TỔNG QUAN
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
Người khuyết tật là những cá nhân bị giảm chức năng hoặc hạn chế tham gia vào các hoạt động sinh hoạt, lao động, học tập và đời sống xã hội do khiếm khuyết hoặc các tình trạng sức khỏe.
Khuyết tật đề cập đến những khiếm khuyết và hạn chế trong hoạt động và sự tham gia của cá nhân, phản ánh mối tương tác tiêu cực giữa sức khỏe của người đó và các yếu tố ngữ cảnh như môi trường và các yếu tố cá nhân.
Có nhiều cách phân loại khuyết tật, nhưng nhìn chung những cách phân chia này chỉ là tương đối
- Phân loại khuyết tật của Tổ chức Y tế Thế giới:
Chương trình Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại Việt Nam được phân loại theo 7 nhóm khuyết tật khác nhau theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới.
- Khuyết tật về vận động
- Khuyết tật về nghe hoặc nói hoặc nghe và nói kết hợp
- Giảm cảm giác (bao gồm giảm cảm giác do bệnh Phong gây ra hoặc giảm vị giác, khứu giác do các nguyên nhân khác nhau)
- Khuyết tật về nhận thức
- Rối loạn hành vi, tâm thần
Các dạng khuyết tật khác không thuộc các nhóm chính bao gồm khuyết tật do các bệnh mãn tính liên quan đến các cơ quan nội tạng, chẳng hạn như suy tim, suy thận và suy hô hấp.
- Luật Người khuyết tật phân loại theo Dạng tật và mức độ khuyết tật [16]
+ Dạng tật bao gồm: a) Khuyết tật vận động; b) Khuyết tật nghe, nói; c) Khuyết tật nhìn; d) Khuyết tật thần kinh, tâm thần; đ) Khuyết tật trí tuệ; e) Khuyết tật khác
- Phân loại theo Mức độ khuyết tật:
+ Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
+ Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
+ Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc hai nhóm trên
1.1.1.3 Tình hình khuyết tật trên thế giới và ở Việt Nam
Tình hình khuyết tật trên thế giới
Theo báo cáo của WHO năm 2014, hơn 1 tỷ người trên thế giới, tương đương khoảng 15% dân số toàn cầu, đang sống với khuyết tật Tình trạng khuyết tật ngày càng gia tăng do dân số già và sự gia tăng các bệnh mãn tính, đặc biệt phổ biến hơn ở các nước có thu nhập thấp so với các nước có thu nhập cao Những người bị khuyết tật chủ yếu là phụ nữ, người cao tuổi và những người sống trong hoàn cảnh nghèo khó.
Người khuyết tật phải đối mặt với nhiều rào cản trong việc tiếp cận dịch vụ, bao gồm sức khỏe yếu, trình độ học vấn thấp, tham gia vào hoạt động kinh tế hạn chế và tỷ lệ nghèo đói cao hơn so với người không khuyết tật Theo báo cáo của WHO, nhu cầu về dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật tại các cơ sở y tế cần tăng gấp đôi, trong khi tỷ lệ người khuyết tật bị từ chối chăm sóc y tế đã tăng gần gấp ba lần, và tỷ lệ người khuyết tật bị đối xử tồi tệ cũng tăng gần bốn lần.
Tình hình khuyết tật ở Việt Nam
Việt Nam, sau hai cuộc chiến tranh kéo dài hơn 30 năm, hiện đang phát triển kinh tế nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong chăm sóc sức khỏe Nhiều quan niệm sai lầm về khuyết tật trong cộng đồng cũng góp phần làm tỷ lệ khuyết tật ở nước ta cao.
Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009, Việt Nam có 6,1 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân số từ 5 tuổi trở lên Những người này gặp khó khăn trong ít nhất một trong bốn chức năng: nhìn, nghe, vận động và tập trung hoặc ghi nhớ Tỷ lệ khuyết tật cao hơn ở phụ nữ (8,4%) so với nam giới (7,0%) Người khuyết tật thường phụ thuộc vào sự hỗ trợ của gia đình nhưng gặp khó khăn trong hôn nhân, dẫn đến tình trạng sống độc thân hoặc trong hộ gia đình nhỏ phổ biến hơn so với người không khuyết tật Họ có nhu cầu cao nhưng lại ít nhận được sự chăm sóc, khiến những khó khăn và bất lợi gia tăng Tỷ lệ người khuyết tật chưa bao giờ kết hôn, góa bụa, ly hôn/ly thân cũng cao hơn so với người không khuyết tật ở mọi nhóm tuổi trưởng thành.
Người khuyết tật gặp nhiều khó khăn trong giáo dục, với kết quả từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009 cho thấy tỷ lệ biết đọc, biết viết và tỷ lệ đi học của họ thấp hơn so với người không khuyết tật Cụ thể, tỷ lệ biết đọc, biết viết ở người khuyết tật trưởng thành chỉ đạt 76,3%, trong khi con số này ở người không khuyết tật trưởng thành lên tới 95,2%.
Giữa phụ nữ và nam giới tồn tại sự chênh lệch về tỷ lệ biết đọc, biết viết Cụ thể, tỷ số này trong nhóm thanh thiếu niên khuyết tật là 0,8, trong khi đó, tỷ số ở nhóm thanh thiếu niên khuyết tật nặng chỉ đạt 0,6.
Người khuyết tật (NKT) gặp nhiều khó khăn trong việc tham gia lực lượng lao động, với tỷ lệ tham gia và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn so với người không khuyết tật, đặc biệt là ở khu vực thành thị và nông thôn Mức độ khuyết tật càng nặng thì tỷ lệ tham gia lực lượng lao động càng thấp, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao hơn Hơn nữa, điều kiện sống và mức sống của NKT cũng khó khăn hơn, với mức sống hộ gia đình thấp hơn so với người không khuyết tật.
Do hạn chế về kiến thức y học trong cộng đồng và thiếu hệ thống phát hiện khuyết tật đầy đủ, người khuyết tật thường được phát hiện muộn, dẫn đến khả năng phục hồi hạn chế Nhận thức về khuyết tật trong xã hội vẫn chưa chính xác, khiến năng lực của người khuyết tật chưa được đánh giá đúng mức, từ đó họ bị hạn chế trong tham gia công việc gia đình và các hoạt động xã hội như thể thao, văn hóa, lễ hội và học tập Mặc dù là một phần không thể tách rời của cộng đồng, người khuyết tật vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn về kinh tế và xã hội, đặc biệt là những người khuyết tật nặng, dễ bị tổn thương trong các lĩnh vực giáo dục, việc làm và hôn nhân.
Trong những năm qua, Việt Nam đã tăng cường cam kết hỗ trợ người khuyết tật (NKT) thông qua việc thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia giai đoạn 2006 - 2010 Chính phủ đã tham gia ký Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (CRPD) năm 2007 và Quốc hội đã ban hành Luật Người khuyết tật có hiệu lực từ 01/01/2011.
Do đó, họ cần được Chính phủ hỗ trợ đáng kể về mặt xã hội [19]
1.1.2 Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (PHCNDVCĐ) được Tổ chức Y tế Thế giới khởi xướng từ Tuyên bố Alma-Ata năm 1978, nhằm cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ phục hồi chức năng cho người khuyết tật tại các nước có thu nhập thấp và trung bình Chương trình này tận dụng tối đa nguồn lực địa phương thông qua sự hợp tác của các tổ chức Liên Hiệp Quốc, tổ chức phi chính phủ và tổ chức của người khuyết tật PHCNDVCĐ không chỉ đáp ứng nhu cầu đa dạng của người khuyết tật mà còn đảm bảo sự tham gia và hòa nhập xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho họ.
Năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Liên đoàn Lao động Quốc tế (ILO) và Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã cùng nhau thống nhất định nghĩa về Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng.
