1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

PHIM TRUYỆN CHUYỂN THỂ TỪ TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN NHẬT ÁNH, THÀNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ LUẬN VĂN THẠC SĨ

98 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phim Truyện Chuyển Thể Từ Tác Phẩm Của Nhà Văn Nguyễn Nhật Ánh, Thành Công Và Hạn Chế
Tác giả Lê Anh Tuấn
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Trần Doãn
Trường học Trường Đại Học Sân Khấu – Điện Ảnh Hà Nội
Chuyên ngành Nghệ Thuật Điện Ảnh - Truyền Hình
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 631,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (8)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (9)
  • 3. Mục đích nghiên cứu (10)
  • 4. Đối tƣợng nghiên cứu (10)
  • 5. Nhiệm vụ nghiên cứu (10)
  • 6. Câu hỏi nghiên cứu (11)
  • 7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu (11)
  • 8. Phương pháp nghiên cứu (11)
  • 9. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn (11)
  • 10. Cấu trúc luận văn (12)
  • Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỀN THỂ TÁC PHẨM VĂN HỌC10 THÀNH TÁC PHẨM PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH VÀ PHIM TRUYỆN TRUYỀN HÌNH (13)
    • 1.1. Khái quát về ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh (12)
      • 1.1.1. Ngôn ngữ của văn học (13)
        • 1.1.1.1. Ngôn từ, chất liệu của ngôn ngữ văn học (13)
        • 1.1.1.2. Đặc điểm của văn học (14)
        • 1.1.1.3. Thể loại văn học (18)
      • 1.1.2. Ngôn ngữ của điện ảnh (19)
        • 1.1.2.1. Hình ảnh (21)
        • 1.1.2.2. Âm thanh (24)
        • 1.1.2.3. Dựng phim (26)
        • 1.1.2.4. Các thể loại trong điện ảnh (31)
      • 1.1.3. Hình tƣợng nghệ thuật trong văn học và trong điện ảnh (32)
      • 1.1.4. Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh (34)
    • 1.2. Tác phẩm phim truyện chuyển thể từ văn học (12)
      • 1.2.1. Đôi nét về chuyển thể tác phẩm văn học trong điện ảnh, truyền hình . 34 (37)
      • 1.2.2 Những yếu tố tạo nên tác phẩm điện ảnh (39)
      • 1.2.3. Tác phẩm phim truyện chuyển thể từ văn học (40)
        • 1.2.3.1. Sự kế thừa tinh hoa của tác phẩm văn học (40)
        • 1.2.3.2. Tính sáng tạo của tác phẩm điện ảnh chuyển thể (41)
  • Chương 2. MỘT SỐ THÀNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ TRONG PHIM TRUYỆN CHUYỂN THỂ TỪ TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN NHẬT ÁNH (12)
    • 2.1. Đôi điều về nhà văn Nguyễn Nhật Ánh (12)
      • 2.1.1. Cuộc đời và sự nghiệp (49)
      • 2.1.2. Các tác phẩm văn học của Nguyễn Nhật Ánh đã đƣợc chuyển thể thành phim (51)
        • 2.1.2.1. Nữ sinh (1989) (52)
        • 2.1.2.2. Bong bóng lên trời (1991) (53)
        • 2.1.2.3. Chú bé rắc rối (1989) (53)
        • 2.1.2.4. Kính vạn hoa (2005) (54)
        • 2.1.2.5. Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (2015) (56)
    • 2.2 Một số thành công (12)
      • 2.2.1. Giữ đƣợc tinh hoa của tác phẩm văn học trong tác phẩm phim truyện . 56 1. Cốt truyện (59)
        • 2.2.1.2. Hệ thống nhân vật (70)
        • 2.2.2.1. Kết cấu của truyện phim (73)
        • 2.2.2.2. Xây dựng hình tƣợng nhân vật (79)
        • 2.2.2.3. Những yếu tố tạo nên thành công của các phim truyện chuyển thể từ tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh (83)
    • 2.3. Một số hạn chế (12)
      • 2.3.1. Quá trung thành với nguyên tác hay đi quá xa với nguyên tác (86)
        • 2.3.1.1. Xử lý tình huống truyện (86)
        • 2.3.1.2. Sử dụng lời thoại trong phim (91)
      • 2.3.2. Xây dựng hệ thống nhân vật (92)
  • KẾT LUẬN (94)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (12)

