tiền tệ theo mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước

Với vai trò là cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ - ngân hàng, trên cơ sở các định hướng phát triển kinh tế - xã hội được Đảng, Quốc hội và Chính phủ thông qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam chỉ đạo các NHNN chi nhánh thực hiện cơ chế điều hành hoạt động ngân hàng bám sát vào các mục tiêu cụ thể như sau:

Điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô Trong đó:

- Điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT để điều tiết tiền tệ, hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng (TCTD), ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ và kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra Đồng thời, tiếp tục giữ ổn định tỷ lệ dự trữ bắt buộc; tái cấp vốn để hỗ trợ các TCTD xử lý nợ xấu và cho vay các chương trình theo mục tiêu của Chính phủ; phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, giảm chi phí huy động vốn cho ngân sách nhà nước

- Điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ tạo điều kiện cho hệ thống TCTD ổn định và giảm mặt bằng lãi suất, hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân

- Điều hành tỷ giá chủ động, linh hoạt theo cơ chế tỷ giá trung tâm phù hợp với các điều kiện thị trường

và mục tiêu điều hành CSTT, chỉ đạo thực hiện lộ trình chuyền dần quan hệ huy động - cho vay ngoại tệ sang quan hệ mua - bán ngoại tệ trong chủ trương tổng thể về chống đô la hóa của Chính phủ

Triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng để phát triển sản xuất, kinh doanh Trong đó:

- Mở rộng tín dụng đi đôi với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tập trung vốn vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực

là động lực cho tăng trưởng, các dự án trọng điểm quốc gia theo chỉ đạo của Chính phủ; đáp ứng kịp thời nhu cầu hợp pháp về vốn, nhất là vốn tín dụng tiêu dùng của người dân, góp phần hạn chế tín dụng đen

- Đẩy mạnh kết nối ngân hàng - doanh nghiệp bằng cách tăng cường đối thoại, kết nối giữa ngân hàng với doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ngân hàng thuận lợi, phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh

- Chủ động triển khai nhiều giải pháp tích cực góp phần đẩy lùi tín dụng đen Đồng thời, triển khai quyết liệt nhiều giải pháp mở rộng tín dụng phục vụ sản xuất và tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh

và phục vụ đời sống cho người dân, doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa - nơi dễ

bị ảnh hưởng của tín dụng đen; đẩy mạnh công tác truyền thông về các chủ trương, chính sách, các chương trình tín dụng, sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng và cách thức tiếp cận vốn vay; cảnh báo các thủ đoạn của các đối tượng tổ chức cho vay nặng lãi

Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM); thực hiện thí điểm các mô hình thanh toán mới, các doanh nghiệp công nghệ tài chính (fintech); áp dụng công nghệ mới, giải pháp đổi mới sáng tạo vào lĩnh vực ngân hàng Trong đó:

- Chỉ đạo TCTD và các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp đẩy mạnh TTKDTM và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho người dân, trong đó tập trung nghiên cứu, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ mới, hiện đại vào các sản phẩm, dịch vụ thanh toán; nâng cao

hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, tập trung hóa hệ thống xử lý phân tán về trung tâm thanh toán quốc gia và cung cấp thêm dịch vụ thanh toán ngoại tệ; xây dựng hệ thống thanh toán phục vụ các giao dịch bán lẻ trong nền kinh tế số; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan đẩy mạnh triển khai thanh toán qua ngân hàng với dịch vụ công

- Tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động thanh toán, chỉ đạo các đơn vị chức năng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tăng cường công tác an ninh công nghệ thông tin, an toàn trong lĩnh vực thanh toán dựa

Trang 19

trên các chuẩn mực, thông lệ quốc tế; đồng thời cảnh báo kịp thời phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng

- Phát triển dịch vụ ngân hàng trên nền tảng công nghệ và kinh tế số, chỉ đạo các TCTD xây dựng hạ tầng số tập trung, chuẩn hóa, cho phép chia sẻ, tích hợp tạo hệ sinh thái số trải rộng nhiều ngành, lĩnh vực, lấy trải nghiệm khách hàng làm trọng tâm

3 Kết quả hoạt động của hệ thống ngân hàng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng

Với sự nỗ lực và quyết tâm cao của các đơn vị trong toàn ngành, hoạt động ngân hàng Thành phố trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Những kết quả tích cực này sẽ tạo tiền đề cho việc hoàn thành kế hoạch của cả giai đoạn 2016 – 2020, đóng góp ngày càng hiệu quả hơn vào sự nghiệp phát triển chung của kinh tế thành phố Đà Nẵng nói riêng và khu vực miền Trung nói chung Các chỉ đạo, điều hành và kết quả quan trọng đạt được của ngành ngân hàng Thành phố trong giai đoạn 2015 – 2019 thể hiện qua các mặt:

Thứ nhất, thị trường tiền tệ ổn định, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ

NHNN Thành phố đã chủ động bám sát chỉ đạo của Chính phủ, NHNN Việt Nam trong việc điều hành lãi suất, nhờ đó đã ổn định được mặt bằng lãi suất, tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ngân hàng với chi phí hợp lý Theo đó:

- Lãi suất huy động VNĐ: Mặt bằng lãi suất huy động VND khá ổn định từ năm 2015 đến nay Lãi suất huy động không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 01 tháng phổ biến ở mức từ 0,5% - 1%/năm; kỳ hạn từ 01 đến dưới 06 tháng từ 4,2% - 5,5%/năm; kỳ hạn từ 06 tháng đến 12 tháng từ 5,5% - 7,8%/năm; từ trên 12 tháng từ 6,2 - 8%/năm.1

- Lãi suất cho vay bằng VNĐ: Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến khoảng 7% - 9%/năm, các lĩnh vực

ưu tiên tối đa là 6% - 6,5%/năm; lãi suất cho vay trung, dài hạn phổ biến khoảng 9% - 11,5%/năm, cho vay các lĩnh vực ưu tiên ở mức 7,5% - 10,5%/năm Đối với nhóm khách hàng tốt, tài chính lành mạnh, minh bạch thì lãi suất cho vay ở mức 5,1% - 5,8%/năm.2

Có thể thấy rằng, mặt bằng lãi suất thị trường trên địa bàn được duy trì ổn định trong 5 năm qua và có

xu hướng giảm nhẹ ở thời điểm cuối năm 2019 do NHNN ban hành Quyết định 2145/QĐ-NHNN và NHNN3 để cụ thể hóa chủ trương của Chính phủ về phấn đấu giảm lãi suất huy động và cho vay để ổn định kinh tế vĩ mô

2146/QĐ-Thị trường vàng phù hợp với quy luật cung cầu, tỷ giá ổn định

Thị trường vàng Thành phố giai đoạn 2015 – 2019 được điều tiết theo quy luật cung cầu, tình trạng vàng hóa được tiếp tục ngăn chặn, góp phần ổn định tỷ giá, thị trường ngoại hối và ổn định kinh tế vĩ mô

Tỷ giá giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ khác trong những năm qua được giữ ở mức ổn định, góp phần thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; tình trạng găm giữ ngoại tệ và đô la hóa giảm; thanh khoản thị trường được đảm bảo, các giao dịch ngoại tệ diễn ra thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ, kịp thời, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu và định hướng phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài

Thứ hai, hoạt động ngân hàng ổn định, tăng trưởng và phát triển theo xu hướng tích cực so với các năm trước đây, đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp và người dân, góp phần phát triển kinh tế địa phương

Tạo vốn đảm bảo cân đối nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế trên địa bàn

Trang 20

Thực hiện bám sát chỉ đạo của NHNN Việt Nam và tình hình thị trường, NHNN Thành phố đã chỉ đạo các TCTD trên địa bàn có cơ chế lãi suất huy động hợp lý, phù hợp với quy định của pháp luật để tạo lập vốn, đảm bảo nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế trên địa bàn

Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động bình quân giai đoạn 2015 - 2019 đạt 10,81%/năm Năm 2019, tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn đạt 131.500 tỷ đồng, tăng 4,6% so với cuối năm 2018 Nguồn vốn huy động có xu hướng tăng dần qua các năm, tuy nhiên tỷ lệ tăng trưởng huy động vốn có xu hướng tăng chậm lại Điều này là do chủ trương giảm mặt bằng lãi suất huy động qua đó giảm lãi suất cho vay

để tài trợ cho các ngành, lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ Mặc dù tỷ lệ tăng trưởng nguồn vốn huy động trên địa bàn có mức tăng trưởng thấp so với tỷ lệ tăng trưởng của hoạt động tín dụng trong những năm gần đây nhưng các TCTD vẫn đảm bảo cân đối nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế trên địa bàn

Mở rộng tín dụng, tập trung vào sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

Hoạt động cho vay giai đoạn 2015 – 2019 đạt mức tăng trưởng ấn tượng, bình quân 20,94%/năm Năm

2019, dư nợ cho vay đạt 175.500 tỷ đồng, tăng 16,9% so với cuối năm 2018 Cơ cấu tín dụng tập trung vào sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên để hỗ trợ có hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ; tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, tín dụng tiêu dùng được kiểm soát nhưng vẫn đảm bảo nguồn cung vốn cho nhu cầu thực của người dân và tổ chức kinh tế Tín dụng ngoại tệ được kiểm soát theo xu hướng giảm, phù hợp với khả năng huy động vốn và chủ trương chống đô la hóa và vàng hóa của Chính phủ Bên cạnh đó, các chương trình, chính sách tín dụng ngành, lĩnh vực được ngành ngân hàng trên địa bàn triển khai tích cực như cho vay phát triển thủy sản theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP; Cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Cho vay xây dựng nông thôn mới; Cho vay nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; Cho vay các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ

Nợ xấu luôn được kiểm soát ở mức thấp hơn 3% theo chủ trương của NHNN Việt Nam (tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019 lần lượt là 1,78%, 1,36%, 0,96%, 1,8%, 0,73%), đồng thời NHNN Thành phố cùng các TCTD trên địa bàn rất tích cực trong công tác phối hợp với Tòa án, cơ quan Thi hành án nhằm xử lý nhanh các khoản nợ xấu, góp phần đảm bảo an toàn của hệ thống

Thứ ba, Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp ngày càng đi vào chiều sâu đem lại hiệu quả tích cực nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và hỗ trợ thị trường

Với chủ trương tăng cường đối thoại, kết nối giữa ngân hàng và doanh nghiệp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ngân hàng thuận lợi, phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, hàng năm NHNN Thành phố đã phối hợp với Ủy ban Nhân dân (UBND) các cấp, các TCTD triển khai tích cực Chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp

Cho đến nay, hoạt động này đã trải qua thực tiễn với nhiều sự thay đổi từ nội dung cho đến cách thức thực hiện để phù hợp với những diễn biến kinh tế vĩ mô, tình hình hoạt động doanh nghiệp trên địa bàn trong môi trường cạnh tranh và đổi mới không ngừng Từ giai đoạn đầu phối hợp với chính quyền các cấp, sở, ban ngành, các Hiệp hội, Ban quản lý trên địa bàn nắm bắt nút thắt khó khăn của doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn – cho vay theo gói hỗ trợ doanh nghiệp - Lễ ký kết Giai đoạn tiếp theo ngoài tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, còn phối hợp với cơ quan Thi hành án, Tòa án tháo gỡ khó khăn cho việc xử

lý nợ của các TCTD Đến giai đoạn hiện nay Chương trình kết nối đi vào chiều sâu, với nội hàm hướng đến

hiệu quả, thiết thực với những nội dung cụ thể như: (i) Doanh số giải ngân cho vay mới thời điểm cuối năm 2019 đạt 5.232 tỷ đồng, cho hơn 1.300 doanh nghiệp với dư nợ hơn 5.000 tỷ đồng; (ii) Chỉ đạo các TCTD tiếp tục

