Lý do lựa chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số và 53 dân tộc thiểu số khác sinh sống đan xen chủ yếu ở các vùng núi Sự đa dạng này tạo nên bức tranh phong phú về địa bàn cư trú và văn hóa Mỗi dân tộc đều mang những đặc sắc văn hóa riêng, góp phần hình thành một Việt Nam đa ngôn ngữ, đa văn hóa nhưng vẫn thống nhất.
Dân tộc Thái, một trong 54 dân tộc của Việt Nam, đứng thứ ba về số dân, chủ yếu sinh sống ở vùng núi phía Tây Bắc như Thanh Hóa, Nghệ An, Sơn La và Điện Biên Người Thái, đặc biệt là người Thái Tây Bắc, sở hữu nền văn hóa lâu đời và độc đáo với những đặc trưng nổi bật như kiến trúc nhà ở, trang phục thổ cẩm, ẩm thực phong phú, cùng với các phong tục tập quán và ngôn ngữ riêng, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa đa dạng của dân tộc Việt Nam.
Tiếng Thái là một ngôn ngữ cổ với hệ thống chữ viết riêng, nhưng hiện nay đang bị mai một Nguyên nhân chủ yếu là nhiều người Thái, đặc biệt là giới trẻ, chọn sử dụng tiếng Việt thay vì tiếng Thái Hệ thống chữ viết của người Thái không được phổ biến, dẫn đến việc rất ít người Thái biết chữ Thái.
Ngôn ngữ và chữ viết đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc, góp phần bảo tồn sự đa dạng văn hóa Việt Nam Trong bối cảnh hội nhập, sự tiếp biến văn hóa diễn ra mạnh mẽ, ảnh hưởng trực tiếp đến các vùng dân tộc thiểu số, dẫn đến nguy cơ mai một ngôn ngữ Việc bảo tồn ngôn ngữ dân tộc hiện đang phụ thuộc vào thế hệ trẻ, nhưng thái độ và ý thức của họ chưa đáp ứng được kỳ vọng Do đó, cần xây dựng một bức tranh tổng thể từ cấp xã, cùng với các giải pháp tích cực và cơ chế chính sách ngôn ngữ phù hợp từ các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương.
Chúng tôi đã chọn đề tài luận văn “Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Thái xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La” nhằm khái quát tình hình sử dụng ngôn ngữ, bao gồm tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt, của cộng đồng người Thái tại địa phương này.
Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu chính sau:
- Phương pháp điều tra điền dã ngôn ngữ học xã hội
- Phương pháp thống kê, xử lí tư liệu
- Phương pháp so sánh và phân tích tổng hợp
4.1 Phương pháp điều tra điền dã ngôn ngữ học xã hội
Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc sử dụng phiếu khảo sát, phỏng vấn trực tiếp, ghi âm và chụp ảnh để thu thập dữ liệu về tình hình sử dụng cũng như khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái tại khu vực khảo sát.
4.2 Phương pháp thống kê, xử lí tư liệu
Phương pháp này nhằm định lượng các yếu tố liên quan đến việc sử dụng và khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ cũng như tiếng Việt của người Thái trong khu vực khảo sát.
Sau khi thu thập tư liệu, chúng tôi tiến hành thống kê dựa trên các tiêu chí như giới tính, độ tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thái độ ngôn ngữ và môi trường giao tiếp.
Chúng tôi phân loại độ tuổi thành bốn nhóm: từ 6-15 tuổi, từ 16-30 tuổi, từ 31-50 tuổi và trên 50 tuổi Về trình độ văn hóa, chúng tôi chia thành các nhóm tương ứng với các lớp trong chương trình phổ thông hiện nay, bao gồm mù chữ và các nhóm có trình độ từ lớp 1 đến lớp 12.
5, nhóm có trình độ từ lớp 6 đến lớp 9, nhóm có trình độ từ lớp 10 đến lớp 12 và nhóm có trình độ trên 12
Với tiêu chí nghề nghiệp, chia thành các ngành nghề khác nhau như: Nông dân, Giáo viên, y tá, cán bộ, học sinh, sinh viên
Tiêu chí thái độ ngôn ngữ được phân chia thành các khía cạnh như thái độ đối với tiếng Việt, tiếng dân tộc, ngôn ngữ trong cộng đồng và việc sử dụng ngôn ngữ trong trường học Ngoài ra, tiêu chí về môi trường giao tiếp cũng được chia thành giao tiếp trong gia đình và giao tiếp ở cộng đồng.
Bài viết phân tích sự khác biệt trong việc sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của các đối tượng tại khu vực khảo sát, dựa trên việc phân loại các tiêu chí liên quan.
Cuối cùng, chúng tôi tiến hành xem xét các tiêu chí rồi lập bảng cho phù hợp, sau đó tính phần trăm của các con số thu được
4.3 Phương pháp so sánh và phân tích tổng hợp
Sau khi xử lý số liệu, chúng tôi tiến hành so sánh và phân tích theo từng tiêu chí để mô tả, nhận xét và lý giải tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ cũng như tiếng Việt của người Thái tại khu vực khảo sát.
Đóng góp của luận văn
Kết quả của luận văn sẽ đóng góp vào nghiên cứu hiện tượng đa ngữ trong cộng đồng dân tộc thiểu số, đặc biệt là tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái tại xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La Nghiên cứu sẽ xem xét nhiều khía cạnh và yếu tố khác nhau, từ đó tạo ra bức tranh toàn cảnh về khả năng ngôn ngữ của người Thái trong bối cảnh hiện nay.
Khảo sát đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu thực thi chính sách ngôn ngữ, đặc biệt là ở các vùng dân tộc thiểu số, và góp phần vào việc hiểu rõ hơn về chính sách ngôn ngữ nói chung.
Nghiên cứu của chúng tôi đóng góp quan trọng vào việc tìm hiểu các ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Việt Nam, đặc biệt là ngôn ngữ của người Thái ở xã.
Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, là nơi giúp Đảng và Nhà nước, đặc biệt là lãnh đạo thành phố Sơn La, có cái nhìn toàn diện về tình hình ngôn ngữ và chữ viết của các dân tộc thiểu số Điều này sẽ tạo điều kiện cho việc đánh giá khách quan nhằm đưa ra các chính sách và giải pháp phù hợp để bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của người Thái và các ngôn ngữ khác Qua đó, góp phần xây dựng chính sách ngôn ngữ cho các vùng dân tộc thiểu số trên toàn quốc.
Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và một vài nét sơ lược về địa bàn khảo sát
Chương 2: Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới ở xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Chương 3: Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nam giới ở xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ MỘT VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA BÀN KHẢO SÁT
Một số tiền đề lí luận có liên quan
1.1.1 Khái niệm tiếng mẹ đẻ, song ngữ và đa ngữ
1.1.1.1 Khái niệm tiếng mẹ đẻ
Khái niệm tiếng mẹ đẻ hiện nay được nhiều nhà ngôn ngữ học và dân tộc học nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau Trong luận văn này, chúng tôi tham khảo cách hiểu của Nguyễn Văn Khang (1999) trong tác phẩm “Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản”, theo đó tiếng mẹ đẻ được định nghĩa là ngôn ngữ của dân tộc mình và là ngôn ngữ thứ nhất của mỗi cá nhân.
1.1.1.2 Khái niệm song ngữ và đa ngữ a Song ngữ: Theo Nguyễn Văn Khang (1999) trong “ Ngôn ngữ học xã hội -
Song ngữ, theo cách hiểu chung nhất, là hiện tượng sử dụng hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ trong xã hội đa ngữ Người song ngữ có khả năng sử dụng thành thạo hai hoặc nhiều ngôn ngữ như nhau Trong bối cảnh quốc tế hóa, số lượng người biết nhiều ngôn ngữ (đa ngữ) đang gia tăng đáng kể Thuật ngữ đa ngữ hiện nay được sử dụng rộng rãi hơn và không chỉ liên quan đến ngôn ngữ học mà còn gắn liền với các vấn đề chính trị - xã hội, đặc biệt ở các quốc gia đa dân tộc và đa ngôn ngữ.
Hiện nay, hiện tượng song ngữ và đa ngữ đang trở nên phổ biến trên toàn cầu Mặc dù hai khái niệm này tồn tại độc lập, nhưng cách gọi song ngữ và đa ngữ thường được sử dụng luân chuyển và dễ gây nhầm lẫn.
1.1.1.3 Khái niệm thái độ ngôn ngữ và phương pháp xác định thái độ ngôn ngữ Các nhà ngôn ngữ học khi đề cập tới các nhân tố ảnh hưởng đến đa ngữ thường nhắc về thái độ ngôn ngữ của người sử dụng ngôn ngữ Có thể hiểu thái độ ngôn ngữ và phương pháp xác định thái độ ngôn ngữ một cách tổng quát như sau a Khái niệm thái độ ngôn ngữ
Thái độ ngôn ngữ là nhận thức hoặc quan điểm của một người về các ngôn ngữ khác nhau mà họ biết, có thể được đánh giá tích cực hoặc tiêu cực Trong các cộng đồng đa ngữ, thái độ ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp.
