Vì vậy, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh, góc độ khác nhau của vấn đề này như: Khái niệm NLTT; Khái niệm phát triển NLTT; Hình thức phát triển NLTT; Xây dựng thư vi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
NGUYỄN TRỌNG PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN CỦA HỆ THỐNG
THƯ VIỆN CÔNG CỘNG VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
HÀ NỘI - 2015
Trang 2NGUYỄN TRỌNG PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN CỦA HỆ THỐNG
THƯ VIỆN CÔNG CỘNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Khoa học Thông tin - Thư viện
Mã số: 62320203
LUẬN ÁN TIẾN SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: 1, PGS TS Trần Thị Quý
2, TS Lê Văn Viết
HÀ NỘI - 2015
Trang 3Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận án là trung thực, không sao chép từ bất kỳ nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được trích dẫn
và ghi nguồn đúng quy định
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận án
Nguyễn Trọng Phượng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN CỦA HỆ THỐNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNG VIỆT NAM 20
1.1 Cơ sở lý luận phát triển nguồn lực thông tin 20
1.2 Cơ sở thực tiễn phát triển nguồn lực thông tin 45
Tiểu kết 63
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN CỦA HỆ THỐNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNG VIỆT NAM 65
2.1 Cơ cấu nguồn lực thông tin 65
2.2 Xây dựng chính sách phát triển nguồn lực thông tin 74
2.3 Phương thức phát triển nguồn lực thông tin 79
2.4 Chuẩn nghiệp vụ áp dụng trong xử lý nguồn lực thông tin 89
2.5 Tổ chức, khai thác, bảo quản, thanh lý nguồn lực thông tin 91
2.6 Các yếu tố tác động đến phát triển nguồn lực thông tin 101
2.7 Đánh giá nguồn lực thông tin 125
2.8 Đánh giá hiệu quả phát triển nguồn lực thông tin 131
2.9 Nhận xét công tác phát triển nguồn lực thông tin 133
Tiểu kết 137
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN CỦA HỆ THỐNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNG VIỆT NAM 139 3.1 Đề xuất mô hình phát triển nguồn lực thông tin cho hệ thống thư viện công cộng Việt Nam
139 3.2 Nhóm giải pháp về nhận thức và quản lý nhà nước 152
3.3 Nhóm giải pháp về kỹ thuật nghiệp vụ 157
3.4 Nhóm các giải pháp liên quan khác 175
Tiểu kết 180
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 182
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 186
TÀI LIỆU THAM KHẢO 187
PHỤ LỤC LUẬN ÁN 199
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NDT Người dùng tin
NLTT Nguồn lực thông tin
TT-TV Thông tin - Thư viện
TVCC Thư viện công cộng
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Hệ thống thư viện công cộng Việt Nam 51
Biểu đồ 2.1 Đặc điểm loại hình nguồn lực thông tin ……… 68
Biểu đồ 2.2 Thành phần ngôn ngữ tài liệu của thư viện cấp tỉnh 78
Biểu đồ 2.3 Thành phần ngôn ngữ tài liệu của thư viện cấp huyện 78
Biểu đồ 2.4 Trang thiết bị bảo quản phục chế tài liệu của thư viện cấp tỉnh 97
Biểu đồ 2.5 Trang thiết bị bảo quản phục chế tài liệu của thư viện cấp huyện 97
Biểu đồ 2.6 Định kỳ thanh lý tài liệu của thư viện cấp tỉnh 99
Biểu đồ 2.7 Định kỳ thanh lý tài liệu của thư viện cấp huyện 99
Biểu đồ 2.8 Tiêu chí thanh lý tài liệu của thư viện cấp tỉnh 100
Biểu đồ 2.9 Tiêu chí thanh lý tài liệu của thư viện cấp huyện 100
Biểu đồ 2.10 Kinh phí phát triển NLTT của thư viện cấp huyện 111
Sơ đồ 3.1 Mô hình liên kết hệ thống 143
Sơ đồ 3.2 Mô hình liên kết hệ thống kiểu tập trung 145
Sơ đồ 3.3 Mô hình kiểu phân tán cho thư viện thành viên của mô hình liên kết hệ thống
146
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tỷ lệ theo môn loại tri thức tài liệu 69
Bảng 2.2 Tỷ lệ ngôn ngữ của tài liệu 73
Bảng 2.3 Tỷ lệ ngôn ngữ tài liệu của Thư viện Quốc gia Việt Nam
và Thư viện khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh 74
Bảng 2.4 Sách tiếng Anh quỹ Châu Á phân phối cho các thư viện
trong cả nước thông qua Dự án của TVQG Việt Nam (giai đoạn 2001 - 2013) 81
Bảng 2.5 Sách tiếng Việt do TVQG Việt Nam tặng cho các thư viện
trong cả nước từ nguồn biếu tặng, quyên góp (giai đoạn
Bảng 2.6 Chuẩn nghiệp vụ đang áp dụng trong xử lý nguồn lực thông tin 90
Bảng 2.7 Kinh phí bình quân của Thư viện Quốc gia Việt Nam
và thư viện cấp tỉnh 109
Bảng 2.8 Tỷ lệ thu nhận ấn phẩm định kỳ lưu chiểu của Thư viện
Quốc gia Việt Nam từ năm 2001 đến 2013 119
Bảng 2.9 Tỷ lệ thu nhận sách lưu chiểu của Thư viện Quốc gia
Việt Nam từ năm 2001 đến 2013 120
thư viện cấp tỉnh 121
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, dưới tác động mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT) và viễn thông, thế giới đã và đang chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin với nền kinh tế tri thức mà ở đó thông tin / tri thức có vai trò rất quan trọng, là nguồn lực, động lực phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, đồng thời trực tiếp tạo ra của cải vất chất cho nền kinh tế quốc dân Quốc gia nào, dân tộc nào muốn phát triển kinh tế - xã hội vượt bậc đều cần xây dựng, phát triển nguồn lực thông tin (NLTT) vững mạnh để hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động khác sử dụng và tạo ra của cải vật chất / các nguồn thông tin có chất lượng cao Đặc biệt, thông tin / tri thức không bao giờ mất đi trong quá trình sử dụng mà ngược lại nó còn tăng lên theo cấp số nhân nên đang được các nước phát triển sử dụng để thay thế dần nguồn tài nguyên tự nhiên (nguồn tài nguyên càng sử dụng càng cạn kiệt) Trong bối cảnh đó, hoạt động Thông tin – Thư viện (TT-TV) với chức năng thu thập, xử lý, tổ chức, bảo quản và tạo dựng các sản phẩm, tổ chức các dịch vụ khai thác thông tin tiềm tàng trong xã hội có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin cho các tổ chức và cá nhân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trên toàn thế giới
Hiện Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cùng lúc đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: vừa nhanh chóng đưa đất nước chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, vừa phải hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế tri thức nhằm rút ngắn khoảng cách về khoa học và công nghệ với các nước tiến tiến trong khu vực và trên thế giới Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, Đảng và Nhà nước đã khẳng định quốc sách hàng đầu là phát triển khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo Thực tế này đòi hỏi các cơ quan TT-TV phải có NLTT đầy đủ, có chất lượng cao phù hợp với yêu cầu NDT Bên cạnh đó, sự tiếp xúc, giao lưu văn hoá, trong đó có trao đổi, chia sẻ thông tin với các thư viện, trung tâm thông tin nước ngoài nhằm quảng bá hình ảnh đất
Trang 9nước, con người Việt Nam với bạn bè quốc tế, cũng như tiếp biến những giá trị văn hoá quốc tế vào Việt Nam, nhất là sau khi nước ta gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là việc làm cần thiết
Trong mạng lưới các cơ quan TT–TV, Hệ thống thư viện công cộng (TVCC)
có đối tượng phục vụ đa dạng, phong phú bao gồm tất cả mọi người dân / cộng đồng trong xã hội, do đó, NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam cũng đa dạng về nội dung và hình thức Khác với NLTT chỉ mang tính chuyên sâu về một số lĩnh vực trí thức nhất định của các thư viện chuyên ngành, đa ngành, NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam mang tính đặc thù, bao quát gần như toàn bộ các lĩnh vực tri thức, là di sản văn hoá thành văn của dân tộc, phản ánh lịch sử, giáo dục truyền thống, lòng yêu quê hương, đất nước giúp chúng ta hiểu rõ quá khứ, làm chủ hiện tại và góp phần định hướng phát triển tương lai Ngoài việc bao quát gần như toàn
bộ các lĩnh vực tri thức, NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam còn luôn phát triển
Về cơ bản, NLTT đã đáp ứng phần lớn nhu cầu của người dùng tin (NDT), là nền tảng cho mọi hoạt động TT-TV, là cơ sở để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin
và là tiền đề cho liên kết, hợp tác chia sẻ phát triển NLTT với các cơ quan TT-TV khác trong và ngoài nước nhằm thoả mãn nhu cầu nghiên cứu, học tập, giải trí của người dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Tuy nhiên, nhu cầu tin của NDT không phải bất biến mà ngày càng đa dạng, phong phú và phát triển, đòi hỏi Hệ thống TVCC Việt Nam phải thường xuyên nghiên cứu nắm rõ thực trạng, đề ra các giải pháp phát triển NLTT đảm bảo cả về lượng và chất, góp phần giải quyết những vấn đề cấp thiết của địa phương và đất nước Hệ thống TVCC Việt Nam cũng đang đứng trước vấn đề hết sức khó khăn trong việc lựa chọn thông tin / tài liệu do mâu thuẫn không thể tự giải quyết giữa kinh phí hoạt động được cấp còn eo hẹp và số lượng xuất bản phẩm khổng lồ trong và ngoài nước ngày càng có xu hướng tăng nhanh hàng năm, đòi hỏi thư viện phải phát triển NLTT phù hợp Hơn nữa, sự tác động ngày càng mạnh mẽ của bối cảnh thế giới đang chuyển dần sang xã hội thông tin và sự phát triển như vũ bão của CNTT
Trang 10và truyền thông cũng như nhu cầu về thông tin / tài liệu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày càng cao đã bộc lộ rõ NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập Đó là, NLTT của hệ thống TVCC Việt Nam chưa đủ mạnh, việc phối hợp, liên kết vẫn mang nặng tính hình thức, kém hiệu quả, thiếu phương pháp, thiếu chính sách phát triển NLTT khoa học, nhất quán