đổi mới quy trình, rút ngắn thời gian giải quyết cho vay theo hướng bãi bỏ các thủ tục hành chính không phù hợp, nâng cao khả năng thẩm định, giải quyết nhu cầu vay vốn cho doanh nghiệp nhanh, gọn song vẫn đảm bảo an toàn vốn vay; đồng thời, cắt giảm các khoản phí, chi phí không cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, kinh doanh

Thứ tư, thanh toán không dùng tiền mặt trở thành xu thế tất yếu trong hoạt động thanh toán trên địa bàn; các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phát triển dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại; đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động thanh toán

Trang 21

Hoạt động TTKDTM trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong những năm qua đã có những bước tiến đáng kể, số lượng giao dịch thanh toán qua ngân hàng không ngừng tăng, nhiều hóa đơn tiền điện, nước, điện thoại, vé máy bay, nộp thuế, phí, lệ phí, nộp phạt vi phạm hành chính, được thực hiện qua hệ thống ngân hàng Qua đó cho thấy, TTKDTM đã dần khẳng định được ưu điểm và lợi thế so với tiền mặt, khách hàng ngày càng nhận thức được tiện ích của các dịch vụ TTKDTM và tận dụng được những ưu đãi mà ngân hàng đem lại

Các TCTD trên địa bàn đã nhận thức được xu hướng phát triển của TTKDTM và xem đây là một mảng kinh doanh quan trọng bên cạnh hoạt động tín dụng Nhận thức rõ về sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ trong cuộc cách mạng công nghệ 4.0, các TCTD đã triển khai hoạt động TTKDTM theo hướng: chủ động phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại, gia tăng số lượng, chất lượng máy ATM, POS, cung cấp đa dạng các sản phẩm dịch vụ bán lẻ, tiện ích, an toàn, truyền thông rộng rãi về dịch vụ TTKDTM đến với khách hàng thông qua nhiều kênh khác nhau như phát tờ rơi, gửi email, tin nhắn, quảng cáo trên báo chí, website, liên kết với các hệ thống bán hàng trực tuyến, bán hàng truyền thống, chuỗi nhà hàng, rạp chiếu phim, Đồng thời phối hợp tích cực với các Sở, Ngành liên quan nhằm đẩy mạnh TTKDTM

NHNN chi nhánh TP Đà Nẵng là một trong năm chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố tham gia trực tiếp hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (TTĐTLNH) ngay từ lúc mới triển khai Đây là hệ thống thanh toán điện tử trực tuyến, hiện đại, được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế Hiện nay, NHNN chi nhánh TP Đà Nẵng giữ vai trò là trung tâm xử lý khu vực miền Trung - Tây Nguyên, băng thông kết nối với trung tâm xử lý quốc gia là 20Mbps, thời gian thực hiện một lệnh thanh toán không quá 10 giây, trung bình mỗi ngày, trung tâm xử

lý khu vực miền Trung - Tây Nguyên xử lý 8.799 món chuyển tiền đi và 5.961 món chuyển tiền đến, những ngày cao điểm xử lý 22.020 món chuyển tiền đi và 14.384 món chuyển tiền đến Về cơ bản, hệ thống TTĐTLNH đã đáp ứng nhu cầu thanh toán của các TCTD về tốc độ, khối lượng giao dịch, độ an toàn và bảo mật, là cơ sở để các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phát triển các phương tiện, dịch vụ thanh toán cho khách hàng, mở rộng TTKDTM

Bảng: Hoạt động TTKDTM trên địa bàn TP Đà Nẵng giai đoạn 2015 – 2019

Trang 22

4 Giao dịch thanh toán theo các kênh giao dịch

Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo tổng kết thường niên hoạt động ngân hàng TP ĐN năm 2015 - 2019

Từ năm 2014 và các năm tiếp theo, NHNN Chi nhánh cùng các TCTD trên địa bàn đã thực hiện việc thành lập các cụm ATM tập trung tại một số vị trí thuận lợi, tạo điều kiện cho người dân giao dịch qua ATM

an toàn, hiệu quả, góp phần xây dựng một thành phố với cảnh quan hiện đại và văn minh, phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

Năm 2016 là một bước ngoặt quan trọng khi chính quyền địa phương và ngành ngân hàng TP Đà Nẵng xác định TTKDTM là nhiệm vụ, mục tiêu quan trọng trong Đề án “Phát triển mạnh các ngành dịch vụ trên địa bàn TP Đà Nẵng đến năm 2020, định hướng đến năm 2035” Trên cơ sở đó, NHNN chi nhánh tích cực triển khai Đề án “Phát triển hệ thống thanh toán qua POS tại các trung tâm mua sắm, du lịch trên địa bàn TP Đà Nẵng” Và trong năm 2019, Đề án “Nâng cao nhận thức và phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” được UBND Thành phố phê duyệt

đã góp phần tuyên truyền, nâng cao kiến thức thanh toán, đẩy mạnh thanh toán các dịch vụ công qua ngân hàng, thông qua đó cho phép tạo lập nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế Việc triển khai Đề án này là tiền

đề để đẩy mạnh hoạt động TTKDTM trên địa bàn Thành phố trong năm 2020 và các năm tiếp theo

Chỉ sau thời gian ngắn thực hiện các Đề án, nhiều dịch vụ ngân hàng điện tử như Internet Banking, Mobile Banking đạt tốc độ tăng trưởng cao, thu hút khách hàng sử dụng ngày càng tăng Đến cuối 2019, trên địa bàn thành phố có 49 tổ chức triển khai dịch vụ thanh toán qua Internet, 35 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán qua Mobile Banking, 18 tổ chức triển khai dịch vụ QR Code với giá trị giao dịch lần lượt là 114.000; 76.800; 1.850 tỷ đồng Cơ sở hạ tầng và công nghệ phục vụ TTKDTM tiếp tục được đầu tư, phát triển; năm 2019 trên địa bàn thành phố có 557 ATM (tăng 18,51% so với năm 2015), 8.446 POS (tăng 99,29% so với năm 2015) và hiện đã được lắp đặt tại hầu hết các cơ sở, chuỗi phân phối, bán lẻ, khách sạn lớn, đang mở rộng đến các đơn vị cung cấp dịch vụ công (cơ sở y tế, bệnh viện, trường học,…)

Nhìn chung, dịch vụ ngân hàng trên địa bàn Đà Nẵng tiếp tục phát triển gắn liền với quá trình đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động thanh toán, thông qua đó cho phép tạo lập nguồn vốn, góp phần cải thiện kết quả kinh doanh, tăng tỷ trọng thu dịch vụ ngày càng cao Năm 2019, thu

từ dịch vụ thanh toán chiếm tỷ lệ khoảng 11% trên tổng thu nhập, tăng gần 3% so với cùng kỳ năm 2015

Thứ năm, hoạt động ngoại hối trên địa bàn ổn định, giúp bình ổn và thúc đẩy phát triển kinh tế Thành phố

Ngân hàng Nhà nước thành phố Đà Nẵng luôn tích cực tham gia ý kiến với NHNN Việt Nam nhằm hoàn thiện các quy định hiện hành, đồng thời phối hợp tốt với sở, ban, ngành tại địa phương về hoạt động quản lý ngoại hối và vàng, góp phần thúc đẩy kinh tế thành phố, thể hiện vai trò là cầu nối triển khai cơ chế chính sách, những quy định của NHNN Việt Nam phù hợp với định hướng phát triển của thành phố Đà Nẵng

Về hoạt động vay, trả nợ nước ngoài trung dài hạn, trong giai đoạn 2015 - 2019, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh thành phố Đà Nẵng đã xác nhận đăng ký 138 khoản vay, tổng kim ngạch vay 150,42 triệu USD, đồng thời xác nhận đăng ký thay đổi cho 226 khoản vay Các doanh nghiệp đăng ký vay nước ngoài chủ yếu

là doanh nghiệp FDI, nhu cầu vay phần lớn phục vụ các dự án đầu tư, phương án kinh doanh và đa số các khoản vay được thực hiện bằng đồng USD Cùng với chính quyền địa phương trong chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh và các TCTD trên địa bàn luôn chú trọng phổ biến những quy định của pháp luật Việt Nam và hỗ trợ tốt cho các doanh nghiệp thông qua việc hướng dẫn cụ thể về các thủ tục đăng ký vay vốn, đăng ký thay đổi khoản vay, mở tài khoản và thực hiện thu, chi thông qua các tài khoản liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài , đồng thời rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục hành chính nhằm hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp

Trang 23

Trong những năm gần đây, Đà Nẵng đã và đang tích cực xây dựng một thành phố du lịch, thu hút nhiều

du khách quốc tế đến tham quan, mua sắm và sử dụng các dịch vụ vui chơi, giải trí Cùng với đó, hoạt động thanh toán phục vụ nhu cầu chi tiêu của du khách cũng gia tăng mạnh mẽ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh thành phố Đà Nẵng đã chủ động tham mưu cho Chính quyền Thành phố về công tác quản lý ngoại hối, phối hợp với các đơn vị liên quan trong việc kiểm tra liên ngành, kết hợp tuyên truyền các quy định của pháp luật

về hoạt động ngoại hối và kinh doanh vàng trên địa bàn, góp phần nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân, nhất là tại các địa điểm, cơ sở kinh doanh phục vụ nhiều khách du lịch nước ngoài nhằm giảm thiểu tình trạng vi phạm Đồng thời, thông qua các quy định và việc thực hiện nghiêm các quy định để khẳng định chủ quyền trong lĩnh vực tiền tệ trên lãnh thổ Việt Nam

Đến 31/12/2019, trên địa bàn TP Đà Nẵng có 48 tổ chức kinh tế được cấp phép hoạt động đại lý đổi ngoại tệ tại các cơ sở lưu trú du lịch, sân bay, trung tâm thương mại, với tổng số đại lý đổi ngoại tệ là 59 bàn;

có 03 đại lý chi, trả ngoại tệ được NHNN chi nhánh cấp phép hoạt động Bên cạnh đó là mạng lưới 59 chi nhánh TCTD và 248 phòng giao dịch thực hiện dịch vụ mua bán ngoại tệ, đa phần các TCTD cũng đồng thời cung cấp dịch vụ nhận và chi, trả ngoại tệ (cung cấp dịch vụ trực tiếp hoặc làm đại lý cho các tổ chức như Western Union, MoneyGram, MoneyPolo, WoldRemit, Xpress Money, Remitly, RIA, ), phục vụ ngày càng tốt hơn các giao dịch ngoại tệ của người dân và khách du lịch, thu hút nhiều ngoại tệ hơn vào hệ thống ngân hàng

Với chủ trương chống đô la hóa và vàng hóa của Chính phủ, trong những năm qua, tỷ giá giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ khác được giữ ở mức ổn định, thị trường vàng không có dấu hiệu đầu cơ làm giá, giao dịch tuân theo quy luật cung cầu của thị trường Hiện nay, trên địa bàn Đà Nẵng có khoảng 100 điểm giao dịch (bao gồm TCTD và doanh nghiệp) được NHNN cấp phép kinh doanh mua, bán vàng miếng và 44 doanh nghiệp sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân giao dịch mua bán vàng

Thứ 6, công tác cải cách thủ tục hành chính được triển khai tích cực góp phần hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thuận lợi với các dịch vụ ngân hàng

Để góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết số 19/NQ-CP và Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ, Chương trình hành động 1355 của NHNN Việt Nam, NHNN chi nhánh TP Đà Nẵng đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành ngân hàng TP Đà Nẵng, trong đó xác định cải cách thủ tục hành chính là một trong những mục tiêu

và nhiệm vụ cụ thể của ngành ngân hàng trên địa bàn, thể hiện qua các mặt:

Về cải cách thủ tục hành chính tại Chi nhánh: Chi nhánh đã thực hiện tốt quy trình ISO vào giải quyết

thủ tục hành chính, phần mềm quản lý văn bản, thống nhất chuẩn hóa hồ sơ, quy trình, thủ tục giải quyết thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi tối đa, giảm thời gian đi lại, thuận lợi cho khách hàng Đến cuối năm

