1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NGHIÊN CỨU TÍ NH ĐA DẠNG THỰC VẬT TRONG CÁC MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP TẠI HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

222 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 222
Dung lượng 7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm và định nghĩa về nông lâm kết hợp Nông lâm kết hợp NLKH là một phương thức canh tác có lịch sử lâu đời và theo P.K.R.Nair 1993 [1], là “tên gọi mới cho một phương thức canh tá

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

NGUYỄN BÌNH LIÊM

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT

TRONG CÁC MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP TẠI HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Hà Nội – 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

NGUYỄN BÌNH LIÊM

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT

TRONG CÁC MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP TẠI HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Sinh tha ́ i ho ̣c

Mã số: 9 42 01 20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 TS Lê Đồng Tấn

2 TS Đỗ Hư ̃u Thư

Hà Nội – 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Để đảm bảo tính trung thực của luận án, tôi xin cam đoan: Luận án “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật trong các mô hình nông lâm kết hợp tại huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa

học của TS Lê Đồng Tấn và TS Đỗ Hữu Thư, các tài liệu tham khảo đều được trích nguồn Các kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kì công trình nào trước đây./

Hà Nội, ngày 24 tháng 02 năm 2021

Tác giả luận án

Nguyễn Bi ̀nh Liêm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới

TS Lê Đồng Tấn và TS Đỗ Hữu Thư, những người đã hết lòng tận tình hướng dẫn

và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tạo cơ hội cho tôi được nâng cao vốn hiểu biết và những trải nghiệm thực sự thú vị trong nghiên cứu lĩnh vực Sinh thái học

Tôi xin chân thành cảm ơn bộ phận Đào tạo Sau đại học và Lãnh đạo Học viện Khoa ho ̣c và Công nghê ̣ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập

và nghiên cứu tại cơ sở đào tạo Bên cạnh đó, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo Trung tâm phát triển công nghê ̣ cao - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tạo điều kiện về mặt thời gian, công việc cũng như chia sẻ, động viên để tôi hoàn thành nghiên cứu của mình

Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu trường THPT Hương Cần, cán bộ giáo viên nhà trường đã giúp đỡ, tạo điều kiện về thời gian để tôi tập trung học tập, hoàn thành Luận án

Cuối cùng, tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, đồng nghiệp, những người bạn đã bên cạnh, chia sẻ, ủng hộ tôi trong suốt thời gian qua./

Hà Nội, ngày 24 tháng 02 năm 2021

Tác giả luận án

Nguyễn Bi ̀nh Liêm

Trang 5

MỤC LỤC

Trang LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

4 Điểm mới của luận án 3

5 Cấu trúc của luận án 3

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 4

1.1 Khái niệm và định nghĩa về nông lâm kết hợp 4

1.2 Lịch sử phát triển của nông lâm kết hợp 6

1.2.1.Trên thế giới 6

1.2.2 Ở Việt Nam 7

1.3 Các nghiên cứu về canh tác nông lâm kết hợp 10

1.3.1 Trên thế giới 10

1.3.2 Ở Việt Nam 15

1.4 Các hệ canh tác nông lâm kết hợp 20

1.4.1 Hệ canh tác nông lâm kết hợp lấy lâm nghiệp làm hướng ưu tiên 20

1.4.2 Hệ canh tác nông lâm kất hợp lấy nông nghiệp làm hướng ưu tiên 21

1.4.3 Hệ canh tác súc - lâm kết hợp, lấy chăm nuôi làm hướng ưu tiên 21

1.4.4 Hệ canh tác lấy cả nông lâm ngư nghiệp làm trọng tâm phát triển 21

1.4.5 Hệ canh tác lâm nghiệp kết hợp thủy sản 21

1.5 Những vấn đề tồn tại chưa được nghiên cứu 24

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 25

2.2 Nội dung nghiên cứu 25

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

Trang 6

2.3.1 Phương pháp điều tra 25

2.3.2 Phương pháp kế thừa và phương pháp chuyên gia 27

2.3.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả của các mô hình 28

2.3.4 Phương pháp xử lí số liệu 28

Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 32

3.1 Điều kiện tự nhiên 32

3.1.1 Vị trí địa lý 32

3.1.2 Địa hình 32

3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 34

3.1.4 Khí hậu, thuỷ văn 34

3.1.5 Tài nguyên 34

3.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 35

3.2.1 Dân số và lao động 35

3.2.2 Kinh tế 35

3.2.3 Cơ sở hạ tầng, y tế, văn hóa, giáo dục 36

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

4.1 Phân loại và đánh giá hiện trạng mô hình nông lâm kết hợp 38

4.1.1 Phân loại mô hình nông lâm kết hợp 38

4.1.2 Hiện trạng các mô hình nông lâm kết hợp 39

4.1.3 Mô hình Rừng +Vườn + Ao + Chuồng 53

4.2 Tính đa dạng thực vật 59

4.2.1 Đa dạng của hệ thực vật và thảm thực vật 59

4.2.2 Các loài quý hiếm 69

4.2.3 Đa dạng thảm thực vật 70

4.3 Đa dạng thực vật trong mô hình nông lâm kết hợp 71

4.3.1 Đa dạng thực vật trong mô hình Vườn + Rừng 73

4.3.2 Đa dạng thực vật trong mô hình Vườn + Chuồng + Rừng 77

4.3.3 Đa dạng thực vật trong mô hình Rừng + Vườn + Ao + Chuồng 81

4.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái 85

4.4.1 Hiệu quả kinh tế 85

4.4.2 Hiệu quả sinh thái - môi trường 97

Trang 7

4.5 Tri thức bản địa trong sử dụng đất của mô hình nông lâm kết hợp 99 4.6 Đề xuất giải pháp bảo vệ và tăng cường tính đa dạng thực vật 104 4.6.1 Quản lý hiện trạng sử dụng đất của các mô hình nông lâm kết hợp 104 4.6.2 Bảo vệ đa dạng thực vật 105 4.6.3 Giải pháp có liên quan đến hoạt động của mô hình nông lâm kết hợp 106

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 108 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NLKH Nông Lâm kết hợp

KVNC Khu vực nghiên cứu

HTCT Hệ thống canh tác

HQKT Hiệu quả kinh tế

RVAC Rừng -Vườn - Ao - Chuồng

R - O Trồng rừng kết hợp nuôi ong lấy mật

CBA Cost Benefit Analysis

VACR Vườn - Ao - Chuồng - Rừng

ICRAF International Center for Research in Agroforestry

SALT Slopping Agricultural Land Technology

IIRR International Institute for Rural Reconstruction

SEANAFE Southeast Asia Network for Agroforestry Education

TTV Thảm thực vâ ̣t

IUCN Red List of Threadtened Plant Species ver

PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng

KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình

HTV Hệ thực vâ ̣t

IA Nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại

IIA Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại

Trang 9

N Số hộ có mô hình

Ect Effective Indicator of Farming System

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Cơ cấu diện tích đất của mô hình Vườn + Rừng truyền thống ở

huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 40 Bảng 4.2 Cơ cấu diện tích đất của mô hình Vườn + Rừng cải tiến ở huyện

Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 43 Bảng 4.3 Cơ cấu diện tích đất của mô hình Vườn + Chuồng + Rừng truyền

thống ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 47 Bảng 4.4 Cơ cấu diện tích đất của mô hình Vườn + Chuồng + Rừng cái tiến

ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 50 Bảng 4.5 Cơ cấu diện tích đất của mô hình Rừng + Vườn + Ao + Chuồng

truyền thống ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 53 Bảng 4.6 Cơ cấu diện tích đất của mô hình Rừng + Vườn + Ao + Chuồng

cải tiến ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 56 Bảng 4.7 Số lượng các taxon theo Ngành của hệ thực vật trong vùng phân bố

của các mô hình nông lâm kết hợp ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 60 Bảng 4.8 Số họ giàu loài nhất của hệ thực vật trên vùng phân bố của mô

hình nông lâm kết hợp ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 61 Bảng 4.9 Tổng hợp số chi giàu loài nhất của hệ thực vật trên vùng phân bố

của mô hình nông lâm kết hợp ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 62 Bảng 4.10 Số loài theo dạng sống của hệ thực vật trên vùng phân bố của mô

hình nông lâm kết hợp ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 63 Bảng 4.11 Dạng sống của nhóm cây chồi trên trong hệ thực vật trên vùng

phân bố của mô hình nông lâm kết hợp ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 64 Bảng 4.12 Tính đa dạng loài về yếu tố địa lý của hệ thực vật trên vùng phân bố

của mô hình nông lâm kết hợp ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 65 Bảng 4.13 Số lượng ngành, họ, chi, loài theo nhóm tài nguyên của hệ thực vật

trên vùng phân bố của mô hình nông lâm kết hợp ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 67 Bảng 4.14 Danh sách các loài thực vật quý hiếm ở huyện Phù Ninh, tỉnh

Phú Thọ 69

Trang 11

Bảng 4.15 Số lượng các taxon theo Ngành của hệ thực vật trong mô hình

Vườn + Rừng ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 73 Bảng 4.16 Thành phần cây trồng trên đất vườn của mô hình Vườn + Rừng ở

huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 74 Bảng 4.17 Thành phần cây trồng trên đất rừng của mô hình Vườn + Rừng ở

huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 76 Bảng 4.18 Số lượng các taxon theo ngành của hệ thực vật trong mô hình

Vườn + Chuồng + Rừng ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 77 Bảng 4.19 Thành phần cây trồng trên đất vườn của mô hình Vườn + Chuồng

+ Rừng ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 79 Bảng 4.20 Thành phần cây trồng trên đất rừng của mô hình Vườn + Chuồng

+ Rừng ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 80 Bảng 4.21 Số lượng các taxon theo Ngành của hệ thực vật trong mô hình

Rừng + Vườn + Ao + Chuồng ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 81 Bảng 4.22 Thành phần cây trồng trên đất vườn của mô hình Rừng + Vườn +

Ao + Chuồng ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 83 Bảng 4.23 Thành phần cây trồng trên đất rừng của mô hình Rừng + Vườn +

Ao + Chuồng ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 84 Bảng 4.24 Thu nhập của mô hình Vườn + Rừng ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 86 Bảng 4.25: Thu nhập của mô hình Vườn + Chuồng + Rừng ở huyện Phù

Ninh, tỉnh Phú Thọ 90 Bảng 4.26 Thu nhập của mô hình Rừng + Vườn + Ao + Chuồng ở huyện

Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 94 Bảng 4.27 Danh sách các loài cây được người dân vùng nghiên cứu dùng

làm thuốc 101

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Mô hình Vườn + Rừng truyền thống của gia đình ông Trần Ngọc

Quỳnh ở khu 2 xã Liên Hoa 40 Hình 4.2 Mô hình Vườn + Rừng truyền thống của gia đình anh Nguyễn Việt

Hùng ở khu 6 xã Trạm Thản 40 Hình 4.3 Đất rừng của mô hình Vườn + Rừng truyền thống ở xã Phú Mỹ 41 Hình 4.4 Đất rừng của mô hình Vườn + Rừng truyền thống ở xã Trị Quận 41 Hình 4.5 Cây trồng trên đất vườn của mô hình Vườn + Rừng cải tiến ở xã

Phú Mỹ 44 Hình 4.6 Cây trồng trên đất vườn của mô hình Vườn + Rừng cải tiến ở xã

Phú Mỹ 44 Hình 4.7 Thanh Long trồng trên mô hình Vườn + Rừng cải tiến của gia đình

bà Nguyễn Thị Liễu ở khu 5 xã Trị Quận 46 Hình 4.8 Cây Chè trồng trên mô hình Vườn + Rừng cải tiến của gia đình bà