Thái độ ngôn ngữ không chỉ giúp hiểu rõ hành vi ngôn ngữ của cá nhân và cộng đồng, mà còn phản ánh quan điểm đối với các nhóm chủng tộc khác nhau Hơn nữa, thái độ này có ảnh hưởng lớn đến việc học ngôn ngữ thứ hai.
Thái độ ngôn ngữ hình thành từ sự tác động của nhiều yếu tố xã hội như địa vị xã hội, bối cảnh văn hóa, quan hệ xã hội, và phát triển kinh tế Những yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến từng cá nhân mà còn đến toàn cộng đồng, khiến thái độ ngôn ngữ trở nên linh hoạt và thay đổi theo thời gian Thái độ ngôn ngữ rất quan trọng trong việc lựa chọn ngôn ngữ sử dụng, bao gồm cả việc lựa chọn giữa các ngôn ngữ khác nhau và các biến thể ngôn ngữ Sự lựa chọn này có thể dẫn đến việc duy trì ngôn ngữ hiện tại hoặc chuyển đổi sang ngôn ngữ mới Phương pháp xác định thái độ ngôn ngữ là cần thiết để hiểu rõ hơn về sự thay đổi này.
Theo Nguyễn Văn Khang (2012) trong tác phẩm “Ngôn ngữ học xã hội”, thái độ ngôn ngữ được phân loại thành ba loại chính: thái độ trung thành ngôn ngữ, thái độ kỳ thị ngôn ngữ và thái độ tự ti ngôn ngữ.
Thái độ trung thành với ngôn ngữ là sự bảo vệ và phát huy ngôn ngữ của dân tộc và quê hương Điều này xuất phát từ sự gắn bó giữa những người trong cùng một dân tộc thông qua ngôn ngữ chung, phản ánh lịch sử, văn hóa và cách nhìn nhận thế giới của họ Việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc tạo ra áp lực cộng đồng, khiến những ai không tuân thủ quy ước xã hội về ngôn ngữ thường bị thờ ơ Áp lực này còn thể hiện qua lòng tin kiên định, khi người ta dù rời xa cộng đồng nhưng vẫn giữ vững sự trung thành với ngôn ngữ của dân tộc mình.
Thái độ tự ti về ngôn ngữ là cảm giác mặc cảm khi giao tiếp bằng ngôn ngữ hoặc phương ngữ của dân tộc mình so với những ngôn ngữ có số người sử dụng đông hơn và lịch sử phát triển lâu dài Tình trạng này thường dẫn đến hai cách hành xử khác nhau trong việc sử dụng ngôn ngữ.
Việc từ bỏ ngôn ngữ hoặc phương ngữ của bản thân để chuyển sang một ngôn ngữ có uy tín cao hơn có thể giúp nâng cao khả năng giao tiếp Đồng thời, việc nỗ lực học tập để thành thạo ngôn ngữ uy tín này sẽ cho phép bạn sử dụng nó trong các tình huống giao tiếp phù hợp Điều này không chỉ giúp duy trì ngôn ngữ mẹ đẻ mà còn tạo ra khả năng song ngữ hoặc song phương ngữ, mở rộng cơ hội giao tiếp và kết nối với nhiều người hơn.
Thái độ kỳ thị ngôn ngữ thường gắn liền với cảm giác tự ti về ngôn ngữ Trong khi tự ti ngôn ngữ có thể dẫn đến cả xu hướng tích cực và tiêu cực, thì kỳ thị ngôn ngữ chủ yếu thể hiện qua việc coi nhẹ hoặc xem thường ngôn ngữ và phương ngữ của cộng đồng khác, đồng thời quá đề cao ngôn ngữ hay phương ngữ của chính dân tộc mình.
Thái độ ngôn ngữ là yếu tố quan trọng trong nghiên cứu hiện tượng đa ngữ, ảnh hưởng đến việc người nói lựa chọn ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp khác nhau Nó cũng xác định vị thế của từng ngôn ngữ trong cộng đồng đa ngữ.
1.1.1.4 Hệ quả của trạng thái đa ngữ xã hội
Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học trạng thái đa ngữ xã hội thường dẫn đến một số hệ quả chính sau:
* Một là sự pha tạp ngôn ngữ
Sự pha tạp ngôn ngữ xuất hiện như một "biến dạng" của sự tiếp xúc ngôn ngữ, phản ánh những tác động từ nhiều yếu tố xã hội - ngôn ngữ Hiện nay, sự pha tạp này trở thành hệ quả tất yếu của di dân, giáo dục song ngữ, sự cộng cư giữa các dân tộc, cũng như ảnh hưởng từ chính trị, kinh tế và văn hóa Mối quan hệ giữa các ngôn ngữ cũng được hình thành dựa trên loại hình và cội nguồn của chúng.
* Hai là vay mượn ngôn ngữ
Vay mượn ngôn ngữ là một hiện tượng phổ biến, xuất phát từ quá trình tiếp xúc ngôn ngữ, bao gồm cả tiếp xúc trực tiếp và gián tiếp Hiện tượng này thường xảy ra khi một ngôn ngữ thiếu một yếu tố nào đó, dẫn đến việc tiếp nhận từ vựng hoặc cấu trúc ngữ pháp từ ngôn ngữ khác.
* Ba là, hiện tượng trộn mã:
Sự trộn mã diễn ra khi người nghe hoặc người nói sợ người đối thoạii không hiểu hết ý nghĩa các phát ngôn của mình
* Bốn là hiện tượng chuyển mã
Chuyển mã là một hiện tượng sử dụng ngôn ngữ gắn với động cơ của người nói
1 2 Vài nét sơ lược về người Thái và tiếng Thái ở Việt Nam
Khái quát về địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Một vài nét sơ lược về tỉnh Sơn La
1.3.1.1 Khái quát chung về địa lí, kinh tế, xã hội tỉnh Sơn La
Sơn La là tỉnh miền núi cao ở phía tây bắc Việt Nam, tọa lạc tại vị trí 20039'– 22002' vĩ độ Bắc và 103011’– 105002' kinh độ Đông Cách thủ đô Hà Nội 320km qua Quốc lộ 6, Sơn La giáp ranh với các tỉnh Yên Bái và Lào Cai ở phía Bắc, Hòa Bình và Phú Thọ ở phía Đông, Điện Biên ở phía Tây, và Thanh Hóa ở phía Nam Tỉnh còn có 250 km đường biên giới với nước Lào, với các cửa khẩu quốc gia Lóng Sập và Chiềng Khương.
Tỉnh Sơn La, với 11 huyện và 1 thành phố, có diện tích tự nhiên 14.055 km2, chiếm 4,27% diện tích cả nước và dân số 1.134.300 người (2012), mật độ 80 người/km2 Nơi đây có 12 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm 54% Địa hình Sơn La bị chia cắt mạnh, tạo ra nhiều tiểu vùng khí hậu đa dạng, thuận lợi cho phát triển nông - lâm nghiệp phong phú Cao nguyên Mộc Châu, độ cao trung bình 1.050 m, có khí hậu cận ôn đới, thích hợp cho cây chè, cây ăn quả và chăn nuôi bò sữa Cao nguyên Nà Sản, độ cao trung bình 800 m, phù hợp với cây mía, cà phê, dâu tằm, xoài, nhãn, dứa Vùng dọc sông Đà thích hợp cho cây rừng nhiệt đới quanh năm.
Sơn La có khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi với mùa đông lạnh khô và mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều Khí hậu nơi đây được chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 21,4°C, với tháng cao nhất là 27°C và tháng thấp nhất là 16°C Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 1.200 đến 1.600 mm, trong khi độ ẩm không khí bình quân là 81%.
Tỉnh có tổng diện tích tự nhiên là 1.405.500 ha, trong đó 702.800 ha đất đang sử dụng, chiếm 51% tổng diện tích Diện tích đất chưa sử dụng và các nguồn nước như sông, suối chiếm 49%, tương đương 702.700 ha Với việc hoàn thành công trình thủy điện Sơn La, tỉnh sẽ có thêm khoảng 25.000 ha mặt nước hồ, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nuôi trồng, khai thác thủy sản, giao thông đường thủy và du lịch.