2019, đã giải quyết gần 200 hồ sơ thủ tục hành chính liên quan đến các lĩnh vực ngoại hối, vàng, cấp phép thành lập, thay đổi và hoạt động Tất cả hồ sơ đều được giải quyết đúng và trước hạn Trong đó, thời gian giải quyết hồ sơ được rút ngắn đáng kể, bình quân giảm từ 5 - 15 ngày so với thời gian quy định

Cải cách các thủ tục hành chính trong quan hệ giữa TCTD với khách hàng: (i) Các TCTD trên địa bàn

thực hiện niêm yết và chủ động thông tin đầy đủ như lãi suất, tỷ giá, mẫu hợp đồng tín dụng, các chương trình khuyến mãi, thời gian xử lý các hợp đồng… liên quan đến giao dịch khách hàng Thủ tục, hồ sơ, biểu mẫu liên quan đến doanh nghiệp và cá nhân, lãi suất huy động và cho vay tại quầy và trên website thường xuyên được cập nhật tạo thuận lợi cho khách hàng giao dịch;(ii) Tiếp tục rà soát, rút ngắn thời gian, đơn giản hóa quy trình hướng tới khách hàng, nhằm tinh giảm lượng hồ sơ mẫu biểu; sử dụng hồ sơ điện tử, giao dịch điện tử; cắt giảm các thủ tục thừa, không cần thiết gây mất thời gian; (iii) Tăng cường công tác truyền thông, tiếp thị, quảng bá một cách chủ động và hiệu quả tới khách hàng về các chương trình, chính sách của Hội sở; Tập trung nguồn vốn, ưu tiên hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp

Với sự chỉ đạo sâu sát của NHNN và sự nỗ lực không ngừng của các đơn vị trong toàn ngành, hoạt động ngân hàng thành phố giai đoạn 2015 – 2019 đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần vào sự phát triển kinh tế -

xã hội của thành phố Đà Nẵng và khu vực miền Trung Các mục tiêu, định hướng phát triển của ngành cơ bản

Trang 24

được hoàn thành Thị trường tiền tệ, ngoại hối, tỷ giá, lãi suất được duy trì ổn định trong bối cảnh chịu nhiều sức ép từ những diễn biến phức tạp của kinh tế, chính trị thế giới, góp phần ổn định nền tảng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; tín dụng tăng trưởng hiệu quả phù hợp với mục tiêu và sức hấp thụ vốn của nền kinh tế,

cơ cấu tín dụng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; phát triển mạnh mẽ các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại; đảm bảo an toàn, hiệu quả hoạt động của hệ thống các TCTD trên địa bàn thành phố

4 Các giải pháp triển khai cơ chế chính sách của Ngân hàng Nhà nước để phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố và khu vực miền Trung giai đoạn 2020 - 2025

Trên cơ sở mục tiêu, định hướng điều hành của NHNN Việt Nam, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

TP Đà Nẵng giai đoạn 2020 -2025, tầm nhìn đến năm 2030, NHNN chi nhánh TP Đà Nẵng tập trung xây dựng các mục tiêu định hướng chủ yếu của ngành và thực hiện các giải pháp trọng tâm sau:

(1) Bám sát định hướng tăng trưởng tín dụng của NHTW4 và chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của từng chi nhánh được Hội sở giao để kiểm soát tăng trưởng tín dụng của các chi nhánh TCTD trên địa bàn, đảm bảo tăng trưởng tín dụng đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các chương trình, chính sách tín dụng của Chính phủ, NHNN Việt Nam, nhất là đối với các lĩnh vực ưu tiên, tiếp tục triển khai hiệu quả chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, kịp thời nắm bắt, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp; có các giải pháp tín dụng đáp ứng nhu cầu hợp pháp của người dân, góp phần hạn chế tín dụng đen; đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro Phối hợp với các Sở, ban ngành liên quan để kịp thời xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai các chương trình, chính sách tín dụng

(2) Chủ động nắm bắt tình hình kinh tế - xã hội và hoạt động ngân hàng trên địa bàn để báo cáo và tham mưu với Thành ủy, UBND thành phố và NHNN Việt Nam về biện pháp quản lý hoạt động, mạng lưới TCTD,

bổ sung, sửa đổi các cơ chế, chính sách cho phù hợp với điều kiện thực tiễn

(3) Chỉ đạo các CN TCTD tiếp tục triển khai các giải pháp xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 và thực hiện phương án cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 – 2020; chỉ đạo các TCTD có nợ xấu cao cần chủ động xây dựng phương án, kế hoạch xử lý nợ xấu, có giải pháp ngăn chặn nợ xấu phát sinh, rà soát việc phân loại nợ, đảm bảo phản ánh đúng chất lượng khoản vay, trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ theo quy định

(4) Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát các TCTD trên địa bàn trong việc chấp hành quy định của pháp luật, của NHNN về tiền tệ và hoạt động ngân hàng đặc biệt là các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao; tham gia công tác kiểm tra liên ngành, kết hợp tuyên truyền các quy định của pháp luật về hoạt động ngoại hối và kinh doanh vàng, hoạt động thanh toán, trung gian thanh toán, kiến thức về hoạt động thanh toán trên địa bàn thành phố, góp phần nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân nhất là các cơ sở thường xuyên phục vụ khách nước ngoài, giảm thiểu tình trạng vi phạm

(5) Thực hiện quản lý thị trường vàng và ngoại tệ trên địa bàn; tiếp tục rà soát, kiểm tra các đại lý thu đổi ngoại tệ được phép trên địa bàn, bảo đảm công khai minh bạch trong việc đổi ngoại tệ theo quy định hiện hành để người dân dễ dàng nhận biết, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quản

lý ngoại hối để người dân biết và thực hiện

(6) Chủ động tham mưu với UBND thành phố tích cực phối hợp với các Sở, ban, ngành liên quan tiếp tục thúc đẩy phát triển TTKDTM trên địa bàn, đặc biệt là triển khai Đề án “Nâng cao nhận thức và phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn TP Đà Nẵng” nhằm đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với các dịch vụ công như thuế, điện, nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội theo Quyết định số 241/QĐ-TTg của Chính phủ Tăng cường an ninh, bảo mật trong hoạt động thanh toán đảm bảo an toàn và hiệu quả

4 Theo Chỉ thị 01/CT-NHNN, định hướng tín dụng năm 2020 tăng khoảng 14%

Trang 25

(7) Triển khai, chỉ đạo các TCTD về lĩnh vực thanh toán; tổ chức thanh tra, kiểm tra các hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán trên địa bàn; triển khai các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và xử lý kịp thời các hoạt động thanh toán vi phạm pháp luật

(8) Đầu mối gắn kết chặt chẽ với các TCTD trên địa bàn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của ngành ngân hàng ở địa phương, đẩy mạnh triển khai chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp; chủ trì tổ chức làm việc với TCTD để kịp thời phổ biến các chương trình, chính sách tín dụng của ngành ngân hàng, giải quyết các khó khăn, vướng mắc về hoạt động tiền tệ - ngân hàng; chú trọng công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định

(9) Tích cực đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, thủ tục hành chính trong lĩnh vực ngân hàng nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong giao dịch với ngân hàng, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy doanh nghiệp nói chung và TCTD nói riêng phát triển bền vững Phối hợp với UBND khẩn trương hoàn thiện nâng cấp hệ thống một cửa điện tử, cổng dịch vụ công trực tuyến theo chỉ đạo của Chính phủ, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác chỉ đạo và điều hành

(10) Triển khai thực hiện tốt công tác thông tin truyền thông, phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí để chủ động phổ biến các chủ trương chính sách của ngành đến với công chúng một cách thiết thực, hiệu quả

Những thành quả đạt được trong thời gian qua là nỗ lực rất lớn của ngành Ngân hàng thành phố Đà Nẵng, theo đó gắn hoạt động kinh doanh ngân hàng với việc thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Đồng thời với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng trên địa bàn, Chi nhánh NHNN TP Đà Nẵng đã thực hiện nhiều biện pháp quản lý chủ động, bám sát mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam đã góp phần đưa các cơ chế chính sách của ngành đi vào thực tiễn, không ngừng tham mưu và nâng cao năng lực thể chế cho toàn ngành Ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD, người dân và doanh nghiệp hòa nhịp, quán triệt phương châm hành động của Chính phủ năm

2020 “Kỹ cương, liêm chính, hành động, trách nhiệm, sáng tạo, hiệu quả” góp phần kết thúc thành công kế

hoạch kinh tế 5 năm 2016 - 2020, rút ra các bài học kinh nghiệm tạo động lực mạnh mẽ cho chu kỳ phát triển kinh tế của Thành phố và khu vực miền Trung giai đoạn 2020 – 2025 phát triển lên tầm cao mới./

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Báo cáo tổng kết hoạt động ngân hàng TP Đà Nẵng năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019

[2] Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 01/01/2020 về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2020

[3] Đề án “Nâng cao nhận thức và phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”

Trang 26

ĐÁNH GIÁ CƠ CHẾ PHÂN CẤP TRONG QUẢN TRỊ CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – KHẢO SÁT TỪ PHÍA CÁC CHI NHÁNH

Lâm Chí Dũng, Nguyễn Ngọc Anh, Hồ Hữu Tiến

Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

Nghiên cứu này tổng hợp các đánh giá có tính thực chứng từ phía các quản trị viên cấp Chi nhánh địa phương (CN) trực thuộc Hội sở chính của các NHTM về cơ chế phân cấp quản trị giữa Hội sở chính với các CN Phương pháp nghiên cứu định tính với kỹ thuật phỏng vấn sâu kết hợp thảo luận nhóm được cho

là thích hợp Các vấn đề được chú ý khảo sát bao gồm: Mô hình tổ chức hoạt động – quản lý chung của CN; mô hình phân quyền phán quyết tín dụng; mức độ chủ động của CN và mức độ hợp lý đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh xét trên góc độ toàn ngân hàng (NH) về cơ chế phân cấp trong quản trị tài chính;

cơ chế phân cấp quyết định về các vấn đề chủ yếu trong điều hành hoạt động kinh doanh NH Trên cơ sở

đó, rút ra các hàm ý nhằm làm cơ sở tham khảo cho việc điều chỉnh mô hình và cơ chế phân cấp của các NHTM trong thời gian tới

Từ khóa: Quản trị ngân hàng thương mại; phân cấp quản trị ngân hàng; phán quyết tín dụng; phân quyền

quản lý tài chính; phân quyền chính sách nhân sự và Marketing

- Giai đoạn 1: chuyển từ quá trình tập trung hóa cao trước đây sang quá trình giải/phi tập trung hóa, theo

đó, phân quyền tự chủ nhiều hơn cho các CN

- Giai đoạn 2: xu hướng tập trung hóa ngày càng cao hơn trên nền tảng ứng dụng tiến bộ có tính cách

mạng của công nghệ thông tin Xu hướng này sẽ vẫn là xu hướng chủ đạo trong tương lai

Quá trình triển khai trong thời gian qua đã cho phép đánh giá về sự phù hợp của các mô hình phân cấp

cụ thể, từ đó có được cơ sở khoa học và thực tiễn cho các quyết định điều chỉnh nhằm tối ưu hóa mô hình Tuy nhiên, việc đánh giá của một cá nhân cụ thể không hoàn toàn độc lập với góc nhìn chủ quan của cá nhân đó

Do đó mà phương pháp luận tiếp cận ở đây là cần xem xét các đánh giá theo từng đối tượng khác nhau, nhất

là phân biệt giữa những quản trị viên toàn hệ thống và quản trị viên cấp CN

Khái niệm phân cấp trong nghiên cứu này bao hàm cả vấn đề phân quyền quản trị giữa hệ thống quản trị toàn NH với bộ phận quản trị từng CN và chỉ xét riêng đối với hoạt động NH theo Luật TCTD [9] Đây là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với hoạt động quản trị NHTM do những đặc điểm có tính đặc thù cao của hoạt động kinh doanh NH Mặt khác, do trình độ phát triển chung cũng như trình độ phát triển của hệ thống NH của từng nước khác nhau cho nên cần có những nghiên cứu phù hợp với những đặc thù của môi trường kinh doanh của nước ta Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có được những nghiên cứu tập trung vào chủ

đề này ở Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung khảo sát các đánh giá từ phía các quản trị viên cấp CN nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu chủ yếu sau: (i) Các loại mô hình phân cấp phổ biến, trong đó có mô hình phân cấp phán quyết tín dụng giữa Hội sở chính và CN như thế nào? (ii) Đánh giá của các quản trị viên CN về mức độ tự chủ của

CN, và mức độ phù hợp của cơ chế phân cấp hiện hành đối với các mục tiêu chung của hoạt động kinh doanh

NH như thế nào? (iii) Các hàm ý có thể rút ra từ các đánh giá đó?