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Người viết đã tìm hiểu nhiều cuốn sách về nghiệp vụ đạo diễn, đặc biệt là những tài liệu liên quan đến việc chuyển thể tác phẩm văn học thành điện ảnh Bên cạnh đó, các nghiên cứu khoa học và bài phân tích về tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh cũng được tham khảo Tuy nhiên, một số nguồn tài liệu chưa chính thống do được lấy từ internet Do đó, người viết sẽ tiếp tục nghiên cứu để nâng cao chất lượng cho luận văn của mình.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và bài viết liên quan, tác giả nhận thấy chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề mà mình quan tâm Do đó, tác giả cho rằng đề tài "Phim truyện chuyển thể từ tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh - thành công và hạn chế" là một chủ đề thú vị và có giá trị lý luận cũng như thực tiễn.

Nghiên cứu đề tài này sẽ cung cấp cho những người làm phim một nguồn tài liệu quý giá, giúp họ tham khảo kinh nghiệm, thành công và hạn chế từ các phim chuyển thể tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Từ đó, họ có thể rút ra bài học và xây dựng lý thuyết về chuyển thể, đặc biệt là chuyển thể phim cho trẻ em Luận văn này cũng hỗ trợ những người đam mê làm phim về đề tài trẻ em trong việc lựa chọn câu chuyện và thể hiện cốt truyện bằng ngôn ngữ hình ảnh phù hợp với đối tượng khán giả trẻ.

Mục đích nghiên cứu

Trong quá trình chuyển thể tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh thành phim, các nhà làm phim đã đạt được thành công nhất định với một số tác phẩm, nhưng cũng gặp khó khăn với những tác phẩm khác Sự thành công hay thất bại của các bộ phim này được đánh giá dựa trên các yếu tố như kịch bản, diễn xuất, hình ảnh và âm thanh Những tiêu chí này giúp xác định mức độ phù hợp và hấp dẫn của phim so với nguyên tác, từ đó phản ánh rõ nét hơn về hiệu quả của việc chuyển thể văn học sang điện ảnh.

Đối tƣợng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những thành công và hạn chế của các bộ phim chuyển thể từ tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Nghiên cứu này dựa trên tiêu chí đánh giá tính sáng tạo của các tác phẩm điện ảnh, đồng thời xem xét khả năng giữ gìn tinh hoa của nguyên tác văn học.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Xây dựng tiêu chí đánh giá sự thành công và hạn chế của các tác phẩm chuyển thể là cần thiết, nhằm chỉ ra những điểm mạnh và yếu của các bộ phim dựa trên tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Việc này giúp hiểu rõ hơn về cách các tác phẩm văn học được chuyển thể và ảnh hưởng của chúng đến khán giả.

Câu hỏi nghiên cứu

- Các bộ phim truyện chuyển thể từ tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh có những đặc điểm nào?

- Những yếu tố nào tạo nên sự thành công và hạn chế của các tác phẩm điện ảnh chuyển thể từ tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh?

Bài học kinh nghiệm từ các bộ phim chuyển thể tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh cho thấy việc nắm bắt tinh thần và cảm xúc của tác phẩm gốc là rất quan trọng Sự trung thực trong việc thể hiện nhân vật và cốt truyện giúp khán giả dễ dàng kết nối với nội dung Đồng thời, việc cập nhật bối cảnh và phong cách làm phim hiện đại cũng cần được xem xét để thu hút người xem Cuối cùng, sự hợp tác chặt chẽ giữa các nhà văn, đạo diễn và diễn viên sẽ tạo ra những tác phẩm chất lượng, giữ nguyên giá trị văn học nhưng vẫn mang tính giải trí cao.

Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Những bộ phim đƣợc chuyển thể từ truyện của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

- Những tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh.