Do đó, việc khảo sát, nghiên cứu kinh nghiệm trong và ngoài nước để có cơ sở khoa học đưa ra các giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao không chỉ về chất mà cả
về lượng NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam có ý nghĩa cấp thiết không chỉ về lý luận mà cả về thực tiễn
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về NLTT là một trong những vấn đề quan trọng luôn được các cơ quan TT-TV, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Vì vậy, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh, góc độ khác nhau của vấn đề này như: Khái niệm NLTT; Khái niệm phát triển NLTT; Hình thức phát triển NLTT; Xây dựng thư viện điện tử và nội dung số; Vấn đề bản quyền; Xu hướng hợp tác phát triển NLTT; Công tác phát triển NLTT của Hệ thống TVCC…
Về nguồn lực thông tin, có nhiều công trình nghiên cứu, trong đó có một số
công trình tiêu biểu như: "Phát triển vốn tài liệu của thư viện và trung tâm thông tin" (Developing library and information centre collection) của Evans G Edward và Margaret Zarnosky Saponaro [79]; "Pháp luật thông tin và quản lý thông tin" (Information law and information management) của J.V Knoppers [87]; "Chính sách thông tin quốc gia và việc chia sẻ nguồn tài liệu" của Tiêu Hy Minh [54];
"Thuật ngữ chính thức" (Официальная терминология) [109] của Viện Hàn lâm
Trang 11tin quốc gia và việc chia sẻ nguồn tài liệu" Tiêu Hy Minh [54], các tác giả đều cho
rằng NLTT tương đương với tiềm lực của hoạt động thông tin bao gồm cả nguồn tin
và các yếu tố khác tạo nên nguồn tin như: cơ sở vật chất, kinh phí và nhân lực Còn J.V Knoppers, Evans G Edward và Margaret Zarnosky Saponaro trong các công
trình "Pháp luật thông tin và quản lý thông tin" [87] ; "Phát triển vốn tài liệu của thư viện và trung tâm thông tin" [79] lại coi NLTT là phần tiềm lực thông tin tương
đối phù hợp với nhu cầu tin của nhóm NDT nhất định, được tổ chức và kiểm soát
để có thể truy cập và chia sẻ dễ dàng
Về phát triển nguồn lực thông tin, một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
của các tác giả trong và ngoài nước như: luận án tiến sỹ “Xu hướng phát triển nguồn lực thư viện của các khu vực liên bang trong bối cảnh biến đổi có hệ thống xã hội” (Тенденции развития библиотечных ресурсов федерального округа в
контексте системных трансформаций социума) của Л Ю Данилова [103];
“Những con đường hoàn thiện thành phần và việc sử dụng kho sách thư viện tỉnh của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” của Phạm Văn Rính [41]; “Hướng tới chia sẻ nguồn lực toàn cầu - Phát triển bộ sưu tập trong các trường đại học ở Trung Quốc” (Toward worldwide resource sharing - Collection development in China higher educational institutions) của Yafan Song [98]; “Phát triển thông tin để trở thành nguồn lực” của Nguyễn Hữu Hùng [23] đã đề cập đến vấn đề phát triển
NLTT Theo các tác giả, để phát triển NLTT hiệu quả, cần xác định rõ mục tiêu phát triển NLTT trên cơ sở nắm vững đối tượng NDT và nhu cầu của họ, xác định nội dung cần bổ sung, chia sẻ, loại hình tài liệu mà NDT mong muốn, tăng cường hợp tác liên kết phát triển và chia sẻ NLTT để nâng cao hiệu quả phát triển NLTT, nhưng phát triển NLTT mang tính hệ thống lại ít được đề cấp
.Về chính sách phát triển nguồn lực thông tin, tiêu biểu là các công trình nghiên cứu “Những nguyên tắc cơ bản trong quản lý và phát triển vốn tài liệu”
(Fundamentals of collection development and management) của Johnson Peggy [84]; “Phát triển bộ sưu tập trong môi trường kỹ thuật số: Nhu cầu cấp thiết của các tổ chức thông tin trong thế kỷ XXI” (Collection development in a digiital
Trang 12environment : an imperative for information organizations in the twenty-first century) của Barbara Susana Sanchez Vignau, Ileana Lourdes Presno Queada [96];
“Cẩm nang nghề thư viện” của Lê Văn Viết [59]; “Phương pháp luận xây dựng chính sách phát triển nguồn tin” của Nguyễn Viết Nghĩa [34]; “Xây dựng chính sách phát triển nguồn tài nguyên thông tin của thư viện đại học Việt Nam “ của
Bùi Loan Thùy [49]
Các tác giả đều coi chính sách là văn bản chính thức do lãnh đạo thư viện ban hành, quy định các phương hướng cũng như cách thức xây dựng vốn tài liệu, các nguồn tin, NLTT của thư viện Chính sách phát triển NLTT / Vốn tài liệu / Nguồn tin được coi là thước đo phản ánh hiệu quả và trình độ phát triển hoạt động TT-TV,
là công cụ để điều tiết hoạt động bổ sung, thanh lý tài liệu , chủ động tạo động lực phát triển nguồn tài nguyên TT-TV với định tính và định lượng rõ ràng, chứng minh tầm nhìn xa của lãnh đạo thư viện, có lộ trình xác định đúng ưu tiên, những bước đi
và biện pháp thực hiện cụ thể Tuy nhiên, chính sách phát triển NLTT phù hợp với
Hệ thống TVCC còn ít được các tác giả quan tâm
Về hình thức phát triển nguồn lực thông tin, các công trình “Consortium -
Hình thức có hiệu quả để bổ sung nguồn tin điện tử” [35]; “Một số vấn đề xung quanh việc bổ sung tài liệu hiện nay” [36] của Nguyễn Viết Nghĩa đã đề xuất các
hình thức phát triển NLTT hiệu quả như “TOP DOWN” (Tập trung) và “BOTTOM UP” (Phân tán) trên cơ sở tập hợp đông đảo thư viện tham gia cùng đóng góp kinh phí và cùng truy cập tới các nguồn thông tin phong phú, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu tin của NDT Nhưng do phụ thuộc nhiều vào sự bảo trợ, thủ tục quản lý tài chính, sự nhiệt tình, tự nguyện của các thành viên cần có những giải pháp khả thi để duy trì hoạt động bền vững
Về xây dựng thư viện điện tử và phát triển nội dung số, được thể hiện rõ
trong một số công trình nghiên cứu như: “Yếu tố kỹ thuật số trong các dịch vụ thông tin thư viện” (The digital factor in library and information services) của G.E Gorman [81]; “Lý thuyết thư viện 2.0: Web 2.0 và tác động của nó tới các thư viện” (Library
Trang 132.0 theory: Web 2.0 and its implications for libraries) của J.M Maness [90]; luận án tiến sỹ “Hệ thống quản lý tự động nguồn lực thông tin của thư viện điện tử“ (Автоматизированная система управления информационными ресурсами электронной библиотеки của А А Леонтьев) [107]; “Phát triển tài liệu số - Yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng đào tạo cho các trường đại học ở Việt Nam” của
Trần Thị Quý [42]
Theo G.E Gorman [81], hiện đang có xu hướng tán dương thư viện điện tử, số hóa tài liệu, nhưng tác giả cũng khẳng định thư viện truyền thống vẫn đồng hành cùng thư viện điện tử Còn J.M Maness [90], А А Леонтьев) [107], Trần Thị Quý [42] lại quan tâm nhiều tới ứng dụng, điều hành Website trong thư viện điện tử, các phương pháp, mô hình quản lý NLTT, các thuật toán và thủ tục thực hiện trong hệ thống điều khiển tự động để xây dựng, vận hành thư viện điện tử hiệu quả cũng như tầm quan trọng của việc phát triển thông tin số thông qua hoạt động số hóa tài liệu, một xu hướng có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình sản sinh, lưu giữ, tìm kiếm và cung cấp thông tin theo hướng hiện đại… Quan điểm của các tác giả phù hợp với việc xây dựng thư viện điện tử và phát triển nội dung số trong giai đoạn hiện nay, nhưng xây dựng thư viện điện tử và phát triển nội dung số như thế nào cho đúng hướng và tương xứng với cơ sở hạ tầng thông tin của Hệ thống TVCC còn ít được các tác giả đề cập
Về vấn đề bản quyền, có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như “Quan
điểm của IFLA về vấn đề quyền tác giả trong môi trường điện tử” của IFLA [39];
“Phân tích vấn đề bản quyền trong việc xây dựng các nguồn thông tin thực của thư viện số” của Jiang Xiang Dong [29]; “Vấn đề bản quyền tác giả trong kỷ nguyên số: Góc nhìn từ thư viện” của Phạm Trúc Trương Lương [31] Theo IFLA [39],
Phạm Trúc Trương Lương [31] việc tổ chức lại tài liệu trong môi trường điện tử để phục vụ lợi ích chung và các nhu cầu chính đáng như học tập, nghiên cứu của người dân hoặc để phục vụ người khiếm thị, khiếm thính thì không nên coi là vi phạm các nguyên tắc về quyền tác giả mà nên coi là cách tiếp cận hợp lý Theo đó, Luật Quyền tác giả không nên cản trở thư viện chuyển dạng tài liệu dưới hình thức điện
Trang 14tử để dễ bảo quản, phục vụ và việc bảo vệ quyền tác giả khích lệ chứ không ngăn cản việc sử dụng tài liệu và khả năng sáng tạo Còn theo Jiang Xiang Dong [29] hiện
có nhiều quan điểm khác nhau, chưa thống nhất về việc coi số hóa tài liệu như hành
vi “phiên dịch” vì tác phẩm bị chuyển từ ngôn ngữ của người thành ngôn ngữ đọc máy, có quan điểm lại coi hành vi số hóa tác phẩm của các thư viện là hành vi phục chế, do đó, việc bảo hộ bản quyền cần làm cho hành vi phục chế, vốn là hành vi có thể tràn lan, được kiểm soát một cách hữu hiệu Quan điểm của các tác giả về vấn đề bản quyền cho thấy: i) Việc số hóa tài liệu, tổ chức lại tài liệu trong môi trường điện
tử của thư viện không vì mục đích lợi nhuận sẽ là hợp pháp ii) Luật Bản quyền phải khích lệ việc sử dụng tài liệu và hỗ trợ sự sáng tạo của cộng đồng Tuy nhiên, tác giả
sẽ cân nhắc và xem xét lại tính pháp lý của việc coi số hóa tác phẩm là hành vi phục chế, mà theo quan điểm của Jiang Xiang Dong là hợp pháp có phù hợp với luật pháp của Việt Nam và thế giới trong việc bảo vệ quyền tác giả hay không.?