Trang 27

2 Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu

Dù có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử, tuy nhiên tư tưởng về phân quyền chỉ trở thành một lý thuyết toàn diện trong thời kỳ Khai sáng Người khai sinh ra lý thuyết này là triết gia người Anh, John Locke (1632-1704) Nhưng người có công thực sự phát triển lý thuyết về phân quyền là nhà luật học người Pháp S Montesquieu (1689-1755) S Montesquieu đã phát triển thuyết phân quyền thành một thuyết độc lập với mục đích tạo dựng thể chế chính trị đảm bảo tự do công dân [3] Theo đó, tập quyền, tán quyền, ủy quyền, phân quyền, phân cấp

là những hình thức khác nhau của phân định thẩm quyền

Trong quản lý nhà nước, có những cách hiểu không hoàn toàn thống nhất về các phạm trù này, nhưng phần nhiều các nhà nghiên cứu quan niệm [10]: tập quyền là cơ chế, phương thức quản lý tập trung cao độ; việc giải quyết mọi vấn đề của nhà nước đều tập trung vào chính quyền trung ương Tản quyền về bản chất cũng là một hình thức biểu hiện của tập quyền, song trong cơ chế này chính quyền trung ương đặt đại diện của mình tại các địa phương để giải quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của trung ương Ủy quyền là việc

cơ quan cấp trên giao cho cơ quan cấp dưới quyền giải quyết những việc cụ thể, gắn với những điều kiện nhất định Phân quyền được hiểu trên 2 phương diện: phân quyền theo chiều ngang và phân quyền theo chiều dọc Phân quyền theo chiều ngang là sự phân công chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước cùng cấp; còn phân quyền theo chiều dọc là sự phân định quyền hạn, nhiệm vụ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương Về nội hàm, phân cấp và phân quyền theo chiều dọc có sự tương đồng Phân cấp được hiểu là sự phân định quyền lực giữa các cấp chính quyền theo các lĩnh vực xác định

Vấn đề phân cấp, phân quyền trong quản trị doanh nghiệp cũng được hiểu khá tương đồng như trong

quản lý nhà nước Theo đó, “phân cấp là sự phân chia quyền quản trị trong doanh nghiệp (cấp trên- cấp

dưới); còn phân quyền trong quản trị là quyền hành trong quản trị doanh nghiệp, là năng lực quyết định chỉ huy với cấp dưới một cách hợp pháp và chính đáng” [12]

Với phạm vi quản trị doanh nghiệp, phân cấp là sự phân chia quyền quản trị giữa các cấp quản trị trong doanh nghiệp: quản trị cấp cao, quản trị trung gian và quản trị cấp thấp, gắn liền với sự phân định quyền hạn, nhiệm vụ của từng cấp, từng bộ phận trong doanh nghiệp Vì vậy, 2 phạm trù phân cấp và phân quyền trong quản trị doanh nghiệp thường được sử dụng đi kèm như một phạm trù đồng nhất

Nhìn chung có 3 mô hình phân quyền trong quản trị doanh nghiệp: mô hình phân quyền tập trung, mô hình phân quyền đơn lẻ và mô hình phân quyền toàn diện Nếu hình dung tổ chức doanh nghiệp thành ba cấp theo thứ tự giảm dần về quyền lực gồm Lãnh đạo – Quản lý – Nhân viên thì trong mô hình phân quyền tập trung, quyền hành tập trung chủ yếu vào cấp lãnh đạo, cấp lãnh đạo phân công và san sẻ một phần cho cấp quản lý, còn nhân viên cấp cuối không có bất cứ quyền gì Với mô hình phân quyền đơn lẻ, người lãnh đạo lại

có xu hướng trực tiếp phân quyền cho nhân viên cấp cuối không qua cấp quản lý Còn trong mô hình phân cấp toàn diện, cấp nào cũng được phân quyền, tất nhiên là theo trình tự từ cấp cao xuống cấp thấp Mỗi mô hình đều có những ưu nhược riêng và được vận dụng với mức độ khác nhau theo điều kiện của mỗi doanh nghiệp NHTM là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tài chính, nhất là trong bối cảnh NH kinh doanh đa năng - kinh doanh tổng hợp song kết hợp kinh doanh chuyên môn hóa trong từng lĩnh vực chuyên biệt- có các đặc điểm vốn có: thị trường rộng khắp về mặt địa lý, quy mô kinh doanh lớn, lĩnh vực và sản phẩm kinh doanh đa dạng, khách hàng rất đông đảo từ cá nhân đến pháp nhân hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, ngành nghề của đời sống kinh tế - xã hội; có khả năng đối mặt với nhiều rủi ro và khả năng rủi ro cao v.v…; nên NHTM không thể áp dụng phương thức One Man Show (OMS) hay TONO (The One And Only), mọi quyền hành đều tập trung vào chủ sở hữu; song cũng không thể phân quyền tối đa cho cấp dưới do không thể định hướng chiến lược thống nhất và không thể kiểm soát được rủi ro

Thực tế cho thấy có rất ít các nghiên cứu về vấn đề phân cấp phân quyền trong quản trị doanh nghiệp nói chung và trong quản trị NHTM nói riêng Ở Việt Nam, chủ đề phân cấp phân quyền trong quản trị NHTM chưa được giới nghiên cứu quan tâm

Về mặt pháp lý, ngày 16 tháng 07 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số

59/2009/NĐ-CP về “Tổ chức và hoạt động của NHTM” [2], trong đó quy định các chức danh lãnh đạo cấp cao: hội đồng

Trang 28

quản trị hay hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc Điều 7 Của Nghị định này về “Cơ chế ủy quyền, phân công nội bộ”, quy định: “NH phải xây dựng cơ chế ủy quyền, phân công trong nội bộ Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc phù hợp với các quy định tại Nghị định này và các quy định khác của pháp luật để đảm bảo việc quản trị, điều hành NH được an toàn, hiệu quả và thông suốt” Sau đó không có bất kỳ thông tư hướng dẫn nào về vấn đề này Dù Nghị định này căn cứ vào Luật doanh nghiệp 2005 và Luật các Tổ chức tín dụng 1997, đến nay 2 Bộ Luật này đã được thay thế nhưng Nghị định này vẫn là nghị định hiện hành về vấn đề này

Song đây đó trong các văn bản pháp lý được ban hành bởi NH Nhà nước Việt Nam về một số vấn đề hoạt động của NHTM, nhất là sau khi NHNN triển khai thực hiện Hiệp ước vốn Basel II, đặc biệt trong vấn

đề quản trị rủi ro của NHTM; thấp thoáng các quy định về tổ chức phân cấp phân quyền trong một số lĩnh vực Chẳng hạn, Điều 5 của TT 13/2018-NHNN [7] quy định: Hệ thống kiểm soát nội bộ của NHTM phải có 3 tuyến bảo vệ độc lập: (i) tuyến thứ nhất có chức năng nhận dạng, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro, do các bộ phận kinh doanh, bộ phận có chức năng phân bổ hạn mức rủi ro, kiểm soát rủi ro, giảm thiểu rủi ro, bộ phận nhân sự, bộ phận kế toán, thực hiện; (ii) tuyến bảo vệ thứ hai có chức năng xây dựng chính sách quản lý rủi

ro, quy định nội bộ về quản trị rủi ro, đo lường, theo dõi rủi ro và tuân thủ quy định pháp luật do các bộ phận tuân thủ, bộ phận quản lý rủi ro, thực hiện; (iii) tuyến bảo vệ thứ ba có chức năng kiểm toán nội bộ do bộ phận kiểm toán nội bộ thực hiện Cũng trong Thông tư này, Điều 16 - Hoạt động kiểm soát đối với hoạt động cấp tín dụng, Mục 2 quy định nguyên tắc: cá nhân, bộ phận có chức năng thẩm định tín dụng độc lập với cá nhân,

bộ phận có chức năng quan hệ khách hàng, thẩm định lại, phê duyệt quyết định cấp tín dụng; kiểm soát hạn mức rủi ro tín dụng, quản lý khoản cấp tín dụng có vấn đề, trích lập dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng để

xử lý rủi ro tín dụng Trong Thông tư TT 44/2011-NHNN [6], Điều 4 Mục 3: “Phân cấp ủy quyền phải được thiết lập, thực hiện hợp lý, cụ thể, rõ ràng, tránh xung đột lợi ích; bảo đảm một cán bộ không đảm nhiệm cùng một lúc những cương vị, nhiệm vụ có mục đích, quyền lợi mâu thuẫn hoặc chồng chéo với nhau; đảm bảo mọi cán bộ trong tổ chức tín dụng, chi nhánh NH nước ngoài không có điều kiện để thao túng hoạt động, không minh bạch thông tin phục vụ cho mục đích cá nhân hoặc che giấu hành vi vi phạm quy định của pháp luật và quy định nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh NH nước ngoài”; Điều 12 Mục 1: “Kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng được tổ chức thành hệ thống thống nhất theo ngành dọc hoặc tổ chức bộ phận kiểm toán nội bộ tại hội sở chính tùy theo quy mô, mức độ, phạm vi và đặc thù hoạt động của tổ chức tín dụng Kiểm toán nội

bộ trực thuộc Ban kiểm soát và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Kiểm soát” v.v… Những quy định pháp lý này bắt buộc các NHTM phải cơ cấu lại tổ chức, thực hiện lại vấn đề phân cấp phân quyền trong một số lĩnh vực, hoạt động

Trần Vinh Quang (2010) cho rằng quy trình ra quyết định, phân cấp phân quyền trong NHTM còn có nhiều bất cập, do mô hình tổ chức quản lý NH theo 2 cấp: hội sở chính và chi nhánh Đặc biệt ở các NH quy

mô lớn NH phân chia quản lý theo địa giới hành chính; thay vì theo thị trường, theo nhóm khách hàng và theo loại hình dịch vụ Vì vậy, Hội đồng quản trị và Ban điều hành NH không thể bao quát, tập trung mọi nguồn lực cho mục tiêu chiến lược Tình trạng này bước đầu đã dần được khắc phục ở một số NH song vẫn còn tồn tại ở khá nhiều NHTM Việt Nam hiện nay

Về vấn đề quản trị rủi ro trong kinh doanh NH, đã có một số nghiên cứu về mô hình quản trị rủi ro tập trung Đinh Nguyễn Bảo Anh (2017) cho rằng: mô hình quản trị rủi ro tập trung có 2 đặc điểm chính: (i) thiết lập bộ phận quản trị rủi ro ở cấp lãnh đạo hội sở chính, (ii) tổ chức trên nguyên tắc tách biệt rõ ràng giữa 3 chức năng: chức năng kinh doanh, chức năng quản trị rủi ro, chức năng tác nghiệp Theo đó, mô hình quản lý rủi ro tín dụng tập trung của NH thường được tổ chức theo hướng: (1) Tại Hội sở chính tách bạch chức năng

ra quyết định tín dụng với chức năng quản trị tín dụng trên cơ sở phân định trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận: bộ phận thẩm định, phê duyệt tín dụng, quản lý tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng; (2) Tại chi nhánh để hạn chế rủi ro, phải tiến hành tách biệt giữa các bộ phận: bộ phận bán hàng, bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận tác nghiệp; (3) Xây dựng hệ thống thông tin tập trung tại hội sở chính Tất cả các bộ phận và cán bộ có thẩm quyền sẽ có đầy đủ thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định