Diện tích đất lâm nghiệp tại Sơn La chiếm 73% tổng diện tích tự nhiên, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hệ thống rừng phòng hộ và rừng kinh tế có giá trị cao Tỉnh có 357.000 ha rừng, trong đó rừng trồng chiếm 25.650 ha, với 4 khu rừng đặc dụng bảo tồn thiên nhiên Độ che phủ rừng đạt khoảng 37% vào năm 2003, với trữ lượng gỗ lên tới 87,053 triệu m3 và 554,9 triệu cây tre, nứa Sơn La cũng sở hữu trên 50 mỏ khoáng sản, bao gồm niken, đồng, và than, cùng với nguồn tài nguyên đá vôi, đất sét, cao lanh lớn, tạo cơ hội cho phát triển ngành sản xuất vật liệu xây dựng Tuy nhiên, các điểm mỏ và khoáng sản vẫn chưa được khảo sát và đánh giá đầy đủ.
Sơn La, nằm ở vị trí đầu nguồn của sông Đà và sông Mã, không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ vùng đồng bằng Bắc Bộ và các công trình thủy điện lớn, mà còn sở hữu tiềm năng phát triển rừng nguyên liệu với quy mô hơn 200.000 ha, cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến lâm sản và sản xuất giấy, bột giấy.
Sơn La, với điều kiện thiên nhiên ưu đãi, có tiềm năng phát triển nông, lâm nghiệp quy mô lớn, đặc biệt nổi bật với chè đặc sản chất lượng cao tại cao nguyên Mộc Châu và Nà Sản Tỉnh cũng có lợi thế trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, đặc biệt là đàn bò sữa đã được thuần hoá hơn 40 năm, đang ngày càng phát triển và được các nhà khoa học đánh giá là địa bàn lý tưởng cho việc phát triển bò sữa và bò thịt chất lượng cao.
Sơn La không chỉ có tiềm năng phát triển cây công nghiệp và cây ăn quả, mà còn sở hữu nhiều lợi thế để phát triển các loại cây và con có giá trị kinh tế cao như dâu, tằm, cà phê, rau sạch, hoa, và cây cảnh Bên cạnh đó, chăn nuôi gia súc, gia cầm và thú quý hiếm cũng có thể được phát triển với quy mô công nghiệp Mỗi năm, Sơn La thu hoạch từ 180.000 đến 200.000 tấn ngô và đậu tương, cung cấp nguồn nguyên liệu chủ yếu cho ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi.
Sơn La có tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực nông – lâm nghiệp, tạo điều kiện cho việc hình thành các cơ sở công nghiệp chế biến sản phẩm như chè, sữa, cà phê, tơ tằm, thịt, giấy và thức ăn gia súc Điều này không chỉ giúp Sơn La tham gia vào thị trường nội địa mà còn mở ra cơ hội xuất khẩu.
Công trình thủy điện Sơn La mang đến cơ hội mới cho tỉnh Sơn La trong việc hội nhập kinh tế thị trường, đồng thời thúc đẩy sự hình thành và phát triển hệ thống dịch vụ phục vụ cho quá trình thi công xây dựng thủy điện, cũng như tạo ra thị trường cho các khu vực tái định cư.
Sơn La, theo quy hoạch của Tổng cục Du lịch Việt Nam, là một phần quan trọng trong tua du lịch vùng Tây Bắc, kết nối Hà Nội với các tỉnh phía Bắc Lào Với thiên nhiên ưu đãi và đa dạng sinh thái, cao nguyên Mộc Châu là cửa ngõ chính nối Tây Bắc với thủ đô Hà Nội Sơn La không chỉ nổi bật với cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn với những nét văn hóa độc đáo Du khách có thể khám phá các địa điểm hấp dẫn như Nhà tù Sơn La, di tích Hang Bia Quế Lâm Ngự ghi dấu lịch sử, công trình thủy điện Sơn La, và vẻ đẹp của hồ sông Đà Đặc biệt, sự đa dạng văn hóa của 12 dân tộc sinh sống tại đây tạo ra tiềm năng lớn cho phát triển du lịch.
Sơn La nổi bật với nền văn hóa đa dạng của 12 dân tộc anh em, thể hiện qua các lễ hội độc đáo như lễ hội mợi, kéo si, lập tịnh, hoa ban, xíp xí, cầu mưa và cầu mùa Ngoài ra, các trò chơi dân gian như đua thuyền, tung còn, ném pa pao, bắn nỏ, giã bánh dầy, kéo co, đẩy gậy, đánh tu lu, rồng ấp trứng và tó mak lẹ cũng rất phổ biến Các điệu múa truyền thống như xòe, múa xạp, múa nón, múa khèn, múa ô, nhảy tha kềnh, múa chuông và múa cống tốp cũng góp phần tạo nên bản sắc văn hóa nơi đây Bên cạnh đó, Sơn La còn nổi tiếng với ẩm thực độc đáo, với nhiều đặc sản hấp dẫn như Nậm Pịa, gà mọ, bê chao và chẳm chéo.
1.3.1.2 Giới thiệu chung về Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sơn La
Trong năm học 2016-2017, tỉnh Sơn La đã mở rộng và phát triển mạng lưới giáo dục với 849 cơ sở và hơn 335 nghìn học sinh, trong đó học sinh dân tộc chiếm 83% Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục tăng cường chất lượng chuyên môn với 24.272 người Cơ sở vật chất được cải thiện với 13.494 phòng học, trong đó 56% là phòng kiên cố Chất lượng giáo dục nâng cao, với tỷ lệ học sinh yếu kém giảm và 8 học sinh đạt giải Quốc gia lớp 12 Kỳ thi THPT quốc gia 2017 đạt tỷ lệ đỗ tốt nghiệp 97,6% Giáo dục dân tộc và vùng khó khăn được chú trọng, với 231 trường tổ chức nấu ăn cho hơn 30.392 học sinh bán trú Công tác duy trì chất lượng giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học đạt chuẩn ở 50% huyện, thành phố 100% huyện, thành phố duy trì chuẩn về phổ cập tiểu học và THCS.
1.3.2 Giới thiệu về thành phố Sơn La
1.3.2.1 Khái quát chung về địa lý, kinh tế, xã hội thành phố Sơn La
Thành phố Sơn La, tọa lạc tại miền núi phía Tây Bắc Việt Nam, có tọa độ địa lý từ 21°15' đến 21°30' vĩ độ Bắc và 103°45' đến 104°00' độ kinh Đông.
Về hành chính, Thành phố Sơn La có vị trí trung tâm Tỉnh với ranh giới hành chính được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Thuận Châu;
- Phía Nam giáp huyện Mai Sơn;
- Phía Đông giáp huyện Mường La và Mai Sơn;
- Phía Tây giáp huyện Thuận Châu
Tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố là: 323,515 km2, trong đó:
+ Khu vực nội thành có tổng diện tích đất tự nhiên là 67,48 km2, gồm 7 phường: Chiềng An, Chiềng Lề, Tô Hiêu, Quyết Thắng, Quyết Tâm, Chiềng Cơi, Chiềng Sinh
+ Khu vực ngoại thành có tổng diện tích đất tự nhiên là 256,035 km2, gồm 05 xã: Chiềng Đen, Chiềng Cọ, Chiềng Ngần, Chiềng Xôm, Hua La
Thành phố Sơn La, với diện tích nhỏ nhất trong 12 huyện và thành phố của tỉnh Sơn La, chỉ chiếm 2,29% tổng diện tích của tỉnh theo thống kê đất đai tính đến ngày 31/12/2015.
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TIẾNG MẸ ĐẺ VÀ TIẾNG VIỆT CỦA NGƯỜI THÁI LÀ NỮ GIỚI Ở XÃ CHIỀNG NGẦN, THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về độ tuổi
xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về độ tuổi
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 230 nữ giới tại xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La để đánh giá khả năng sử dụng tiếng Thái và tiếng Việt theo độ tuổi Các đối tượng được chia thành bốn nhóm tuổi: nhóm từ 6 đến 15 tuổi, nhóm từ 16 đến 30 tuổi, nhóm từ 31 đến 50 tuổi và nhóm trên 50 tuổi.
Bảng 2.1 : Các nhóm tuổi của nữ giới là người Thái ở xã Chiềng Ngần Độ tuổi 6-15 tuổi 16-30 tuổi 31-50 tuổi trên 50 tuổi
Bảng 2.2 Khả năng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt theo độ tuổi của nữ giới là người Thái ở xã Chiềng Ngần Độ tuổi 6-15 tuổi 16-30 tuổi 31-50 tuổi Trên 50 tuổi
Nghe hiểu và nói được
Không nghe hiểu và nói được Đọc viết được
Nghe hiểu và nói được
Không nghe hiểu và nói được Đọc viết được
Nghe hiểu và nói được
Không nghe hiểu và nói được Đọc viết được
Nghe hiểu và nói được
Không nghe hiểu và nói được Đọc viết được
2.1.1 Nhóm tuổi trên 50 Ở nhóm tuổi này, chúng tôi khảo sát được 41 người (chiếm 17,8%) trong tổng số 230 người là nữ giới Trong số 41 người trên 50 tuổi, chúng tôi khảo sát được 07 người trên 70 tuổi sử dụng 100% tiếng Thái (trường hợp Cà Thị Cáy (bản
Các bà như Nà Lo, Quàng Thị Pâng, Tòng Thị Uôn, Lò Thị Dom, Quàng Thị Ùa, Cà Thị Ùa và Cà Thị Nốt đều là người Thái, hoàn toàn nói tiếng Thái và chỉ hiểu một số ít từ tiếng Việt Nguyên nhân chủ yếu là do họ không được đi học và không biết chữ Quốc ngữ Hơn nữa, sống trong môi trường văn hóa nơi mọi người đều sử dụng tiếng Thái, việc họ không thể giao tiếp bằng tiếng Việt là điều dễ hiểu.