Bùi Thị Huyền ở khu 14 xã Tiên Phú 46 Hình 4.9 Mô hình Vườn + Chuồng + Rư ̀ ng truyền thống của gia đình ông

Nguyễn Quang Huy ở khu 4 xã Liên Hoa 47 Hình 4.10 Mô hình Vườn + Chuồ ng + Rư ̀ ng truyền thống của gia đình bà

Nguyễn Thị Dung ở khu 6 xã Trị Quận 47 Hình 4.11 Cây Thanh long trồng trên mô hình Vườn + Chuồng + Rư ̀ ng cải tiến

của gia ông Nguyễn Văn Nhượng ở khu 8 xã Trạm Thảm 52 Hình 4.12 Cây Đinh Lăng trồng trên mô hình Vườn + Chuồ ng + Rư ̀ ng cải

tiế n của gia đình ông Nguyễn Quốc Hùng ở khu 2 xã Phú Mỹ 52 Hình 4.13 Mô hình Rừng + Vườn + Ao + Chuồng của gia đình Bà Trần Thị

Thủy ở khu 1 xã Phú Mỹ 54 Hình 4.14 Mô hình Rừng + Vườn + Ao + Chuồng của gia đình ông Nguyễn

Hồng Tư ở khu 6 xã Trị Quận 54 Hình 4.15 Mô hình Rừng + Vườn + Ao + Chuồng cải tiến của gia đình anh

Vũ Văn Hưng ở khu 4 xã Tiên Phú 59 Hình 4.16 Mô hình Rừng + Vườn + Ao + Chuồng cải tiến của gia đình ba ̀

Nguyễn Thị Thiện ở khu 8 xã Bảo Thanh 59

Trang 13

Hình 4.17 Biểu đồ so sánh tỷ lệ % các taxon từng ngành trong các mô hình

nông lâm kết hợp ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 60

Hình 4.18 Biểu đồ phổ so sánh tỷ lệ % số họ, chi, loài của 10 họ đa dạng nhất với cả hệ thực vật 62

Hình 4.19 Biểu đồ phổ so sánh tỷ lệ % số chi, loài của 10 chi đa dạng nhất với cả hệ thực vật 63

Hình 4.20 Biểu đồ phổ dạng sống cơ bản của HTV huyện Phù Ninh 64

Hình 4.21 Biểu đồ tỷ lệ % của các nhóm cây chồi trên (Ph) 64

Hình 4.22 Biểu đồ các nhóm công dụng chính của khu hệ thực vật huyện Phù Ninh 67

Hình 4.23 Vườn Cọ của gia đình ông Hán Quang Thành ở khu 5 xã Gia Thanh 88

Hình 4.24 Vườn Thanh Long của gia đình ông Trần Quang Huy ở khu 4 xã Phú Lộc 88

Hình 4.25 Vườn Chè của gia đình bà Bùi Thị Huyền ở khu 14 xã Tiên Phú 89

Hình 4.26 Toàn cảnh mô hình Vườn - Chuồ ng - Rư ̀ ng của gia đình ông Nguyễn Đức Quang ở khu 6 xã Phú Mỹ 91

Hình 4.27 Mô hình Vườn + Chuồ ng + Rư ̀ ng của gia đình ông Nguyễn Văn Hùng ở khu 2 xã Lệ Mỹ 91

Hình 4.28 Cây Đing lăng trồng trên đất vườn của gia đình anh Nguyễn Quốc Hùng ở khu 2 xã Phú Mỹ 92

Hình 4.29 Cây Thanh long trồng trên đất vườn của gia ông Nguyễn Văn Nhượng ở khu 8 xã Trạm Thản 93

Hình 4.30 Mô hình của gia đình ông Nguyễn Hữu Đức ở khu 4 xã Trung Giáp 95

Hình 4.31 Mô hình của gia đình ông Đào Văn Thanh ở khu 3 xã Lệ Mỹ 96

Hình 4.32 Mô hình của gia đình anh Nguyễn Văn Tuấn ở khu 7 xã Phú Lộc 96

Hình 4.33 Mô hình của gia đình anh Vũ Văn Hưng ở khu 4 xã Tiên Phú 97

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới có hệ sinh thái thảm thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Do sự tác động của tự nhiên cũng như của con người đã làm cho các hệ sinh thái này luôn luôn có sự biến đổi Việc nghiên cứu về tính đa dạng thực vật nhằm hiểu được thành phần, tính chất các hệ thực vật ở từng nơi, từng vùng, nhằm xây dựng mô hình phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái, bảo tồn nguồn gen quý là rất cần thiết

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là một trong những điều kiện không thể thiếu cho hoạt đông sản xuất và đời sống con người Việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trước mắt mà cả lâu dài Ngành lâm nghiệp có tác dụng rất lớn đối với nền kinh tế có nhiều mặt không chỉ cung cấp đặc sản rừng mà còn tác dụng giữ đất, điều tiết nguồn nước, chống ô nhiễm môi trường, điều hòa khí hậu, phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái, đa dạng sinh học và các giá trị cảnh quan, du lịch, văn hóa Tuy nhiên, những năm qua chưa phát huy hết giá trị thực vật của vùng, chỉ tập trung khai thác triệt để thỏa mãn nhu cầu trước mắt Đầu tiên là sự khai thác kiệt quệ những loài gỗ quý, có giá trị cao về mặt kinh tế và thẩm mỹ, làm giảm tính đa dạng sinh học, mất đi nguồn gen sinh vật quý, làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực

Việt Nam là một nước nông nghiệp với dân số khoảng 94 triệu người trong

đó có trên 75% dân số sống dựa vào nông nghiệp nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở những vùng nông thôn miền núi Nhưng ở vùng miền núi ngành nông lâm nghiệp còn ít phát triển, hoạt động sản xuất gặp nhiều khó khăn, năng suất lao động thấp Việc qui hoach và sử dụng đất đai ở nhiều nơi còn nhiều bất cập Do vậy, việc nghiên cứu sử dụng đất là cần thiết

Nông lâm kết hợp là phương thức canh tác dựa trên những lợi thế tự nhiên của các hệ sinh thái khác nhau Thông qua áp dụng nông lâm kết hợp, con người đã khai thác hợp lý tiềm năng sinh thái, lợi thế về điều kiện tự nhiên của các vùng lâm nghiệp, góp phần phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái vùng trung du và miền núi

Nông lâm kết hợp là một giải pháp hiệu quả đang được áp dụng nhằm nâng

Trang 15

cao hiệu quả sử dụng đất, tăng thu nhập cho người nông dân phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững Đặc điểm chính của hệ thống sản suất nông lâm kết hợp là sử dụng hợp lý cây trồng trong canh tác để khai thác hiêu quả nguồn tài nguyên đất và nguồn năng lượng mặt trời Cho đến nay đã có nhiều mô hình nông lâm kết hợp đã thực hiện nhưng hiệu quả chưa cao, thậm chí không có khả năng nhân rộng

Huyện Phù Ninh là một huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Phú Thọ có địa hình dốc, bậc thang và lòng chảo nhưng lại có nguồn nước phong phú,

có sông Lô chảy qua và nhiều hồ chứa nước rất thuận lợi cho việc cung cấp nước tưới, tiêu cây trồng nông - lâm nghiệp nên có thể kết hợp nhiều loại cây trồng lâm - nông - công nghiệp trên các vùng đất dốc Vùng đất đồi núi trọc có thể phủ xanh bằng các loại cây lấy gỗ hoặc cây ăn quả, phát triển chăn nuôi đại gia súc và tiểu gia súc Vùng đồi núi thấp và ruộng có thể phát triển trồng cây lương thực, kết hợp với

cả cây công nghiệp, cây lấy gỗ để tăng hiệu quả sử dụng và bảo vệ tốt hơn môi trường sinh thái

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật trong các mô hình nông lâm kết hợp tại huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ” nhằm cung cấp

cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp phát triển các mô hình nông lâm kết hợp tại huyện Phù Ninh hết sức cần thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu chung:

Nghiên cứu đặc điểm và vai trò của tính đa dạng thực vật trong các mô hình nông lâm kết hợp tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

- Mục tiêu cụ thể:

+ Phân loại và đánh giá hiện trạng của mô hình nông lâm kết hợp

+ Nghiên cứu tính đa dạng thực vật và cây trồng trong các mô hình nông lâm kết hợp đã được xác định

+ Đề xuất giải pháp bảo vệ tính đa dạng thực vật cho mô hình nông lâm kết hợp

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học

+ Kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung dẫn liệu khoa về tính đa dạng thực vật trong hệ

thống các mô hình nông lâm kết ở huyện Phù Ninh nói riêng và tỉnh Phú Thọ nói chung

- Ý nghĩa thực tiễn

Trang 16

Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp khai thác và

sử dụng tính đa dạng thực vật để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội

4 Điểm mới của luận án

- Phân loại và đánh giá hiện trạng các mô hình nông lâm kết hợp ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

- Đưa ra dẫn liệu mới về tính đa dạng thực vật và cây trồng trong các mô hình nông lâm kết hợp tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

- Nghiên cứu đánh giá tổng hợp hiệu quả kinh tế - sinh thái các mô hình nông lâm kết hợp ở huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ

- Đề xuất các giải pháp bảo vệ và tăng cường tính đa dạng thực vật cho các

mô hình nông lâm kết hợp

5 Cấu trúc của luận án

Luận án gồm 221 trang, ngoài phần mở đầu 3 trang, kết luận và đề nghị 4 trang, nội dung chính của luận án được trình bày trong 4 chương: Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 21 trang; Chương 2 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 7 trang; Chương 3 Điều kiện tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu 6 trang; Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 72 trang Có 27 bảng, 33 hình và 03 phụ lục

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Khái niệm và định nghĩa về nông lâm kết hợp

Nông lâm kết hợp (NLKH) là một phương thức canh tác có lịch sử lâu đời và theo P.K.R.Nair (1993) [1], là “tên gọi mới cho một phương thức canh tác cũ” bởi

nó được coi là một lĩnh vực khoa học mới trong phát triển nông thôn dựa vào việc phát triển những hệ thống sử dụng đất bản địa vào thập niên 60 của thế kỷ XX Cho tới nay, nhiều khái niệm khác nhau được phát triển nhằm diễn tả và tạo sự hiểu biết

rõ hơn về NLKH Cụ thể:

Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất vững bền làm gia tăng sức sản

xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm), cây rừng và/hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên một diện tích đất

và áp dụng các kỹ thuật canh tác tương ứng với các điều kiện văn hóa xã hội của dân cư địa phương, (Bene và cộng sự, 1977- dẫn theo P.K.R.Nair,1993) [1]

Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm của

rừng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích đất thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương, (ICRAF, 1999) [2]

Nông lâm kết hợp là tên gọi chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó

các cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, các cây họ cau dừa, tre trúc, cây ăn quả cây công nghiệp…) được trồng có suy tính trên cùng một đơn vị diện tích với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới dạng xen theo không gian hay theo thời gian Trong các

hệ thống NLKH có mối tác động tương hỗ qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần trong hệ thống (Lundgren và Raintree, 1983) [3]

Các khái niệm trên mô tả NLKH như là một loạt các hướng dẫn để sử dụng đất liên tục ở nhiều mức độ phát triển khác nhau Tuy nhiên, trong thực tế NLKH đã phát triển như là một ngành kỹ thuật, trong đó có mối liên hệ chặt chẽ tới các vấn đề về kinh

tế - xã hội và đã hình thành nên một điều gì đó khác hơn là các hướng dẫn để sử dụng đất Trong bối cảnh mới, NLKH được xem như là một ngành nghề và một cách tiếp cận về sử dụng đất trong đó đã phối hợp sự đa dạng của quản lý tài nguyên tự nhiên