Trang 29

Trong nghiên cứu của mình (2014), Trần Thị Minh Trang đã nhắc lại khuyến nghị trong “Các quy tắc quản trị rủi ro hoạt động lành mạnh” do NH Thanh toán quốc tế ban hành vào tháng 2/2012 rằng: NH nên xây dựng mô hình quản trị rủi ro hoạt động theo mô hình ba tuyến phòng vệ: (i) quản trị các dòng sản phẩm, (ii) quản trị rủi ro hoạt động độc lập, (iii) kiểm toán nội bộ Tuyến thứ nhất có sự tham gia của tất cả các bộ phận kinh doanh trực tiếp phat sinh rủi ro hoạt động, tuyến thứ hai với sự tham gia của bộ phận quản trị rủi ro hoạt động và tuyến thứ ba được thực hiện với bộ phận kiểm toán nội bộ

Cũng có một số nghiên cứu về quản trị nhân sự trong lĩnh vực kinh doanh NH, song phần nhiều chỉ ở phạm vi chi nhánh Chẳng hạn, Nguyễn Thị Hằng Nga và Đỗ Thị Thanh Vinh (2012) sử dụng mô hình dòng nhân lực của Jinlou Si (2007) với số lượng mẫu 150, bằng thang đo Likert 5 mức nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động nhân sự từ năm 2007 đến 2011 tại Eximbank - Chi nhánh Nha Trang; từ đó đề xuất 6 khuyến nghị để có thể quản trị nhân sự hiệu quả tại Chi nhánh: cải thiện môi trường làm việc; chú trọng công tác hoạch định, đào tạo và phát triển nhân lực; cam kết bằng văn bản; ý thức và nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài đến sự biến động nhân sự của tổ chức; hoàn thiện hệ thống thông tin quản trị nhân sự; phân công và phối hợp trong công tác quản trị dòng nhân lực Song dễ nhận thấy không thể định hướng chiến lược nhân sự ở cấp chi nhánh NH Quyền hạn của chi nhánh trong vấn đề tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng, đãi ngộ, khen thưởng và kỷ luật, luân chuyển, đề bạt, sa thải v.v… đối với nhân sự dù ở cấp thấp nhất, được hội sở chính phân cấp rất ít; dẫu rằng chính chi nhánh là người trực tiếp sử dụng nhân sự

Nhìn chung trong thời gian qua tại Việt Nam chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về chủ đê phân cấp phân quyền trong quản trị NHTM, nhưng đã có một số nghiên cứu ít nhiều liên quan

3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này có các đặc điểm cơ bản:

- Đối tượng khảo sát chỉ có thể là những quản trị viên đang trực tiếp làm các công việc quản trị tại các

CN Mẫu nghiên cứu không thể rộng rãi được vì chỉ có các nhân sự này mới có thể có hiểu biết sâu và chịu tác động trực tiếp từ cơ chế phân cấp, ngược lại họ cũng là tác nhân tác động trực tiếp đến các đối tượng khác trong hệ thống thông qua cơ chế phân cấp đã được hoạch định

- Vấn đề nghiên cứu rất khó đo lường thông qua các biến định lượng Mặt khác, với quy mô mẫu nhỏ, nếu đo lường được các biến, kết quả khảo sát khi suy rộng cho các đặc điểm tổng thể cũng có ý nghĩa thống

Trang 30

Phương thức phỏng vấn được lựa chọn là phỏng vấn qua điện thoại, qua Email và phỏng vấn trực tiếp (một số trường hợp kết hợp thảo luận nhóm/ Focus Group với hình thức tổ chức linh hoạt) dưới 2 dạng: phỏng vấn phi cấu trúc (giai đoạn 1) và phỏng vấn với Bảng hỏi bán cấu trúc (giai đoạn 2) Bảng hỏi ngoài thông tin chung gồm có 05 câu hỏi mở và 04 câu hỏi đóng được thiết kế thang đo kiểu Likert

4 Kết quả nghiên cứu

4.1 Các mô hình tổ chức quản lý phổ biến của các NHTM Việt Nam hiện nay

Mô hình tổ chức hoạt động kinh doanh của các NHTM phù hợp với xu hướng kinh doanh đa năng và khuôn khổ pháp lý được quy định trong Luật Tổ chức tín dụng và các văn bản pháp lý liên quan Theo đó, một

số đặc điểm chính được ghi nhận qua khảo sát:

(1) Cơ cấu tổ chức hoạt động của NHTM được xây dựng theo mô hình công ty mẹ - công ty con

Theo đó, hoạt động kinh doanh của NHTM bao gồm các hoạt động được gọi là hoạt động NH và các

hoạt động khác Các hoạt động NH bao gồm: nhận tiền gửi; cấp tín dụng dưới các hình thức (trừ cho thuê tài

chính); cung ứng dịch vụ thanh toán NHTM đảm nhận hoạt động kinh doanh chủ yếu đóng vai trò như công

ty mẹ Các hoạt động khác như: Bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán; quản lý, phân phối chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán; quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và mua, bán cổ phiếu; Cho thuê tài chính; Bảo hiểm và một số hoạt động khác, NHTM phải thành lập hoặc mua lại Công ty con, Công ty liên kết [9] Trên thực tế, NHTM có vai trò hoạch định chiến lược phát triển và là hạt nhân của tập đoàn để liên kết, khống chế các công ty xung quanh bằng cách nắm giữ cổ phần, cho vay vốn và sắp xếp nhân sự Các công ty con là những pháp nhân độc lập, hoạt động tự chủ và tự chịu trách nhiệm, NH mẹ sở hữu toàn bộ hoặc một tỷ

lệ nhất định vốn cổ phần của công ty con, hay sử dụng vốn của mình để đầu tư góp vốn cổ phần, liên kết để hình thành công ty con hoặc công ty liên kết

(2) Đối với hoạt động NH, cơ cấu tổ chức hoạt động – quản lý phổ biến của NHTM được thực hiện theo

mô hình: Hội sở chính – CN – Phòng/điểm giao dịch

Theo mô hình này, tại Hội sở chính đã có sự tách bạch giữa 3 chức năng quản lý, điều hành và tác nghiệp; giữa các phòng ban thực hiện chức năng riêng biệt nhưng có sự phối hợp; từng lĩnh vực kinh doanh chuyên môn hẹp được giao cho một cá nhân phụ trách; chịu trách nhiệm và thường được hỗ trợ, tư vấn ra quyết định bởi các Ủy ban, Hội đồng:

- Cơ quan quản lý cao nhất của NH là Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị (HĐQT), có quyền hạn và nhiệm vụ ban hành các chính sách chiến lược phát triển của NH Bên cạnh Ban kiểm soát (thực thi chức năng kiểm soát/kiểm toán nội bộ) thường trực thuộc HĐQT, các NHTM đã bắt đầu bổ sung thêm Uỷ ban quản lý rủi ro (giúp HĐQT quản lý mọi rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh NH) và Hội đồng xử lý rủi ro (chịu trách nhiệm xem xét phân loại nhóm nợ, trích lập dự phòng, quyết định xử lý các khoản nợ xấu và các vấn đề liên quan khác)

- Chịu trách nhiệm điều hành hoạt động hàng ngày của NH là Ban Tổng giám đốc gồm có: Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc/Giám đốc phụ trách từng lĩnh vực kinh doanh chuyên sâu của NH (thường gọi các Khối) Tổng giám đốc là người phụ trách chung và các Giám đốc được gia tăng quyền hạn và là người chịu trách nhiệm chính về lĩnh vực mình phụ trách Bên cạnh đó, NH thành lập các Hội đồng trực thuộc Ban Tổng giám đốc như: Hội đồng Quản lý tài sản có & tài sản nợ (giám sát và quản lý tổng thể các hạng mục tài sản có và tài sản nợ nhằm tối đa hóa lợi nhuận, giảm thiểu tổn thất do biến động thị trường; quản lý rủi ro thanh khoản và điều hành lãi suất, tỷ giá hợp lý); Hội đồng tín dụng trung ương (xem xét phê duyệt GHTD/cấp tín dụng đối với khách hàng theo phân cấp và đề xuất lên HĐQT các khoản vay vượt quy định)

- Bộ máy tham mưu, giúp việc tại trụ sở chính được tổ chức tùy thuộc vào cơ cấu tổ chức quản trị của

NH Tuy nhiên, nhiều NH thực hiện tái cấu trúc theo hướng tổ chức lại mảng kinh doanh theo mô hình gồm các khối: khối NH bán buôn (khách hàng doanh nghiệp); khối bán lẻ và mạng lưới (khách hàng cá nhân); khối quản lý và kinh doanh vốn; khối quản lý rủi ro; khối tác nghiệp; khối tài chính - kế toán và khối hỗ trợ Tương ứng với mỗi khối thường là một Phó tổng giám đốc/Giám đốc chịu trách nhiệm phụ trách quản lý

Trang 31

(3) Cơ cấu tổ chức hoạt động tại các đơn vị kinh doanh trực thuộc Hội sở chính như Sở giao dịch, các

CN trong và ngoài nước thay đổi theo hướng tinh gọn nhân sự ở các phòng ban chức năng tham mưu, hành chính, tăng nhân sự cho các bộ phận trực tiếp kinh doanh, bán hàng

Hiện có 2 mô hình tổ chức tại CN của NHTM như sau:

– Mô hình 1: các CN ngân hàng với tương đối đầy đủ các phòng ban chức năng như tại Hội sở chính và

hệ thống Phòng, điểm giao dịch, theo đó, điều hành CN do Ban giám đốc CN đảm nhận (gồm giám đốc và các phó giám đốc, mỗi phó giám đốc phụ trách 1 lĩnh vực hẹp) CN nhận các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận, huy động, dự nơ, chi phí hoạt động,… và giao lại cho từng bộ phận, phòng giao dịch, cá nhân trong CN và tùy kết quả kinh doanh và mức độ đạt đựơc của CN về các chỉ tiêu được giao mà lương, thưởng và chi phí hoạt động

sẽ được quyết toán cho từng CN vào cuối năm CN cũng căn cứ vào kết quả hoàn thành của từng bộ phận, phòng giao dịch, cá nhân mà chi trả lương thưởng Mô hình này thường được áp dụng ở nhóm NHTM lớn trong nước như Vietcombank, BIDV, Vietinbank,… Trong thời gian gần đây, các NH này thường thành lập

nhiều CN trên địa bàn (trước đây, mỗi tỉnh thành chỉ có 1 CN duy nhất)

– Mô hình 2: đây là mô hình tổ chức của một số NHTM cổ phần Các NH này đã thực hiện tái cấu trúc

cơ cấu tổ chức hoạt động – quản lý trong thời gian gần đây như VPbank, Techcombank,…Theo mô hình này, thường có nhiều cấp CN trực thuộc HSC khác nhau trên một địa bàn Các CN nhỏ chỉ được tổ chức thành 2 khối: khối kinh doanh bán lẻ và khối vận hành, các CN lớn thường có thêm khối doanh nghiệp Mỗi một khối được giao cho một cá nhân phụ trách, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của giám đốc khối tại hội sở chính, giám đốc