Về xu hướng hợp tác phát triển nguồn lực thông tin, có nhiều công trình
tiêu biểu như: “Sự sợ hãi và chán nản trong hợp tác phát triển bộ sưu tập” (Fear and loathing in cooperative collection development) của Peter Collins [74]; “Mạng thư viện ở Ấn Độ chia sẻ nguồn lực: Hiện trạng và triển vọng” (Library Networking
in India for Resources Sharing: Present Status and Prospects) của Debal C Kar, Parha Bhattacharya, Subrata Deb [76]; “Tìn kiếm mô hình mới: Chia sẻ nguồn lực thông tin ở Trung Quốc - Nghiên cứu so sánh” (In search of new model: Library resource sharing in China - A comparative study) của Elaine Xiaofen Dong [78];
“Xây dựng siêu dữ liệu nguồn lực điện tử ở Nga: Vấn đề và triển vọng” (Creation of the electronic resources Meta-database in Russia: problems and prospects) của N Kasparova và M Shwartsman [86]; “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng và phát triển liên hợp thư viện Việt Nam để chia sẻ nguồn lực thông tin khoa học và công nghệ” của Vũ Anh Tuấn [55]; “Liên thông chia sẻ nguồn lực thông tin – Yếu tố quan trọng để các cơ quan Thông tin – Thư viện Việt Nam phát triển bền vững”
của Trần Thị Quý [40]
Dù cách tiếp cận khác nhau, nhưng các tác giả đều thống nhất: để hợp tác, liên kết phát triển NLTT hiệu quả cần có chính sách cụ thể, quy định rõ trách nhiệm,
Trang 15quyền lợi của các thành viên Các công trình nghiên cứu cũng cho thấy sự hợp tác, liên kết phát triển NLTT đã và đang là xu hướng tất yếu, không thể đảo ngược, sẽ luôn đồng hành cùng với quá trình phát triển và hội nhập quốc tế của các cơ quan thông tin, thư viện
Về công tác phát triển nguồn lực thông tin của Hệ thống thư viện công cộng Việt Nam, có các công trình nghiên cứu tiêu biểu “Một số vấn đề thiết lập hình
thức mượn, chia sẻ tài liệu, thông tin giữa các thư viện Việt Nam” [60] ; “Mô hình
tổ chức và hoạt động của thư viện tỉnh, huyện và cơ sở ở Việt Nam” [62] của Lê Văn Viết; “Số hoá tài liệu địa chí, xây dựng cấu trúc dữ liệu phục vụ tra cứu đa phương tiện làm phong phú vốn tài liệu địa chí” của Nguyễn Huy [27] Các tác giả
đã khẳng định Hệ thống TVCC Việt Nam xây dựng được NLTT phong phú, đa dạng bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và các ngôn ngữ thông dụng trên thế giới… với các loại hình tài liệu khác nhau Tuy nhiên, công tác phát triển NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam còn nhiều khiếm khuyết, đó là phần lớn thư viện chưa có chính sách phát triển NLTT, sự hợp tác, phối hợp hoạt động phát triển NLTT giữa các thư viện còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, cán bộ làm công tác phát triển NLTT phần lớn đều kiêm nhiệm thêm một số công tác khác, kinh phí bổ sung còn quá ít, việc ứng dụng CNTT chưa đồng đều, thống nhất gây khó khăn trong việc khai thác, chia sẻ NLTT nên công tác phát triển NLTT chưa đạt được hiệu quả như mong muốn
Nhìn vào tổng thể các công trình nghiên cứu về NLTT, có thể thấy: có khá nhiều công trình đã được công bố và đề cập đến các vấn đề lý luận và thực tiễn về NLTT, phát triển NLTT, xây dựng thư viện điện tử và phát triển nội dung số, vấn đề bản quyền trong môi trường số, xu hướng hợp tác phát triển, chia sẻ NLTT Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề chưa hoàn thiện, chưa được đề cập cần được giải quyết liên quan đến khái niệm NLTT, phát triển thư viện điện tử Đặc biệt, chưa có công trình nghiên cứu tổng thể nào về phát triển NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam Tác giả sẽ tiếp thu, kế thừa thành quả nghiên cứu của các công trình trên để xem xét, giải quyết, làm rõ các vấn đề liên quan đến đề tài luận án
Trang 163 Giả thuyết khoa học
Phát triển NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam hiện còn manh mún, tự phát, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu của NDT Nếu lãnh đạo các cấp nhận thức đúng tầm quan trọng của NLTT và tăng cường công tác quản lý; Xây dựng được mô hình phát triển NLTT phù hợp; Áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật nghiệp vụ; Coi trọng việc nghiên cứu nhu cầu tin và các yếu tố đảm bảo phát triển NLTT cả về lượng và chất; Tăng cường đầu tư kinh phí, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm; Chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ và đào tạo NDT thì chắc chắn Hệ thống TVCC Việt Nam sẽ xây dựng được NLTT đủ mạnh, thống nhất, liên thông không chỉ tại mỗi địa phương mà cả trên phạm vi toàn quốc, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống, thỏa mãn tối đa nhu cầu NDT
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đưa ra luận chứng, cơ sỏ khoa học về lý luận và thực tiễn của phát triển NLTT Đề xuất giải pháp khả thi phát triển nguồn lực thông tin của Hệ thống TVCC Việt Nam cả về lượng và chất Đồng thời, cũng đề xuất một số kiến nghị cho các cấp có thẩm quyền tham khảo để quyết định kịp thời nhằm phát triển NLTT cho Hệ thống TVCC Việt Nam
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận phát triển NLTT nói chung và cho Hệ thống TVCC Việt Nam nói riêng
- Nghiên cứu thực tiễn phát triển NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả phát triển NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam
Trang 175 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác phát triển NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: từ năm 2001 tới nay (từ khi Chủ tịch nước ký lệnh công
bố Pháp lệnh Thư viện vào ngày 11 tháng 01 năm 2001)
Phạm vi không gian: là toàn bộ Hệ thống TVCC Việt Nam trên cơ sở nghiên
cứu tại 9 mẫu thư viện cấp tỉnh và 18 mẫu thư viện cấp huyện Đế đảm bảo tính đại diện của mẫu về địa lý, tác giả chia đều 3 miền Bắc, Trung, Nam Mỗi miền chọn thư viện của 3 tỉnh:
- Khu vực miền Bắc: Hà Nội, Quảng Ninh, Tuyên Quang
- Khu vực miền Trung- Tây Nguyên: Bình Định, Gia Lai, Hà Tĩnh
- Khu vực miền Nam: Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sóc Trăng
* Tại mỗi tỉnh/ thành phố đã xác định, tác giả chọn 2 thư viện cấp huyện và cũng chú trọng đến tính đại diện của mẫu:
Thành phố Hà Nội: Quận Hoàn Kiếm và Huyện Quốc Oai; Tỉnh Quảng Ninh: Huyện Hải Hà và Thành phố Uông Bí; Tỉnh Tuyên Quang: Huyện Yên Sơn
và Chiêm Hóa; Tỉnh Bình Đình: Huyện Hoài Nhơn và An Nhơn; Tỉnh Gia Lai: Huyện Đắc Đoa và Chư Sê; Tỉnh Hà Tĩnh: Huyện Thạch Hà và Can Lộc; Thành phố Hồ Chí Minh: Quận 5 và Huyện Hóc Môn; Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Huyện Châu Đức và Thành phố Vũng Tàu; Tỉnh Sóc Trăng: Huyện Mỹ Xuyên và Long Phú
Thư viện cấp tỉnh và cấp huyện tại 3 khu vực được chọn là đại diện cho các vùng miền trong toàn quốc Ngoài tính vùng miền, các mẫu chọn trên còn đại diện cho các khu vực thành thị, nông thôn, miền núi, miền biển, đồng bằng có điều kiện phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, trình độ dân trí, mức độ hưởng thụ văn hóa cũng như mức độ đầu tư, tổ chức hoạt động thư viện khác nhau
Trang 18Thư viện cấp xã không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận án, dù vẫn là một bộ phận của hệ thống, do đại đa số không hội đủ các yếu tố cấu thành thư viện Đặc biệt, không được cấp kinh phí hoạt động thường xuyên, không có trụ sở cố định
và không có cán bộ thư viện theo đúng nghĩa… nên gần như chưa thể / không thể hoạt động và phát triển bình thường
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận được sử dụng trong luận án là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: nghiên cứu phát triển NLTT đảm bảo tính khách quan, phát triển, toàn diện, lịch sử, cụ thể Đồng thời, nắm vững quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về công tác TT-TV nói chung và phát triển NLTT nói riêng
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
+ Phương pháp tiếp cận hệ thống: nhằm có một cái nhìn tổng thể về những
vấn đề liên quan đến việc phát triển NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam đặt trong bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
+ Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu: Tác giả đã tiến hành
thu thập các tài liệu, dữ liệu ở trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án Đồng thời, tiến hành đọc, nghiên cứu để phân tích và tổng hợp những thông tin cần thiết cho luận án
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Để đảm bảo có thông tin đầy đủ
nhất, tác gải đã chuẩn bị hai bảng hỏi Một bảng hỏi dành cho cán bộ thư viện (bao gồm cả cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ trực tiếp làm công tác phát triển NLTT)
Trang 19Một bảng hỏi dành cho người dùng tin Đối với người dùng tin, ngoài vấn đề chú trọng đến địa bàn, tác giả còn chú trọng đến tiêu chí nghề nghiệp, trình độ, lứa tuổi Tác giả đã phát ra 567 phiếu và tổng số phiếu thu lại được 551 phiếu (đạt tỷ lệ 97,2