Trong quá trình khảo sát, 07 người tham gia hoàn toàn sử dụng tiếng Thái trong giao tiếp, không sử dụng tiếng Việt, mặc dù họ có thể nghe hiểu một số từ Để điều tra, chúng tôi đã nhờ một thầy giáo người Thái phiên dịch Điều này cho thấy họ giao tiếp thuần Thái trong mọi hoàn cảnh Tiếng Thái của họ không bị pha trộn với tiếng Việt, nhờ vào quá trình tích lũy và sử dụng từ nhỏ đến già Hiện tại, khi tuổi đã cao, họ chủ yếu ở nhà và giao tiếp với con cái, bà con bằng tiếng Thái Việc sử dụng tiếng Thái trong giao tiếp hàng ngày đã trở thành thói quen không thể thiếu trong cuộc sống của họ.
Bà Cà Thị Cáy, 76 tuổi, sống tại bản Nà Lo, chỉ hiểu một số từ tiếng Việt cơ bản và hoàn toàn không nói được tiếng Việt, mà sử dụng tiếng Thái 100% Trong quá trình phỏng vấn, chúng tôi phải sử dụng phiên dịch Bà cho biết, tiếng Thái được bố mẹ dạy từ khi còn nhỏ và bà đã dùng ngôn ngữ này để giao tiếp với cả người Thái và người Kinh.
Mông chia sẻ về trải nghiệm của mình khi gặp gỡ người Thái Khi được hỏi về độ khó của việc học tiếng Thái, anh cho biết rằng chỉ cần sống cùng người Thái, bạn sẽ tự nhiên biết nói.
Ngoài 7 người trên còn lại 34 người trong nhóm được khảo sát sử dụng cả tiếng Thái và tiếng Việt khi trả lời câu hỏi của chúng tôi Tuy nhiên, họ sử dụng tiếng Thái nhiều hơn trong khi nói chuyện Có nhiều người khi chúng tôi phỏng vấn, chúng tôi nói tiếng Việt nhưng họ vẫn nói tiếng Thái Có thể họ cho rằng là cô giáo ở Sơn La lâu rồi phải biết tiếng Thái Như vậy, tiếng mẹ đẻ đối với những người này vẫn thường trực và được sử dụng thường xuyên hơn Qua khảo sát, đa số ý kiến đều cho rằng việc sử dụng tiếng Việt chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, ở những nơi không phải bản của mình hoặc vào công sở, trường học
Theo kết quả khảo sát, 17,7% phụ nữ trong độ tuổi này không biết đọc và viết tiếng Việt, trong khi họ lại thành thạo trong việc sử dụng tiếng Thái.
Người dân có khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo từ khi còn nhỏ đến tuổi già, tạo thành thói quen giao tiếp hàng ngày bằng tiếng Thái Thói quen này không chỉ quý giá mà còn góp phần bảo tồn ngôn ngữ qua nhiều thế hệ Tuy nhiên, một thực tế đáng lưu ý là phần lớn chỉ thành thạo ngôn ngữ nói mà ít người biết đọc viết chữ Thái Trong số 41 người được khảo sát, chỉ có 2 người (4,9%) biết đọc viết chữ Thái, đó là bà Lò Thị Piềng và bà Cà Thị Ném.
Năm 1954, Ty Giáo dục khu tự trị Thái - Mèo đã đưa chữ Thái vào giảng dạy, giúp các bà có cơ hội học tập trong khoảng 1 đến 2 năm, từ đó có khả năng đọc và viết một ít.
Phụ nữ Thái ở độ tuổi này gặp khó khăn trong việc giao tiếp bằng tiếng Việt, ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp xã hội của họ Họ không thể giao tiếp bằng văn bản, dạy dỗ con cháu, hay áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Điều này dẫn đến sự phụ thuộc vào nam giới và vị thế của họ trong xã hội bị coi nhẹ.
Tổng số 230 người là nữ giới được khảo sát thì có 91 người ở độ tuổi từ 31 -
Trong nhóm tuổi dưới 50, tất cả những người nữ tham gia khảo sát đều sử dụng thành thạo cả tiếng Thái và tiếng Việt trong giao tiếp, với tần suất sử dụng tiếng Thái rất cao Điều này cho thấy tiếng Thái được sử dụng phổ biến trong mọi hoàn cảnh giao tiếp, tương tự như nhóm tuổi trên 50.
Chị Cà Thị Cương, hội viên chi hội phụ nữ bản Nà Lo, cho biết rằng người Thái trong bản thường sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình để giao tiếp với nhau Tiếng Việt chỉ được dùng khi họ nói chuyện với những người không biết tiếng Thái Điều này cho thấy sự gắn bó với ngôn ngữ và văn hóa dân tộc của họ, đồng thời phản ánh cách thức giao tiếp trong cộng đồng.
Phụ nữ ở độ tuổi này thường có con cái trưởng thành, dẫn đến việc sử dụng tiếng Việt chủ yếu trong giao tiếp với cháu nhỏ và khi dạy con học Trong giao tiếp hàng ngày với những người cùng dân tộc, họ thường sử dụng tiếng Thái để chia sẻ những câu chuyện về cuộc sống Tiếng Việt được dùng khi giao tiếp với những người khác dân tộc không biết nói tiếng Thái và một số ít bạn trẻ người Thái không nói được tiếng Thái.
Mặc dù nữ giới ở độ tuổi này sử dụng thành thạo tiếng Thái, chỉ có 6,6% (06/91 người) biết đọc và viết chữ Thái cổ truyền do bố mẹ dạy Họ có kiến thức chữ Thái nhưng không sâu, như trường hợp của bà Quàng Thị Hoài (bản Ca Láp), bà Lò Thị Nga (bản Nà Ngùa), bà Cà Thị Linh (bản Muông), bà Cà Thị Điệp (bản Phường), bà Lò Thị Vân (bản Ỏ) và bà Lò Thị Thoa (bản Khoang).
Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về trình độ văn hóa
Chúng tôi tiến hành khảo sát tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt ở nữ giới, phân chia thành 5 nhóm trình độ dựa trên các lớp trong chương trình phổ thông hiện nay để đánh giá sự khác biệt về trình độ văn hóa.
- Nhóm đã và đang có trình độ từ lớp 1 đến lớp 5
- Nhóm đã và đang có trình độ từ lớp 6 đến lớp 9
- Nhóm đã và đang có trình độ từ lớp 10 đến lớp 12
- Nhóm có trình độ trên 12
Bảng 2.3 Trình độ văn hóa của nữ giới là người Thái ở xã Chiềng Ngần
Trình độ Số lƣợng Tỉ lệ % Ghi chú
Mù chữ 18 7,8 % Độ tuổi từ 31-50 và trên 50 tuổi
Trong tổng số 230 người là nữ giới được khảo sát có 212 người (chiếm 92,2
Theo số liệu, 92,2% người trong nhóm có trình độ học vấn từ lớp 1 trở lên, trong khi đó 7,8% (tương đương 18 người) vẫn mù chữ Dựa trên những thông tin này, chúng tôi sẽ phân tích tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của từng nhóm.
Tình trạng mù chữ xảy ra chủ yếu với những người trong nhóm tuổi trên 50
Trong một cuộc khảo sát, có 18 người trong độ tuổi từ 31 đến 50 được phát hiện là không biết chữ, bao gồm cả chữ Quốc ngữ và chữ Thái Điều này phản ánh những lý do khách quan và chủ quan khác nhau ảnh hưởng đến khả năng đọc viết của họ.
Khảo sát 18 người mù chữ thành thạo tiếng Thái cho thấy 7 người trên 70 tuổi hoàn toàn sử dụng tiếng Thái trong giao tiếp, do không có khả năng sử dụng tiếng Việt.
Trong số 11 người còn lại, họ có khả năng giao tiếp bằng cả tiếng Việt và tiếng Thái, với tần suất sử dụng tiếng Thái rất cao, chiếm tới 95% Tiếng Thái được sử dụng hàng ngày từ khi còn nhỏ và hiện tại, khi tuổi đã cao, họ không có điều kiện mở rộng giao tiếp Do đó, tiếng Thái được xem là lựa chọn tốt nhất và cần được duy trì Mặc dù khả năng tiếng Việt của họ có hạn chế, nhưng nhóm người này vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và gìn giữ tiếng Thái hiện nay.