CN cũng chỉ phụ trách một lĩnh vực (khối kinh doanh bán lẻ hay khối doanh nghiệp) và trực tiếp thực hiện hoạt động bán hàng, các phòng giao dịch trực thuộc CN rất ít Các hoạt động hỗ trợ cho hoạt động bán hàng được thực hiện tập trung tại hội sở chính nên các phòng ban chức năng như tổ chức hành chính, nhân sự,…, thường không xuất hiện ở tất cả CN Trên mỗi địa bàn, thường có một CN lớn được chỉ định để thay các CN nhỏ tiếp nhận các hoạt động hỗ trợ từ hội sở chính, thực hiện hoạt động đối ngoại tại địa bàn và báo cáo số liệu của tất cả CN trên địa bàn cho NH Nhà nước tỉnh

4.2 Đánh giá của các quản trị viên cấp CN đối với cơ chế phân cấp quản trị giữa Hội sở chính và CN

(1) Về kiểu mô hình tổ chức chung của NH

Kiểu mô hình tổ chức chung hay cũng có thể coi là mô hình tổ chức kênh phân phối Kiểu mô hình tổ chức của Ngân hàng nơi người được phỏng vấn (đáp viên) đảm nhận công việc quản lý: đại đa số tổ chức theo

mô hình 3 cấp: HSC – CN – Phòng Giao dịch chiếm 97,6% đối tượng đáp viên Khi được đề nghị đánh giá (theo thang Likert 5 mức) về việc mô hình nói trên có đáp ứng được yêu cầu kinh doanh của CN/Phòng giao dịch hay không 46,7% cho rằng rất phù hợp; 28,9% trả lời phù hợp và 24,4% lựa chọn đánh giá ở mức trung dung Nói chung, không có nhận xét tiêu cực (Mức 1= Mức 2 =0%)

Bảng 1: Kiểu Mô hình tổ chức chung

(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của nhóm tác giả)

(2) Về mô hình phân cấp phán quyết tín dụng:

Qua khảo sát cho thấy: Có hai mô hình phân cấp phán quyết tín dụng đang được các NHTM Việt Nam

áp dụng:

- Mô hình phân quyền phán quyết: Theo mô hình này, các cấp CN hoặc Phòng giao dịch đều được phân quyền về mức độ phán quyết tín dụng theo hạn mức dư nợ Khi có những hợp đồng tín dụng vượt hạn mức sẽ

Trang 32

thuộc quyền phán quyết của cấp trên Chính sách về hạn mức phán quyết được xây dựng tùy thuộc vào từng

NH và tùy thuộc đối tượng vay vốn, loại hình vay/sản phẩm Đây là mô hình phổ biến, được hầu hết các NH

áp dụng

- Mô hình tập trung phán quyết: Theo mô hình này, mặc dù trên thực tế, một số khoản vay bán lẻ có quy

mô nhỏ, các đơn vị cơ sở vẫn được quyền phán quyết nhưng về cơ bản, mức phán quyết quá nhỏ không đáng

kể nên đa số đáp viên trong trường hợp này vẫn xếp vào mô hình tập trung phán quyết, nghĩa là phán quyết tín dụng chủ yếu được tập trung ở HSC (hai Trung tâm miền Bắc và miền Nam đối với khoản tín dụng thông thường, chuyển lên Ủy ban tín dụng đối các khoản tín dụng đặc biệt) Mô hình này chỉ mới được một số NHTM triển khai gần đây (sau khủng hoảng 2008) như VPBank, Techcombank, ACB,…

Đánh giá về cơ chế phân quyền phán quyết tín dụng hiện hành đáp ứng được yêu cầu của hoạt động kinh doanh ở mức độ nào, 86,7% đáp viên nhận xét tích cực (mức 4 và mức 5 theo thang đo Likert 5 mức), 13,3% đánh giá mức 3, không có đánh giá tiêu cực

(3) Đánh giá về mức độ chủ động của CN đối với các quyết định về chi phí và chi lương, thưởng; trích lập các quỹ:

Với thang đo Likert 5 mức (1=Hoàn toàn không chủ động, 2=Không chủ động, 3=Bình thường, 4=Chủ động, 5=Hoàn toàn chủ động), kết quả thu được từ phỏng vấn thể hiện bảng 2:

Bảng 2: Đánh giá mức độ chủ động về các quyết định tài chính

5 Chi phí đầu tư công cụ, dụng cụ, sửa chữa nhỏ 3 5 20 14 3 3,20

7 Trích lập các quỹ (khen thưởng, phúc lợi, ) 17 12 10 5 1 2,13

(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của nhóm tác giả)

Tổng quát, điểm trung bình nằm trong khoảng (từ 2 đến 3,3) nghĩa là về trung bình không có đánh giá

ở mức cực doan (hoàn toàn không chủ động hoặc hoàn toàn chủ động) nhưng các đánh giá tích cực chỉ trên mức điểm trung bình một ít (< 4) Theo đó, điểm trung bình về mức độ chủ động cao nhất là các quyết định

về chi phí lễ tân, khánh tiết; chăm sóc khách hàng; đầu tư công cụ, dụng cụ, sửa chữa nhỏ Các quyết định về trích lập quỹ có mức độ chủ động rất thấp theo đánh giá của các đáp viên, kế đó là các quyết định về đầu tư, sửa chữa lớn TSCĐ; chính sách chi lương thưởng

(4) Về mức độ hợp lý của các cơ chế phân cấp quản lý tài chính

Tuy nhiên, khi được đề nghị đánh giá về mức độ hợp lý của các cơ chế phân cấp quản lý tài chính về những vấn đề nói trên xét trên góc độ hiệu quả kinh doanh toàn NH (chứ không xét riêng từng CN), các đánh

giá nghiêng về xu hướng tích cực hơn Điểm đánh giá trung bình theo thang đo Likert 5 mức (1 = Hoàn toàn

không hợp lý, 2 = Không hợp lý, 3 = Bình thường, 4 = Hợp lý, 5 = Hoàn toàn hợp lý ) đều > 3

Bảng 3: Đánh giá mức độ hợp lý của cơ chế phân quyền quản lý tài chính

Trang 33

1 Cơ chế quản lý chi phí lễ tân, khánh tiết 2 8 18 10 7 3,27

2 Cơ chế quản lý chi phí truyền thông cổ động 0 5 22 14 4 3,38

3 Cơ chế quản lý chi phí chăm sóc khách hàng 2 10 17 11 5 3,16

5 Cơ chế quản lý chi phí đầu tư công cụ, dụng cụ,

sửa chữa nhỏ

7 Cơ chế trích lập các quỹ (k.thưởng, phúc lợi, ) 1 4 19 13 8 3,51

(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của nhóm tác giả)

Đối chiếu với kết quả khảo sát ở bảng 1, ghi nhận sự khác biệt trong mức độ đánh giá về tính tự chủ của

CN và mức độ hợp lý dưới góc nhìn toàn hệ thống Các chỉ tiêu có điểm đánh giá thấp về mức độ tự chủ như: vấn đề trích lập quỹ; chính sách lương, thưởng nhưng lại được đánh giá ở mức trên 3 về tính hợp lý xét ở góc

4 Chính sách về thăng tiến trong công tác nhân

(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của nhóm tác giả)

Kết quả khảo sát cho thấy: Cơ chế phân quyền tạo cho CN quyền chủ động nhất định Mức độ chủ động được các đáp viên đánh giá cao nhất là chính sách chăm sóc khách hàng, tiếp theo là chính sách về luân chuyển nhân sự và thăng tiến trong công tác Mức đánh giá thấp nhất thuộc về chính sách tuyển dụng nhân sự và chính sách lãi suất và phí có điểm bình quân bằng nhau và bằng 2,67 (dưới mức trung dung) Có đến 20% ý kiến đánh giá CN hoàn toàn không chủ động trong chính sách tuyển dụng nhân sự; 11,11% ý kiến đánh giá ở mức tương tự đối với chính sách lãi suất và phí

Trang 34

(6) Về mức độ hợp lý của các cơ chế phân quyền quyết định về chính sách nhân sự, chăm sóc khách hàng và Marketing đối với hoạt động kinh doanh chung của toàn NH

Với thang đo mức độ hợp lý Likert 5 mức (1 = Hoàn toàn không hợp lý, 2 = Không hợp lý, 3 =Bình thường, 4 = Hợp lý, 5 = Hoàn toàn hợp lý) Kết quả khảo sát thể hiện Bảng 5:

Bảng 5: Đánh giá mức độ hợp lý đối với hoạt động kinh doanh chung của toàn NH

4 Chính sách về thăng tiến trong công tác n sự 0 3 18 21 3 3,53

(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của nhóm tác giả)

Bảng tổng hợp kết quả khảo sát cho thấy một đánh giá tích cực hơn của các đối tượng khảo sát về tác động của cơ chế phân cấp quản lý đối với hiệu quả kinh doanh chung của NH Điểm trung bình của các mục đánh giá đều trên 3 Tuy nhiên, một điểm khá tương đồng với Bảng 4 là các mục có điểm bình quân đánh giá dưới 3 ở Bảng 4 có số lượt đánh giá tiêu cực khá cao Cụ thể:

- Chính sách tuyển dụng nhân sự: 17,8% đánh giá ở mức 1 và 2

- Chính sách lãi suất và phí: 20% đánh giá ở mức 1 và 2

- Chính sách xúc tiến Marketing (truyền thông, cổ động…): 15,6% đánh giá ở mức 1 và 2

(7) Về ý kiến đề xuất của người được khảo sát

Tổng hợp ý kiến về các đề xuất từ góc nhìn của người được khảo sát đối với vấn đề tăng quyền tự chủ (hoặc ngược lại) cho CN/ Phòng Giao dịch trực thuộc nhằm đáp ứng yêu cầu của hoạt động kinh doanh của CN/Phòng Giao dịch trực thuộc HSC cho thấy:

- Về mô hình tổ chức hoạt động - quản lý (chung) hiện tại: Không có ý kiến

- Một số ít ý kiến cho rằng ở NH mình, chưa phân cấp quản trị nhân sự và chi phí (tập trung hết ở Hội sở) mà chỉ mới thực hiện phân cấp hoạt động kinh doanh Cơ chế này hợp lý với quản lý nguồn lực đầu tư và con người thống nhất nhưng chưa có kinh phí chủ động cho CN hoạt động KD, gây cho CN những khó khăn

- Về mô hình phân quyền phán quyết tín dụng: 96,43% người được hỏi đều đề nghị tăng mức chủ động của CN, đồng nghĩa với việc phân quyền nhiều hơn Trong đó, đối với mức phán quyết tín dụng, không nên cào bằng mà phải dựa vào: lợi thế vùng miền, kết quả kinh doanh, quy mô, kinh nghiệm, lịch sử quản lý, chất lượng tín dụng để xác định cho từng đơn vị CN trực thuộc

- Về chính sách lãi suất và phí: đa số ý kiến đề nghị tăng mức chủ động cho CN để thuận tiện cho việc đàm phán hợp đồng với khách hàng

- Về chính sách nhân sự: nhiều ý kiến đề nghị tăng quyền chủ động nhiều hơn cho CN trong việc tuyển dụng, ký hợp đồng lao động Điều này nhằm tạo điều kiện cho CN có thể tuyển được các nhân sự phù hợp

Trang 35

hơn Một số ý kiến đề nghị kéo dài thời gian luân chuyển nhân sự quản lý nhằm tăng sự gắn kết giữa NH và khách hàng

- Về cơ chế quản lý chi phí và các quyết định tác nghiệp: nhiều ý kiến đề nghị trao quyền tự chủ nhiều hơn cho các CN về chi phí lễ tân, khánh tiết, đặc biệt là chi phí tiếp khách; truyền thông, quảng cáo; đầu tư sửa chữa nhỏ, tài sản nhỏ, thuê ngoài dịch vụ Mặt khác, cần mở rộng quyền chủ động đối với hoạt động khuyến mãi và ngân sách chăm sóc khách hàng vì tính đặc thù địa phương của những hoạt động này là rất cao Một số ý kiến đề nghị tăng định mức chi tiếp khách; xác định chi phí truyền thông, cổ động tỷ lệ với quy mô lợi nhuận đạt được