Trang 18

một cách bền vững để hình thành nên các hệ thống kinh tế - sinh thái - nhân văn Bởi vậy, khái niệm về NLKH còn có thể được hiểu ở các khía cạnh khác như sau:

Nông lâm kết hợp là các hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên đặc tính

sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững việc sản xuất giúp gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường của các nông trại nhỏ (Leaky, 1996 - dẫn theo Phạm Quang Vinh và cs, 2005) [4]

ICRAF đã phát triển khái niệm này rộng hơn, coi NLKH là một hệ thống sử dụng đất giới hạn trong các nông trại [2] NLKH là trồng cây trên nông trại và định nghĩa nó như là một hệ thống quản lý tài nguyên tự nhiên rất linh hoạt và lấy yếu tố sinh thái là chính, qua đó cây được phối hợp trồng trên nông trại và vào hệ sinh thái nông nghiệp làm đa dạng và bền vững sức sản xuất để gia tăng các lợi ích kinh tế,

xã hội và sinh thái cho người canh tác ở các mức độ khác nhau

Ngoài ra, về cấp độ cảnh quan có thể hiểu NLKH theo nghĩa rộng, đó là một phương thức sử dụng đất tổng hợp trên một vùng hay một lưu vực, trong đó có mối quan hệ tương tác giữa các hệ sinh thái tạo ra cân bằng sinh thái để sử dụng triệt để tiềm năng sản xuất của một vùng hay một lưu vực và trong đó hệ sinh thái rừng giữ vai trò chủ đạo Đây là một cách tiếp cận mới để phát triển NLKH trên qui mô cảnh quan một cách bền vững hơn Ở cấp độ này, có thể nhận thấy NLKH không chỉ là sinh kế của một hộ gia đình mà là sinh kế và mang lại lợi ích cả cộng đồng người dân sống tại đó (Peter Huxley, 1999) [5]

Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền núi phía bắc (2008) đưa ra định nghĩa như sau: Nông Lâm kết hợp là một phương thức sản xuất kinh doanh có khoa học, nó kết hợp một cách hài hoà giữa cây nông nghiệp và cây lâm nghiệp giữa trồng trọt và chăn nuôi, sử dụng một cách đầy đủ nhất, hợp lý nhất để sản xuất ra nhiều sản phẩm mà không ảnh hưởng đến đất đai Môi trường sinh thái bền vững, tốn ít chi phí mang lại hiệu quả kinh tế cao

Như vậy Nông lâm kết hợp là một thuật ngữ dùng để chỉ một hệ thống sử dụng đất trong sản xuất nông lâm nghiệp bằng việc phối hợp một cách có hiệu quả các thành phần cây trồng và vật nuôi một cách hiệu quả, cho năng suất và thu nhập cao, bảo vệ được đất đai và tránh được rủi ro trong quá trình canh tác

Trang 19

1.2 Lịch sử phát triển của nông lâm kết hợp

1.2.1.Trên thế giới

Hệ thống canh tác nông lâm kết hợp thường được các nhà nghiên cứu gọi là

hệ thống nông lâm kết hợp (NLKH) là một phương thức thức sản xuất nông nghiệp

có từ lâu đời Khó có thể xác định được một cách chính xác thời điểm mà tại đó NLKH ra đời Mặc dù vậy, người ta vẫn thừa nhận rằng sự hình thành và phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của các ngành khoa học thuộc lĩnh vực nông, lâm nghiệp và gắn liền với nhận thức của con người về sử dụng đất và các nhu cầu kinh

tế (Phạm Xuân Hoàn, 2012) [6] Canh tác cây thân gỗ cùng với cây trồng nông nghiệp trên cùng một diện tích là một tập quán sản xuất lâu đời của nông dân ở nhiều nơi trên thế giới Theo K.F.S King (1987) [7], cho đến thời Trung cổ ở châu

Âu, vẫn tồn tại một tập quán phổ biến là “chặt và đốt” rồi sau đó tiếp tục trồng cây thân gỗ cùng với cây nông nghiệp hoặc sau khi thu hoạch nông nghiệp Hệ thống canh tác này vẫn tồn tại ở Phần Lan cho đến cuối thế kỷ XIX và vẫn còn ở một số vùng của Đức đến tận những năm 1920 Nhiều phương thức canh tác truyền thống ở châu Á, châu Phi và khu vực nhiệt đới châu Mỹ đã có sự phối hợp cây thân gỗ với cây nông nghiệp để nhằm mục đích chủ yếu là hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp và tạo ra các sản phẩm phụ khác như gỗ, củi, đồ gia dụng,… (Auguicta Molnar, 1991 [8] và Bass & Morrison, 1994 [9])

Tại Trung Quốc, khi lần theo những dấu vết trong quá khứ ở giai đoạn đầu của nông nghiệp lúc sơ khai người ta đã nhận ra canh tác kết hợp giữa cây gỗ và cây nông nghiệp đã được hình thành từ rất lâu đời và được sử sách ghi lại Từ triều đại nhà Hán (206 trước Công nguyên đến 220 sau Công nguyên), lịch sử cổ đại có ghi lại tỉ mỷ về kỹ thuật trồng xen cây gỗ với chăn nuôi và cây nông nghiệp trong cuốn sách cổ “Chimin Yaoshu” (Trí dân yếu thư) và tạm hiểu là cuốn sách ghi về những mưu kế trọng yếu vì phúc lợi con người (Zhu Zhaohua, 2001) [10] Nhiều tài liệu nghiên cứu trên thế giới đều thống nhất là, cội nguồn của NLKH đã xuất hiện từ thời kỳ đồ đá mới (ICRAF, 1994 [11], Peter Huxley, 1999 [5] và bắt đầu từ canh tác nương rẫy Mặc dù, nhân loại đã trải qua nhiều hình thái xã hội khác nhau những cho đến nay, tại thế kỷ XXI, nương rẫy vẫn còn tồn tại Điều đó nói lên sức sống mãnh liệt của hình thức canh tác này, người ta vẫn có thể tìm thấy ở đây những “lợi

Trang 20

thế” của nương rẫy và qua đó có thể nhận biết được lịch sử hình thành và phát triển của NLKH như thế nào (Peter W.J & L.F Neuenshwander,1988) [12]

Tóm lại, NLKH là một phương thức canh tác phổ biến ở tất cả các châu lục

và tồn tại trong nhiều thế kỷ Sự phát triển và phân hóa xã hội sau này đã làm cho phương thức canh tác NLKH có những thay đổi và phát triển ở các mức độ và xu hướng rất khác nhau

1.2.2 Ở Việt Nam

Khó có thể xác định được một cách chính xác thời điểm mà tại đó NLKH ra đời Mặc dù vậy, người ta vẫn thừa nhận rằng sự hình thành và phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của các ngành khoa học thuộc lĩnh vực nông, lâm nghiệp và gắn liền với nhận thức của con người về sử dụng đất và các nhu cầu kinh tế (Phạm Xuân Hoàn, 2012) [6]

Canh tác NLKH đã có ở Việt Nam từ lâu đời, như các hệ thống canh tác nương rẫy truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người, hệ sinh thái vườn nhà ở nhiều vùng địa lý sinh thái trên khắp cả nước, v.v Làng truyền thống của người Việt cũng có thể xem là những hệ thống NLKH bản địa với nhiều nét đặc trưng về cấu trúc và các dòng chu chuyển vật chất và năng lượng (Trần Đức, 1998) [13] Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, song song với phong trào thi đua sản xuất, hệ sinh thái Vườn - Ao - Chuồng (VAC) được nhân dân các tỉnh miền Bắc phát triển mạnh mẽ

và lan rộng khắp cả nước với nhiều biến thể khác nhau thích hợp cho từng vùng địa

lý - sinh thái Sau đó, dưới áp lực về dân số và thiếu đất canh tác, các hệ thống Rừng -Vườn - Ao - Chuồng (RVAC) và vườn đồi được phát triển mạnh ở các khu vực dân cư trung du, miền núi phía Bắc và cả Tây Nguyên Các hệ thống rừng ngập mặn, nuôi trồng thủy sản cũng được phát triển ở vùng duyên hải các tỉnh cả ba miền Bắc, Trung, Nam (Bảo Huy, Võ Hùng, 2011) [14] Các dự án tài trợ quốc tế cũng giới thiệu một số mô hình canh tác trên đất dốc SALT từ kết quả thử nghiệm tại Viện nghiên cứu tái thiết nông thôn ở Philippines IIRR, (Phạm Quang Vinh, Phạm Xuân Hoàn, Kiều Trí Đức (2005) [4] Trong những thập niên gần đây, nông lâm kết hợp được xác định là “giải pháp hữu hiệu” để phát triển nông thôn bền vững ở các khu vực có tiềm năng là một chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước Việt Nam Điều này được thể hiện thông qua quá trình thực hiện chính sách định canh định cư, vùng kinh tế mới và chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại,… Đều có

Trang 21

liên quan đến việc xây dựng và phát triển NLKH tại Việt Nam Gần đây hơn là Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới,… Các thông tin, kiến thức về NLKH cũng đã được một số nhà khoa học, tổ chức tổng kết được những góc độ khác nhau Điển hình là các ấn phẩm của của Phạm Văn Vang (1981) [15], Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1998) [16], Trần Đức Viên (2002) [17], Trần Đức Viên và cs, 2001 [18]… Về việc xem xét và phân tích các hệ sinh thái nông nghiệp vùng trung du miền Bắc trên cơ sở tiếp cận sinh thái nhân văn Các tác giả Nguyễn Ngọc Bình, Phạm Đức Tuấn (2005) [19] đã tổng kết các mô hình NLKH và đánh giá rõ vai trò của NLKH trong sử dụng đất ở Việt Nam và trong công cuộc phát triển nông thôn Các hệ thống nông lâm kết hợp điển hình trong nước đã được tổng kết bởi FAO và IIRR, 1995, cũng như đã được mô tả trong ấn phẩm của Cục Khuyến nông và Khuyến lâm, Vụ KHKT (Bộ Lâm nghiệp, 1987) dưới dạng các

“mô hình” sử dụng đất [20], [21] Mittelman (1997) đã có một công trình tổng quan rất tốt về hiện trạng nông lâm kết hợp và lâm nghiệp xã hội ở Việt Nam, đặc biệt là

về các chính sách ảnh hưởng đến sự phát triển nông lâm kết hợp (dẫn theo Lê Thị Tuyết Anh, 2009) [22] Tuy nhiên các tư liệu nghiên cứu về tương tác giữa phát triển nông lâm kết hợp với môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội xung quanh (vi mô

và vĩ mô) vẫn còn phân tán và ít nhiều còn thiếu tính khái quát

Năm 1999, Việt Nam cùng 4 nước ASEAN (Indonesia, Philippines, Lào, Thái Lan) có sáng kiến thành lập mạng lưới giáo dục và đào tạo NLKH SEANAFE

Tổ chức này đặt mục tiêu phát triển NLKH qua đó cải thiện sinh kế và quản lý sử dụng đất một cách bền vững cho những người làm NLKH tại mỗi quốc gia thông qua giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học Có nhiều hoạt động khác nhau đã và đang được các nước thành viên mạng lưới triển khai thực hiện; trong đó có những thành tựu về NLKH ở Việt Nam đã được tổng hợp và chia sẻ trong mạng lưới này (www.seanafe.org/htlm) [23]

Ở Việt Nam hê ̣ canh tác nông lâm với cơ cấu và cấu trúc thích hợp sẽ cho phép ta ̣o nên mô ̣t nền sản xuất ổn đi ̣nh với mô ̣t tỷ tro ̣ng sản phẩm nông nghiê ̣p tương ứng với hê ̣ tự nhiên

Cho đến nay, ở Việt Nam nguồn tư liệu nghiên cứu, đánh giá hoạt động NLKH rất đa dạng và phong phú trên nhiều khía cạnh khác nhau như: lược sử phát triển, các nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm bản địa trong NLKH, các mô hình trình