%) Đối với cán bộ thư viện và các chuyên gia, tác giả đã tiến hành phát 22 phiếu và thu về được 22 phiếu (đạt tỷ lệ 100%)
Phương thức phát phiếu và thu về theo các kênh như bưu điện, qua email và trực tiếp Sau khi thu thập thông tin từ các bảng hỏi, tác giả phân loại thành hai dạng: thông tin định tính và thông tin định lượng Các thông tin được xử lý để xây dựng luận cứ phục vụ cho việc chứng minh hoặc bác bỏ giả thuyết khoa học Tác giả đã sử dụng hai phương pháp xử lý thông tin:
- Xử lý logic đối với thông tin định tính: để nghiên cứu về hành vi, sự kiện, chức năng tổ chức, phản ứng… nhằm xây dựng giả thuyết và chứng minh cho giả thuyết từ những sự kiện rời rạc thu thập đuợc, đồng thời, đưa ra những phán đoán
về bản chất, logic của sự kiện trong hệ thống các sự kiện được xem xét
- Xử lý toán học đối với các thông tin định lượng: tác giả sử dụng phương pháp thống kê toán thông qua phần mềm xã hội học SPSS để xác định xu hướng, diễn biến của tập hợp số liệu thu thập được nhằm đưa ra các con số cụ thể theo tỷ lệ phần trăm, được trình bày dưới dạng bảng số liệu; biểu đồ; đồ thị; phân tích chỉ
số trung bình
+ Phương pháp chuyên gia: nhằm thu thập các ý kiến / thông tin của các nhà
quản lý, chuyên gia có trình độ chuyên sâu trong nghiên cứu và kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn của ngành TT-TV nói chung và phát triển NLTT cho Hệ thống TVCC Việt Nam nói riêng để có cơ sở trong việc đánh giá, lựa chọn các giải pháp phù hợp, mang tính khách quan, khoa học cho vấn đề đang nghiên cứu
+ Phương pháp thống kê số liệu
Tác giả dùng phương pháp thống kê thông qua sử dụng phần mềm SPSS Phương pháp này giúp lựa chọn, ghi chép các dữ liệu nghiên cứu liên quan có hệ
Trang 20thống và chính xác Từ kết quả thu được, tác giả đã thống kê phân nhóm, xử lý phân tích và so sánh đa chiều kết quả để nắm được thực trạng công tác phát triển NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam
+ Phương pháp so sánh
Giúp tác giả biết được điểm mạnh, điểm yếu về phát triển NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam so với các thư viện, cơ quan thông tin trong và ngoài nước,
từ đó nhận diện được NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp cho cơ quan quản lý nhà nước, các nhà hoạch định chính sách, cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp của ngành thư viện và Hệ thống TVCC Việt Nam có cơ sở khoa học đưa ra các quyết định khả thi nhằm phát triển NLTT một cách hiệu quả, góp phần thỏa mãn tối đa nhu cầu thông tin của NDT
- Kết quả của luận án cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho những người làm công tác nghiên cứu, cán bộ giảng viên trong các cơ sở đào tạo ngành thư viện
ở Việt Nam, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho công tác phát triển NLTT nói riêng và hoạt động TT-TV nói chung
Trang 22CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN CỦA HỆ THỐNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNG VIỆT NAM 1.1 Cơ sở lý luận phát triển nguồn lực thông tin
1.1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm nguồn lực thông tin
Bước vào thế kỷ XXI, nhân loại cũng đồng thời bước vào giai đoạn mới của
sự phát triển xã hội, đó là xã hội thông tin với nền kinh tế tri thức là chủ đạo Trong
xã hội thông tin, tri thức hay thông tin có giá trị cao là động lực, nguồn lực của mọi
sự phát triển xã hội Vì vậy, tổ chức nào, cá nhân nào nắm được thông tin sẽ chiến
thắng trong cuộc cạnh tranh Vậy thông tin (Information) là gì? Hiện còn nhiều quan
niệm khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận Cho dù cách tiếp cận rất đa dạng, nhưng các nhà thông tin học trên thế giới đã quy về bốn cách cơ bản: theo nghĩa hiểu thông thường; theo quan điểm của lý thuyết thông tin; theo quan điểm triết học và theo quan điểm của đời sống xã hội
Theo nghĩa hiểu thông thường, người ta cho rằng thông tin là nội dung của mọi thông điệp giao tiếp Điều này thể hiện trước hết trong Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên xô (cũ): “thông tin là tin tức được truyền từ người này qua người khác bằng lời nói, chữ viết hay bằng một phương tiện nào đó” [111, tr 323] Tương tự, trong Từ điển giải nghĩa thuật ngữ viễn thông Anh – Việt, thông tin là “tin tức cần truyền đạt (cho dù tạm thời chưa truyền đạt) mà con người gán cho một thực thể (động tác, cờ hiệu, số liệu, chữ viết ) bằng cách biểu thị chúng theo tập quán hoặc theo quy ước mà khi truyền đi, người gửi, người nhận cùng hiểu một cách giống nhau Từ dùng một dữ liệu, những người nhận khác nhau có thể thu được thông tin khác nhau, tùy theo tri thức và quá khứ của người đó" [56, tr 226]
Theo quan điểm của lý thuyết thông tin thì thông tin chính là lượng đo trật tự nhân tạo chống lại sự hỗn độn của thế giới tự nhiên Sự vật, hiện tượng nào con người
Trang 23chưa khám phá được, chưa nghiên cứu được bản chất, quy luật vận động và phát triển của chúng thì không phải là thông tin Do vậy, tăng lượng tin tức/ sự hiểu biết về một vật / sự vật nào đó chính là giảm đi độ chưa biết về nó
Theo quan điểm Triết học, thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh, …Con người sở dĩ nhận biết và phân biệt được vật này với vật khác, hiện tượng này với hiện tượng khác hay nói cách khác là nhận thức được thế giới khách quan là nhờ vào các giác quan tiếp nhận được các dữ liệu và nhờ bộ não xử lý sắp xếp lại các dữ liệu có tổ chức, có ý nghĩa thì đó là thông tin
Tiếp cận hiểu theo quan điểm của đời sống thực tiễn, các nhà khoa học cho rằng thông tin không ngừng được gia tăng cùng với nhu cầu ngày càng tăng của con người trong hoạt động sản xuất và đời sống Với cách tiếp cận này, Từ điển giải nghĩa thư viện học và tin học của Hiệp hội thư viện Mỹ lại cho rằng "thông tin là tất
cả những ý tưởng, những sự kiện và những công việc của trí óc tưởng tượng ra, đã được truyền đạt, ghi nhận, ấn loát và phát hành một cách chính thức hay không chính thức dưới bất kỳ hình thức nào" [69, tr 105] Ở Việt Nam, PGS.TS.Nguyễn Hữu Hùng cho rằng “thông tin là kết quả của sự biến đổi thông qua sự phân tích, tổng hợp và đánh giá dựa trên những dữ liệu có được để đưa ra các quyết định cần thiết”
và “thông tin có thể ở dạng viết, nói, hình ảnh, cảm nhận bằng các giác quan của con người” [24 tr.323] Trong tác phẩm “Phát triển vốn tài liệu trong thư viện và cơ quan thông tin” của TS Phạm Văn Rính và TS Nguyễn Viết Nghĩa thì “thông tin là cái giúp ta hiểu rõ hơn bản chất của các sự vật, hiện tượng” [45, tr.15], “Thông tin là bản chất vốn có của tài liệu, nói đến tài liệu ta không thể không nói đến thông tin”[45, tr.14] Theo PGS TS Đoàn Phan Tân, "Thông tin thường được thu thập từ bạn bè, chuyên gia, ấn phẩm, băng từ, phích mục lục, thư mục in ấn, cơ sở dữ liệu hoặc là tập hợp các dữ liệu làm tăng thêm sự hiểu biết về một vấn đề nào đó" [47, tr.9] Còn
TS Lê Văn Viết lại khẳng định "thông tin là tin tức, số liệu, dữ kiện, khái niệm, tri thức giúp tạo nên sự hiểu biết của con người về một đối tượng, hiện tượng, vấn đề nào đó Các thông tin này được lưu giữ trên các vật mang tin khác nhau mà những người làm công tác thư viện vẫn quen gọi là tài liệu" [59, tr.8]
Trang 24Trên cơ sở kế thừa tri thức đã nghiên cứu được của các nhà khoa học đi trước, tác giả cho rằng thông tin chính là tri thức của nhân loại đã tích lũy được thông qua các hoạt động của mình Hay nói cách khác thông tin là sự hiểu biết của con người về bản chất / thuộc tính của các sự vật và hiện tượng; các quy luật vận động và phát triển của tự nhiên và xã hội Thông tin được biểu hiện dưới các dạng nói, chữ viết, hình ảnh, số liệu, biểu đồ, …được lưu giữ trên các dạng vật chất khác nhau
Khái niệm Nguồn lực thông tin (Information resources) cũng là một trong những khái niệm mà nội hàm của nó đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận khác nhau Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học của Liên hiệp quốc (UNESCO) cho rằng: "Nguồn lực thông tin bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, số, hình ảnh hoặc âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước và không quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tổ chức và ngành công nghiệp thông tin" [14, tr 5] Theo Tân từ điển Thuật ngữ và Khái niệm của Э Г Азимов và А Н Щукин “NLTT là tập hợp các nguồn lực trí tuệ liên quan đến việc trao đổi thông tin, bao gồm cả máy tính hỗ trợ” [100, tr 102] Trong công trình ‘Thuật ngữ chính thức’ của Viện Hàn lâm Khoa học Nga “NLTT là tài liệu và các tập tài liệu, dữ liệu riêng biệt trong hệ thống thông tin (thư viện, lưu trữ, kho, ngân hàng dữ liệu)” [109, tr.72] Theo Viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Nga Антопольский А.Б.và GS TS Попов И.И, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia Liên bang Nga khẳng định “NLTT là một dạng sản phẩm trí óc, trí tuệ của con người, là phần tiềm lực thông tin có cấu trúc được kiểm soát và có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình sử dụng” [101], [110] Còn theo TS J.V Knoppers, Phó chủ tịch Ủy ban quản lý các dịch vụ thông tin ở Ottawa, Canađa: "NLTT là một phần của sản phẩm trí tuệ, sản phẩm lao động khoa học, kiến thức, sáng tạo của con người, phản ánh những thông tin được kiểm soát, được ghi lại dưới một dạng vật chất nào đó NLTT phải được cấu trúc, tổ chức lại giúp con người có thể tìm và khai thác được chúng theo nhiều cách khác nhau" [87,