2.2.2 Nhóm người có trình độ từ lớp 1 đến lớp 5
Trong số 230 nữ giới được khảo sát, có 92 người (chiếm 40%) có trình độ học vấn từ lớp 1 đến lớp 5 Mặc dù thuộc nhiều độ tuổi khác nhau, họ đều có chung trình độ Tiểu học, do đó được xếp vào cùng một nhóm Sự khác biệt trong việc sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt trong giao tiếp hàng ngày của nhóm này là điều đáng chú ý.
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 30 học sinh người dân tộc Thái tại xã Chiềng Ngần, những em đang theo học tại các trường Tiểu học và THCS Chiềng Ngần A, Chiềng Ngần B, trường Tiểu học Quyết Thắng, và trường Tiểu học Chiềng Sinh Địa bàn xã Chiềng Ngần có bản Dửn và Tiểu khu 1 giáp ranh với thành phố Sơn.
Kết quả khảo sát cho thấy trong số 30 học sinh người Thái, chỉ có 6 em ở bản Dửn và tiểu khu 1 nghe được một số từ tiếng Thái nhưng không nói được, trong khi 24 em còn lại ở các bản khác như Phường, Ka Láp và Nà Lo đều nói tiếng Thái và tiếng Việt tốt Tần suất sử dụng tiếng Việt và tiếng Thái của các em là tương đương, với tiếng Việt chủ yếu được sử dụng trong lớp học và tiếng Thái trong giờ ra chơi Những người có trình độ tương đương bậc Tiểu học sử dụng tiếng Thái tốt hơn, trong khi việc sử dụng tiếng Việt của họ cũng tiến bộ hơn so với nhóm mù chữ Trong giao tiếp với gia đình và đồng tộc, họ duy trì tiếng mẹ đẻ, còn tiếng Việt được sử dụng ở những tình huống công cộng hoặc tại các cơ quan nhà nước Phụ nữ có trình độ này thường ở nhà làm nương và nuôi dạy con cái, vì vậy ngôn ngữ giao tiếp chủ yếu vẫn là tiếng mẹ đẻ, chiếm 85%, và chỉ dùng tiếng Việt khi dạy con cháu đi học.
2.2.3 Nhóm người có trình độ từ lớp 6 đến lớp 9
Chúng tôi đã khảo sát 92 người trong độ tuổi từ lớp 6 đến lớp 9, trong đó có 40% có trình độ học vấn không cao Trong số 65 học sinh đang đi học, 63 em có khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ tốt, tuy nhiên có 2 em chỉ nghe được một ít và không nói được tiếng Việt Các em nói tiếng Thái rất thành thạo và thường sử dụng trong giao tiếp gia đình và thôn bản, mặc dù cũng có sử dụng tiếng Việt nhưng tần suất không cao Nhìn chung, các em đã hình thành ý thức về dân tộc mình rõ ràng và giao tiếp tốt bằng tiếng mẹ đẻ, nhưng 100% không biết chữ Thái.
Còn lại 27 người có trình độ tương đương bậc THCS, và so với những người có trình độ thấp hơn, đặc điểm sử dụng tiếng mẹ đẻ của họ không có gì nổi bật.
Người dân vẫn duy trì việc sử dụng tiếng Thái trong giao tiếp gia đình và thôn bản, đặc biệt với những người đồng tộc hoặc những người khác biết tiếng Thái Họ chỉ sử dụng tiếng Việt khi giao tiếp với những người không biết tiếng Thái, như khi mua bán ngoài chợ, thăm bệnh viện, hoặc nói chuyện với giáo viên Phụ nữ trong cộng đồng này thường không tham gia nhiều vào công việc xã hội, chủ yếu tập trung vào việc chăm sóc gia đình, do đó việc sử dụng tiếng mẹ đẻ là điều tự nhiên Khả năng nghe hiểu và giao tiếp bằng tiếng Thái của họ rất tốt, trong khi tiếng Việt ở mức trung bình Tần suất sử dụng tiếng Thái chiếm 70%, trong khi tiếng Việt chỉ chiếm 30% trong giao tiếp hàng ngày.
2.2.4 Nhóm người có trình độ từ lớp 10 đến lớp 12
Chúng tôi đã khảo sát 20 nữ giới từ lớp 10 đến lớp 12 ở xã Chiềng Ngần, chiếm 8,7% trong tổng số 230 người được điều tra Trong số này, 12 em đang học tại trường THPT Chiềng Sinh, thành phố Sơn La, với 10 em có khả năng song ngữ Thái - Việt tốt, trong khi 2 em hoàn toàn không nói được tiếng Thái Khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ của các em đã được cải thiện so với nhóm học sinh bậc Tiểu học và THCS, và các em duy trì việc sử dụng tiếng Thái trong giao tiếp với gia đình và đồng tộc Tuy nhiên, trong môi trường học tập và giao tiếp xã hội, các em chủ yếu sử dụng tiếng Việt, với tần suất đạt 90%, trong khi tiếng Thái chỉ chiếm 10% Đặc biệt, trong giao tiếp hành chính, các em hoàn toàn sử dụng tiếng Việt.
Ngoài 12 học sinh đã được đề cập ở trên còn lại 08 người được chúng tôi khảo sát có trình độ tương đương với bậc THPT, đa số những người này là những người trẻ ở độ tuổi 15 – 30 Vì thế mà những người này có môi trường giao tiếp rộng, và có những đối tượng giao tiếp khác nhau Cũng giống như những người ở các nhóm trình độ khác, họ cũng sử dụng tiếng Thái khi giao tiếp trong gia đình, thôn bản, với những người đồng tộc Khả năng sử dụng tiếng Thái rất thành thạo Môi trường giao tiếp bên ngoài đòi hỏi họ phải sử dụng tiếng Việt thường xuyên, vì vậy mà tần suất sử dụng tiếng Thái giảm hẳn so với những người khác Phần lớn thời gian của họ là làm việc bên ngoài, tiếp xúc với nhiều người và có những tình huống giao tiếp khác nhau nên đòi hỏi họ phải sử dụng tiếng Việt Việc sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp gia đình sẽ ít hơn so với những người không tham gia vào các công việc ngoài xã hội Bởi vậy tần suất sử dụng tiếng Việt chiếm tỉ lệ cao (90%), còn tiếng Thái chiếm tỉ lệ thấp hơn hẳn các nhóm trình độ khác (chiếm 10%) trong giao tiếp Việc giao tiếp hành chính của họ cũng sử dụng 100% là tiếng Việt
2.2.5 Nhóm người có trình độ trên lớp 12
Trong một cuộc khảo sát tại xã Chiềng Ngần, chúng tôi đã ghi nhận có 08 người (3,5%) trong tổng số 230 nữ giới được điều tra có trình độ từ Cao đẳng đến Đại học Trong số đó, 05 người đã có bằng sư phạm và 03 người hiện đang theo học tại các trường Trung cấp, Cao đẳng, Đại học Đáng chú ý, 07/08 người tham gia khảo sát đều có khả năng nghe hiểu và sử dụng tiếng Thái thành thạo Một trường hợp đặc biệt là Lò Thị Tuyền (tiểu khu 1), đang theo học tại Đại Học Đại Nam Hà Nội, chỉ nghe và hiểu được một số từ tiếng Thái nhưng không thể nói Mặc dù 05 người có bằng sư phạm thường xuyên tiếp xúc với tiếng Việt trong công việc, họ vẫn duy trì việc sử dụng tiếng Thái trong giao tiếp với gia đình, thôn bản và cộng đồng, tuy tần suất sử dụng ít hơn so với những người khác.
Trong số 03 người đang theo học tại các trường TC, CĐ, ĐH, chỉ có 02 người nói được tiếng Thái Tuy nhiên, do học tập xa nhà, họ chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ trong gia đình và với những người đồng tộc Hai người này có khả năng sử dụng tiếng Thái tốt, nhưng môi trường học tập đã mở rộng khả năng giao tiếp của họ Điều này dẫn đến việc tần suất sử dụng tiếng mẹ đẻ giảm đi, khi phần lớn thời gian của họ dành cho học tập và giao tiếp xã hội Đối với nhóm này, tiếng Việt chiếm tới 95% trong giao tiếp, trong khi tiếng Thái chỉ được sử dụng hiếm hoi, chiếm 5%.
Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về nghề nghiệp
Bảng 2.4 Khả năng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới theo nghề nghiệp ở xã Chiềng Ngần
Khả năng sử dụng tiếng Thái Khả năng sử dụng tiếng Việt
Nghe hiểu và nói được
Không Nghe hiểu và nói được Đọc Viết được
Nghe hiểu và nói được
Không Nghe hiểu và nói được Đọc Viết được
0 (0%) Dựa trên bảng số liệu về nghề nghiệp chúng tôi phân tích sự khác biệt cụ thể như sau
Trong một cuộc khảo sát với 150 người tham gia, có 18 người không thể giao tiếp bằng tiếng Việt qua văn bản, trong khi 132 người có khả năng giao tiếp nhưng chỉ ở mức độ đọc - hiểu.
Nông nghiệp là nghề chính của người Thái, với việc trồng lúa, ngô, hoa màu, chăn nuôi gia súc và gia cầm Một số hộ còn tham gia vào kinh doanh nhỏ lẻ Phụ nữ trong cộng đồng chủ yếu ở nhà nuôi dạy con cái và đảm đương việc nhà, do đó môi trường giao tiếp của họ không rộng và không bị phân tán.
Chị Quàng Thị Hoa, một cư dân ở Bản Nà Lo, chia sẻ rằng chị có hai con đang theo học tại bậc tiểu học Chị cho biết khi đến trường đón con, chị thường giao tiếp với cô giáo bằng tiếng Việt, trong khi vẫn sử dụng tiếng Thái để giao tiếp trong gia đình.
Người làm nông nghiệp, đặc biệt là phụ nữ, sử dụng tiếng mẹ đẻ hàng ngày, góp phần quan trọng vào việc bảo tồn ngôn ngữ của cộng đồng dân tộc Thái Họ duy trì và gìn giữ ngôn ngữ qua các thế hệ, giúp nó sống mãi trong đời sống hàng ngày Tuy nhiên, phụ nữ nông nghiệp gặp khó khăn trong việc giao tiếp bằng tiếng Việt, đặc biệt là trong văn bản, dẫn đến sự phụ thuộc vào chồng và làm giảm vị thế của họ trong gia đình.
2.3.2 Giáo viên, cán bộ, công chức
Những người này đều thành thạo tiếng Thái nhưng trong môi trường làm việc chủ yếu là trường học, họ phải giao tiếp hoàn toàn bằng tiếng Việt Thời gian làm việc tại trường chiếm phần lớn, và khi về nhà, họ cũng sử dụng tiếng Việt để dạy con cái Mặc dù tiếng Thái vẫn được duy trì trong giao tiếp gia đình, việc nuôi dạy con cái chủ yếu diễn ra bằng tiếng Việt, dẫn đến việc trẻ em dần không còn khả năng nói tiếng Thái tốt.
Cô giáo Lò Thị Liên tại trường tiểu học- THCS Chiềng Ngần B chia sẻ rằng, trong suốt thời gian giảng dạy ở trường và khi về nhà giúp con học bài, cô hoàn toàn sử dụng tiếng Việt Do thời gian ở trường nhiều và phải kèm con nhỏ học bài vào buổi tối, nên tần suất nói tiếng Việt của cô cao hơn tiếng Thái.
Theo điều tra, năm phụ nữ này sử dụng tiếng Việt với tần suất cao (95%) trong giao tiếp, trong khi tiếng Thái chỉ chiếm 5% Đặc biệt, trong giao tiếp hành chính, họ hoàn toàn sử dụng tiếng Việt (100%).
Với 04 người làm hành chính, họ đều có khả năng sử dụng tiếng Thái thành thạo Do yêu cầu công việc ngoài xã hội đòi hỏi người phụ nữ phải giao tiếp nhiều
Việc lựa chọn ngôn ngữ phù hợp để giao tiếp với từng đối tượng trong các hoàn cảnh khác nhau của bốn phụ nữ này rất linh hoạt Theo điều tra, họ sử dụng tiếng Việt với tần suất cao (90%) và tiếng Thái (10%) trong giao tiếp, đồng thời áp dụng cả hai thứ tiếng trong công việc hành chính.
Các em có thể sử dụng tiếng mẹ đẻ song song với tiếng Việt, nhưng thời gian học tập ở trường và ở nhà khiến tần suất tiếp xúc với tiếng Việt cao hơn Khả năng nghe hiểu và nói tiếng Thái của các em khá tốt, nhưng do còn nhỏ và mới bắt đầu học, gia đình đã chú trọng hơn vào việc học tiếng Việt.
Khoảng 85,3% học sinh có khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ, nhưng việc sử dụng chưa thực sự triệt để, trong khi 14,7% học sinh người Thái không nói được tiếng Thái Tình trạng này ảnh hưởng đến việc bảo tồn ngôn ngữ dân tộc trong thế hệ trẻ Khi lớp người già, những người gìn giữ tiếng mẹ đẻ tốt, dần mất đi, thế hệ trẻ không có thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp hàng ngày Điều này dẫn đến nguy cơ tiếng Thái bị mai một và có thể biến mất trong tương lai.
Theo điều tra, 68 em học sinh cho thấy tần suất sử dụng tiếng Thái đã giảm đáng kể, chỉ chiếm 25%, trong khi tần suất sử dụng tiếng Việt đã tăng cao, chiếm 75% trong giao tiếp Đặc biệt, giao tiếp bằng tiếng Việt dưới hình thức văn bản đạt tỷ lệ 100%.
Có 03 người là nữ giới đang theo học tại các trường TC, CĐ, ĐH Chỉ có 02 người là có khả năng sử dụng tiếng Thái thành thạo, 01 người hoàn toàn không nói được tiếng Thái Không giống với đối tượng là học sinh, những người này phải học tập và sinh sống xa nhà, vì vậy mà cuộc sống tách biệt hẳn với cộng đồng người Thái Do điều kiện học tập xa nhà như vậy nên những người này có rất ít cơ hội để sử dụng tiếng mẹ đẻ của minh Tiếng Thái chỉ được họ sử dụng khi về nhà giao tiếp với mọi người trong gia đình và vớí bạn học là người Thái Nhưng tần suất sử dụng cũng rất ít Học tập và sinh sống xa nhà như vậy môi trường giao tiếp của họ cũng được mở rộng với nhiều đối tượng giao tiếp khác nhau, nên ngôn ngữ sử dụng khi giao tiếp vẫn là tiếng
Tiếng Việt đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người Thái, đặc biệt khi họ sống xa quê hương Việc giao tiếp bằng tiếng Việt không chỉ giúp họ duy trì kết nối với cộng đồng mà còn hỗ trợ trong việc thích nghi với môi trường sống đa dạng dân tộc mới.
Quàng Thị Hoa, sinh năm 2000 và là sinh viên Trường Văn hóa nghệ thuật Hà Nội, chia sẻ rằng trong lớp học của em chỉ có mình em là người dân tộc Thái, còn lại là người dân tộc Kinh Do đó, em không sử dụng tiếng Thái khi giao tiếp với các bạn học Tuy nhiên, khi gọi điện cho bố mẹ hoặc nói chuyện với những người cùng dân tộc, em lại sử dụng tiếng Thái.
Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về thái độ ngôn ngữ
2.4.1 Thái độ ngôn ngữ đối với tiếng Việt
2.4.1.1 Thái độ ngôn ngữ đối với mục đích học tiếng Việt
Khảo sát thái độ ngôn ngữ của người dân xã Chiềng Ngần cho thấy sự cần thiết của việc học tiếng Việt Câu hỏi được đặt ra là: “Bạn thấy việc học tiếng Việt có cần thiết không?” và kết quả cho thấy 100% người được hỏi đều đồng ý rằng việc học tiếng Việt là rất cần thiết.
Học tiếng Việt có nhiều mục đích khác nhau, và trong khảo sát, chúng tôi đã đưa ra bốn lựa chọn cho người dân để trả lời câu hỏi: “Học tiếng Việt để làm gì?” Những mục đích này giúp xác định động lực và nhu cầu của người học trong việc sử dụng ngôn ngữ.
(1) Để giao tiếp trong cuộc sống
(2) Để học hành lên cao
(3) Để giao tiếp và phục vụ cuộc sống
Kết quả được thể hiện trong bảng sau (bảng 2.6)
Bảng 2.5 Thái độ đối với mục đích học tiếng Việt
(1) Để giao tiếp trong cuộc sống
(2) Để học hành lên cao
(3) Để giao tiếp và phục vụ cuộc sống…
Cả ba lý do Tổng
Kết quả ở bảng trên cho thấy đối với mục đích của việc học tiếng Việt thái độ giữa các đối tượng khảo sát có sự khác biệt
Số người khảo sát học tiếng Việt chủ yếu vì lý do học hành và giao tiếp là những người trẻ tuổi như học sinh, sinh viên, giáo viên, và nhân viên hành chính, những người có trình độ học vấn cao Trong khi đó, phần lớn người dân cho rằng học tiếng Việt chỉ nhằm mục đích giao tiếp, đặc biệt là ở nhóm tuổi cao, nông dân và những người có trình độ học vấn thấp.