5 Hàm ý từ kết quả nghiên cứu

Nhìn chung mô hình tổ chức hoạt động – quản lý chung của các NH đều được đánh giá là phù hợp với thực tiễn hoạt động của từng NH với đặc điểm của môi trường hoạt động kinh doanh hiện tại của các NHTM Việt Nam Điều này không hàm nghĩa là mô hình như thế không thay đổi trong tương lai khi những tiến bộ có tính cách mạng của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin sẽ dẫn đến những thay đổi có tính bước ngoặt đối với mô hình tổ chức hoạt động – quản lý đi cùng với việc tái cấu trúc kênh phân phối dịch vụ của các NHTM

Cần tiếp cận vấn đề phân quyền phán quyết tín dụng dựa trên những nguyên tắc nhất quán, trong đó vấn

đề cần quan tâm nhất là hiệu quả của quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng Suy cho cùng, rủi ro là một loại chi phí, quản trị rủi ro là cân nhắc sự đánh đổi giữa chi phí – sinh lời Lựa chọn mức độ phân quyền phán quyết tín dụng cho cấp CN là một sự cân nhắc đánh đổi về các mặt: chi phí sản xuất thông tin ở cấp nào thấp hơn; làm thế nào để hạn chế khả năng phát sinh sự trục lợi trong các quyết định tín dụng dẫn đến hậu quả lựa chọn đối nghịch [4]; quyết định ở cấp nào thì có thể tạo thuận lợi cho hoạt động tín dụng Không có một đáp án chung và chi tiết cho tất cả các NH với các đặc điểm đa dạng Tuy nhiên, phù hợp với các lý thuyết về thông tin bất đối xứng; về tổ chức bộ máy quản trị, một mô hình phối hợp giữa tập trung và phân quyền phán quyết tín dụng là một lựa chọn nên được tiếp tục hoàn thiện Mặt khác, cần nghiên cứu về đề xuất gắn mức độ phân quyền cho từng CN với một số tiêu chí liên quan đến quy mô và chất lượng, hiệu quả kinh doanh, kinh nghiệm, lịch sử quản lý, đặc điểm thị trường mục tiêu của từng CN

Một số lĩnh vực quản trị cần tăng mức độ chủ động cho các CN như: chính sách lãi suất và phí; tuyển dụng nhân sự, chế tài trách nhiệm cá nhân và khen thưởng; chính sách xúc tiến Marketing (đặc biệt truyền thông, cổ động và khuyến mãi), chính sách chăm sóc khách hàng Động lực thúc đẩy tăng quyền chủ động cho các CN ở đây là hiệu quả thực tế của các quyết định trong các lĩnh vực này phụ thuộc rất nhiều vào các đặc điểm có tính đặc thù của từng địa bàn Những đặc điểm đặc thù này khó được cân nhắc tốt ở cấp ra quyết định quá xa các nguồn thông tin sơ cấp

Về cơ chế phân cấp quản trị chi phí, trong điều kiện các loại thị trường hàng hóa, dịch vụ đã phát triển tốt như hiện nay dẫn tới mức độ gia tăng cạnh tranh về giá cả, chất lượng thúc đẩy các yếu tố công khai, minh bạch Mặt khác, nhờ công nghệ thông tin mà các hoạt động hậu kiểm nói chung ngày càng hiệu quả, việc tăng quyền tự chủ cho các CN về chi phí là có cơ sở Tuy nhiên, đi kèm với điều đó là vấn đề gắn các định mức về chi phí với hiệu quả kinh doanh nói chung, với từng tiêu chí đặc thù của từng bộ phận nói riêng

Cơ chế luân chuyển cán bộ quản lý là một chủ trương được khá nhiều NH áp dụng Xét về phương diện thuần lý thuyết, điều này tạo nên động lực nâng cao hiệu quả quản trị của các nhân sự quản lý, thúc đẩy cạnh tranh, hạn chế các hiện tượng trục lợi dẫn đến làm lệch lạc các quyết định kinh doanh Tuy nhiên, nó có hai nhược điểm lớn:

- Thúc đẩy các nhân sự quản lý quan tâm đến các kết quả ngắn hạn mà không tạo động lực quan tâm đến các vấn đề dài hạn Đây là một thực tế rất đáng quan ngại trong hoạt động quản trị NH Nhiều hoạt động

NH tồn tại mâu thuẫn giữa lợi ích ngắn hạn và lợi ích dài hạn Một số hoạt động khác tạo ra mức sinh lời và tăng trưởng cao trong ngắn hạn nhưng lại tiềm ẩn rủi ro cao trong dài hạn Không có cơ chế nhận diện thích hợp và cơ chế ngăn ngừa những điều này sẽ rất nguy hại

Trang 36

- Bản chất cốt lõi của hoạt động quản trị tín dụng NH theo lý thuyết thông tin bất đối xứng là hoạt động tối thiểu hóa chi phí sản xuất thông tin nhằm khắc phục hai hậu quả của tình trạng thông tin bất đối xứng - lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức Trong đó, để tối thiểu hóa chi phí sản xuất thông tin cần đáp ứng 2 nguyên tắc cơ bản của quản trị tín dụng là chuyên môn hóa và quan hệ khách hàng lâu dài [4] Chuyên môn hóa nhằm tận dụng năng lực tích lũy thông tin của nhân sự quản lý qua thời gian trên những lĩnh vực, địa bàn nhất định Quan hệ khách hàng lâu dài cũng nhằm tận dụng thông tin tích lũy được từ các đối tượng khách hàng truyền thống Nhờ sự tích lũy thông tin mà có thể giảm thiểu chi phí sản xuất thông tin Sự luân chuyển cán bộ sẽ làm gián đoạn quan hệ, buộc nhân sự quản lý phải làm mới thông tin ở một thị trường mục tiêu mới và các khách hàng mới do đó gia tăng chi phí sản xuất thông tin, hoặc sẽ gia tăng chi phí rủi ro và rốt cục giảm hiệu quả kinh doanh của NH./

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Đinh Nguyễn Bảo Anh (2017), ‘Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tiên tiến tại các NHTM”, Tạp chí nghiên

cứu Tài chính kế toán, Số 06/2017, tr 46-48

[2] Chính phủ (2009), Nghị định 59/2009- CP về “Tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại” do

Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 16/07/2009

[3] Vũ Thúy Hiền (2017), “Phân biệt phân cấp với một số hình thức phân định thẩm quyền trong quản lý nhà nước ”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, Số 05/2017

[4] F.S Mishkin, 7th ed, “The Economics of Money, Banking and Financial Markets”, (2004)

[5] Nguyễn Thị Hằng Nga, Đỗ Thị Thanh Vinh (2014), “Quản trị có hiệu quả dòng nhân lực NHTMCP Xuất

nhập khẩu Việt Nam- Chi nhánh Nha Trang”, Tạp chí KHCN Thủy sản, Số 1/2014, tr 160-165

[6] Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Thông tư 44/2011- NHNN, “Quy định về Hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, Chi nhánh NH nước ngoài”

[7] Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Thông tư 13/2018- NHNN, “Quy định về Hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, Chi nhánh NH nước ngoài”

[8] Trần Vinh Quang (2010), “Quản trị NHTM: Những yêu cầu đổi mới”, Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế

toán, Số 03/2010, tr 44-46

[9] Quốc hội (2010), Luật Tổ chức tín dụng 2010

[10] Phạm Hồng Thái (2011), “Về phân quyền và phân cấp trong quản lý nhà nước: Một số khía cạnh lý luận – thực tiễn và pháp lý”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 27/2011, tr 1-9

[11] Trần Thị Minh Trang (2014), “Xây dựng khuôn khổ quản trị rủi ro hoạt động hiệu quả tại NHTM Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng, Số 5/2014, tr 14-18

[12] che-d601.html (ngày 02/01/2017)

Trang 37

https://doanhnhan.vn/phan-cap-phan-quyen-trong-quan-tri-doanh-nghiep-dam-bao-tinh-hop-ly-chat-PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DỊCH VỤ NGÂN HÀNG XANH

TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ 4.0

vụ ngân hàng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghệ lần thứ 4

Từ khóa: Phát triển, ngân hàng xanh, sản phẩm dịch vụ ngân hàng xanh, Cách mạng công nghệ, ngân

hàng thương mại

ABSTRACT

Nowadays, for countries in the world in general and Vietnam in particular, long-term sustainable economic development has become an essential demand However, sustainable development requires a balance between economic development and environmental protection Therefore, many countries in the world have chosen to develop green economy, in which "green banking" plays an important role The paper evaluates the current state of green banking development and green products and services of Vietnamese commercial banks From these assessments combined with the results of previous studies to make some recommendations for the finance and banking sector and the economy to develop green banking activities and their products and services in Vietnamese commercial banks in the context of the Fourth Technology Revolution

Keywords: development, green banking, green banking products and services, commercial banks

1 Phần mở đầu

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn biến ngày một phức tạp và khó lường, mục tiêu tăng trưởng

và phát triển của Việt Nam hiện nay không chỉ là tăng trưởng nhanh như các giai đoạn trước đây mà phát triển bền vững với tăng trưởng xanh Năm 2012 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1393/QĐ -TTg “Phê duyệt chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050” Với vai trò cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) những năm qua đã

có những bước khởi đầu và tích cực trong việc xây dựng chính sách triển khai ngân hàng xanh Năm 2015, NHNN ban hành Chỉ thị số 03/CT-NHNN về “Thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động cấp tín dụng” Đặc biệt, mới đây NHNN đã ban hành Quyết định số 1604/QĐ-NHNN về việc phê duyệt “Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam” nhằm “tăng cường nhận thức và trách nhiệm xã hội của hệ thống ngân hàng đối với việc bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, từng bước xanh hóa hoạt động ngân hàng, hướng dòng vốn tín dụng vào việc tài trợ dự án thân thiện với môi trường, thúc đẩy các ngành sản xuất, dịch vụ và tiêu dùng xanh, góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.”

Trang 38

Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh và có nhiều diễn biến khó lường, tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam Nhiều chuyên gia cho rằng, CMCN 4.0 sẽ tác động mạnh đến: (i) Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế; (ii) Tăng trưởng kinh tế; (iii) Mô hình kinh doanh; (iv) Thị trường lao động của nhiều quốc gia

Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với việc hoàn tất nhiều hiệp định thương mại tự do quy mô lớn thì việc chủ động chuẩn bị những nền tảng cần thiết để tiếp cận thành tựu công nghệ mới từ cuộc cách mạng này sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam nói chung và lĩnh vực tài chính, ngân hàng nói riêng tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đóng góp tích cực cho tăng trưởng của đất nước

Với sự phát triển mạnh mẽ và nhảy vọt, cuộc CMCN 4.0 không chỉ giúp cho hoạt động của hệ thống ngân hàng hiệu quả và tiết kiệm chi phí hơn mà còn hỗ trợ “xanh” hóa các hoạt động Mặc dù ngành Ngân hàng không phải là ngành được các chuyên gia đánh giá là lĩnh vực chịu ảnh hưởng mạnh nhất của cuộc CMCN 4.0 nhưng với đặc thù là một ngành mà việc hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin luôn được chú trọng

và ưu tiên hàng đầu thì cách thức hoạt động của nó sẽ dần dần làm thay đổi hoàn toàn cách thức giao tiếp với khách hàng cũng như kênh phân phối sản phẩm dịch vụ Điều này đòi hỏi hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam cần chủ động hơn nữa trong việc nghiên cứu học tập các mô hình ngân hàng xanh của các nước trên thế giới Từ đó, đề ra chiến lược phát triển ngân hàng xanh, trong đó cần đẩy mạnh triển khai các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng xanh mới đến công chúng