Trang 22

diễn, các nghiên cứu bổ sung từ hỗ trợ của các dự án trong và ngoài nước,…Ở các qui mô và vùng miền khác nhau Tuy nhiên, trong những nguồn thông tin trên hiện không có nhiều tư liệu đề cập tới xu hướng phát triển của NLKH qua thực tiễn rất

đa dạng và phong phú này

Về phương diện chính sách và các cơ sở pháp lý liên quan đến phát triển NLKH thể hiện tương đối rõ xu hướng này Nếu như trước thập niên 60 - 70 của thế

kỷ XX, NLKH hoàn toàn tự phát và manh mún thì sau khi “đổi mới”, NLKH được chú ý và từng bước thể hiện trong các văn bản pháp qui của Nhà nước Trước hết phải kể đến 3 đạo luật cao nhất và quan trọng nhất liên quan đến sử dụng đất nông lâm nghiệp là Luật Đất đai (2003), Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004) và Luật Bảo vệ môi trường (2005) Theo đó là các văn bản dưới Luật như các Nghị định, Nghị quyết, Chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án phát triển thể hiện rất rõ các khía cạnh hỗ trợ cho thúc đẩy phát triển NLKH như các chính sách về đất đai, các chính sách về khuyến nông, khuyến lâm, định canh định cư, về thị trường nông lâm sản,… Và gần đây là các chính sách liên quan đến vấn đề xây dựng nông thôn mới, vấn đề “tam nông” (nông nghiệp, nông dân, nông thôn),… Tất cả những chính sách này đều có những nội dung hướng tới mục tiêu phát triển NLKH bền vững theo xu hướng chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa những sản phẩm thu được từ NLKH

Như vậy, theo định hướng trên NLKH sẽ không còn là các hệ thống canh tác ở qui mô hộ riêng lẻ mà phải phát triển ở qui mô trang trại lớn (có tích tụ đất), qui mô lưu vực hay cấp độ cảnh quan (Võ Hùng, Bảo Huy, Nguyễn Thị Thanh Hương, 2011 [24]; Phạm Xuân Hoàn, 2012 [25]) Trong dự báo về xu hướng phát triển của NLKH và của

kỹ thuật lâm sinh trong NLKH với mục tiêu cung cấp gỗ ở Việt Nam, Phạm Xuân Hoàn (2010, 2012) [6, 25] đã nhận định là quá trình hoàn thiện NLKH trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có thể được khái quát thành ba giai đoạn:

- Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn sản xuất NLKH sơ khai (primary stage)

trong đó du canh (shifting cultivation) và vườn nhiều tầng (multi - storey garden) là một trong những điển hình về một hệ thống canh tác theo mục đích tự cung tự cấp (subsistance farming)

- Giai đoạn thứ hai là giai đoạn mang tính chuyển tiếp (transition tree

growing stage) Giai đoạn này là giai đoạn phát triển và hoàn thiện về kỹ thuật

Trang 23

NLKH phát triển dựa trên quan hệ sử dụng đất (landuse - based agroforestry), trong

đó cây gỗ lâu năm trong hệ thống là mục tiêu chính Trang trại và các phương thức canh tác trên đất dốc (SALTs), Là những ví dụ minh họa cho giai đoạn “quá độ” này và đây là giai đoạn dài nhất trong lịch sử phát triển của NLKH Ở giai đoạn này, người ta có thể nhận thấy sự kéo dài của một số phương thức canh tác của giai đoạn trước nhưng cũng có thể nhận thấy mầm mống của các phương thức canh tác của giai đoạn sau xuất hiện

- Giai đoạn thứ ba là giai đoạn “đỉnh cực” (climax stage) và đây sẽ là hệ thống mà kỹ thuật NLKH trong tương lai cần hướng đến Giai đoạn này không có

nghĩa là giai đoạn tạo ra sản phẩm nông - lâm nghiệp cao nhất mà hàm ý của “cao đỉnh” này là sự ổn định và bền vững dựa trên những nguyên tắc, nền tảng chung nhằm bảo vệ môi trường sinh thái (environment - based agroforestry) Điển hình cho giai đoạn này là nông nghiệp rừng (agroforest/forest farming…), NLKH qui mô cảnh quan (landscape agroforestry), nông lâm súc (silvo - pastural agroforestry), Đây chính là giai đoạn NLKH phát triển cân bằng, hài hòa giữa các mục tiêu kinh tế

và môi trường sinh thái

1.3 Các nghiên cứu về canh tác nông lâm kết hợp

1.3.1 Trên thế giới

1.3.1.1 Phân loại các hệ thống nông lâm kết hợp

Cho đến nay, trên thế giới đã có nhiều tác giả đã đưa ra các tiêu chí hay nguyên tắc nhằm phân loại các mô hình NLKH để phục vụ cho công tác nghiên cứu hay khai thác sử dụng hiệu quả mô hình nông lâm kết hợp Đại diện cho xu hướng này có thể kế đến các công trình của P.K.R.Nair (1985, 1993) [26, 1] Điểm nổi bật trong các nghiên cứu là ông đã tổng kết những đặc điểm cơ bản của mô hình trên thế giới, đồng thời đề xuất một số nguyên tắc chính làm cơ sở cho việc phân loại mô hình NLKH Các nguyên tắc đó như sau:

- Cơ sở cấu trúc: Dựa vào cấu trúc của các thành phần loài, bao gồm sự phối

hợp không gian của các thành phần cây gỗ, sự phân chia theo tầng thẳng đứng của các loài hỗn giao với nhau và sự phối hợp theo thời gian khác nhau của những thành phần này

- Cơ sở chức năng: Dựa vào chức năng chính hay vai trò của các thành phần

trong hệ thống, chủ yếu là thành phần cây thân gỗ (ví dụ, nhiệm vụ sản xuất như là

Trang 24

sản xuất thực phẩm, thức ăn gia súc, chất đốt hay nhiệm vụ phòng hộ chẳng hạn như đai chắn gió, rừng phòng hộ chống cát bay, bảo vệ đất chống xói mòn, bảo vệ vùng đầu nguồn nước)

- Cơ sở sinh thái: Cơ sở sinh thái được dựa vào điều kiện sinh thái và sự tương

thích sinh thái của các hệ thống do nhận định rằng một vài loại hệ thống thích hợp hơn cho một số vùng sinh thái như vùng khô hạn, bán khô hạn, nhiệt đới ẩm, v.v…

- Cơ sở kinh tế xã hội: Dựa vào các mức độ đầu tư vào quản lý nông trại

(thấp hay cao) cường độ, hay mức độ của sự quản trị và mục đích thương mại (tự cung tự cấp, sản xuất hàng hóa hay cả hai)

Các nguyên tắc phân loại có quan hệ lẫn nhau, chẳng hạn như các nguyên tắc dựa vào cấu trúc tầng và dựa vào chức năng thường được đặt làm cơ sở để phân chia hệ thống, còn các nguyên tắc khác như là dân sinh kinh tế, vùng sinh thái được

sử dụng làm nền tảng để chia cho nhóm theo mục đích

Theo P.K.R Nair (1993) [1], trong các hệ thống sử dụng đất có quan hệ gần gũi với NLKH, chỉ có 3 hình thái của các thành phần trong NLKH được con người quản lý là: cây gỗ lâu năm, thực vật thân thảo và vật nuôi Do đó, “bước đầu tiên đơn giản và hợp lý trong việc phân loại NLKH là sử dụng các bộ phận cấu thành này như là một căn cứ” Dựa trên những nguyên tắc cơ bản đó, lần đầu tiên tác giả

đã đề xuất một sơ đồ phân loại bao gồm 3 hệ thống có tính phổ biến nhất là hệ kết hợp giữa cây nông nghiệp và lâm nghiệp (nông - lâm); hệ cây lâm nghiệp và chăn nuôi (lâm - súc); hệ kết hợp cây nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi (nông - lâm súc) Ngoài ra, còn có những cách kết hợp khác nhau như rừng - nuôi ong; rừng cây

đa tác dụng, rừng - nuôi trồng thủy sản,… Tạo nên những “biến thể” trong thực tiễn phát triển NLKH ở một số nơi mà điều kiện sinh thái cho phép Trong 3 hệ thống chính, tùy theo loài cây, loài con trong thành phần của từng hệ thống đó sẽ hình thành nên các hệ NLKH cụ thể hơn

Từ tiếp cận này, P.Nair cho rằng đơn vị phân loại cơ bản nhất là các hệ thống, dưới đó là các phương thức NLKH hay là các mô hình NLKH cụ thể Theo cách tiếp cận trên, nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng hệ thống phân loại NLKH cụ thể và có nhiều cải tiến với những tên gọi rất khác nhau nhưng có một điểm chung nhất là hệ thống này đều được coi là một hệ thống canh tác (HTCT) hoàn chỉnh (Hans Ruthenberg, 1980) [27]

Trang 25

Như đã đề cập tại phần xu hướng phát triển của NLKH, loại hình sử dụng đất này không chỉ có ở các nước nông nghiệp mà còn ở các nước công nghiệp Tại các nước này, NLKH vẫn tồn tại và đã hình thành nên những HTCT vững bền cả về phương diện kinh tế và sinh thái Ở Mỹ chẳng hạn, NLKH về cơ bản được phân loại thành 5 hệ thống chính: i).Trồng cây theo hàng (alley cropping); ii) Lâm - súc (silvopasture); iii) Canh tác dưới tán rừng (forest farming/multistory cropping); iv) Rừng hành lang ven bờ (riparian forest buffers) và rừng chắn gió cho nông nghiệp, chống tiếng ồn, bụi công nghiệp,… (windbreak) (Mac Dicken & Vergara, 1990 [28] và USDA, 2013) [29]

Việc phân loại NLKH thành những hệ cơ bản đó không chỉ là cơ sở cho công tác quản lý và phát triển hệ thống một cách bền vững mà còn từ những đơn vị phân loại này người ta có thể có được các căn cứ để đánh giá hiệu quả của NLKH trên tất

cả các phương diện như hiệu quả kinh tế, hiệu quả sinh thái (môi trường), hiệu quả

xã hội,…

1.3.1.2 Đa dạng sinh học trong các loại hình nông lâm kết hợp

Các hệ thống nông lâm kết hợp có thể thuận lợi hơn các phương pháp sản xuất truyền thống nông nghiệp và lâm nghiệp Chúng có thể đem đến năng suất tăng cao và các lợi ích kinh tế, đa dạng hơn về hàng hóa nông sản cà cung cấp các mô hình sinh thái

Đa dạng sinh học trong các hệ thống nông lâm kết hợp thường cao hơn trong

hệ thống nông nghiệp thông thường Với hai hay nhiều loài thực vật tương tác trên một diện tích đất nhất định, nó tạo ra một môi trường sống phức tạp hơn có thể hỗ trợ đa dạng hơn cho các loài côn trùng, chim chóc và các loài động vật khác Tùy thuộc vào các ứng dụng, tác động của nông lâm kết hợp có thể bao gồm:

- Giảm nghèo đói qua việc tăng sản xuất gỗ và nông sản khác cho tiêu dùng

Trang 26

- Giảm tình trạng phá rừng và áp lực lên rừng bằng cách cung cấp thêm củi đốt, chất đốt từ trang trại

- Giảm hoặc loại bỏ sự phụ thuộc vào các hóa chất nông nghiệp độc hại (thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, vv)

- Tăng đầu ra cho sản phẩm từ trang trại đa dạng hơn, cải thiện dinh dưỡng trong thực phẩm cung cấp cho con người và vật nuôi