tr 64] Còn nhà thư viện học Evans G Edward và Margaret Zarnosky Saponaro, Đại học Connecticut của Mỹ lại cho rằng "NLTT là tập hợp của các loại hình tài
Trang 25liệu, bao gồm cả những đĩa CD-ROM có liên kết tới các trang web mà NDT có thể
dễ dàng truy cập và xem những nội dung có vẻ như lỗi thời của những kỷ nguyên trước đây thông qua Google" [79, tr 49] Nhà nghiên cứu Tiêu Hy Minh (Học viện Thông tin- Thư viện, Đại học Vũ Hán, Trung Quốc) lại cho rằng “NLTT là những thủ tục, các phương tiện lưu trữ, nguồn tài nguyên thông tin được tổ chức và có thể khai thác thông qua các điểm truy cập thông tin” [54, tr 23- 29] Các nhà Thư viện học như F Voroixki, N.L Khakhaleva, TS L Danhilova, TS I.A Phalaeva, TS L.G
Ponomareva coi NLTT chính là nguồn lực thư viện hoặc NLTT - Thư viện
Ở Việt Nam, theo TS Nguyễn Viết Nghĩa, NLTT và vốn tài liệu là một Quan điểm này được thể hiện qua khẳng định “chính sách phát triển NLTT là một tài liệu thành văn, một công bố chính thức được ban hành bởi lãnh đạo của một thư viện hay cơ quan thông tin, quy định các phương hướng cũng như cách thức xây dựng vốn tài liệu của cơ quan” [34, tr 12] Theo TS Lê Văn Viết “NLTT là tổ hợp các tài liệu phản ánh những kết quả nghiên cứu khoa học trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người” [61, tr 164 ] Theo PGS TS Trần Thị Quý
"NLTT là các loại hình thông tin đã được lưu giữ trên các dạng vật chất khác nhau thuộc sở hữu của mỗi tổ chức NLTT này phù hợp với nhu cầu tin của một nhóm NDT nhất định sau khi đã được lựa chọn, thu thập, xử lý, lưu giữ và tổ chức dưới các hình thức khác nhau để có thể tra cứu, truyền tải thông tin tới người dùng một cách hiệu quả thông qua sự tác động của mọi nguồn lực khác nưã trong tổ chức đó" Còn TS Nguyễn Hồng Sinh lại coi “NLTT chính là nguồn tài nguyên thông tin” Trong nghiên cứu về chính sách phát triển NLTT, TS Lê Văn Viết cho rằng “NLTT
và vốn tài liệu là tương đồng, chỉ khác nhau ở thành phần, bộ máy tra cứu và nơi lưu trữ, vì chính sách phát triển NLTT "Là việc xác định những nguyên tắc, phạm
vi, tiêu chuẩn bổ sung của thư viện nào đó" [59, tr 122]
Tuy có một số khác biệt nhưng xét cho cùng, những quan điểm trên đều coi NLTT là thông tin / tri thức được ghi lại, cố định lại thông qua một hệ thống dấu hiệu và được lưu trữ, bảo quản trên những dạng vật chất có đặc tính vật lý khác nhau như: sách, báo in ấn hoặc tài liệu điện tử, được tổ chức theo một cấu trúc
Trang 26nhất định và được lưu giữ trong các kho tài liệu / hệ thống máy tính để quản lý, kiểm soát và khai thác hiệu quả Tính cấu trúc thể hiện ở chỗ các thông tin được trình bày, diễn đạt, nhận dạng (nhận dạng về hình thức và nhận dạng về nội dung) theo các quy cách và tiêu chuẩn nghiệp vụ thống nhất Đồng thời, NLTT cũng được tổ chức khoa học, tạo hệ thống các điếm tra cứu, truy cập linh hoạt sao cho NDT có thể dễ dàng khai thác cũng như khả năng trao đổi, chia sẻ nhiều chiều giữa các hệ thống thông tin tương thích với nhau Ngoài ra, NLTT còn có tính giá trị Tính giá trị của NLTT được thể hiện thông qua mức độ phù hợp giữa nội dung NLTT với nhu cầu tin của NDT, chức năng, nhiệm vụ của thư viện Ngày nay, dưới tác động mạnh mẽ của CNTT, nhiều loại hình tài liệu, chất liệu lưu trữ, cách thức tổ chức, phương thức khai thác, phổ biến thông tin đã có sự thay đổi về chất để dễ dàng thích nghi với nhu cầu tin của người dùng tin Xét cho cùng, về bản chất, vốn tài liệu và NLTT không phải là hai thực thể riêng biệt, không liên quan gì đến nhau mà
đó chỉ là tên gọi khác nhau, có sự tiếp nối, kế thừa, phát triển để hòa nhập với xu thế phát triển của CNTT nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu tin của NDT
Tóm lại, nghiên cứu các cách tiếp cận về NLTT của các nhà khoa học ta thấy
về nghĩa rộng, có thể hiểu NLTT chính là tiềm lực của hoạt động thông tin thư viện Hoạt động này bao gồm nguồn tin / vốn tài liệu, cơ sở vật chất, hạ tầng CNTT; nguồn nhân lực / đội ngũ cán bộ đảm bảo cho hoạt động của một tổ chức / cơ quan
TT - TV Về nghĩa hẹp, có thể hiểu NLTT chính là bộ phận tích cực (những thông tin được kiểm soát, tổ chức lại theo một cách thức nhất định để có thể tìm kiếm, truy cập, khai thác sử dụng phục vụ cho các mục đích khác nhau của con người một cách hiệu quả nhất) của tiềm lực thông tin
Kế thừa tri thức của các nhà khoa học đi trước đã nghiên cứu về NLTT, tác giả luận án tiếp cận NLTT theo hướng nghĩa hẹp và cho rằng NLTT là tổ hợp các loại hình tài liệu, dữ liệu được tổ chức, bảo quản và phổ biến, nền tảng của mọi hoạt động TT-TV nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu tin của NDT trong bối cảnh công nghệ thông tin và truyền thông đang phát triển
Trang 271.1.1.2 Khái niệm phát triển nguồn lực thông tin
Theo Từ điển tiếng Việt, phát triển là “biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp, làm cho tốt hơn lên ” [57, tr.769] Như vậy, "phát triển" là từ dùng để chỉ sự biến đổi của sự vật, hiện tượng từ trạng thái tồn tại cũ sang trạng thái tồn tại mới, đó là sự biến đổi cả về chất và lượng của sự vật, hiện tượng Về nội hàm khái niệm “phát triển NLTT”, hiện có nhiều quan niệm giống nhau, nếu có sự khác biệt thì chỉ thể hiện ở chỗ có quan điểm nhấn mạnh hơn đến việc ứng dụng CNTT, phát triển sưu tập số / phát triển NLTT điện tử để phù hợp với xu hướng của thời đại và đáp ứng nhanh chóng nhu cầu NDT Còn phần lớn đều cho rằng phát triển NLTT là phát triển cả về lượng
và chất của bộ sưu tập thông tin số và bộ sưu tập thông tin truyền thống / in ấn thông qua các hoạt động bổ sung, chia sẻ, thanh lý, tổ chức, bảo quản, tra cứu phục
vụ và nghiên cứu nhu cầu của người dùng tin
Theo xu hướng phát triển NLTT là tăng cường ứng dụng CNTT, phát triển sưu tập số / phát triển NLTT điện tử để phù hợp với xu hướng của thời đại và đáp ứng nhanh chóng nhu cầu NDT, nhà khoa học Johnson Peggy cho rằng “phát triển NLTT từ lâu đã được hiểu là tập hợp các hoạt động như lựa chọn tài liệu, đánh giá nhu cầu NDT hiện tại và NDT tiềm năng, đánh giá NLTT, quản lý ngân sách, tiếp cận, liên lạc với cộng đồng, chia sẻ NLTT” “Tập hợp này cũng bao gồm cả việc loại bỏ tài liệu không thích hợp, tạo lập kế hoạch bổ sung bền vững để có cơ sở chắc chắn phát triển NLTT” [84, tr 305] Theo quan điểm của Evans G Edward và Margaret Zarnosky Saponaro phát triển NLTT cần chú trọng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin, vì vậy ông đã lưu ý “cần căn cứ vào nhu cầu NDT để bổ sung các loại hình tài liệu phù hợp” và ông đã lý giải: “vào những năm 90 của thế kỷ XX, NDT thích xem, tra cứu thông tin thông qua các loại tài liệu in ấn truyền thống, nhưng ngày nay NDT, theo cách tự nhiên, lại tìm đến các trang Web” [79, tr 22] Cùng xu hướng này, Barbara Susana Sanchez Vignau và Ileana Lourdes Presno Queada của Trường Đại học tổng hợp La Habana, Cuba cho rằng: phát triển NLTT trong môi trường kỹ thuật số là đòi hỏi của xã hội thông tin hiện nay, là con đường
Trang 28tất yếu hướng tới và khởi nguồn của thư viện kỹ thuật số, cho phép cung cấp / phổ biến số lượng lớn thông tin dưới các định dạng điện tử cho NDT Các tác giả cũng chỉ rõ phát triển NLTT số là tập hợp của các quá trình thu thập nội dung, thẩm định,
tổ chức các nội dung thông tin, xây dựng và duy trì NLTT số, và mở ra cánh cửa cho sự sáng tạo, kết hợp nội dung mới có giá trị gia tăng trong một đơn vị không gian nơi mà tất cả các thông tin được thu thập đúng tiêu chí và được tổ chức theo cấu trúc chung [96]
Theo xu hướng phát triển NLTT là phát triển đồng thời cả hai loại hình tài liệu: truyền thống và điện tử, Evans G Edward và Margaret Zarnosky Saponaro khuyến cáo “TVCC cần lưu ý đến nội dung tài liệu bổ sung, tránh tình trạng quá tập trung ưu tiên vào một nội dung và lãng quên những nội dung khác mà cộng đồng có nhu cầu” [79, tr 22] Quan điểm này được thể hiện rõ nét trong Từ điển giải nghĩa Thư viện học và Tin học của Hiệp hội Thư viện Mỹ “phát triển NLTT là sự phát triển bộ sưu tập của thư viện, bao gồm việc xác định và phối hợp chính sách tuyển chọn, lượng định nhu cầu của người sử dụng, những nghiên cứu về việc sử dụng sưu tập, việc đánh giá sưu tập, nhận diện các nhu cầu của sưu tập, tuyển chọn tài liệu, lập kế hoạch về việc chia sẻ tài nguyên, việc bảo quản sưu tập và việc loại bỏ tài liệu ra khỏi sưu tập” [69, tr 43] Quan điểm của GS TS G.E Gorman, Khoa Quản trị thông tin thuộc Trường Đại học Tổng hợp Victoria (New Zealand) và GS