Trình độ cao và cơ hội giao lưu giúp người dân nâng cao nhận thức về vai trò của tiếng Việt trong cuộc sống Hầu hết người dân đều nhận ra rằng thông thạo tiếng Việt không chỉ cải thiện khả năng giao tiếp của người dân tộc thiểu số mà còn mở ra cơ hội học tập và nâng cao chất lượng cuộc sống.
2.4.2.2 Thái độ đối với lý do sử dụng tiếng Việt
Chúng tôi tiến hành khảo sát để hiểu rõ lý do người dân sử dụng tiếng Việt, nhằm khám phá thái độ ngôn ngữ của họ đối với tiếng mẹ đẻ.
Với câu hỏi “Bạn nói tiếng Việt vì ” (câu 3 - Phiếu khảo sát) với 4 câu trả lời chúng tôi đưa ra cho người dân lựa chọn là:
(1) Vì người cùng giao tiếp không biết tiếng mẹ đẻ của bạn
(2) Để giao tiếp với người khác dân tộc
Bảng 2.6 Thái độ đối với lý do nói tiếng Việt
Vì người cùng giao tiếp không biết tiếng mẹ đẻ của bạn
(2) Để giao tiếp với người khác dân tộc
Kết quả ở bảng 2.6 cho phép rút ra một số nhận xét sau:
Người dân trên 50 tuổi thường thích sử dụng tiếng mẹ đẻ, trong khi những người từ 6-50 tuổi ưu tiên nói tiếng Việt khi giao tiếp với các dân tộc khác Tỉ lệ này khá lớn và có thể được giải thích như đã nêu ở phần trước.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong giao tiếp, học sinh, sinh viên và những người làm nghề hành chính, giáo viên có trình độ cao thường chọn tiếng Việt khi tương tác với các dân tộc khác Ngược lại, nông dân lại ưu tiên giao tiếp với những người không biết tiếng mẹ đẻ của họ.
2.4.2 Thái độ ngôn ngữ đối với tiếng mẹ đẻ
2.4.2.1 Thái độ đối với việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ a Câu hỏi đầu tiên đặt ra là “Bạn có thích học chữ viết tiếng mẹ đẻ mình không?” (câu 4 - Phiếu khảo sát) với 3 câu trả lời gợi ý là:
Kết quả (được phân chia theo các phạm vi xã hội) cho thấy như sau (Bảng 2.8a):
Bảng 2.7a Thái độ đối với việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ 1
Bảng 2.7a cho thấy rằng đa số người dân ủng hộ việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ của mình, đặc biệt là người Thái, những người đã có chữ viết riêng từ lâu Chỉ một số ít người ở trình độ Tiểu học và THCS, do nhận thức cảm tính, không bày tỏ ý kiến hoặc không thích học chữ viết tiếng mẹ đẻ Điều này cho thấy nhận thức cao của người Thái về tầm quan trọng của việc duy trì chữ viết tiếng mẹ đẻ.
Khi trò chuyện với những người không thích học chữ Thái, họ cho rằng việc học một loại chữ Quốc ngữ đã rất mệt mỏi Tuy nhiên, những người có trình độ học vấn cao lại có xu hướng thích học chữ viết tiếng mẹ đẻ nhiều hơn Điều này cho thấy trình độ học vấn ảnh hưởng đến ý thức của người dân về việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ Chúng tôi cũng đặt ra câu hỏi khảo sát về thái độ của người dân đối với tiếng mẹ đẻ: “Người dân tộc có cần học chữ viết tiếng mẹ đẻ không?” với bốn gợi ý trả lời.
(2) Học cũng được, không học cũng được
Kết quả khảo sát được thể hiện trong bảng 2.8b:
Bảng 2.7b Thái độ đối với việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ 2
(2) Học cũng được, không học cũng được
Kết quả từ bảng 2.7b cho thấy tỉ lệ người dân nhận thức được tầm quan trọng của việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ là rất cao, điều này phản ánh ý thức mạnh mẽ của cộng đồng trong việc phát huy và bảo tồn chữ viết tiếng mẹ đẻ.
Về độ tuổi và nghề nghiệp, tỉ lệ người trẻ, những người trong nhóm học sinh
Sinh viên, giáo viên, cán bộ công chức và người lớn tuổi đều nhận thức được tầm quan trọng của việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ, mặc dù một số ít người không có ý kiến hoặc cho rằng việc học không quá cần thiết Những người đã được học chữ viết tiếng mẹ đẻ thường có xu hướng yêu thích việc học này, điều này cho thấy một tín hiệu tích cực để tiếp tục phát triển công tác dạy chữ viết tiếng mẹ đẻ cho cộng đồng dân tộc thiểu số.
Trong một cuộc phỏng vấn sâu với nhóm người cho rằng việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ không cần thiết, nhiều người cho rằng việc biết hay không biết chữ viết này không ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của họ Họ chỉ cần biết chữ quốc ngữ, vì tất cả các văn bản pháp lý cần thiết đều được viết bằng chữ quốc ngữ Cách nhìn nhận này cho thấy rằng nhiều người vẫn chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của chữ viết trong việc bảo tồn văn hóa, mà chủ yếu chỉ tập trung vào việc sử dụng hay không sử dụng chữ viết tiếng mẹ đẻ.
2.4.2.2 Thái độ đối với lý do sử dụng tiếng mẹ đẻ Để tìm hiểu lý do sử dụng tiếng mẹ chúng tôi đưa ra câu hỏi:“Bạn nói tiếng mẹ đẻ vì ” (Câu 6 - Phiếu khảo sát), đưa ra 4 phương án gợi ý để người dân trả lời là:
(1) Một cách tự nhiên, vì không biết ngôn ngữ nào khác
(2) Để giao tiếp với người cùng dân tộc
Kết quả khảo sát như sau:
Bảng 2.8 Thái độ đối với lý do sử dụng tiếng mẹ đẻ Thái độ Đối tƣợng
(1) Một cách tự nhiên, vì không biết ngôn ngữ nào khác
(2) Để giao tiếp với người cùng dân tộc
Kết quả nghiên cứu một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của ngôn ngữ dân tộc trong giao tiếp giữa những người cùng dân tộc Tỷ lệ người dân chọn sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ là khá cao, cho thấy không có sự chênh lệch lớn giữa các nhóm đối tượng như giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn hay nghề nghiệp Đặc biệt, những người có xu hướng nói tiếng mẹ đẻ chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhóm tuổi trên 50 và từ 6-30, điều này cho thấy sự ưu tiên trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc ở các độ tuổi khác nhau.
Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về môi trường
xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về môi trường giao tiếp
Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái nữ được phân tích trong mục 2.4, cho thấy rằng việc sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp khác nhau là yếu tố quan trọng để xác định đặc điểm của trạng thái song ngữ.
2.5.1 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình Đối với phạm vi giao tiếp gia đình, chúng tôi đưa ra 10 tình huống giao tiếp cụ thể:
* Những tình huống đại diện tùy thuộc vào đối tượng giao tiếp:
(1) Ngôn ngữ thường dùng khi nói với ông, bà
(2) Ngôn ngữ thường dừng khi nói với cha, mẹ
(3) Ngôn ngữ thường dùng khi nói với vợ/ chồng
(4) Ngôn ngữ thường dừng khi nói với anh, chị, em ruột
(5) Ngôn ngữ thường dùng khi nói với con, cháu
* Những tình huống chung khi nói chuyện với người thân trong những ngữ cảnh cụ thể:
* Ngôn ngữ nói với người thân khi ăn cơm:
(1) Ngôn ngữ nói với người thân khi thực hiện các nghi lễ
(2) Ngôn ngữ nói với người thân khi trao đổi các vấn đề mang tính chính trị, hành chính
(3) Ngôn ngữ nói với người thân khi tranh luận, cãi nhau
(4) Ngôn ngữ sử dụng khi tức giận với con cái
2.5.1.1 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình theo từng đối tượng giao tiếp
Kết quả khảo sát về tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình theo từng đối tượng giao tiếp được trình bày cụ thể trong bảng 2.14:
Bảng 2.14 Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình của người dân theo đối tượng giao tiếp
TT Hoàn cảnh Ngôn ngữ Tổng Tỉ lệ
4 Nói với anh, chị em ruột
Trong giao tiếp gia đình, phụ nữ Thái ở Chiềng Ngần ưu tiên sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ khi trò chuyện với người lớn tuổi hơn như ông bà, cha mẹ, và khi giao tiếp với những người ngang hàng như vợ chồng, anh chị em.
2.5.1.2 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ khi giao tiếp với người thân trong gia đình theo ngữ cảnh giao tiếp
Kết quả khảo sát về việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp với người thân trong gia đình theo ngữ cảnh giao tiếp được thể hiện rõ ràng trong bảng 2.15.
Bảng 2.15 Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình của người dân
TT Hoàn cảnh Ngôn ngữ Tổng Tỉ lệ %
2 Khi thực hiện các nghi lễ
3 Khi trao đổi chính trị, các vấn đề thời sự, học hành
4 Khi tranh luận, cãi nhau
5 Khi tức giận với con cái
Trong các tình huống giao tiếp với người thân ở những ngữ cảnh khác nhau, tỷ lệ người dân sử dụng tiếng mẹ đẻ thường vượt quá 60% Đặc biệt, người dân hoàn toàn sử dụng ngôn ngữ dân tộc của mình khi thực hiện các nghi lễ.
Trong giao tiếp gia đình, người dân thường sử dụng cả tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ, đặc biệt khi thảo luận về các vấn đề chính luận và việc học tập của con cái.
Có 30% cho biết họ dùng cả hai ngôn ngữ trong tình huống này
Trong các tình huống giao tiếp hàng ngày, như khi tranh luận hay cãi nhau với con cái, người dân thường ưu tiên sử dụng ngôn ngữ dân tộc của mình Trong các nghi lễ gia đình, mọi người đều dùng tiếng mẹ đẻ Qua phỏng vấn sâu, nhiều người cho rằng sử dụng ngôn ngữ dân tộc thuận tiện và hiệu quả hơn so với tiếng Việt Đặc biệt, khi tức giận, họ thường phản ứng bằng tiếng mẹ đẻ như một bản năng tự nhiên.
2.5.2 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp cộng đồng
Luận văn phân chia thành 20 tình huống giao tiếp khác nhau và kết quả sẽ được trình bày và phân tích cụ thể như sau:
2.5.2.1 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ khi thực hiện các hoạt động ở cộng đồng Để khảo sát tình hình sử dụng ngôn ngữ của người dân khi thực hiện các hoạt động tại cộng đồng thì chúng tôi đề xuất 4 tình huống tiêu biểu (trên cơ sở tham khảo những công trình đi trước):
(1) Khi hát hò, kể chuyện
(3) Trong nghi lễ, cưới hỏi, tang ma
Kết quả được trình bày trong bảng 2.16:
Bảng 2.16 Tình hình sử dụng ngôn ngữ khi thực hiện các hoạt động ở cộng đồng
TT Hoàn cảnh Ngôn ngữ Tổng Tỉ lệ %
1 Khi hát hò, kể chuyện
3 Trong nghi lễ, cưới hỏi, tang ma
Bảng 2.16 cho thấy rằng trong các hoạt động cộng đồng, người dân tộc thiểu số ưu tiên sử dụng tiếng mẹ đẻ Như đã trình bày ở mục 2.5.1, các hoạt động cúng bái trong cộng đồng hoàn toàn diễn ra bằng tiếng mẹ đẻ Kết quả này một lần nữa khẳng định rằng tiếng mẹ đẻ được người dân lựa chọn với tỷ lệ cao, đạt 100%.
Bà Cà Thị Xum, Chủ tịch hội chữ thập đỏ, cho biết rằng hàng ngày tại cơ quan và khi dạy con học, bà sử dụng tiếng Việt Tuy nhiên, trong các hoạt động cộng đồng như đi đình, đi đám hay thăm hỏi người cùng dân tộc, bà hoàn toàn nói tiếng Thái Đối với các hoạt động văn hóa nghệ thuật như hát hò và kể chuyện, tiếng Việt chỉ được sử dụng 10%, trong khi cả hai ngôn ngữ được dùng chung chiếm 24%.
Trong quá trình ghi chép, chỉ có hai người sử dụng chữ Thái phiên âm, trong khi phần lớn còn lại ghi chép bằng chữ quốc ngữ Điều này chứng tỏ rằng tiếng Việt có ưu thế vượt trội trong lĩnh vực viết so với các ngôn ngữ dân tộc khác đã có chữ viết, đặc biệt là chữ Thái.
Vai trò của ngôn ngữ dân tộc trong các hoạt động cộng đồng là rất quan trọng Người Thái xã Chiềng Ngần đang dần sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình trong bối cảnh hòa nhập với tiếng Việt.
2.5.2.2 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ khi đến nhà người khác và khi có khách đến nhà
Với tình huống khi đến nhà người khác và khi có khách đến nhà thì chúng tôi phân chia thành 6 tình huống nhỏ tùy vào đối tượng giao tiếp:
(1) Đến nhà người cùng dân tộc
(2) Đến nhà người dân tộc khác
(3) Đến nhà người dân tộc Kinh
(4) Nói với khách đến nhà là người cùng dân tộc
(5) Nói với khách đến nhà là người khác dân tộc
(6) Nói với khách đến nhà là người dân tộc Kinh
Và kết quả được trình bày trong bảng 2.17:
Bảng 2.17: Tình hình sử dụng ngôn ngữ khi đến nhà người khác và khi có khách đến nhà
TT Hoàn cảnh Ngôn ngữ Tổng Tỉ lệ %
1 Đến nhà người cùng dân tộc
2 Đến nhà người khác dân tộc
3 Đến nhà người dân tộc Kinh
4 Nói với khách đến nhà là người cùng dân tộc
5 Nói với khách đến nhà là người khác dân tộc
6 Nói với khách đến nhà là người dân tộc Kinh
Bảng 2.17 cho thấy rằng khi có khách đến thăm, người dân tộc ưu tiên sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình, đặc biệt là trong trường hợp khách là người cùng dân tộc Ngược lại, khi khách là người khác dân tộc, người Thái thường chọn tiếng Việt Những dữ liệu này phù hợp với các khảo sát trước đó về khả năng ngôn ngữ.
2.5.2.3 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong các hoàn cảnh giao tiếp nơi công cộng, hành chính, nơi làm việc, học tập
Trong các tình huống giao tiếp nơi công cộng như chợ, bưu điện, và trạm y tế, cũng như trong giao tiếp hành chính và tại nơi làm việc, học tập, có thể phân chia thành 10 tình huống nhỏ khác nhau dựa trên đối tượng giao tiếp.
(1) Giao tiếp với người gặp lần đầu mà không biết dân tộc của họ
(2) Giao tiếp nơi công cộng với người cùng dân tộc
(3) Giao tiếp nơi công cộng với người khác dân tộc
(4) Giao tiếp nơi công cộng với người dân tộc Kinh
(5) Giao tiếp hành chính với người cùng dân tộc
(6) Giao tiếp hành chính với người khác dân tộc
(7) Giao tiếp hành chính với người dân tộc Kinh
(8) Giao tiếp nơi làm việc với người cùng dân tộc
(9) Giao tiếp nơi làm việc với người khác dân tộc
(10) Giao tiếp nơi làm việc với người dân tộc Kinh
Kết quả được trình bày trong bảng 2.18, 2.19 và 2.20:
Bảng 2.18: Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp nơi cộng đồng
TT Hoàn cảnh Ngôn ngữ Tổng Tỉ lệ %
1 Người gặp lần đầu mà không biết dân tộc của họ
2 Giao tiếp nơi công cộng với người cùng dân tộc
3 Giao tiếp nơi công cộng với người khác dân tộc
4 Giao tiếp nơi công cộng với người dân tộc Kinh
Bảng 2.19 Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hành chính
TT Hoàn cảnh Ngôn ngữ Tổng Tỉ lệ %
1 Giao tiếp hành chính với người cùng dân tộc
2 Giao tiếp hành chính với người khác dân tộc
3 Giao tiếp hành chính với người dân tộc Kinh
Bảng 2.20 Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp nơi làm việc, học tập
TT Hoàn cảnh Ngôn ngữ Tổng Tỉ lệ %
1 Giao tiếp nơi làm việc với người cùng dân tộc
2 Giao tiếp nơi làm việc với người khác dân tộc
3 Giao tiếp nơi làm với việc người dân tộc Kinh
Kết quả trình bày ở 3 bảng trên cho phép rút ra nhận xét sau:
Người dân tộc thiểu số thường ưu tiên sử dụng tiếng mẹ đẻ khi giao tiếp với những người cùng dân tộc trong các tình huống công cộng Tuy nhiên, khi giao tiếp với người khác dân tộc hay người Kinh, họ có xu hướng sử dụng tiếng Việt nhiều hơn Kết quả này cho thấy rằng việc lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp của họ bị ảnh hưởng bởi môi trường và đối tượng tham gia giao tiếp Đặc biệt, trong cộng đồng dân tộc, tiếng mẹ đẻ được ưu tiên, ngoại trừ một số lớp trẻ không nói được tiếng mẹ đẻ Như vậy, thành phần dân tộc của người tham gia giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định ngôn ngữ sử dụng.
Trong chương 2, chúng tôi đã phân tích các yếu tố như lứa tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, môi trường giao tiếp và thái độ ngôn ngữ để đánh giá tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của nữ giới người Thái Qua đó, một số nhận xét khái quát đã được đưa ra nhằm làm rõ hơn về đặc điểm ngôn ngữ của nhóm đối tượng này.