- Trong trường hợp bị hạn chế về y tế do khoảng cách tới các cơ sở y tế và điều kiện tài chính kinh tế eo hẹp thì nông lâm kết hợp cũng tạo thêm không gian cho phát triển cây thuốc và mô hình vườn thuốc chữa bệnh

- Tăng tính ổn định cây trồng

- Tăng khả năng chống hạn hán và thiếu nước vào mùa khô

- Tăng cường quản lý chất thải sinh học

1.3.1.3 Đánh giá hiệu quả của nông lâm kết hợp

Như đã trình bày ở trên NLKH là một khái niệm dùng để chỉ hệ thống sản xuất nông nghiệp theo hướng kinh tế - sinh thái do con người xây dựng nên Do đó, các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng hiệu quả của mô hình không chỉ đơn thuần là kinh tế mà còn phải đánh giá cả về phương diện môi trường và tác động đến dời sống xã hội, nghĩa là cần đánh giá một cách tổng hợp, có tính chất đa ngành bao gồm các nội dung về khả năng sản xuất (hiệu quả kinh tế), tính bền vững của hệ thống (hiệu quả sinh thái) và khả năng chấp nhận (hiệu quả xã hội) (P.K.R Nair (1987) [30]) Dưới đây là những nguyên tắc và hiểu biết chung nhất trong đánh giá hiệu quả của NLKH

1.3.1.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế

Brendan George, 2009 [31] và Dan M Etherington et al, 1983 [32] cho rằng đánh giá hiệu quả kinh tế trong NLKH về thực chất là đánh giá một dự án đầu tư trong nông - lâm nghiệp nên phương pháp đánh giá được áp dụng chủ yếu là tiến hành phân tích và tính toán số liệu thu được từ mô hình theo hai nội dung sau:

- Về tài chính: Là khả năng sinh lợi từ các nguồn lực đầu tư: vốn, công lao động, nguyên vật liệu,… là đầu vào của mô hình

- Về kinh tế: bao gồm hiệu quả kinh tế từ khả năng sinh lợi của vốn đầu tư; hiệu quả bảo vệ môi trường như: che phủ và bảo vệ đất, giữ nước, chống xói mòn, chắn gió, điều hòa khí hậu,… (Chin K Ong và Peter Huxley, 1996) [33]; và hiệu

Trang 27

quả về xã hội: tạo ra việc làm, tăng thu nhập, ổn định và nâng cao đời sống người dân, bảo đảm an ninh trật tự xã hội v.v… (Anthony Young, 1987, 1997) [34, 35]

Theo phương pháp đánh giá này Anthony Young, 1990 [36] và Paul.D.K,

1990 [37] cũng thống nhất cho rằng đánh giá hiệu quả mô hình NLKH chính là việc đánh giá những hiệu quả xã hội thu được từ việc đầu tư nguồn lực Sassone P.G và Schaffer N.A, 1978 [38] đã bổ sung thêm nội dung gồm cả hiệu quả trực tiếp xác định thông qua trao đổi, mua bán trên thị trường và do đó hàm chứa cả yếu tố kinh

tế và yếu tố xã hội

1.3.1.3.2 Đánh giá hiệu quả tổng hợp

Kết quả của việc đánh giá về hiệu quả kinh tế như đã trình bày ở trên chỉ mới đáp ứng được vấn đề kinh tế, thường ở qui mô nhỏ là một mô hình cụ thể hay là hộ gia đình, còn về xã hội - một yếu tố có vai trò quan trọng cho sự phát triển bền vũng của mô hình còn ít được chú ý Vì vậy, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng cần đánh giá mô hính NLKH trong một hệ thống rộng hơn, mang tính chất tổng hợp của một vùng hay lãnh thổ với nội dung chính là xem xét hiệu quả kinh tế trong mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng xã hội Xuất phát từ quan điểm này, W R.Rola, 1994 [39], John Dixon và Aidan Gulliver, 2001 [40] đã đề xuất phương pháp đánh giá hiệu quả tổng hợp thông qua việc tính toán chỉ số hiệu quả canh tác (Ect - Effective Indicator

of Farming System) của hệ thống đó Phương pháp này được sử dụng để tính hiệu quả tổng hợp cho các hệ thống NLKH Các tiêu chí, chỉ báo định lượng vào tính toán đều được thảo luận với người dân để đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường vào tính toán các chỉ số hiệu quả canh tác Theo tác giả nếu hệ thống NLKH nào có hệ số này càng gần trị số 1 thì hệ thống đó sẽ càng có hiệu quả cao

Tiếp cận phương pháp này nhiều tác giả của các nước trong mạng lưới SEANAFE như Thái Lan, Lào, Indonesia, Philippines và Việt Nam cũng như nhiều tác giả khác trên thế giới áp dụng Đã có nhiều công trình nghiên cứu nhất là các công trình nghiên cứu của ICRAF theo hướng này đưa ra những kết quả đánh giá hiệu quả NLKH có giá trị khoa học và thực tiễn rất cao (dẫn theo Võ Hùng, 2009) [41] Do tính phổ biến, tính đúng đắn và chưa thể thay thế của phương pháp đánh giá hiệu quả NLKH như đã nêu nên các kết quả nghiên cứu theo hướng này trên thực tế rất đa dạng và phong phú

Trang 28

1.3.2 Ở Việt Nam

1.3.2.1 Những nghiên cứu về nông lâm kết hợp

Những nghiên cứu về nông lâm kết hợp ở nước ta đã được thực hiện từ những năm 1960 Đến năm 1980 thực sự trở thành vấn đề cấp bách Điều đó được thể hiện qua các chương trình dự án như:

- Chương trình Môi trường (52D) với việc thực hiện các mô hình nông lâm kết hợp trên các vùng trung du miền núi phía bắc

- Chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước “Phủ xanh đất trống đồi núi trọc”

mã số 04A (1986 - 1990) do Bộ Lâm nghiệp chủ trì

- Chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước “Khôi phục rừng và phát triển lâm nghiệp” mã số KN03 (1990 - 1995), Bộ Lâm nghiệp chủ trì

Ở vùng Tây Nguyên, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Tây Nguyên (2013) đã nghiên cứu kỹ thuật và hiệu quả của mô hình nông lâm kết hợp cây Tếch + Đậu đỗ trên đất trống của rừng khộp

Ở vùng Tây Bắc, Trung tâm khuyến nông tỉnh Sơn La đã thực hiện dự án xây dựng mô hình nông lâm kết hợp canh tác bền vững trong giai đoạn 2012 - 2013 Bằng việc sử dụng các cây trồng nông nghiệp như đậu, đỗ, lạc trồng xen trong mô hình trồng rừng bạch đàn U6

Ở tỉnh Điện Biên năm 2009, Trung tâm Khuyến nông Điện Biên đó xây dựng

dự án phát triển trồng rừng nguyên liệu, canh tác nông - lâm kết hợp tại Si Pa Phìn với mục đích là lựa chọn các giống cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng, lựa chọn các quy trình kỹ thuật, xây dựng mô hình nông - lâm kết hợp canh tác bền vững trên đất dốc có tác dụng bảo vệ đất và môi trường sống, sử dụng đất một cách hợp lý nhằm duy trì và tăng độ phì của đất, từng bước nâng cao nhận thức

và vai trò của rừng

Ở vùng Đông Bắc, Trung tâm Khuyến nông huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn (2013) đã xây dựng mô hình phát triển sản xuất nông lâm kết hợp, diện tích 1,5ha trên đất nương rẫy thuần loại và áp dụng Mô hình SALT 1 (Kỹ thuật canh tác nông nghiệp trên đất dốc) với 4 loại cây trồng chính: Bạch đàn mô, Keo lai, Ngô NK4300

và Đỗ tương DT84 Sau 2 năm triển khai, thực hiện đề tài đã đem lại hiệu quả kinh

tế cao, hiệu quả về xã hội và môi trường, nâng cao nhận thức và mức sống của người dân Việc trồng xen các cây nông nghiệp với lâm nghiệp tăng thêm khả năng bảo vệ đất chống xói mòn, thoái hóa và cháy rừng diễn ra hàng năm

Trang 29

Lê Đồng Tấn và cộng sự (2007) đã thực hiện nghiên cứu xây dựng mô hình nông lâm kết hợp phủ xanh đất trống đồi núi trọc ở tỉnh Thái Nguyên - Bắc Kạn, và

đã đưa ra các mô hình nông lâm kết hợp cho khu vực như sau:

- Mô hình Vườn + Ao + Chuồng

- Mô hình Rừng + Nương + Vườn

- Mô hình Rừng + Vườn + Ao + Chuồng

- Mô hình vườn rừng: Kết hợp trồng cây ăn quả với cây lấy gỗ, cây lấy gỗ

với cây phi gỗ (song mây, cây thuốc)

1.3.2.2 Phân loại nông lâm kết hợp

Ở Việt Nam, trên cơ sở tổng kết các thành tựu về nghiên cứu, các kết quả từ thực tiễn sản suất và kết hợp tham khảo các tài liệu đã được công bố, các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân loại mô hình NLKH nhằm phục vụ cho công tác quản

lý và sử dụng Trong đó, đáng chú ý hơn cả là hệ thống phân loại của Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn (2005) [19] Theo đó, để phân loại mô hình NLKH tác giả

đã phân chia Việt nam thành các vùng địa lý sinh thái, trên các vùng địa lý sinh thái

đó tiến hành xác đinh và đặt tên cho các hệ thống canh tác NLKH Kết quả như sau:

- Vùng ven biển: Với các loài cây ngập mặn, chịu phèn, chống cát di động

- Vùng đồng bằng: Các mô hình Vườn - Ao - Chuồng, trồng cây phân tán, đai xanh phòng hộ

- Vùng đồi núi và trung du: Các mô hình Vườn - Rừng; Rừng - Vườn - Chuồng; trồng rừng kết hợp nuôi ong lấy mật; các mô hình SALT chống xói mòn bảo vệ đất

- Vùng núi cao: Chăn thả dưới tán rừng (lâm - súc), làm ruộng bậc thang; SALT và rừng phòng hộ đầu nguồn, R - VAC và R - VAC - Rg

Để có cơ sở khoa học và thực tiễn khi xây dựng nguyên tắc cũng như phương pháp phân loại NLKH, các nhà nghiên cứu phân tích và xác định mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố trong hệ canh tác NLKH Các yếu tố đó chủ yếu là: cây nông nghiệp gồm cây thân thảo ngắn ngày, cây ăn quả, ; cây lâm nghiệp/công nghiệp là cây gỗ, cây tre trúc, cau dừa,… sống lâu năm; và vật nuôi gồm gia súc, gia cầm, thủy sản, ong,…thậm chí cả động vật hoang dã đã được thuần hóa Các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng mối liên hệ và “kết hợp chéo” giữa các thành tố này là

cơ sở hình thành nên các hệ NLKH ở Việt Nam

Trang 30

Trong từng hệ canh tác trên, tùy theo thành phần loài cây trồng, vật nuôi và

cơ cấu ngành nghề như: nông nghiệp (ruộng, vườn,…), lâm nghiệp (rừng) hay chăn nuôi (chuồng, ao, ), hệ canh tác sẽ được chia thành các kiểu/mô hình canh tác khác nhau Về nguyên tắc chung, tên gọi của các kiểu hay mô hình sẽ được dựa vào cơ cấu đó