TS khoa học TT-TV Lorna Perterson, Đại học Thông tin, trực thuộc Trường Đại học Tổng hợp New York (Mỹ) về phát triển NLTT rất rõ ràng Họ cho rằng hiện đang có xu hướng tán dương số hóa tài liệu, nhưng cần khẳng định tài liệu truyền thống vẫn đồng hành cùng chúng ta, bởi: "Cuộc cách mạng kỹ thuật số sẽ tiếp tục phát triển và sẽ có nhiều thứ để "giải trí" cho những người nghiện công nghệ, nhưng vẫn tiếp tục tồn tại nhu cầu và sự quan tâm đến những định dạng truyền thống Chúng ta cần có chỗ cho cả hai trong môi trường thông tin mở " [81, tr 15] Còn theo TS Phạm Văn Rính phát triển NLTT cần chú trọng đến phát triển đa dạng các loại hình thông tin / tài liệu “Không phải chỉ hoàn thiện cơ cấu môn loại mà cần tăng cường thể loại ấn phẩm, phải chú ý đưa vào kho sách các hình thức mang tin
Trang 29khác nữa” [43] Khi nói về phát triển NLTT, PGS TS Nguyễn Hữu Hùng, cho rằng
“đang tồn tại một sự khác biệt rất lớn giữa các khu vực và giữa các nước về hai tham số cơ bản là trình độ khoa học - giáo dục và khả năng với tới thông tin - tri thức, phản ánh tính không đồng đều trong quá trình phát triển nói chung và phát triển NLTT nói riêng”… “điều chính yếu nhất là nội dung thông tin để phục vụ thiết thực cho các hoạt động phát triển nói chung và hoạt động khoa học - đào tạo nói riêng chứ không đơn thuần là mua sắm trang thiết bị, phần mềm, tạo lập Website…” [23], [25] Cũng với xu hướng trên, PGS TS Trần Thị Quý cho rằng:
"Phát triển NLTT của một tổ chức (cơ quan thông tin, thư viện) chính là sự phát triển cả về lượng và chất thông qua hoạt động thu thập, xử lý, tổ chức lưu giữ, bảo quản, phục vụ và điều chỉnh các yếu tố tác động tích cực khác sao cho thông tin / tài liệu (cả truyền thống và hiện đại) phù hợp nhất với nhu cầu tin của người sử dụng thông qua các hoạt động nghiên cứu mức độ thỏa mãn nhu cầu thông tin của họ và đánh giá hiệu quả sử dụng"
Trên cơ sở kế thừa kết quả đã nghiên cứu của các nhà khoa học, tác giả luận
án cho rằng phát triển NLTT là sự gia tăng cả về lượng và chất trong sự cân đối hài hòa nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu thông tin của NDT bằng NLTT của cả trong và ngoài thư viện thông qua các tiêu chí đề cập trong chính sách phát triển NLTT, cũng như khả năng mở rộng liên kết, chia sẻ với các nguồn thông tin khác và sự đầu tư hiệu quả Đồng thời, chú trọng công tác quản lý NLTT để tạo ra các quy trình vận hành, cơ chế kiểm soát nhằm nâng cao cả lượng và chất NLTT và khai thác tối đa mọi tiềm năng Tác giả cũng cho rằng, lượng của NLTT của Hệ thống TVCC sẽ được tăng cường thông qua các hoạt động bổ sung hiện tại, hồi cố, liên kết hợp tác chia sẻ NLTT giữa các thư viện và cơ quan thông tin Chất lượng NLTT cũng sẽ được nâng cao, nội dung thông tin luôn được cập nhật, phù hợp với nhu cầu của NDT và được phục vụ nhanh chóng, chính xác, đầy đủ Ngoài ra, cũng cần đảm bảo việc bảo quản, thanh lý tài liệu giảm thiểu tối đa sự nhiễu tin theo đúng quy trình nghiệp vụ Thiếu một trong hai tiêu chí về lượng hoặc chất, cần xem xét lại hiệu quả công tác phát triển NLTT, bởi nếu chỉ quan tâm chất lượng tài liệu mà không
Trang 30quan tâm đến số lượng thì NLTT sẽ gia tăng không cân đối, hài hòa, không thể đáp ứng nhu cầu NDT, không hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao và ngược lại Ngoài ra, NLTT của cơ quan thông tin, thư viện nào đó đều là một bộ phận trong NLTT của hệ thống cơ quan thông tin, thư viện đó NLTT của một cơ quan thông tin, thư viện trong cùng một hệ thống có mối quan hệ qua lại và phụ thuộc lẫn nhau, tạo thành chỉnh thể thống nhất, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, đảm bảo cung cấp thông tin / tài liệu cho NDT một cách phù hợp, đầy đủ, kịp thời, chính xác Trong mối quan hệ này, để tiết kiệm kinh phí, nhân lực, thư viện cần nắm rõ nguồn tin / tài liệu nào đó đang ở đâu để có thể kịp thời đáp ứng khi NDT cần chứ thư viện không cần
bổ sung nguồn tin / tài liệu đã có đó để tránh trùng lặp Do đó, phát triển NLTT của từng cơ quan thông tin, thư viện là một bộ phận cấu thành không thể tách rời với phát triển NLTT của cả hệ thống
1.1.1.3 Khái niệm hệ thống
Theo cách hiểu chung nhất, hệ thống xem xét sự vật trong sự thống nhất của toàn thể và trong các mối liên hệ tương tác của các yếu tố tạo thành Hiện có rất nhiều khái niệm về hệ thống xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau Chẳng hạn,
hệ thống là một tập hợp nhiều phần tử có những mối ràng buộc lẫn nhau để cùng thực hiện một mục tiêu nhất định nào đó, là cách nhìn thực tế phức tạp, xem sự vật như một tổng thể bao gồm nhiều phần tử như người, phương tiện, phương pháp…
có ràng buộc lẫn nhau; Hệ thống cũng là tập hợp các yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ tạo thành một thể thống nhất; Hệ thống còn là tập hợp những tư tưởng, những nguyên tắc, quy tắc liên kết với nhau một cách logic thành một thể thống nhất như hệ thống ngân hàng, hệ thống đường giao thông, hệ thống sông ngòi… Theo Từ điển tiếng Việt, hệ thống là “tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất như hệ thống đường sắt, hệ thống
đo lường, hệ thống tổ chức Hệ thống cũng có thể hiểu là tập hợp những tư tưởng, nguyên tắc, quy tắc liên kết với nhau một cách logic, làm thành một thể thống nhất như hệ thống tư tưởng, hệ thống các quy tắc ngữ pháp ” [57, tr.434]
Trang 31Theo quan điểm Triết học, ngay từ thời cổ đại, Arixtôt đã khẳng định toàn thể lớn hơn tổng số các bộ phận của nó Chủ nghĩa Mác đã trình bày những nguyên tắc nhận thức khoa học đối với các hệ thống phát triển hoàn chỉnh Theo quan điểm của khoa học hiện đại thì bất kỳ khách thể nào trong thế giới hiện thực cũng là một
hệ thống, nghĩa là bao gồm các bộ phận, những yếu tố cấu thành có quan hệ nội tại với nhau Quan điểm hệ thống xem xét sự vật trong sự thống nhất của toàn thể và trong các mối liên hệ tương tác giữa các yếu tố từ lâu đã được khẳng định là cách tiếp cận khoa học Cũng theo quan điểm của khoa học hiện đại, hệ thống có một số đặc trưng cơ bản:
- Mỗi hệ thống gắn liền với một hệ thống tổ chức nhất định Tính tổ chức thể hiện ở cấu trúc thứ bậc, đặc trưng cho kết cấu hình thức và phương thức hoạt động của hệ thống Mỗi hệ thống gồm nhiều phân hệ, nhiều hệ con, nhiều yếu tố hợp thành Mỗi phân hệ, mỗi hệ con, mỗi yếu tố vừa là một yếu tố của hệ thống cao hơn, vừa là một hệ thống của những yếu tố thấp hơn Như vậy, bất kỳ một hệ thống nào cũng có thể coi như là một yếu tố của hệ thống thuộc loại cao hơn, đồng thời các yếu tố của nó cũng có thể là một hệ thống thuộc loại thấp hơn
- Các yếu tố mà hệ thống với tư cách là một chỉnh thể có những thuộc tính mới, chất lượng mới, những cái vốn không có ở yếu tố và các bộ phận hợp thành hệ thống Vì lẽ đó, người ta nói rằng chỉnh thể lớn hơn tổng số các bộ phận của nó
- Hệ thống có khả năng tự điều chỉnh trên cơ sở thu thập, tàng trữ, chế biến
và xử lý thông tin nhằm đạt đến mục đích nhất định
- Hệ thống không phải chỉ là các mối liên hệ và quan hệ giữa các yếu tố, các
bộ phận cấu thành, mà còn là sự thống nhất với môi trường (con người, phương tiện, quy luật, chính sách…) thông qua những mối quan hệ qua lại của nó Hệ thống không thể hoạt động độc lập nếu không quan tâm tới môi trường bao quanh hệ thống Như vậy, hệ thống là một tập hợp những yếu tố, những bộ phận có mối liên hệ qua lại với nhau, tác động lẫn nhau, khi kết hợp lại chúng có những chức năng đặc biệt và tạo thành một chỉnh thể thống nhất Một hệ thống có thể bao gồm nhiều bộ phận,
Trang 32thành phần được gọi là hệ thống con Mỗi một hệ thống con đảm nhận một số nhiệm vụ riêng biệt nào đó trong hệ thống lớn mà nó là một thành phần
Trên cơ sở tiếp cận quan điểm hệ thống, các nhà thư viện học cho rằng hệ thống thư viện nếu được tổ chức thành một thể thống nhất thì hiệu quả hoạt đông sẽ tăng lên gấp nhiều lần, nhất là trong đảm bảo cung cấp tài liệu đầy đủ, kịp thời và chính xác, đồng thời tiết kiệm kinh phí đầu tư, nâng cao giá trị tài liệu Trong khuôn khổ luận án,
Hệ thống TVCC Việt Nam được hình thành bởi các TVCC và các cấp TVCC, tạo nên
ưu thế, sức mạnh mới mà khi hoạt động riêng rẽ các thư viện và các cấp thư viện không thể có được Đây là quan hệ đa chiều giúp Hệ thống TVCC Việt Nam phát triển bền vững Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, bản thân các TVCC và các cấp TVCC cũng là những hệ thống con, thực hiện các nhiệm vụ của Hệ thống TVCC Việt Nam mà nó là thành viên Do đó, khi vận hành hệ thống, ngoài việc quan tâm tới tổng thể cũng cần phải lưu ý tương xứng tới các bộ phận cấu thành, nếu không, Hệ thống TVCC Việt Nam chỉ tồn tại mang tính hình thức Tác giả sẽ tiếp cận hệ thống theo quan điểm này
để giải quyết những vấn đề liên quan đến Hệ thống TVCC Việt Nam
1.1.2 Các yếu tố tác động đến phát triển nguồn lực thông tin
1.1.2.1 Chính sách phát triển nguồn lực thông tin
Là yếu tố quan trọng nhất giúp TVCC phát triển NLTT đúng hướng và khoa học trên cơ sở xác định rõ những tiêu chí như: loại hình tài liệu cần bổ sung; tỷ lệ kinh phí cho từng loại hình tài liệu; nội dung chủ đề, ngôn ngữ tài liệu; số lượng, chất lượng của tài liệu; thanh lý tài liệu, mức độ phổ biến của tài liệu… phù hợp với chức năng nhiệm vụ của thư viện, nhu cầu hiện tại cũng như lâu dài của NDT
1.1.2.2 Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin
Tác động mạnh mẽ đến công tác phát triển NLTT, là một trong nhưng cơ sở quan trọng để xây dựng và điều chỉnh chính sách phát triển NLTT Ở góc độ khác, đặc điểm nhu cầu tin của NDT thúc đẩy việc ứng dụng CNTT, nâng cao trình độ cán bộ, phát triển cơ sở hạ tầng và chất lượng hoạt động thư viện Đồng thời, khi
Trang 33đặc điểm nhu cầu tin của NDT thay đổi thì chính sách phát triển NLTT cũng phải điều chỉnh cho phù hợp
1.1.2.3 Kinh phí phát triển nguồn lực thông tin
Là nguồn tài chính chủ yếu của công tác phát triển NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam nhằm đảm bảo cho hệ thống phát triển NLTT cả về lượng và chất theo hướng bền vững, quyết định sự đa dạng, phong phú, chất lượng NLTT cũng như tính khả thi của chính sách phát triển NLTT Tuy nhiên, khi kinh phí dành cho hoạt động phát triển NLTT của toàn hệ thống và các cấp thư viện hạn hẹp thì khả năng đáp ứng nhu cầu tin của NDT cũng như vai trò, vị thế xã hội của hệ thống và thư viện sẽ bị giảm sút, trong nhiều trường hợp, hoạt động của thư viện cũng như hệ thống sẽ bị đình trệ
1.1.2.4 Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin
Phát triển NLTT hiệu quả, có chất lượng, đáp ứng nhu cầu NDT và duy trì hoạt động bền vững sẽ tỷ lệ thuận hoặc nghịch với mức độ ứng dụng CNTT trong hoạt động TT-TV Mức độ ứng dụng CNTT được thể hiện thông qua lượng và chất của NLTT số (CSDL toàn văn, CSDL dữ kiện, CSDL thư mục ), hệ thống các sản phẩm và dịch vụ TT-TV, thiết bị ngoại vi hiện đại, phần mềm tích hợp
Mức độ ứng dụng CNTT sẽ góp phần làm thay đổi cơ cấu NLTT của hệ thống với các dạng tài liệu điện tử mới xuất hiện bên cạnh các dạng tài liệu truyền thống Đồng thời, mức độ ứng dụng CNTT cũng làm thay đổi cách thức tổ chức tài liệu / thông tin theo hướng tự động làm tăng khả năng quản lý, lưu giữ, bảo quản, phổ biến, hợp tác, chia sẻ thông tin thông qua mạng máy tính giữa các thư viện trong và ngoài Hệ thống TVCC Việt Nam
1.1.2.5 Trình độ cán bộ phát triển nguồn lực thông tin
Trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học, sự am hiểu tình hình kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước của cán bộ có ý nghĩa quyết định đảm bảo chính sách phát triển NLTT được thực thi hiệu quả Cán bộ trực tiếp làm công tác phát
Trang 34triển NLTT nếu có nhận thức đúng đắn, kiến thức vững vàng, kỹ năng thành thạo sẽ góp phần hạn chế ở mức tối đa tài liệu được nhập vào thư viện theo cảm tính, chất lượng không đảm bảo, chưa đáp ứng nhu cầu NDT cũng như không phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương thông qua các kế hoạch, chương trình bổ sung, phối hợp hoạt động… hoặc ngược lại
1.1.2.6 Nhận thức của lãnh đạo các cấp
Nhận thức đúng đắn của lãnh đạo các cấp về tầm quan trọng của phát triển NLTT có tác động trực tiếp, quyết định sự tồn tại và phát triển của Hệ thống TVCC Việt Nam, thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cũng như của các cấp chính quyền địa phương về khâu công tác này Ở chiều ngược lại, nếu lãnh đạo các cấp nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của phát triển NLTT sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các quan điểm, đường lối chính sách được thể hiện thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, góp phần kìm hãm sự phát triển của hệ thống Nhận thức của lãnh đạo các cấp về tầm quan trọng của phát triển NLTT cũng sẽ tỷ lệ thuận hoặc nghịch với việc tăng cường đầu tư các nguồn lực, định hướng hoạt động, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước, chất lượng NLTT… và khả năng đáp ứng nhu cầu NDT
1.1.2.7 Đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước
Công tác phát triển NLTT gắn kết chặt chẽ, hữu cơ với đặc điểm kinh tế, khoa học, văn hóa, xã hội của địa phương và đất nước Đáp ứng nhu cầu về tri thức và thông tin phù hợp với đặc điểm của địa phương và đất nước là ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển NLTT của thư viện nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thoả mãn nhu cầu thông tin, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương Hơn nữa, mỗi quốc gia, dân tộc cũng như địa phương đều có đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau nên nhu cầu tin của NDT chắc chắn cũng khác nhau sẽ tác động rất lớn đến phát triển NLTT
của Hệ thống TVCC Việt Nam
Trang 351.1.2.8 Công tác xuất bản của quốc gia
Công tác xuất bản quốc gia có vai trò đặc biệt trong đời sống xã hội, tác động mạnh mẽ đến nhân cách, đạo đức, lối sống, nhận thức chính trị - tư tưởng, góp phần phát triển kinh tế, thúc đẩy tiến bộ xã hội Công tác xuất bản ảnh hưởng rất lớn đến đến công tác phát triển NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam, đặc biệt trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Bởi xuất bản là người bao gói thông tin, tri thức còn Hệ thống TVCC Việt Nam nói chung và các cấp TVCC nói riêng là khách hàng, là người mang sản phẩm, hàng hoá của xuất bản đến với NDT Về thực chất đây là mối quan hệ giữa cung và cầu, gắn bó mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, là một trong những nhân tố thúc đẩy hoặc kìm hãm phát triển NLTT
1.1.3 Các nguyên tắc phát triển nguồn lực thông tin
1.1.3.1 Đảm bảo tính khoa học
liên quan đến NLTT, Hệ thống TVCC Việt Nam phải dựa trên những luận cứ khoa học và tính đến sự ảnh hưởng, tác động của các yếu tố chủ quan, khách quan Tính khoa học trong phát triển NLTT thể hiện qua việc Hệ thống TVCC Việt Nam tiến hành lựa chọn tài liệu có giá trị về các lĩnh vực tri thức, xây dựng kế hoạch ngắn hạn và dài hạn… nhằm đảm bảo nội dung NLTT phù hợp với chức năng nhiệm vụ, nhu cầu NDT và phát triển đúng hướng
1.1.3.2 Đảm bảo sự đầy đủ
Mức độ đầy đủ càng cao thì khả năng đáp ứng nhu cầu tin của NDT càng lớn Hệ thống TVCC Việt Nam luôn mong muốn sự đầy đủ tối ưu trong phát triển NLTT để đảm bảo đủ tài liệu hỗ trợ việc học tập, nghiên cứu, giải trí của người dân Tuy nhiên, trong điều kiện kinh phí hạn hẹp, giá cả, số lượng, loại hình tài liệu ngày càng gia tăng thì sự đầy đủ tối ưu đã và sẽ không thể thực hiện Do đó, Hệ thống TVCC Việt Nam chỉ bổ sung đầy đủ những tài liệu phù hợp với chức năng nhiệm
vụ, đặc điểm địa phương, nhu cầu NDT Phần tài liệu không bổ sung có thể được
Trang 36các thư viện khác phù hợp với chuyên ngành đáp ứng khi NDT có nhu cầu thông qua chia sẻ NLTT giữa các thư viện
1.1.3.3 Đảm bảo hiệu quả kinh tế
Đảm bảo hiệu quả kinh tế trong phát triển NLTT nhằm tiết kiệm chi phí, thời gian, nhân lực Để đạt được mục tiêu trên, Hệ thống TVCC Việt Nam cần tăng cường luân chuyển tài liệu, mượn liên thư viện, phối hợp bổ sung, hợp tác, liên kết xây dựng, chia sẻ NLTT…
1.1.3.4 Đảm bảo nguyên tắc phối hợp chia sẻ
ứng nhu cầu NDT bằng NLTT của các thư viện và cơ quan thông tin khác Nguyên tắc phối hợp chia sẻ đòi hỏi NLTT của TVCC phải là một bộ phận NLTT của hệ thống Sự phối hợp chia sẻ chỉ có hiệu quả khi xác định rõ nội dung, quy chế hoạt động, sự đồng thuận và kiên định vì mục tiêu chung
1.1.3.5 Đảm bảo sự phù hợp
Để xây dựng NLTT phong phú có chất lượng, Hệ thống TVCC Việt Nam cần lưu ý tới nhiều yếu tố liên quan, nhưng trước hết phải phù hợp với chức năng nhiệm vụ của thư viện, đặc điểm nhu cầu tin của NDT cũng như đặc điểm kinh tế -
xã hội của địa phương, vùng miền
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá nguồn lực thông tin
Phát triển NLTT là một trong những hoạt động quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của mỗi cơ quan thông tin, thư viện Do vậy, việc đánh giá NLTT cũng như hiệu quả đầu tư của các cơ quan thông tin, thư viện hay hệ thống thông tin, thư viện có tầm quan trọng đặc biệt giúp cho các nhà quản lý, các nhà lãnh đạo, các nhà chuyên môn…nắm bắt được thực trạng NLTT và có các giải pháp để điều chính kịp thời, nâng cao hiệu quả hoạt động Để đánh giá NLTT của
Hệ thống TVCC Việt Nam, tác giả đưa ra một số các tiêu chí được đề cập dưới đây
Trang 371.1.4.1 Độ chính xác của nguồn lực thông tin
Độ chính xác của NLTT được xác định thông qua nguồn gốc thông tin, nội dung liên quan, tính khách quan, phạm vi thông tin, mức độ rõ ràng, tính hợp pháp, nhận xét đánh giá của các nhà chuyên môn, NDT… và sự phù hợp của lượng thông tin thực tế với yêu cầu tin của NDT
1.1.4.2 Tính kịp thời của nguồn lực thông tin
Tần suất sử dụng tài liệu / thông tin của NDT và thời gian đáp ứng nhu cầu tin là tiêu chí chính đánh giá tính kịp thời của NLTT Tính kịp thời của NLTT cũng
là cơ sở đánh giá năng lực, trình độ của cán bộ làm công tác phát triển NLTT, hiệu
quả của hợp tác phát triển, chia sẻ NLTT giữa các TVCC
1.1.4.3 Mức độ đầy đủ của nguồn lực thông tin
Mức độ đầy đủ của NLTT được thể hiện ở nhiều khía cạnh: Ngoài mức độ đầy đủ, cần đối về cơ cấu nội dung của thông tin / tài liệu khi đánh giá NLTT của một tổ chức còn cần chú trọng đến mức độ đầy đủ về loại hình thông tin / tài liệu truyền thống và hiện đại nhằm đảm bảo khả năng khái thác NLTT
Mức độ đầy đủ bao quát nội dung của nguồn lực thông tin được thể hiện ở
sự bao quát cân đối đầy đủ về cơ cấu nội dung của thông tin như các thông tin về chính trị xã hội; thông tin về khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật / công nghệ, khoa học xã hội & nhân văn, các tác phẩm về văn học, lịch sử, Nghệ thuật, thể thao,
… NLTT của các thư viện thuộc Hệ thống TVCC Việt Nam có đặc điểm khác với các loại hình thư viện khác ở chỗ: mặc dù đều nằm trong Hệ thống TVCC Việt Nam
có chung chức năng, nhiệm vụ tổ chức phục vụ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người đọc (các tầng lớp nhân dân và cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ khoa học,
kỹ thuật của các cơ quan chuyên môn, tổ chức sản xuất, người làm công tác giảng dạy, học tập… ở địa phương) sử dụng NLTT của thư viện, nhưng mỗi thư viện tỉnh
và thư viện huyện do nằm ở mỗi địa bàn tỉnh hay huyện khác nhau về mặt địa lý, về điều kiện phát triển kinh tế-xã hội nên trong quá trình phát triển NLTT lại có điểm
Trang 38khác biệt về cơ cấu nội dung để phù hợp với nhu cầu thông tin của NDT địa phương Chẳng hạn, đối với thư viện các tỉnh miền núi phía Bắc cần phát triển NLTT đáp ứng nhu cầu thông tin của cán bộ và nhân dân địa phương để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương khác với nhu cầu thông tin để phát triển kinh
tế - xã hội ở các tỉnh miền Trung , Tây Nam bộ…Chính vì vây, để thông tin / tài liêu phù hợp với điều kiện phát triển văn hóa, kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, phù hợp với nhu cầu thông tin của cán bộ và nhân dân, các cấp thư viện thuộc Hệ thống TVCC Việt Nam đã có sự khác nhau tương đối trong chính sách bổ sung nội dung thông tin / tài liệu Do đó, khi đánh giá NLTT cần chú trọng đến tiêu chí này
để xem xét mức độ đầy đủ, phù hơp về nội dung thông tin với nhu cầu phát triển kinh tế -xã hội tại điạ phương
Mức độ đầy về loại hình thông tin / tài liệu là sự đầy đủ về thông tin / tài liệu
truyền thống (có nhiều loại nhưng chủ yếu thông tin được lưu giữ in ấn trên giấy) và
thông tin / tài liệu hiện đại (Các loại hình lưu giữ thông tin trên phim ảnh như sách,
báo, tạp chí, trên phim cuộn, phim tấm / tài liệu vi phim; Các thông tin / tài liệu dạng từ tính như băng từ, đĩa từ; Các dạng thông tin / tài liệu dạng điện tử như sách điện tử (E-book), tạp chí điện tử (E-Jounal), bản tin điện tử (E-Bulletin) trên các đĩa DVD-ROM, CD-ROM hay CSDL (database) Các tài liệu điện tử truy cập trực tuyến trên mạng, Các nguồn tin phải trả phí và miễn phí trên các máy chủ, máy
trạm, các trang Web (Website) có thể đọc được nhờ sự trợ giúp của máy tính điện tử
Mức độ đầy đủ của NLTT giúp Hệ thống TVCC Việt Nam nắm được lĩnh vực tri thức nào mạnh và lĩnh vực tri thức nào còn yếu cả về lượng, chất và loại hình trong NLTT, vấn đề nào còn tồn tại trong chính sách phát triển NLTT của thư viện để có kế
hoạch điều chỉnh, phát triển đúng hướng
1.1.4.4 Tính riêng có của nguồn lực thông tin
Là tính độc nhất, riêng có của NLTT cả về nội dung, hình thức và sở hữu, nhất là với tài liệu địa chí Tính riêng có của NLTT đối với Hệ thống TVCC Việt Nam không đồng nghĩa với việc không chia sẻ với NDT và thư viện khác Ngược
Trang 39lại, để phát huy giá trị riêng có của NLTT, không chỉ Hệ thống TVCC Việt Nam mà còn các hệ thống thư viện, thông tin khác trong và ngoài nước đều hướng tới phục
vụ cộng đồng vì mục đích chung nhằm phát huy giá trị của NLTT và đảm bảo tự
do thông tin
1.1.4.5 Tính hữu dụng của nguồn lực thông tin
Đối với quốc gia, NLTT là nguồn lực của sự phát triển, nguồn tài nguyên đặc biệt, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Mọi lĩnh vực của đời sống đều cần đến thông tin, đặc biệt thông tin khoa học và công nghệ
đã trở thành tiềm lực phát triển của mỗi quốc gia hơn cả tài nguyên thiên nhiên, càng sử dụng càng cạn kiệt, còn thông tin khoa học và công nghệ càng sử dụng càng tạo ra giá trị gia tăng cao hơn Do đó, thông tin / tài liệu là yếu tố quan trọng nhất
mà thiếu nó thì không thể có bất kỳ quá trình hoạt động xã hội nào trong hệ thống tổ chức
Trong hoạt động thông tin, thư viện, NLTT là một trong những thành tố quan
trọng tạo nên các cơ quan thông tin, thư viện Hay nói cách khác NLTT là yếu tố
cần và đủ để được phép mở thư viện cho dù thư viện đó thuộc hệ thống thông tin, thư viện nào (hệ thống các cơ quan thông tin, thư viện chuyên ngành hay hệ thống thư viện công cộng…) Chính vì vậy, công tác phát triển NLTT rất quan trọng, quyết định và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của bất cứ cơ quan thông tin, thư viện nào hay nói cách khác, quyết định đến việc có giúp NDT thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình hay không, và gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội
1.1.4.6 Mức độ phù hợp của nguồn lực thông tin với nhu cầu tin của người dùng tin
Hiện nay tồn tại nhiều loại hình thư viện khác nhau, thậm chí ngay trong cùng một hệ thống thư viện, mỗi thư viện cũng có những điểm khác biệt, chính vì vậy, NLTT của một thư viện cần phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của thư viện ấy Thư viện của hệ thống các trường đại học có chức năng, nhiệm vụ khác với thư viện của các viện nghiên cưú, khác với các thư viện của Hệ thống TVCC Việt Nam, hay khác với thư viện trường học của khối phổ thông Đối với NLTT của TVCC phải
Trang 40phù hợp với nhu cầu thông tin của mọi người dùng tin sinh sống, làm việc và học tập trên địa bàn Vì vậy, đánh giá công tác phát triển NLTT có hiệu quả hay không cần phải xem xét tới tiêu chí về nội dung, ngôn ngữ, loại hình tài liệu… có phù hợp với nhu cầu tin của NDT trên địa bàn hay không ? Nếu NLTT phù hợp với nhu cầu tin của NDT điều đó thể hiện hoạt động phát triển NLTT của thư viện đã đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình
1.1.4.7 Mức độ cập nhật của nguồn lực thông tin
Đánh giá NLTT của thư viện thông qua tiêu chí cập nhật hay không là rất quan trọng Bởi lẽ, ngày nay sự phát triển nhanh chóng của các ngành khoa học, đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học, đã xuất hiện hiện tượng bùng nổ thông tin Sự quay vòng của tri thức / của thông tin ngày càng nhanh Chính vì vậy, các công trình nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu khoa học được tăng nhanh chóng Ngay nhu cầu thông tin khoa học của NDT nói chung và các nhà khoa học nói riêng cũng thay đổi, đòi hỏi cần có thông tin khoa học mới, cập nhật Để đáp ứng nhu cầu tin của NDT, các trung tâm TT-TV nói chung và TVCC nói riêng cần phải cập nhật các thông tin mới / công trình nghiên cứu khoa học, các sách chuyên khảo, tạp chí khoa học mới… một cách nhanh chóng, cập nhật đầy đủ Chỉ có như vậy, NLTT của Hệ thống TVCC Việt Nam mới đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội đặc thù của địa phương Do đó, mức độ cập nhật của NLTT là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng, hiệu quả của NLTT, phát triển NLTT
1.1.4.8 Mức độ dễ khai thác, tiếp cận nguồn lực thông tin
Tính dễ khai thác hay dễ tiếp cận NLTT để tìm kiếm thông tin / tài liệu theo nhu cầu của NDT là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả của phát triển NLTT Hiệu quả hoạt động của thư viện phụ thuộc rất lớn vào việc NLTT của thư viện đó có dễ khai thác / tiếp cận hay không Chỉ một khi hệ thống tra cứu của thư viện được hoàn thiện mới giúp NDT khai thác triệt để NLTT sẵn có trong và ngoài thư viện cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho liên kết phối hợp, chia sẻ NLTT giữa các thư viện Trên cơ sở đánh giá của NDT về mức độ dễ dàng khai thác / tiếp