2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Ngân hàng xanh

Ngân hàng xanh là một khái niệm còn khá mới với nhiều nước trên thế giới đặc biệt là một nước đang phát triển như Việt Nam Đa số các công trình nghiên cứu đi tìm hiểu về các mô hình ngân hàng xanh trên thế giới và rút ra kinh nghiệm cho việc xây dựng và hình thành Ngân hàng xanh tại Việt Nam (Hồ Ngọc Tú và Nguyễn Mai Hảo, 2016) Nhìn chung, các đề tài đều thống nhất cách hiểu “Ngân hàng xanh” là một ngân hàng

mà hoạt động của nó thể hiện ở việc cung cấp các dịch vụ và sản phẩm thỏa mãn các tiêu chí đảm bảo trách nhiệm với môi trường, xã hội và đánh giá cao vai trò của việc phát triển hệ thống ngân hàng xanh tại Việt Nam (Nguyễn Hữu Huân, 2014) Khái niệm này có thể được hiểu theo hai khía cạnh như sau: (i) Ngân hàng là chủ thể trực tiếp thực hiện các hoạt động nhằm giảm thiểu các tác động đến môi trường như: đặt trụ sở chi nhánh hay phòng giao dịch tại các tòa nhà, văn phòng tiết kiệm tài nguyên năng lượng chẳng hạn như những tòa nhà tận dụng ánh sáng tự nhiên, sử dụng năng lượng mặt trời hay chính sách hạn chế sử dụng điều hòa Các ngân hàng xanh cũng sẽ chú trọng đến vấn đề giảm thiểu phát thải các bon và giảm thiểu sử dụng tài nguyên thiên nhiên như lắp ráp hệ thống máy ATM năng lượng mặt trời, đưa ra các chính sách khuyến khích khách hàng sử dụng các dịch vụ hiện đại, tự động hóa nhằm hạn chế lượng lớn giấy tờ sử dụng trong quá trình in ấn…; (ii) Ngân hàng là nhân tố tác động gián tiếp đến môi trường thông qua việc áp dụng tiêu chuẩn môi trường khi duyệt vốn vay (Trần Thị Thanh Tú và Trần Thị Hoàng Yến, 2016) hay tăng cường hỗ trợ các dự án thân thiện với môi trường như: nhà máy sử dụng khí đốt từ chất thải, nhà máy cung cấp năng lượng tái tạo và năng lượng mặt trời,…(Vũ Thị Kim Oanh, 2015)

2.1.2 Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng xanh tại các ngân hàng thương mại

Với việc ứng dụng ATM - Máy rút tiền tự động và sự thành công của nó đã khuyến khích các ngân hàng thương mại cho ra đời nhiều kênh giao dịch sáng tạo hơn để thay thế các phương thức giao dịch truyền thống như: ngân hàng điện tử qua internet, qua điện thoại di động, tiền điện tử, ví điện tử, các loại thẻ tín dụng, các quầy giao dịch cho phép thực hiện gửi rút tiền không dùng giấy,vv Theo Biswas (2011) và Bhardwaj & Malhotra (2013), để phát triển bền vững trong thời đại công nghệ đồng thời hướng tới cộng đồng với việc thực hiện trách nhiệm xã hội bảo vệ môi trường, các ngân hàng có thể phát triển các sản phẩm dịch vụ bền vững, các sản phẩm tài chính hướng đến thân thiện môi trường đột phá như:

Trang 39

 Ngân hàng điện tử (E-Banking)

Ngân hàng điện tử là một loại hình dịch vụ mà khách hàng có thể thực hiện các giao dịch với tài khoản ngân hàng hay kiểm tra thông tin thông qua Internet hoặc kết nối mạng viễn thông mà không phải trực tiếp tới quầy giao dịch (Ayo, C., Oni, A., Adewoye, O và Eweoya, I 2016) Các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử được sử dụng phổ biến hiện nay gồm:

- SMS Banking: là một dịch vụ thông báo về sự thay đổi của tài khoản ngân hàng như biến động số dư, chuyển khoản, thanh toán thông qua tin nhắn điện thoại di động SMS banking giúp khách hàng có thể biết được những thông tin tài khoản của mình trong một khoảng thời gian từ thời điểm truy vấn trở về trước

- Phone Banking: Là dịch vụ ngân hàng qua điện thoại giúp khách hàng thực hiện các giao dịch với ngân hàng thông qua số tổng đài của Trung tâm dịch vụ khách hàng

- Internet Banking: là kênh phân phối từ xa các dịch vụ ngân hàng, với máy tính kết nối Internet, khách hàng có thể thực hiện các dịch vụ của ngân hàng mọi lúc, mọi nơi (Yoon, H S., & Occeña, L 2014)

- Mobile Banking: là dịch vụ được thực hiện trên thiết bị di động bao gồm cả điện thoại và máy tính bảng có tính năng truy cập internet Dịch vụ Mobile Banking được mã hóa bằng một phần mềm, sau khi cài đặt vào điện thoại di động hoặc máy tính bảng thì mới có thể thực hiện được (Alampay & Moshi, 2018) Bên cạnh bốn loại hình giao dịch chính được ngân hàng ưu tiên cung cấp và phát triển trên, ngân hàng còn cung cấp một số loại dịch vụ ngân hàng điện tử khác như: Call Center/Contact center, Mail Banking, WAP Banking, Fax Banking Tuy nhiên, hiện nay, dịch vụ Internet Banking và Mobile Banking là hai dịch vụ đang được phổ biến và ưa chuộng hơn cả nhờ tính tiện ích và gần gũi với người dùng Trong đó, Internet Banking

là một dịch vụ được cung ứng khá sớm ở các nước trên thế giới Năm 1980 dịch vụ này được cung ứng lần đầu tiên bởi một ngân hàng ở Scotland (Tait, Fand Davis, 1989) Tuy nhiên dịch vụ này chính thức được cung ứng bởi các ngân hàng vào năm 1990 (Daniel et al, 1998) và đang ngày càng mở rộng và phát triển

Ngân hàng điện tử là loại hình ngân hàng giúp cắt giảm được lượng giấy, năng lượng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trong quá trình sử dụng Các hóa đơn như điện thoại, truyền hình cáp, dịch vụ, thẻ tín dụng đều có thể thực hiện từ xa thông qua kết nối Internet từ máy vi tính hoặc điện thoại thông minh (Scardovi, 2017)

 Tín dụng xanh

Ngân hàng là nhân tố tác động gián tiếp đến môi trường thông qua việc áp dụng tiêu chuẩn môi trường khi duyệt vốn vay (Trần Thị Thanh Tú và Trần Thị Hoàng Yến, 2016) hay triển khai xây dựng chương trình, chính sách tín dụng xanh, tăng cường hỗ trợ các dự án thân thiện với môi trường như: nhà máy sử dụng khí đốt từ chất thải, nhà máy cung cấp năng lượng tái tạo và năng lượng mặt trời

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 40

3 Thực trạng và tiềm năng phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Năm 2012 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1393/QĐ -TTg phê duyệt “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh” NHNN được giao nhiệm vụ xây dựng kế hoạch hành động thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh của ngành Ngân hàng Năm 2014, NHNN được giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ số 37: “Hoàn thiện thể chế và tăng cường năng lực hoạt động tài chính - tín dụng của các NHTM phục vụ tăng trưởng xanh” Tiếp đó, năm 2016, điểm nhấn đáng lưu ý là cam kết INDC của Việt Nam và Quyết định số 2053/QĐ-TTg phê duyệt “Kế hoạch hành động thực thi Hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu” NHNN được giao phối hợp với các bộ, ngành thực hiện nhiệm vụ số 47 tại Quyết định 2053: “Đẩy nhanh việc áp dụng các công cụ tài chính như chương trình tín dụng xanh, trái phiếu xanh, quỹ đầu tư xanh và theo đó có bộ tiêu chí về dự án xanh”

Năm 2015, NHNN ban hành Chỉ thị số 03/CT-NHNN về “thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản

lý rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động cấp tín dụng” Cùng với đó ban hành Quyết định số NHNN ban hành “Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020” NHNN cũng đã hợp tác với IFC xây dựng “bộ hướng dẫn quản lý rủi ro môi trường và

1552/QĐ-xã hội cho các TCTD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài”

Đặc biệt, mới đây NHNN đã ban hành Quyết định số 1604/QĐ-NHNN về việc phê duyệt “Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam” Theo đề án này, phấn đấu đến năm 2025, 100% ngân hàng xây dựng được

“quy định nội bộ về quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng”; 100% các ngân hàng thực hiện đánh giá rủi ro môi trường xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường cho các dự án được ngân hàng cấp vốn vay; kết hợp đánh giá rủi ro môi trường như một phần trong đánh giá rủi ro tín dụng của ngân hàng Ít nhất 10-12 ngân hàng có đơn vị/bộ phận chuyên trách về quản lý rủi ro môi trường và xã hội; 60% ngân hàng tiếp cận được nguồn vốn xanh và triển khai cho vay các dự án tín dụng xanh

3.1 Tín dụng xanh

Như vậy, khuôn khổ cho tài chính xanh ở Việt Nam đang dần hình thành và hệ thống tài chính đã có những tham gia tích cực vào chiến dịch xanh hóa nền kinh tế Khảo sát về áp dụng “tín dụng xanh” trong ngành ngân hàng của NHNN cho thấy có 19 TCTD xây dựng chiến lược quản lý rủi ro môi trường xã hội, trong đó

có 13 TCTD tích hợp nội dung quản lý rủi ro môi trường xã hội vào quy trình hoạt động “tín dụng xanh”, 10 TCTD đã xây dựng được sản phẩm tín dụng ngân hàng cho “tín dụng xanh”, 17 TCTD đã sử dụng sổ tay đánh giá rủi ro môi trường xã hội cho 10 ngành kinh tế

Các con số đầu tư tài chính trong ngành tài chính xanh của lĩnh vực ngân hàng cũng hết sức khả quan Tính đến quý I/2019, đã có 20 tổ chức tín dụng cho vay tín dụng xanh với dư nợ hơn 242.000 tỷ đồng, tăng 2% so với năm 2018, trong đó cho vay trung dài hạn xấp xỉ 188.000 tỷ đồng, cho vay ngắn hạn là 54.000 tỷ đồng Đối tượng cho vay chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn là 131.000 tỷ đồng, cho vay lĩnh vực quản lý bền vững đô thị là 31.000 tỷ đồng, cho vay lâm nghiệp bền vững là 13.600 tỷ đồng, cho vay năng lượng tái tạo mới đạt trên 8.000 tỷ đồng Cũng tính đến hết tháng 3/2019, dư nợ tín dụng đánh giá theo rủi ro môi trường xã hội đạt gần 314.000 tỷ đồng, trong đó dư nợ ngắn hạn là 138.000 tỷ đồng

Ngày đăng: 11/07/2021, 11:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Trầm Thị Xuân Hương &amp; Hoàng Thị Minh Ngọc (2018), Giáo trình ngân hàng thương mại, NXB Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngân hàng thương mại
Tác giả: Trầm Thị Xuân Hương &amp; Hoàng Thị Minh Ngọc
Nhà XB: NXB Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2018
[2] NHNN Việt Nam (2018), Thông tư số 21/VBHN-NHNN ngày 28 tháng 12 năm 2018 của NHNN Việt Nam về an toàn, bảo mật cho việc bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên Internet, Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 21/VBHN-NHNN ngày 28 tháng 12 năm 2018 của NHNN Việt Nam về an toàn, bảo mật cho việc bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên Internet
Tác giả: NHNN Việt Nam
Năm: 2018
[3] Quốc hội (2017). Luật các tổ chức tín dụng, Văn phòng Quốc hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật các tổ chức tín dụng
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2017
[4] Nguyễn Thùy Trang (2018), Phát triển dịch vụ NHĐT tại Agribank, Tạp chí Điện tử Tài chính, 7/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dịch vụ NHĐT tại Agribank
Tác giả: Nguyễn Thùy Trang
Năm: 2018
[5] Nguyễn Thanh Lịch (2019), Sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Hàng hải Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Trường ĐH Kinh tế-Kỹ thuật Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Hàng hải Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Lịch
Năm: 2019

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w