CỘNG TÁC VIÊN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 21 1 Nhiệm vụ của Cộng tác viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Triển khai chương trình PHCNDVCĐ cho thấy cần thiết phải tăng cường nhân lực trong lĩnh vực phục hồi chức năng, vì mỗi người khuyết tật đều có nhu cầu riêng về môi trường, cần sự tham gia của gia đình và cộng đồng Tại các vùng nông thôn, việc sử dụng chuyên gia y tế được đào tạo thường không hiệu quả do thiếu nhân lực thực hiện và chi phí đào tạo cao, trong khi họ thường quen với làm việc trong các cơ sở chuyên môn và gặp khó khăn khi làm việc ở môi trường cộng đồng Do đó, việc có cộng tác viên phục hồi chức năng tại cộng đồng là lý tưởng, vì họ có mối liên hệ tốt hơn với nhu cầu của cộng đồng địa phương.
Tình nguyện viên, xuất phát từ tiếng Latinh “voluntarism”, được định nghĩa là những người tự nguyện thực hiện nhiệm vụ hoặc công việc mà không quan tâm đến lợi ích hay pháp lý.
Do đó, tình nguyện viên có một ý nghĩa kép, đó là ý chí tự do của riêng mình và làm việc không có lợi nhuận hoặc làm không lương.[56]
Trong chương trình PHCN DVCĐ ở Việt Nam, các tình nguyện viên PHCN
Cộng tác viên phục hồi dựa vào cộng đồng (CTV PHCNDVCĐ) là những tình nguyện viên không nhận lương, được lựa chọn bởi lãnh đạo địa phương để triển khai chương trình phục hồi chức năng tại cơ sở Họ thường là giáo viên, hàng xóm, hoặc nhân viên y tế, và có vai trò quan trọng trong việc kết nối và thực hiện các chương trình phục hồi chức năng, góp phần vào sự phát triển văn hóa và kinh tế của cộng đồng Định nghĩa về PHCNDVCĐ nhấn mạnh đây là chiến lược phát triển cộng đồng nhằm đảm bảo quyền bình đẳng và hòa nhập cho người khuyết tật CTV không chỉ cung cấp hỗ trợ cơ bản mà còn đào tạo người khuyết tật và gia đình họ trong việc quản lý cuộc sống hàng ngày Họ cũng là những người nâng cao nhận thức và huy động sự tham gia của cộng đồng đối với người khuyết tật, với kỹ năng và động lực của họ là yếu tố quyết định sự thành công của chiến lược này Xu hướng hiện nay khuyến khích người khuyết tật và gia đình họ tham gia trở thành CTV PHCNDVCĐ để tăng cường hiệu quả của các hoạt động phục hồi chức năng.
1.2.1 Nhiệm vụ của Cộng tác viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Sự tham gia của Cộng tác viên trong chương trình PHCN DVCĐ là thành phần cốt lõi, đảm bảo sự bền vững của các chương trình PHCNDVCĐ [13],[62]
Vai trò của tình nguyện viên cộng đồng là yếu tố quan trọng trong các dự án phục hồi dựa vào cộng đồng (CBR) toàn cầu, với sự nhấn mạnh vào "sự tham gia của cộng đồng" Nhiều chương trình PHCNDVCĐ đã đạt được thành công nhờ vào sự hỗ trợ của các cộng tác viên, nhưng vẫn chưa có quy tắc chung áp dụng cho tất cả các chương trình này.
Các chương trình PHCNDVCĐ tập trung vào việc ngăn ngừa khuyết tật, vì vậy cần đào tạo cộng tác viên (CTV) về các vấn đề sức khỏe CTV phải có khả năng phát hiện triệu chứng và thông báo cho cộng đồng, đồng thời cần nắm vững kiến thức về sơ cứu để có thể chuyển bệnh nhân đến bệnh viện kịp thời.
Cộng tác viên (CTV) đóng vai trò quan trọng như giáo viên trong cộng đồng, làm việc tại các trường giáo dục đặc biệt cho trẻ em chậm phát triển, trẻ khiếm thính, khiếm thị, cũng như những trẻ có khiếm khuyết về thể chất hoặc cần hỗ trợ học tập tại nhà Họ cần hướng dẫn người khuyết tật (NKT), trẻ khuyết tật và gia đình về phương pháp hỗ trợ cần thiết Đối với trẻ nhỏ, CTV cần liên hệ chặt chẽ với địa phương, trường học và các nhóm giáo dục không chính quy để khuyến khích và tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật được đến trường Do đó, CTV thực sự giữ vai trò như một giáo viên trong việc hỗ trợ giáo dục cho trẻ em khuyết tật.
CTV cần là người huy động cộng đồng, khuyến khích sự tham gia và tạo thái độ tích cực hơn đối với khuyết tật, nhằm thiết lập mạng lưới hỗ trợ hiệu quả cho người khuyết tật Họ cũng nên khuyến khích các gia đình và người khuyết tật hợp tác, hành động sau các cuộc họp và tận dụng nguồn lực địa phương Quan trọng nhất, cần thúc đẩy việc hình thành “tổ chức” để các nhà lãnh đạo cộng đồng coi PHCNDVCĐ là phần thiết yếu trong phát triển cộng đồng, nhấn mạnh bước tiếp theo cho chương trình PHCNDVCĐ.
Cộng tác viên (CTV) đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến thông tin, tổ chức các hoạt động cộng đồng và hỗ trợ người khuyết tật (NKT) cùng gia đình họ Mục tiêu dài hạn của PHCNDVCĐ là giúp NKT chủ động trong cuộc sống, tham gia vào các hoạt động xã hội CTV kết nối thông tin và nguồn lực, hỗ trợ việc làm cho NKT bằng cách liên kết cộng đồng với chính quyền và các tổ chức Qua đó, các nhóm có thể hợp tác với NKT để giải quyết các vấn đề như đói nghèo, giáo dục và quyền lợi của họ Ở cấp độ chính trị, CTV hỗ trợ hội NKT trong việc thúc đẩy các chương trình chính sách và quyền hợp pháp cho NKT, góp phần vào lợi ích lâu dài của họ.
CTV hỗ trợ người khuyết tật và gia đình họ bằng cách kết nối với các cơ quan cung cấp đào tạo và kỹ năng cần thiết.
Với CTV là thành viên trong gia đình NKT, vai trò quan trọng nhất của họ là hướng dẫn viên, bao gồm việc thăm nhà, tư vấn, hướng dẫn, ghi chép và quản lý Họ cũng cần tự học về phục hồi chức năng (PHCN) trong quá trình thực hiện tại cộng đồng.
Trong chương trình PHCN DVCĐ tại Việt Nam, CTV có 6 nhiệm vụ chính:
- Nhiệm vụ 1: Phát hiện và báo cáo tình trạng người khuyết tật đánh giá nhu cầu phục hồi chức năng
- Nhiệm vụ 2: Áp dụng các biện pháp can thiệp PHCN cộng đồng để PHCN cho người khuyết tật, giám sát gia đình NKT thực hiện các bài tập
- Nhiệm vụ 3: Huy động sự tham gia của cộng đồng và sự hợp tác đa ngành
- Nhiệm vụ 4: Tạo thuận lợi cho các tổ chức người khuyết tật/ các tổ chức tự lực hoạt động
- Nhiệm vụ 5: Nâng cao nhận thức về PHCN dựa vào cộng đồng tại cộng đồng
- Nhiệm vụ 6: Làm kế hoạch và báo cáo đến trạm y tế
Các hoạt động PHCNDVCĐ được thực hiện tại gia đình của NKT/TKT, với sự tham gia chính của bản thân NKT nếu có khả năng, hoặc được hỗ trợ bởi cha mẹ và người thân nếu không đủ khả năng Những kỹ thuật này bao gồm việc tập luyện để di chuyển, tự chăm sóc bản thân, và hỗ trợ trẻ khuyết tật trong việc vui chơi, đến trường, cũng như vượt qua các trở ngại học tập Gia đình cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp NKT học nghề, tìm việc làm và tham gia vào các hoạt động cộng đồng Để thực hiện hiệu quả các hoạt động này, gia đình cần được tư vấn và hỗ trợ từ các CTV PHCNDVCĐ, trong khi CTV cũng cần hợp tác chặt chẽ với NKT và gia đình để hoàn thành nhiệm vụ.
1.2.2 Thực trạng hoạt động của Cộng tác viên Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng ở thế giới và Việt Nam
1.2.3.1 Thực trạng về CTV ở một số nước trên thế giới
Tại hội thảo quốc tế về PHCNDVCĐ năm 1998, các đại biểu đã chỉ ra những thách thức lớn nhất của chương trình, đặc biệt là vấn đề liên quan đến Cộng tác viên Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng Những khó khăn như việc tìm kiếm Cộng tác viên mới, tình trạng bỏ việc, nhu cầu về nguồn lực đào tạo liên tục, thiếu động lực và yêu cầu về ưu đãi hoặc tiền lương cho các cộng tác viên đã được nhấn mạnh là những vấn đề quan trọng cần giải quyết.
Chương trình PHCNDVCĐ tại Ghana vào năm 1989, được hỗ trợ bởi tổ chức phi chính phủ của Ý và Liên hiệp Châu Âu, tập trung vào bốn lĩnh vực chính: tuyển dụng và đào tạo cộng tác viên (CTV), hỗ trợ cộng đồng, tăng thu nhập cho người khuyết tật (NKT), và tổ chức NKT CTV được đào tạo về phục hồi chức năng cơ bản trong 150 giờ, dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng số lượng CTV Tuy nhiên, việc thiếu kinh phí đã ngăn cản việc đào tạo và tuyển dụng thêm CTV Tại Guyana, báo cáo về tác động của 20 năm thực hiện chương trình cho thấy tất cả các tình nguyện viên đều không được trả tiền, dẫn đến việc nhiều CTV trẻ bỏ việc, trong khi một số CTV cũ tiếp tục tham gia Từ 1996 đến 1999, nhiều tình nguyện viên rời bỏ chương trình, khiến các hoạt động PHCNDVCĐ chỉ diễn ra hạn chế Tuy nhiên, từ năm 1999, chương trình đã dần phục hồi, với sự trở lại của nhiều CTV cũ và sự tham gia của CTV mới Đến năm 2006, có 255 CTV tích cực trong chương trình và 1500 CTV đã được huấn luyện về phục hồi chức năng Yếu tố quan trọng thu hút CTV là họ có thể nhận giấy chứng nhận đào tạo được công nhận bởi Đại học giáo dục từ xa của Guyana và sự tham gia của gia đình NKT với vai trò CTV.
Nghiên cứu về vai trò của Cộng tác viên Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng trong chương trình PHCNDVCĐ ở Mông Cổ chỉ ra rằng các rào cản như khoảng cách xa, thiếu phương tiện giao thông, mật độ dân số thấp và điều kiện khí hậu khắc nghiệt đã hạn chế hiệu quả công việc của nhân viên y tế cộng đồng Nghiên cứu cũng làm rõ những khó khăn trong việc chuyển đổi từ y tế sang khuyết tật với một cách tiếp cận mới trong dự phòng và phục hồi chức năng Khảo sát cho thấy CTV gặp nhiều thách thức trong năm lĩnh vực của PHCNDVCĐ (y tế, giáo dục, đời sống, xã hội, trao quyền), đặc biệt là do mục tiêu đào tạo chưa phù hợp với thực tế Mặc dù còn nhiều thách thức, PHCNDVCĐ mang lại ý nghĩa lớn cho hoạt động khuyết tật ở nông thôn Mông Cổ, và nhân viên y tế cộng đồng được coi là phù hợp cho các chương trình này, tuy nhiên, CTV cần được tập huấn thêm để đáp ứng yêu cầu của chương trình.
Vai trò của cộng tác viên (CTV) trong chương trình Phát triển cộng đồng người khuyết tật (PHCNDVCĐ) là rất quan trọng, nhưng việc duy trì hoạt động của họ để mang lại lợi ích và sự hòa nhập cho người khuyết tật vẫn còn nhiều thách thức Ghitta Brinkmann (2004) chỉ ra rằng các tổ chức Liên Hợp Quốc thường cung cấp thông tin không rõ ràng về việc CTV có được trả công hay không, dẫn đến khó khăn trong việc thu hút tình nguyện viên, đặc biệt là khi họ không nhận được bất kỳ ưu đãi nào Nghiên cứu của Thomas và Thomas cũng nhấn mạnh rằng nhiều người không thể làm việc không lương do phải đáp ứng nhu cầu sống cơ bản, như nuôi sống gia đình Thêm vào đó, chương trình PHCNDVCĐ thường tập trung ở các nước nghèo, nơi mà CTV phải đối mặt với những vấn đề sinh tồn, bao gồm thời gian và chi phí cho việc di chuyển.
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ HỆ THỐNG Y TẾ VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG
1.3.1 Giới thiệu một số đặc điểm hệ thống y tế tỉnh Hải Dương
Hải Dương là tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng, có diện tích 1.668,3 km² và dân số khoảng 1.718.895 người, trong đó 21,9% là dân cư đô thị và 78,1% là nông thôn Mật độ dân số trung bình đạt 1.039 người/km², tuy nhiên, dân cư phân bố không đồng đều, với sự tập trung đông đúc tại trung tâm thành phố Hải Dương và huyện Gia Lộc ven các trục đường quốc lộ và tỉnh lộ Một số khu vực như xã ở thị xã Chí Linh và huyện Tứ có dân cư thưa thớt.
Tỉnh Hải Dương có 10 dân tộc, chủ yếu là dân tộc Kinh chiếm 99%, trong khi các dân tộc thiểu số chỉ chiếm 1% Tỉnh này bao gồm thành phố Hải Dương và 11 huyện, với tổng cộng 263 xã/phường Nguồn thu nhập chính của người dân chủ yếu đến từ nông nghiệp, công nghiệp và nghề thủ công.
Đến năm 2017, có 100 xã đạt chuẩn giai đoạn 1 và 178 xã, phường, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế giai đoạn 2010-2020, chiếm 67,2% Tất cả các trạm y tế đều có đủ nhân lực tối thiểu 5 người, bao gồm bác sĩ Tính đến hết năm 2016, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế của tỉnh ước đạt hơn 83,1%.
Tỉnh Hải Dương có hệ thống y tế đa dạng với 22 bệnh viện, 265 trạm y tế và 12 trung tâm y tế huyện Trong đó, có 2 bệnh viện hạng nhất và 11 bệnh viện hạng hai, tất cả đều có khoa Phục hồi chức năng riêng biệt Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Hải Dương được trang bị đầy đủ để khám và điều trị, đồng thời đào tạo và chỉ đạo tuyến về phục hồi chức năng Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương, nằm tại thành phố Hải Dương, cũng có khoa Phục hồi chức năng và đã đào tạo hàng nghìn kỹ thuật viên trong hơn 30 năm qua Chương trình đào tạo bao gồm lý thuyết, thực hành tại trường và thực tập tại cộng đồng, với sự tham gia của giảng viên và sinh viên trong việc chuyển giao kiến thức và kỹ năng cho cộng đồng, hỗ trợ người khuyết tật tại tỉnh.
1.3.2 Phục hồi chức năng dựa vào Cộng đồng tại Hải Dương
Chương trình PHCNDVCĐ được triển khai tại tỉnh Hải Dương từ ngày
Vào ngày 15 tháng 10 năm 1988, bà Padmani Mendis, chuyên gia của WHO, đã thực hiện chương trình PHCNDVCĐ với sự tài trợ của tổ chức cứu trợ nhi đồng Thụy Điển Chương trình bắt đầu bằng các hội thảo giữa các ban ngành tỉnh và cán bộ chủ chốt các xã, huyện để thảo luận về tàn tật, tính ưu việt và khả thi của chương trình Sau đó, Ban điều hành chương trình PHCNDVCĐ tỉnh được thành lập với 11 thành viên, do Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm trưởng ban Chương trình đã chọn 5 xã thuộc huyện Tứ Lộc để triển khai.
Vào năm 1998, tỉnh Hải Dương đã thực hiện chỉ đạo của Bộ Y tế, tiếp tục triển khai chương trình PHCNDVCĐ tại 102 xã phường thuộc 5 huyện Tứ Kỳ, Gia Lộc, Cẩm Giàng, Bình Giang và Thanh Miện, sau khi thành lập Ban điều hành tuyến xã và thực hiện thí điểm chương trình để rút kinh nghiệm cho các địa phương khác.
Năm 2004, tỉnh Hải Dương đã tiến hành điều tra và phân loại người khuyết tật (NKT) tại 263 xã phường, phát hiện 26.156 người trong tổng số 1.692.205 người được khảo sát Chủ tịch UBND tỉnh đã giao nhiệm vụ cho Bệnh viện Điều dưỡng và Phục hồi chức năng tỉnh Hải Dương, trực thuộc Sở Y tế, chỉ đạo chương trình Phục hồi chức năng người khuyết tật và phát triển cộng đồng (PHCNDVCĐ) Đến năm 2005, Sở Y tế đã thành lập ban điều hành chương trình với 7 thành viên, do Phó Giám đốc Sở Y tế làm trưởng ban, giúp chương trình ngày càng hoạt động hiệu quả Nhiều NKT được hỗ trợ dụng cụ trợ giúp và hướng dẫn tập luyện, với chương trình PHCNDVCĐ đã được triển khai rộng rãi trên toàn tỉnh và lồng ghép vào hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu của địa phương.
Chương trình PHCNDVCĐ tại tỉnh Hải Dương có sự tham gia của nhiều thành phần như cán bộ nhân viên khoa PHCN Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viện PHCN tỉnh, nhân viên chuyên trách, lãnh đạo địa phương, cộng tác viên, gia đình người khuyết tật và sinh viên khoa PHCN trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương Các khóa tập huấn được tổ chức tại trường, bệnh viện và nhiều trạm y tế xã nhằm chuyển giao kiến thức và kỹ thuật cho nhân viên PHCN và người khuyết tật Hàng năm, sinh viên thực tập tại cộng đồng, hướng dẫn tập luyện và chuyển giao kỹ thuật cho nhân viên PHCN, cộng tác viên và người khuyết tật.
Bệnh viện PHCN đã triển khai chương trình PHCNDVCĐ với quy định quản lý NKT rõ ràng, bao gồm việc mỗi cá nhân có hồ sơ theo dõi chi tiết về nội dung thăm khám PHCN của Y tá đội Ngoài ra, bệnh viện cũng thực hiện báo cáo định kỳ về chương trình PHCNDVCĐ và sử dụng phần mềm quản lý để theo dõi hiệu quả của chương trình.
Chương trình PHCNDVCĐ tại tỉnh Hải Dương đã thu hút sự tham gia của toàn cộng đồng, bao gồm người khuyết tật (NKT), gia đình, cộng tác viên, nhân viên PHCN chuyên trách và chính quyền địa phương Nhờ sự hỗ trợ từ cộng đồng và nỗ lực của NKT cùng gia đình, nhiều trẻ khuyết tật đã có cơ hội đến trường, trong khi người khuyết tật được tạo điều kiện tìm kiếm việc làm, ngoại trừ những trường hợp khuyết tật nặng cần sự chăm sóc hoàn toàn từ gia đình và xã hội.
Mặc dù có sự phối hợp từ các ban ngành cấp tỉnh đến xã, Chương trình PHCNDVCĐ tại Hải Dương vẫn gặp nhiều hạn chế như triển khai không đồng bộ, hiệu quả thấp, thiếu kinh phí và tài liệu cung cấp không đầy đủ Ngoài ra, các chương trình tập huấn và bổ sung kiến thức cũng còn hạn chế, trong khi chất lượng báo cáo của cán bộ chuyên trách và cộng tác viên chưa đạt yêu cầu Do đó, cần tăng cường sự quan tâm và phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể cùng với sự tham gia tích cực của cộng đồng để khắc phục hậu quả tàn tật và hỗ trợ người khuyết tật hội nhập xã hội.