1.3.2.3 Đặc điểm của mô hình nông lâm kết hợp

1.3.2.3.1 Nông lâm kết hợp là một hệ canh tác nông nghiệp bền vững

Hệ canh tác nông lâm với cơ cấu và cấu trúc thích hợp sẽ cho phép tạo nên một nền sản xuất ổn định với tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp tương ứng với hệ tự nhiên Từ bài học rút ra ở các nước công nghiệp tiên tiến đến những mô hình vườn rừng ở các nước nhiệt đới đã cho phép khẳng định rằng, phá trụi rừng để sản xuất nông nghiệp, trồng cây công nghiệp trên vùng đồi núi, hoặc trên đất ráo nước bằng phẳng đều đi đến hủy hoại môi trường sống Biết phối hợp chặt chẽ sự hỗ trợ từ rừng với các dạng khác nhau đại, đám, khối cho nông nghiệp, cây công nghiệp, bãi

cỏ, có thể tạo nên nền sản xuất nông, lâm ổn định và bền vững ngay trên địa bàn tự nhiên khắc nghiệt

1.3.2.3.2 Canh tác nông lâm kết hợp là sự đúc kết kinh nghiệm lâu đời của người nông dân giữa các hệ tự nhiên và hệ trồng trọt nhân tạo

Hệ canh tác NLKH là sự đúc kết những kinh nghiệm lâu đời của người nông dân sống ở vùng có những điều kiện tự nhiên không thuận lợi Trên thế giới có nơi

có hoặc không có những hoàn cảnh thiên nhiên thuận lợi cho canh tác nông lâm và chăn nuôi: đồng bằng ít, đồi núi nhiều, mưa đều và nắng ẩm quanh năm hầu như không có Vì vậy, con người phải tạo ra bằng một hệ canh tác có hiệu quả khống chế được những nhân tố bất lợi của tự nhiên như: gió nóng, rét lạnh, bão, xói mòm,… và cao hơn nữa là cải tạo tự nhiên biến những điều kiện không thuận lợi thành có lợi

Như vậy, cần phải xem xét trên quan điểm nông lâm sinh học các hệ tự nhiên

và các hệ canh tác NLKH, thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa hai hệ và sự cần thiết phải thiết lập hệ canh tác sao cho phù hợp với hệ tự nhiên

1.3.2.3.3 Nông lâm kết hợp là phương thức sản xuất thâm canh cao và hợp lý

NLKH không chỉ có nghĩa là trồng xen cây nông nghiệp với cây rừng, trồng xen cây nông nghiệp sau khi trồng rừng, tận dụng khoảng đất trống giữa các hàng

Trang 31

cây rừng mới trồng để trồng đậu, lúa, khoai Mà NLKH còn bao gồm một loạt phương thức trong đó người nông dân sử dụng cây rừng để tạo ra hoàn cảnh sinh thái tốt nhất cho cây nông nghiệp, giảm được công tưới nước, giảm được tác động của nhiệt độ và ánh sáng mạnh, tạo thêm mùn, đạm, hạn chế sức lay lắc nguy hại của gió NLKH không những chỉ là thực hiện sự cân bằng sinh học trong từng hệ thống mà còn trên cả những vùng rộng lớn, xây dựng bức khảm nông lâm, nương, vườn, vườn rừng, rừng cây bãi cỏ và rừng Trong điều kiện đồi núi, thì người ta thực hiện hệ canh tác đó trên quan điểm nhất thể hóa nghĩa là coi các thành viên trong hệ canh tác đó như những bộ phận của một cơ thể sống

1.3.2.3.4 Nông lâm kết hợp là sự kết hợp mùa vụ trên cùng một diện tích, nâng cao thu nhập, tận dụng được lao động, giảm bớt được chi phí

NLKH không chỉ là biện pháp kết hợp mang tính kỹ thuật mà việc thực hiện các mô hình NLKH còn phải biết kết hợp mùa vụ để tạo các công việc trong những ngày nông nhàn, tận dụng được lao động không có việc làm trong nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân, bảo đảm cuộc sống ổn định cho nhân dân miền núi

Từ những định nghĩa trên, cho thấy hệ thống nông lâm kết hợp có những đặc điểm sau:

- Hệ thống NLKH bao gồm 2 hoặc nhiều cây/con nhưng trong đó ít nhất một trong số chúng phải là cây gỗ sống lâu năm;

- Hệ thống NLKH ít nhất có 2 sản phẩm đầu ra;

- Chu kỳ sản xuất luôn dài hơn một năm;

- Hệ thống NLKH luôn phức tạp hơn hệ thống độc canh cả về phương diện kinh tế và sinh thái học;

- Giữa các thành phần cây gỗ và các loài cây khác luôn có mối quan hệ sinh thái học;

- Phối hợp nhiều loại sản phẩm với với việc bảo tồn các nguồn tài nguyên cơ bản của hệ thống;

- Chú trọng sử dụng các loại cây bụi địa phương và cây đa mục đích;

- Hệ thống thích hợp cho điều kiện dễ bị thoái hóa và đầu tư thấp;

- Hệ thống NLKH luôn chú trọng đến các giá trị dân sinh xã hội;

- Cấu trúc và chức năng của hệ thống luôn phong phú và hiệu quả hơn so với

hệ thống độc canh;

Trang 32

1.3.2.4 Đánh giá hiệu quả của nông lâm kết hợp

Đánh giá hiệu quả của NLKH là một tiến trình phức tạp bởi nó được hợp thành từ nhiều thành tố khác nhau, giữa chúng lại có những mối quan hệ tương tác qua lại với nhau và với môi trường sinh thái Điểm quan trọng khi đánh giá hiệu quả của NLKH là phải xác định được các tiêu chí, chỉ số cụ thể có thể lượng hóa, đo đếm được Tuy nhiên, trong quá trình đánh giá hiệu quả đôi khi vẫn phải dựa trên những chỉ báo có tính định tính bởi trong NLKH những chỉ báo này lại có tính ưu việt hơn trong việc nắm bắt những thay đổi trong hệ thống Trong trường hợp như vậy, cần tiếp cận theo phương pháp đánh giá có sự tham gia - PRA (Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, 2006) [42]

Từ những năm 90 của thế kỷ XX các nhà nghiên cứu Việt nam đã ứng dụng và phát triển phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế theo phương pháp “động” để phân tích chi phí và thu nhập (Cost Benefit Analysis - CBA) trong sản xuất nông lâm nghiệp (Hoàng Liên Sơn, 1012) [43] Theo phương pháp này Đỗ Doãn Triệu (1995), Nguyễn Trần Quế (1995), Nguyễn Ngọc Mai (1996) đã thử nghiệm và hoàn thiện phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả quản lý các dự án đầu tư trong các doanh nghiệp quốc doanh Sau giai đoạn này, CBA đã trở thành phổ biến trong đánh giá hiệu qủa đầu tư của các dự án, chương trình trồng rừng trong hoạt động nghiên cứu, kinh doanh,… trong lâm nghiệp (Dẫn theo Trần Công Quân, 2012) [44]

Trong NLKH, đã có nhiều tác giả tiếp cận phương pháp CBA để đánh giá hiệu quả sử dụng đất Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của hệ canh tác NLKH, việc tiếp cận theo CBA như đã phân tích ở nội dung trước là điều kiện cần nhưng chưa

đủ khi đánh giá NLKH Bởi vì, hiệu quả kinh tế mà CBA đưa ra mới chỉ là một trường hợp đặc biệt của chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nói chung Phần lớn các tác giả ở Việt Nam khi đánh giá hiệu quả NLKH đều tiếp cận theo phương pháp đánh giá hiệu quả tổng hợp Có thể tóm tắt một số công trình mang tính đại diện gần đây nhất như sau:

Năm 1997, Võ Hùng [45] đã đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái mô hình NLKH Cà phê - Quế - Keo tại Ðắc Lắc Kết quả cho thấy khá rõ ảnh hưởng tương tác giữa 3 loài cây trồng này là những kết quả tương tác “dương”, tức là hỗ trợ có lợi cho sinh trưởng của Quế, Keo và năng suất Cà phê Đây chính là cơ sở để tác giả

đề xuất nhân rộng mô hình này trên địa bàn Tây Nguyên

Trang 33

Lê Thị Tuyết Anh (2009) [22] đã áp dụng phương pháp tính Ect tại các mô hình NLKH tại vùng hồ Hòa Bình và nhận thấy từ việc đánh giá này đã chỉ ra được hiệu quả của các mô hình chuyển hóa nương rẫy thành rừng NLKH là tốt hơn cả

Nguyễn Anh Dũng (2011) [46] đã chỉ rõ hiệu quả của NLKH trong việc giảm các áp lực vào rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà và từ đó đề xuất được những giải pháp về kỹ thuật, về kinh tế - xã hội cho phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn

Gần đây, Đàm Văn Vinh (2012) [47] cũng bằng phương pháp đánh giá Ect, đã

so sánh hiệu quả tổng hợp của các hệ thống NLKH tại huyện Võ Nhai (Thái Nguyên); qua đó lựa chọn các hệ thống có Ect xấp xỉ bằng 1 là những hệ thống được đề xuất nhân rộng trong địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Hoàng Liên Sơn (2012) [43] khi nghiên cứu giải pháp phát triển kinh tế - xã hội vùng lòng hồ thủy điện Hòa Bình cho các hộ gia đình cũng đã kết luận rằng, hiệu quả tổng hợp thông qua đánh giá Ect từ NLKH cho phép nông dân phát triển sinh kế một cách ổn định hơn các loại hình sử dụng đất khác

Ngoài ra, có thể cần kể đến một số công trình của các tác giả như Trần Đức (1998) [48], Trần Đức Viên và cs (2001, 2002) [49, 50], Ngô Đình Quế và cs (2001) [51], Nguyễn Anh Đức (2012) [52], Ninh Văn Chương (2012) [53],… là những công trình nghiên cứu tương đối sâu sắc về hiệu quả của NLKH ở các khía cạnh sử dụng đất dốc, sử dụng đất sau nương rẫy, trang trại,… Ở các vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam như Tây Bắc, Tây Nguyên, Đông Bắc và vùng duyên hải ven biển,… Phần lớn các công trình này đều tiếp cận đánh giá hiệu quả tổng hợp của những mô hình canh tác trong sử dụng đất của NLKH

1.4 Các hệ canh tác nông lâm kết hợp

1.4.1 Hệ canh tác nông lâm kết hợp lấy lâm nghiệp làm hướng ưu tiên

Trong hệ canh tác NLKH, mục đích sản xuất gỗ, củi tre,… là chính, việc tiến hành trồng xen các cây nông nghiệp nông nghiệp thân thảo ngắn ngày kết hợp là để:

- Hạn chế cỏ dại xâm chiếm

- Chống được cháy rừng trong mùa khô

- Chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tốt hơn

- Giúp cho cây rừng sinh trưởng tốt hơn trong những năm đầu

- Giảm giá thành trồng rừng

Trang 34

- Cung cấp lương thực, thực phẩm tại chỗ cho nhân dân địa phương

Việc trồng xen các cây nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm với cây rừng trên đất canh tác lâm nghiệp, trên nguyên tắc không làm giảm năng suất và chất lượng gỗ của rừng

Trong hệ canh tác NLKH lấy lâm nghiệp làm hướng ưu tiên có hai hệ phụ: Trồng xen cây nông nghiệp trong giai đoạn đầu, khi trồng rừng chưa khép tán Taungya, trồng xen cây nông nghiệp, dược liệu chịu bóng thì rừng khép tán

1.4.2 Hệ canh tác nông lâm kất hợp lấy nông nghiệp làm hướng ưu tiên

Trong hệ canh tác NLKH, mục đích sản xuất nông nghiệp là cơ bản, việc kết hợp trồng xen các loại cây gỗ sống lâu năm (sản xuất lâm nghiệp), nhằm mục đích phòng hộ cho các cây trồng nông nghiệp là chính, để thâm canh tăng năng suất các cây trồng nông nghiệp, kết hợp cung cấp thêm củi đun, gỗ gia dụng, phân xanh, thức ăn gia súc, phục vụ trực tiếp tại chỗ cho nhu cầu của nhân dân địa phương Bởi vậy, việc thiết

kế trồng xen các cây thân gỗ sống lâu năm (cây lâm nghiệp) trên đất canh tác nông nghiệp, không được làm giảm sút năng suất của các cây trồng nông nghiệp