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích: khảo sát phim và tác phẩm văn học trong phạm vi nghiên cứu

- Phương pháp so sánh: so sánh, đối chiếu nội dung chủ đề tư tưởng của phim và nguyên tác văn học, từ đó rút ra đƣợc những tổng kết

Phương pháp phỏng vấn bao gồm việc phỏng vấn tác giả Nguyễn Nhật Ánh cùng các tác giả điện ảnh của các bộ phim, nhằm lắng nghe ý kiến và chia sẻ của họ về những dự định, khó khăn trong quá trình thực hiện, cũng như sản phẩm cuối cùng Qua đó, chúng ta có thể tiếp thu những bài học kinh nghiệm quý giá từ chính các tác giả.

- Phương pháp quy nạp: tổng kết và đưa ra ý kiến cá nhân.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này nhằm làm rõ nguyên nhân hạn chế trong công tác chuyển thể văn học sang điện ảnh ở Việt Nam, từ đó giúp nhận thức thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng các tác phẩm chuyển thể.

Luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho những người đam mê điện ảnh, hỗ trợ họ trong việc tìm kiếm, hình thành và thực hiện ý tưởng Những bài học kinh nghiệm và chia sẻ từ các nhà làm phim sẽ cung cấp cái nhìn thực tế cho những ai muốn chuyển thể thành công tác phẩm văn học, đặc biệt là trong lĩnh vực phim về đề tài trẻ em.

Người viết hy vọng sẽ áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế công việc đạo diễn phim và trong công tác giảng dạy của mình.

Cấu trúc luận văn

Đề tài phim truyện chuyển thể từ tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã thu hút sự chú ý của nhiều khán giả và nhà phê bình Bài viết này sẽ phân tích những thành công và hạn chế của các bộ phim chuyển thể, từ cách thể hiện nội dung đến sự phù hợp với tinh thần nguyên tác Qua đó, chúng ta sẽ khám phá những yếu tố góp phần làm nên thành công của các tác phẩm này, cũng như những điểm cần cải thiện để nâng cao chất lượng chuyển thể trong tương lai.

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỀN THỂ TÁC PHẨM VĂN HỌC THÀNH TÁC PHẨM PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH VÀ PHIM TRUYỆN TRUYỀN HÌNH

1.1 Khái quát về ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh

1.2 Tác phẩm phim truyện chuyển thể từ văn học

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ THÀNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ TRONG PHIM TRUYỆN CHUYỂN THỂ TỪ TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN NHẬT ÁNH

2.1 Đôi điều về nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỀN THỂ TÁC PHẨM VĂN HỌC10 THÀNH TÁC PHẨM PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH VÀ PHIM TRUYỆN TRUYỀN HÌNH

MỘT SỐ THÀNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ TRONG PHIM TRUYỆN CHUYỂN THỂ TỪ TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN NHẬT ÁNH

Một số hạn chế

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỀN THỂ TÁC PHẨM VĂN HỌC

THÀNH TÁC PHẨM PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH

VÀ PHIM TRUYỆN TRUYỀN HÌNH 1.1 Khái quát về ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh

1.1.1 Ngôn ngữ của văn học

1.1.1.1 Ngôn từ, chất liệu của ngôn ngữ văn học

Văn học đóng vai trò quan trọng trong hệ thống nghệ thuật, vì ngôn ngữ của nó là nền tảng cho nhiều hình thức nghệ thuật khác nhau, như kịch bản sân khấu, điện ảnh, lời nhạc, vũ điệu, và lời bình cho phim tài liệu cũng như đánh giá các tác phẩm nghệ thuật khác.

Văn học là một hình thức nghệ thuật sử dụng ngôn từ làm chất liệu chính Mỗi loại hình nghệ thuật có đặc trưng riêng, bắt nguồn từ chất liệu của nó; ví dụ, hội họa sử dụng màu sắc và đường nét, âm nhạc dựa vào âm thanh và tiết tấu, còn vũ đạo khai thác hình thể và động tác Ngôn ngữ văn học không chỉ là những từ ngữ logic như trong chính trị hay triết học, mà còn là những từ ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc, tác động sâu sắc đến tâm hồn con người.

Văn học, với sức mạnh ngôn từ, có khả năng phản ánh mọi khía cạnh của đời sống thực tế một cách linh hoạt và chính xác Nó không chỉ mô tả hành động của nhân vật trong những khoảnh khắc cụ thể mà còn thể hiện sâu sắc tư tưởng và tình cảm con người Khác với các loại hình nghệ thuật khác, hình tượng trong văn học chỉ hiện lên trong trí tưởng tượng của người đọc, tạo nên sự sống động trong tư duy và khả năng sáng tạo của họ Ngôn ngữ văn học là công cụ thể hiện tư duy con người, đồng thời là phương tiện thông tin phổ biến nhất, giúp kết nối và truyền tải những ý tưởng sâu sắc.

Văn học không chỉ phản ánh hiện thực thế giới bên ngoài mà còn thể hiện sâu sắc nội tâm con người Để gia tăng sức mạnh và tác động, nghệ thuật văn chương thường kết hợp với các loại hình nghệ thuật khác, như thơ được trình bày trên nền nhạc hay tiểu thuyết có tranh minh họa.

1.1.1.2 Đặc điểm của văn học

- Tính hình tƣợng gián tiếp

Các loại hình nghệ thuật cơ bản như hội họa, âm nhạc và múa đều sử dụng chất liệu vật chất cụ thể, mang tính hình tượng và trực tiếp Điều này cho phép công chúng có thể dễ dàng nghe và nhìn những tác phẩm nghệ thuật, như bức tranh "Thiếu nữ bên hoa huệ", bản "Trường ca sông Lô" hay điệu múa "Quạt" Sau khi trải nghiệm âm thanh và hình ảnh, người xem có thể thoải mái tưởng tượng và phát triển ý tưởng từ những hình ảnh trực quan ban đầu.

Ngôn từ không phải là vật chất hay vật thể, mà chỉ là những kí hiệu, do đó hình ảnh trong thơ văn không thể được cảm nhận một cách trực tiếp qua thính giác hay thị giác Ví dụ điển hình là hình ảnh nàng Ngu Cơ trong tác phẩm của Phạm Huy Thông.

Cặp mắt nồng nàn mà xa xăm mà say đắm

Như chan hòa niềm ái ân đằm thắm

Cặp mày thanh êm ái như mây cong

Như núi xuân lưu luyến hơi xuân phong [15]

Mặc dù âm điệu và hình thức của những câu thơ có thể được cảm nhận, nhưng hình ảnh của nàng Ngu Cơ lại không xuất hiện Tuy nhiên, ngôn từ vẫn có sức mạnh tác động lên tâm trí, cho phép chúng ta hình dung về nàng một cách gián tiếp thông qua trí tưởng tượng.

- Tính tƣ duy – trực tiếp

Ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy, là ký hiệu cho những suy nghĩ và cảm xúc của con người, cho dù không được nói ra Văn học, thông qua ngôn từ, trực tiếp bộc lộ tư tưởng và tình cảm của tác giả cũng như nhân vật Nó luôn là một cuộc đối thoại về tư tưởng, đặc biệt khi có những biến chuyển lớn trong đời sống xã hội Để khắc họa nhân vật và nội tâm, tác giả có thể sử dụng lời kể của người kể chuyện hoặc lời của nhân vật qua đối thoại và độc thoại nội tâm, điều này khác biệt với nghệ thuật phim truyện, nơi lời kể thường phải được cụ thể hóa bằng hình ảnh và âm thanh Trong phim, việc thể hiện tâm trạng của nhân vật thường hiếm khi được trình bày qua những dòng chữ mô tả cảm xúc.

Trong văn học, tác giả có thể sử dụng độc thoại nội tâm dài để thể hiện tư tưởng và tình cảm của nhân vật, nhưng trong điện ảnh, điều này lại không khả thi Nội tâm của nhân vật thường được thể hiện qua nét mặt, cử chỉ của diễn viên và các yếu tố kỹ thuật khác Việc để nhân vật nói một mình, dù chỉ một chút, cũng được coi là gượng ép trong bối cảnh điện ảnh.

Ch ng hạn, trong truyện ngắn a người trên sân ga, tác giả Hữu

Bà Hảo, một người phụ nữ miền Nam, mòn mỏi chờ chồng trong suốt những năm chiến tranh, trong khi chồng cô đã lấy vợ khác ở Bắc Truyện chủ yếu là độc thoại nội tâm của nhân vật, nhưng khi chuyển thể thành phim "Bời cát", góc nhìn và yếu tố này đã bị thay đổi Phim chỉ sử dụng một lần độc thoại, nhưng lại là chi tiết kém giá trị nghệ thuật, khi đạo diễn Nguyễn Thanh Vân muốn thể hiện sự sung mãn của Cảnh - người đàn ông có hai vợ, và nỗi khát khao của Hảo - cô gái yếu đuối Cảnh nhấc bổng Hảo lên và chạy trên cát, nhưng sau đó Hảo lại thốt lên câu "Chà, khỏe dữ", làm phá hỏng cảnh phim, khiến nội tâm nhân vật trở nên lộ liễu và thô thiển.

Chỉ còn một con đường duy nhất để đưa lời trực tiếp vào phim, đó là đối thoại

Phim không giống như kịch, vì diễn viên phim không thể chỉ dựa vào lời thoại để truyền tải nội dung, điều này có thể khiến khán giả cảm thấy nhàm chán Mặc dù thoại là cần thiết, nhưng trong nhiều trường hợp, nó không phải là phương tiện chính để giao tiếp Thời kỳ phim câm, như Charles Chaplin đã chứng minh, cảm xúc và câu chuyện có thể được truyền tải qua cử chỉ mà không cần lời nói Ngày nay, nhiều đạo diễn, như Kim Ki-duk trong tác phẩm "Xuân, Hạ, Thu, Đông rồi lại Xuân," chọn cách tiết kiệm lời thoại, với chỉ vài trang văn bản cho một bộ phim dài 100 phút Bộ phim thể hiện tâm trạng nhân vật một cách sâu sắc thông qua sự im lặng và tĩnh lặng, mặc dù không phải đạo diễn nào cũng có khả năng này.

Một thách thức lớn trong điện ảnh là cách diễn đạt tư tưởng của bộ phim mà không sử dụng lời nói trực tiếp như trong văn chương Điều này có nghĩa là không để nhân vật nói thẳng ra hay sử dụng chữ viết để truyền tải ý tưởng, mà cần tìm những phương pháp hình ảnh và biểu cảm khác để truyền đạt thông điệp.

Trong quá trình giải bài toán khó này, ngôn ngữ điện ảnh nghệ thuật đã ra đời, phát triển và ngày càng hoàn thiện

- Tính vô cực về không gian, thời gian

Văn học sử dụng ngôn từ như một chất liệu phong phú, cho phép thể hiện không gian và thời gian ở cả mức độ cực đại lẫn cực tiểu Ngôn từ có khả năng hình dung mọi sự vật trong thế giới, từ những điều vĩ mô đến vi mô, từ hữu hình đến vô hình, từ trạng thái kéo dài đến những khoảnh khắc chớp nhoáng Trong khi các loại hình nghệ thuật khác có giới hạn trong việc diễn đạt tâm tư và thế sự, văn học có thể chuyển tải những sắc thái phong phú hơn Ví dụ, trong tác phẩm kinh điển "Chiến tranh và hòa bình", L Tolstoy đã khéo léo tái hiện những hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến trường.

Brodino không thể hiện được sự hoành tráng như những bức tranh hay cảnh quay từ các bộ phim sử thi cùng tên Tác phẩm Tam Quốc chí có khả năng kể lại câu chuyện hàng trăm năm, trong khi mười lăm năm lưu lạc của nàng Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là một câu chuyện không thể nào được tái hiện một cách tỉ mỉ qua bất kỳ bức tranh nào.

- Tính phổ biến trong sáng tác, truyền bá và tiếp nhận

Ngôn ngữ là sở hữu chung của mọi người nhưng cũng mang tính cá nhân, vừa là phương tiện tự biểu hiện vừa giúp giao tiếp hiệu quả Việc sáng tác, xuất bản và tiếp nhận văn học không đòi hỏi nhiều đầu tư vật chất như các loại hình nghệ thuật khác, nhất là điện ảnh Độc giả có quyền tự do trong cách thưởng thức văn học, từ việc đọc nhanh hay chậm đến việc đọc đi đọc lại Tuy nhiên, dù có nhiều thuận lợi trong sáng tác và truyền bá, sự yêu thích của công chúng đối với một tác phẩm văn học vẫn phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của tác phẩm đó.

Với văn học, thông thường người ta chia lĩnh vực này thành ba thể loại chính là tự sự, trữ tình và kịch

Cũng còn có cách chia khác thành 4 thể loại Đó là:

Ngày đăng: 11/07/2021, 09:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Nhật Ánh, hiệp sĩ của tuổi thơ (2015), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Nhật Ánh, hiệp sĩ của tuổi thơ
Tác giả: Nguyễn Nhật Ánh, hiệp sĩ của tuổi thơ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
2. Việt Linh (2008 , Chuyện mình, chuyện người, NXB Trẻ, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện mình, chuyện người
Nhà XB: NXB Trẻ
3. Mấy nguyên tố cấu thành trong ngôn ngữ điện nh (1964) (Tài liệu nghiên cứu học tập nghiệp vụ điện ảnh - Ban nghiên cứu nghệ thuật- Cục điện ảnh ; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nguyên tố cấu thành trong ngôn ngữ điện nh
4. Nghệ thuật viết kịch b n điện nh (1996), Trung tâm nghiên cứu nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật viết kịch b n điện nh
Tác giả: Nghệ thuật viết kịch b n điện nh
Năm: 1996
5. Đoàn Minh Tuấn (2013), ướng d n viết kịch b n phim, NXB Hồng Đức. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ướng d n viết kịch b n phim
Tác giả: Đoàn Minh Tuấn
Nhà XB: NXB Hồng Đức. Hà Nội
Năm: 2013
6. Đoàn Minh Tuấn (2007), Những vấn đề lý luận về kịch b n phim, NXB Văn hóa Thông tin. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận về kịch b n phim
Tác giả: Đoàn Minh Tuấn
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin. Hà Nội
Năm: 2007
7. Từ điển ách khoa Việt Nam (2003) – NXB Từ điển Bách Khoa Hà Nội 8. Từ điển Tiếng Việt (1992 , Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển ách khoa Việt Nam" (2003) – NXB Từ điển Bách Khoa Hà Nội 8." Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Từ điển Bách Khoa Hà Nội 8." Từ điển Tiếng Việt" (1992
9. Phan Bích Thủy (2014), Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện nh, NXB Hội Điện ảnh Việt Nam. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ừ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện nh
Tác giả: Phan Bích Thủy
Nhà XB: NXB Hội Điện ảnh Việt Nam. Hà Nội
Năm: 2014
10. Jean Epstein, Le cinema du diable, 1947 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Le cinema du diable
11. Field, S. (2005), Kim chỉ nam gi i quyết những vấn đề kh trong kịch b n điện nh (bản dịch của Nguyễn Lệ chi , NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kim chỉ nam gi i quyết những vấn đề kh trong kịch b n điện nh
Tác giả: Field, S
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 2005
12. Kristin Thompson và David Bordwell (2007) Lịch sử iện nh thế giới quyển 1, quyển 2, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử iện nh thế giới
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
14. Teplix, I. (1978), Lịch sử điện nh thế giới, tập 1, NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử điện nh thế giới
Tác giả: Teplix, I
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1978
15. Tinh tuyển văn học Việt Nam (2004) (tập 7: Văn học giai đoạn 1900- 1945 , Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh tuyển văn học Việt Nam "(2004) (tập 7: "Văn học giai đoạn 1900-1945
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
16. Toussaint, Bruno. (2007), Ngôn ngữ điện nh và truyền hình, Hội Điện ảnh Việt Nam xuất bản, HN.II. Tài liệu trên internet 17. https://vi.wikipedia.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ điện nh và truyền hình
Tác giả: Toussaint, Bruno
Năm: 2007
13. LéonMussinac, Naisancedu Cinéma Khác
1. Áo trắng sân trường (1994 , đạo diễn Lê Dân Khác
2. Bao giờ cho đến tháng 10 (1984 , đạo diễn Đặng Nhật Minh Khác
3. Bong bóng lên trời (1997 , đạo diễn Đỗ Chí Hướng Khác
4. Bố già (1972 , đạo diễn Francis Ford Coppola Khác
5. Con chim vành khuyên (1962 , đạo diễn Nguyễn Văn Thông, Trần Vũ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w