Tiếp theo đó, dựa vào sự khác biệt về cơ cấu các loại cây trồng xen và cấu trúc của nó trong mô hình trồng xen, do điều kiện kinh tế xã hội và tập quán canh tác của nhân dân địa phương quyết đinh mà được phân chia thành các mô hình (practies) NLKH

1.4.3 Hệ canh tác súc - lâm kết hợp, lấy chăm nuôi làm hướng ưu tiên

Hệ canh tác súc - lâm mục đích chủ yếu là thâm canh các đồng cỏ phục vụ chăn nuôi gia súc, việc kết hợp trồng xen các cây thân gỗ và nhất là các cây gỗ họ đậu có khả năng cố định đạm trên đồng cỏ chăn nuôi là nhằm mục đích: Nâng cao năng suất đồng cỏ, tạo bóng mát cần thiết cho gia súc, tạo thành các hàng rào ngăn cản súc vật để thực hiện việc chăn thả súc vật trên các đồng cỏ luân phiên

1.4.4 Hệ canh tác lấy cả nông lâm ngư nghiệp làm trọng tâm phát triển

Hệ canh tác nông lâm ngư kết hợp là hệ canh tác trên các dạng đất đai được ngập nước, (ngập nước chiều khi chiều cường và ngập nước ngọt trong mùa mưa) Mục đích cơ bản là nuôi trồng thủy sản, trồng cây nông nghiệp và trồng rừng

1.4.5 Hệ canh tác lâm nghiệp kết hợp thủy sản

Mục đích cơ bản là nuôi trồng thủy sản, bởi vì nguồn lợi thủy sản mang lại trên 1 đơn vị diện tích canh tác cao hơn từ 2 đến 5 lần sao với trồng cây nông

Trang 35

nghiệp và trồng rừng Để nuôi trồng thủy sản có năng suất cao và bền vững phải kết hợp trồng xen cây rừng nhằm: tạo nguồn thức ăn cho các loại thủy sản, giảm nhiệt

độ nước trong mùa nắng và hạn chế hiện tượng sắc mặn trong mùa khô, giảm độ đục của nước, hạn chế quá trình phèn hóa,… Trong hệ canh tác lâm nghiệp kết hợp thủy sản có hai hệ phụ: lâm ngư kết hợp, ngư lâm kết hợp [54]

Hệ thống sử dụng đất dốc bền vững chính là một trong những mô hình cụ thể của hệ thống nông lâm kết hợp Có thể nêu một số ví dụ sau:

Kỹ thuật canh tác trên đất dốc (SALT - Slopping Agricultural Land Technology) thực chất là mô hình nông lâm kết hợp được Trung tâm nhiệt đới nông thôn Mindanao (Philippin) tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ những năm 1970 Đến nay đã có một số mô hình được áp dụng tại Việt Nam Biện pháp hình thành dựa trên việc bố trí thích hợp giữa các hệ thống sử dụng đất với các cây lâm nghiệp theo không gian hoặc luân canh và có sự tương tác giữa cây, con trong nông nghiệp

và cây lâm nghiệp về mặt sinh thái học và kinh tế Có thể nêu một số mô hình sau:

Mô hình SALT1 - Canh tác theo đường đồng mức kết hợp băng: Mô hình này bố trí trồng những băng cây ngắn ngày với băng cây dài ngày sao cho phù hợp với đặc tính và yêu cầu đất đai của các loài cây và đảm bảo thu hoạch đều đặn Các băng được trồng theo đường đồng mức giữa những băng cây trồng chính rộng từ 2 - 6m, còn có những băng hẹp trồng cây cố định đạm, chống xói mòn, làm phân xanh hoặc lấy gỗ Phương thức này thích hợp cho sản xuất lúa, ngô, rau màu, nơi đất dễ

bị xói mòn, rửa trôi

Mô hình SALT2 - Mô hình nông súc kết hợp: Mô hình này bố trí trồng trọt kết hợp với chăn nuôi bằng cách dành một phần đất trong mô hình để canh tác nông nghiệp cho chăn nuôi Đặc điểm của mô hình là thức ăn gia sức được cắt từ cỏ và cây họ Đậu trồng trên đường đồng mức Phân gia súc được sử dụng bón cho cây trồng Ngoài sản phẩm chính thu nhập từ nông nghiệp, còn thu hoạch thêm các sản phẩm từ chăn nuôi như sữa và thịt tăng thu nhập cho nông dân

Mô hình SALT3 - Mô hình canh tác nông lâm kết hợp bền vững: Mô hình kết hợp một cách tổng hợp về trồng rừng trên quy mô nhỏ với việc sản suất lương thực, thực phẩm Sử dụng đất thích hợp cho nông nghiệp là 40% và cho lâm nghiệp

là 60% Bằng cách đó đất đai được bảo vệ có hiệu quả đồng thời cung cấp được nhiều lương thực, thực phẩm, gỗ củi và các sản phẩm khác, tăng thu nhập cho người

Trang 36

dân Phần đất thấp ở chân đồi dùng để trồng cây lương thực kết hợp với hàng rào cây cố định đạm, bảo vệ đất Trồng theo đường đồng mức Phần đất cao trên sườn đồi và đỉnh đồi trồng rừng và cây lâu năm Trồng xen các cây phát triển nhanh như cây làm trụ cột, làm bột giấy, làm củi,… để tăng thu nhập phụ trợ Thực chất mô hình này là sự điều hòa phối hợp và mở rộng quy hoạch hợp lý các mô hình trên nhưng có sự chú trọng đặc biệt tới phát triển rừng

Mô hình SALT4 - Kỹ thuật canh tác nông nghiệp - cây ăn quả quy mô nhỏ Trong mô hình này, các loài cây ăn quả nhiệt đới được đặc biệt chú ý vì đó là những cây lâu năm nên có sự ổn định lâu dài, đồng thời các sản phẩm của chúng dễ cho thu hoạch và tiêu thụ dễ dàng Các loài cây thường được sử dụng là Cam, Chanh, Xoài, Dứa, Chuối, Đu đủ,… Đối với cây ăn quả cần đất đai phải tốt và có kỹ thuật canh tác cao nên đòi hỏi người nông dân phải có hiểu biết về khoa học kỹ thuật Mô hình này có ý nghĩa lớn, ngoài lương thực, thực phẩm thu được còn có sản phẩm của cây cố định đạm chống xói mòn, cải tạo đất, đặc biệt có thêm sản phẩm là hàng hóa tăng thu nhập cho người nông dân

Ngày nay, ngoài các mô hình canh tác nông lâm nghiệp bền vững nêu trên, còn có các mô hình nông lâm kết hợp khác, ví dụ như:

Rừng + nương + vườn + ruộng + mặt nước;

Rừng + nương + vườn + ruộng;

Rừng + nương + vườn;

Vườn + ao + chuồng;

Xu hướng phát triển NLKH ở vùng đất dốc đã được các nhà khoa học tổng kết và đưa ra những kết luận là: Để nông nghiệp phát triển bền vững trên đất dốc thì trước hết phải bảo vệ vốn rừng, nâng độ che phủ hữu hiệu của rừng lên 50% Nghề rừng phải phát triển theo hướng NLKH, làm rừng như làm vườn, làm rừng như làm ruộng,… Trong phát triển nông nghiệp cần ưu tiên cây công nghiệp dài ngày, với những cây có ưu thế cả về ưu thế kinh tế lẫn môi trường như Chè, Cà phê,… Cây công nghiệp ngắn ngày như Đậu tương, Mía, Cây có sợi,… Cây ăn quả tập trung cùng với chăn nuôi đại gia súc Nương rẫy cần phải được tiến hành theo mô hình SALT với các băng cây cố định đạm, đa canh và xen canh cây trồng để giữ đất và chống xói mòn [55]

Về phương pháp khoa học nghiên cứu phát triển NLKH có 2 xu hướng [55]

Trang 37

- Xu hướng 1: gọi là cải tiến tiềm năng chi phí cao Theo xu hướng là cải tạo giống có tiềm năng sinh học cao, đầu tư các công trình và tăng đầu vào đáp ứng tiềm năng để đạt được đầu ra cao Xu hướng này có nhược điểm là kém bền vững

về mặt hệ thống Đầu tư cao không phù hợp với điều kiện nông dân, mặc dù có ưu điểm là tạo đà phát triển nhanh về kinh tế

- Xu hướng 2: là cải tiến tiềm năng chi phí thấp Theo xu hướng này NLKH

sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên sẵn có của địa phương bằng các cách phối hợp khác nhau giữa hệ canh tác cây trồng, vật nuôi, đất, nước, khí hậu, con người, từ đó chúng sẽ bổ sung cho nhau tạo hiệu quả tổng hợp lớn nhất, với mục tiêu là: đảm bảo tính bền vững, tỷ lệ rủi ro thấp, chi phí thấp, dễ thích ứng, dễ áp dụng, ít gây trở ngại cho hoạt động khác, được chấp nhận cả về mặt tâm lý xã hội

1.5 Những vấn đề tồn tại chưa được nghiên cứu

Từ những tài liệu thu thập được cho thấy:

Nông lâm kết hợp là một thuật ngữ được các nhà nghiên cứu dùng để chỉ các phương thức sản xuất trên đất dốc bằng cách kết hợp và bố trí một cách hợp lý hệ thống cây trồng/vật nuôi theo các mô hình phù hợp với điều kiện sinh thái nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng thu nhập để cải thiện đời sống cho người dân

và bảo vệ môi trường sinh thái

Các nghiên cứu về nông lâm kết hợp đã thực hiện chủ yếu tập trung vào việc tuyển chọn và bố trí hệ thống cây trồng theo các đặc tính sinh lý, sinh thái và công dụng của chúng: cây hàng năm, cây lâu năm, cây phòng hộ, cây che bóng, cây lương thực, cây thực phẩm,… Những nghiên cứu về điều tra, đánh giá về tính đa dạng sinh học còn ít được quan tâm Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào thực hiện một cách đầy đủ việc thống kê, đánh giá hiện trạng, tính đa dạng thực vật và tính đa dạng cây trồng, cũng như những nghiên cứu đánh giá về tình hình sản xuất và hiệu quả kinh tế - sinh thái của mô hình nông lâm kết hợp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói chung

và huyện Phù Ninh nói riêng

Trang 38

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: là hệ thực vật bậc cao có mạch trong hệ thống nông

lâm kết hợp ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

- Phạm vi nghiên cứu: là các mô hình nông lâm kết hợp phân bố trên vùng đồi của huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

- Thời gian nghiên cứu là 3 năm: từ 2015 - 2018

2.2 Nội dung nghiên cứu

1 Nghiên cứu phân loại và đánh giá hiện trạng mô hình nông lâm kết hợp

2 Nghiên cứu đa dạng của hệ thực vật

3 Nghiên cứu tính đa dạng thực vật trong các mô hình nông lâm kết hợp

4 Nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng thực vật của người dân địa phương trong các mô hình nông lâm kết hợp

5 Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của các mô hình nông lâm kết hợp

6 Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ và tăng cường tính đa dạng thực vật cho hệ thống nông lâm kết hợp tại huyện Phù Ninh

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp điều tra

2.3.1.1 Phương phápđiều tra nghiên cứu đa dạng thực vật

Áp dụng phương pháp điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn Cụ thể như sau:

+ Tuyến điều tra: Tuyến điều tra được xác định theo phương pháp ngẫu

nhiên Các bước thực hiện như sau: căn cứ vào bản đồ hiện trạng sử dụng đất, xác định các vị trí có phân bố của các mô hình nông lâm kết hợp để lập các tuyến điều tra Tuyến điều tra phải đảm bảo đi qua tất cả các hợp phần đại diện cho mô hình (vườn, ao, chuồng, rừng, ) Ngoài ra còn sử dụng các tuyến phụ là đường dân sinh

đi qua các khu dân cư có phân bố của các mô hình nông lâm kết hợp Tuyến điều tra

có chiều dài ít nhất là 500m Đã thực hiện 32 tuyến điều tra chính và 15 tuyến phụ

đi qua các xã Tiên Phú, Lệ Mỹ, Phú Mỹ, Liên Hoa, Trạm Thản, Trị Quận, Hạ Giáp, Trung Giáp, Bảo Thanh, Gia Thanh, Phú Lộc

Trang 39

+ Ô tiêu chuẩn: Ô tiêu chuẩn được thiết lập đại diện cho các hợp phần (sinh

cảnh) trong từng mô hình Đối với sinh cảnh là rừng và cây ăn quả lâu năm diện tích

ô tiêu chuẩn là 400m2/ô (20x20m); tương tự, đối với sinh cảnh là vườn trồng cây hàng năm là 100m2/ô (10x10) Số lượng ô tiêu chuẩn trong mỗi sinh cảnh là 3 ô lặp lại Đã điều tra 54 ô tiêu chuẩn trên đất rừng, 54 ô tiêu chuẩn trên đất vườn tại 18

mô hình

+ Điều tra mô hình nông lâm kết hợp

Tại mỗi địa điểm nghiên cứu, điều tra phân loại mô hình nông lâm kết hợp, mỗi mô hình chọn 3 hộ để điều tra thu thập các thông tin về lịch, tình hình quản lý, khai thác, sử dụng và hiệu quả của mô hình, số liệu về diện tích (tổng diện tích và diện tích các hợp phần của mô hình: rừng, vườn, ao, chuồng), thành phần loài cây, Trong số 3 hộ đã điều tra, chọn 01 hộ điển hình để thu thập số liệu chi tiết, tiêu chí

và thu thập số liệu theo phương pháp điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn

+ Thu thập số liệu:

Trên tuyến điều tra: thống kê và thu thập thông tin cần thiết đối với các loài thực vật gồm: tên loài, nơi phân bố, hiện trạng, công dụng, nguồn gốc là cây trồng hay cây mọc tự nhiên, vai trò của cây trong mô hình, các chỉ tiêu về kinh tế, Thu thập số liệu đối với các loài cây bụi, thân thảo và dây leo trong phạm vi 2m dọc theo

2 bên tuyến; đối với cây gỗ trong phạm vi 5m dọc theo hai bên tuyến

Trên ô tiêu chuẩn: các chỉ tiêu thu thập tương tự như trên tuyến điều tra Riêng với cây trồng nông nghiệp thu thập số liệu về chủng loại cây trồng, sản phẩn cây trồng, mùa vụ trồng, năng suất, mùa vụ thu hoạch v.v

Những loài cây chưa biết tên thu tiêu bản để làm mẫu vật giám định tên Phương pháp thu thập mẫu theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997, 2005, 2007) [56, 57, 58]

2.3.1.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin về các mô hình

Để thu thập số liệu về các mô hình, áp dụng phương pháp điều tra có sự tham gia (PRA) Các chỉ tiêu thu thập trên mô hình gồm: (1) Thông tin liên quan đến người chủ mô hình: tên, tuổi, trình độ học vấn, số lao động (2) Thông tin về cây trồng gồm: tên loài cây, số lượng, chất lượng, nơi trồng, năng suất, sản lượng, giá trị kinh tế, tình hình sử dụng và khả năng tiêu thụ; (3) thông tin vật nuôi: tên vật nuôi,

số lượng, chuồng trại chăn nuôi, bệnh tật, (4) Các thông tin về môi trường gồm tình hình bảo vệ đất, chống xói mòn đất; sự suy thoái của đất, nguồn nước và khả năng tự điều hòa của mô hình,…

Trang 40

2.3.1.3 Phương pháp phỏng vấn, điều tra xã hội học

Để có thêm cơ sở dữ liệu phục vụ định hướng bảo tồn đa dạng thực vật và phát triển du lịch bền vững, chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn, đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA)

- Tiến hành phỏng vấn người dân, lãnh đạo chính quyền địa phương, các cán bộ quản lý vườn quốc gia, khu bảo tồn; các lực lượng chức năng như cán bộ kiểm lâm, cán

bộ khoa học tại địa phương,… để thu thập thông tin và các số liệu cần thiết

- Dựa vào cộng đồng cư dân địa phương để điều tra bổ sung về đa dạng thực vật, điều kiện môi trường, cơ sở hạ tầng - kỹ thuật, đời sống, thu nhập của người dân ở khu vực nghiên cứu Phương pháp được thực hiện gồm bước tham vấn và bước xác thực thông tin

+ Ở bước tham vấn, tiến hành phỏng vấn người dân, những người sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên rừng hoặc tổ chức các hoạt động du lịch tại địa phương Sau đó, sử dụng các câu hỏi mở để tham vấn những người dân có kinh nghiệm, và đang làm công việc khai thác tài nguyên rừng về hiện trạng, tình hình khai thác, và các mối đe dọa, nguy cơ ảnh hưởng đến đa dạng thực vật Thông tin thu được sẽ được thống kê, sắp xếp, trình bày với sự hỗ trợ của các phần mềm thống kê

+ Ở bước xác thực, các đối tượng tham vấn sẽ được nghe phần trình bày tất

cả các thông tin (đã được thống kê, xử lý, và thể hiện lên các bảng, sơ đồ, bản đồ)

mà họ đã cung cấp để từ đó bổ sung hoặc chỉnh lý, xác thực tất cả các thông tin Sau

đó, sử dụng các phần mềm thống kê để tổng hợp, xử lý số liệu, phân tích tương quan và phân tích hệ thống

Trong thời gian nghiên cứu tại huyê ̣n Phù Ninh, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp và thu thập số liệu từ một số cán bộ, nhân dân địa phương (Chủ tịch xã, cán bộ Ban Quản lý rừng và một số hộ dân có các mô hình NLKH Các đối tượng được phỏng vấn nằm trong độ tuổi lao động từ 27 đến 41 tuổi với nam, từ 26 đến 38 tuổi với nữ) Bảng câu hỏi phỏng vấn nhanh (xem ở biểu mẫu phụ lục 3)

Mỗi mô hình chụp 3 - 4 ảnh để làm hình ảnh minh họa

2.3.2 Phương pháp kế thừa và phương pháp chuyên gia

Thu thập các tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu như: bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng thực vật khu vực nghiên cứu, các tài liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội, các báo cáo nghiên cứu khoa học về thực vật thuộc khu vực, kế thừa

Ngày đăng: 11/07/2021, 09:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nair.P.K.R (1993). An introduction to Agroforestry. Kluwer Academic Publishers Sách, tạp chí
Tiêu đề: An introduction to Agroforestry
Tác giả: Nair.P.K.R
Năm: 1993
2. ICRAF (1999). Hand book of Agroforestry. Tokyo University, Japan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hand book of Agroforestry
Tác giả: ICRAF
Năm: 1999
3. Lundgreen B.O.&J.B. Raintree (1983). Sustained Agroforestry. ISNAR, The 4. Phạm Quang Vinh, Phạm Xuân Hoàn, Kiều Trí Đức (2005). Nông lâm kết hợp.Giáo trình Đại học Lâm nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustained Agroforestry". ISNAR, The 4. Phạm Quang Vinh, Phạm Xuân Hoàn, Kiều Trí Đức (2005). "Nông lâm kết hợp
Tác giả: Lundgreen B.O.&J.B. Raintree (1983). Sustained Agroforestry. ISNAR, The 4. Phạm Quang Vinh, Phạm Xuân Hoàn, Kiều Trí Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2005
5. Peter Huxley (1999). Tropical agroforestry. Printed and bround in Great Briatain by University Press Cambridge, United Kingdom Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tropical agroforestry
Tác giả: Peter Huxley
Năm: 1999
6. Phạm Xuân Hoàn (2012). Nông lâm kết hợp. Bài giảng cho hệ Cao học. Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông lâm kết hợp
Tác giả: Phạm Xuân Hoàn
Năm: 2012
7. King K.F.S (1987). The history of Agroforestry. In Agroforestry: A decade of development. ICRAF, Nairobi, Kenya Sách, tạp chí
Tiêu đề: The history of Agroforestry. In Agroforestry: A decade of development
Tác giả: King K.F.S
Năm: 1987
8. Auguicta Molnar (1969 - 1991). Community forestry shifting cultivators socioeconomic attitutes of trees planting practices. FAO, Rome, Italy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Community forestry shifting cultivators socioeconomic attitutes of trees planting practices
9. Bass.S & Morrison E. (1994). Shifting cultivation in Thailand, Laos and Vietnam. Regional overview and policy recommendation. IIED. London, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Shifting cultivation in Thailand, Laos and Vietnam. Regional overview and policy recommendation
Tác giả: Bass.S & Morrison E
Năm: 1994
10. Zhu Zhaohua (1991). Agroforestry systems in China. People’s republic of China Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agroforestry systems in China
Tác giả: Zhu Zhaohua
Năm: 1991
11. ICRAF (1994). Alternatives to Slash and Burn Agriculture. 15th International Soil Science Congress. Acapulo, Mexico. Edited by Pedro A. Sánchez &Helen van Houten Sách, tạp chí
Tiêu đề: Alternatives to Slash and Burn Agriculture
Tác giả: ICRAF
Năm: 1994
12. Peter W.J & L.F. Neuenshwander (1988). Slash and burn: farming in the third world forest. Idaho University Press. Dordrecht/Boston/London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Slash and burn: farming in the third world forest. Idaho University Press
Tác giả: Peter W.J & L.F. Neuenshwander
Năm: 1988
13. Trần Đức (1998). Mô hình kinh tế trang trại ở vùng đồi núi. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình kinh tế trang trại ở vùng đồi núi
Tác giả: Trần Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1998
14. Bao Huy, Vo Hung (2011). State of Agroforestry research and development in Vietnam. Asia-Pacific Agroforestry Newsletter; N38-July 2011, Bangkok, Thailand Sách, tạp chí
Tiêu đề: State of Agroforestry research and development in Vietnam
Tác giả: Bao Huy, Vo Hung
Năm: 2011
15. Phạm Văn Vang (1981). Một số vấn đề về phương thức sản xuất NLKH trên đồi núi Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phương thức sản xuất NLKH trên đồi núi Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Vang
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1981
16. Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1998). Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam
Tác giả: Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1998
17. Trần Đức Viên (2002). Canh tác nương rẫy ở Việt Nam. Nhà xuất bản Nông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Canh tác nương rẫy ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đức Viên
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông
Năm: 2002
18. Trần Đức Viên, Phạm Thị Hương, Phạm Tiến Dũng (2001). Kinh nghiệm địa phương và tiến bộ kĩ thuật trong quản l ý đất bỏ hóa ở Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm địa phương và tiến bộ kĩ thuật trong quản l ý đất bỏ hóa ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đức Viên, Phạm Thị Hương, Phạm Tiến Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2001
19. Nguyễn Ngọc Bình, Phạm Đức Tuấn (2005). Kỹ thuật canh tác nông lâm kết hợp ở Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật canh tác nông lâm kết hợp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình, Phạm Đức Tuấn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2005
20. Cục Khuyến nông - khuyến lâm (1996). Công nghệ canh tác nông lâm kết hợp. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ canh tác nông lâm kết hợp
Tác giả: Cục Khuyến nông - khuyến lâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1996
21. Vụ KHKT Bộ Lâm nghiệp (1987). Một số mô hình NLKH ở Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số mô hình NLKH ở Việt Nam
Tác giả: Vụ KHKT Bộ Lâm nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1987

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm