1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPCHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN L ự c NHẬT BẢN TỪ SAU NĂM 1945 VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

83 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 4,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (10)
  • 2. Mục đích nghiên c ứ u (13)
  • 3. Nhiệm vụ nghiên cứu (14)
  • 4. Lịch sử nghiên cứu vấn đ ề (15)
  • 5. Phương pháp nghiên c ứ u (16)
  • 6. Dự kiến kết quả nghiên cứ u (17)
  • 7. Cấu trúc của KLTN (18)
  • CHƯƠNG I: NHẬN THỨC VỀ NHÂN TỐ “CON NGƯỜI” TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NHẬT B Ả N (19)
    • 1.1. Nhận thức về nhân tố “con người” thể hiện qua “Ý thức tự hào, tự tôn dân tộc” (20)
    • 1.2. Nhận thức về nhân tố “con người” thể hiện qua chiến lược tập trung xây dựng giáo dục - chú trọng đầu tư cho “con người” (23)
    • 1.3. Nhận thức về nhân tố “con người” thể hiện qua vấn đề nhân công, lao động (30)
  • CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA NHẬT BẢN TỪ SAU NĂM 1945 ĐẾN N A Y (33)
    • 2.1. Vài nét về chính sách phát triển nguồn nhân lực trước năm 1945 (0)
    • 2.2. Thời kì bị chiếm đóng (từ năm 1945 đến 1952) (43)
    • 2.3. Thời kì hậu chiếm đóng (từ 1952 đến 1984) (46)
    • 2.4. Những năm 8 0 thế kỉ XX đến nay (48)
  • CHƯƠNG III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TRONG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN L Ự C (54)
    • 3.1. Bài học về sức mạnh dân tộ c (55)
    • 3.2. Bài học về ứng dụng, thực tiễn trong giáo dục (59)
    • 3.3. Bài học về thích ứng với thời đại CNH - HĐH trong giáo dục con người 55 3.4. Bài học về giữ vững bản sắc dân tộc khi hội n h ậ p (63)
    • 3.5. Bài học chú trọng đầu tư cho con người (68)
    • 3.6. Bài học từ những mặt trái trong sự phát triển của Nhật B ản (69)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (78)

Nội dung

Mục đích nghiên c ứ u

Bài viết phác thảo chính sách phát triển nguồn nhân lực Nhật Bản từ năm 1945 đến nay, phân tích bản chất của chính sách này dưới tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan Qua đó, tác giả rút ra những bài học quý giá cho việc cải thiện chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam, hiện đang gặp nhiều hạn chế.

Sau Thế chiến thứ 2, Nhật Bản phải đối mặt với những tổn thất nặng nề về kinh tế và chính trị, khi đất nước bị tàn phá và lâm vào tình trạng khủng hoảng với sản xuất công nghiệp chỉ đạt 1/4 so với trước chiến tranh Để phục hồi kinh tế, Nhật Bản đã phải dựa vào viện trợ từ Mỹ dưới hình thức vay nợ Trong bối cảnh khó khăn đó, việc thực hiện các chính sách đúng đắn kịp thời là rất quan trọng Một trong những chính sách thành công của chính phủ Nhật Bản là tập trung vào giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về chuyên môn, đạo đức và tác phong lao động, góp phần quan trọng vào sự phát triển của đất nước ngày nay.

Việt Nam đang đối mặt với tình trạng nguồn nhân lực đông đảo nhưng chất lượng chưa cao Bài khóa luận này nhằm nghiên cứu các chính sách phát triển nguồn nhân lực từ năm 1945, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm để đề xuất các biện pháp cải thiện nguồn nhân lực hiện tại Mục tiêu là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu hội nhập và hiện đại hóa đất nước.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Tác giả nghiên cứu các chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại Nhật Bản, một quốc gia được thế giới công nhận về nguồn nhân lực phát triển Bằng cách phân tích những chính sách này, bài viết rút ra bài học kinh nghiệm có thể áp dụng vào Việt Nam, nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hiện tại của đất nước.

Tác giả đã giới hạn phạm vi nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp từ năm 1945 đến nay do những hạn chế về thời gian và yêu cầu của đề tài.

Từ năm 1945, Nhật Bản trải qua nhiều biến đổi lớn trong chính trị và xã hội Giai đoạn 1945 - 1950, nền kinh tế phát triển chậm và phụ thuộc vào Mỹ Tuy nhiên, từ tháng 6 năm 1950, khi Mỹ bắt đầu chiến tranh xâm lược Triều Tiên, kinh tế Nhật Bản bùng nổ nhờ vào các đơn đặt hàng quân sự từ Mỹ Bước sang những năm 60, với sự tập trung của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam, Nhật Bản đã có cơ hội phát triển “thần kỳ”, vượt qua các nước Tây Âu và đứng thứ hai sau Mỹ trong nền kinh tế thế giới Từ những năm 70 trở đi, Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính hàng đầu thế giới, khẳng định vị thế siêu cường kinh tế và được gọi là “Thần kỳ Nhật Bản”.

Sau khi Thiên hoàng Minh Trị lên ngôi, ông đã tiến hành nhiều cuộc cải cách mạnh mẽ nhằm hiện đại hóa Nhật Bản Những cải cách này giúp đất nước thoát khỏi nguy cơ trở thành thuộc địa của các nước đế quốc phương Tây trong bối cảnh chủ nghĩa thực dân đang phát triển mạnh mẽ.

Để đảm bảo tính logic cho nội dung khóa luận, tác giả đã đề cập đến chính sách phát triển nguồn nhân lực ở các giai đoạn trước năm 1945, đặc biệt là trước Duy Tân Minh Trị, trong mục 1 chương II.

Lịch sử nghiên cứu vấn đ ề

Nguồn nhân lực đóng vai trò then chốt trong sự phát triển của một quốc gia, và nhiều tác giả đã nghiên cứu về cách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng như các vấn đề liên quan Chẳng hạn, tác giả Nguyễn Quỳnh Anh đã có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này.

Đinh Anh Nguyên, Nguyễn Thị Hoàng Diễm, Nguyễn Thị Thanh Mai, Phạm Lê Khánh Trang, Đinh Thị Dung, và Võ Minh Tập đã đóng góp nhiều bài viết giá trị về giáo dục đại học, tập trung vào việc bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Nhật Bản và những bài học cho Việt Nam Các tác giả đã phân tích xu hướng quốc tế hóa trong đào tạo, tính tiết kiệm của người Nhật, và những yếu tố thành công của Nhật Bản sau 1945, đồng thời đưa ra gợi ý hợp tác phát triển nguồn nhân lực giữa hai nước Mặc dù những bài viết này mang lại cái nhìn thiết thực về giáo dục Nhật Bản, chúng vẫn chưa được coi là các công trình nghiên cứu chuyên sâu.

Thiên hoàng thứ 12 của Nhật Bản, trị vì từ ngày 3 tháng 2 năm 1867 đến khi qua đời vào ngày 30 tháng 7 năm 1912, đã có vai trò quan trọng trong lịch sử đất nước Tuy nhiên, các chính sách đào tạo nguồn nhân lực của Nhật Bản từ sau năm 1945 đến nay lại chưa được đề cập nhiều, mặc dù chúng đã góp phần to lớn vào sự phát triển vượt bậc của Nhật Bản trong thời gian qua.

Khóa luận “Chính sách phát triển nguồn nhân lực Nhật Bản từ sau năm 1945 và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về chính sách phát triển con người, điều đã giúp Nhật Bản, một quốc gia thất bại sau Thế chiến thứ 2, vượt qua khó khăn và trở thành một trong những quốc gia phát triển hàng đầu Việc “phát triển nguồn nhân lực cao” là yếu tố then chốt trong quá trình hiện đại hóa đất nước, đặc biệt là đối với Việt Nam hiện nay.

Nhật Bản đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể nhờ vào "chính sách phát triển nguồn nhân lực" thành công, và bài khóa luận này sẽ phân tích những bài học kinh nghiệm quý giá mà Việt Nam có thể áp dụng Việc vận dụng những kinh nghiệm này vào thực tiễn sẽ giúp Việt Nam phát triển nhanh chóng và bền vững.

Phương pháp nghiên c ứ u

Bài khóa luận vận dụng phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic, thể hiện cụ thể ở các mặt sau đây:

- Thu thập, sưu tầm, nghiên cứu, xử lí các nguồn tư liệu thành văn để rút ra những sự kiện, những tài liệu cần thiết cho đề tài.

Chúng tôi đã thực hiện các cuộc tiếp xúc với người Nhật Bản đang sinh sống, học tập và làm việc tại Vũng Tàu nhằm tìm hiểu về văn hóa, con người Nhật Bản, cũng như quan điểm của họ về tình hình lao động và mối quan hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam trong quá khứ và hiện tại.

Bài viết phân tích tình hình nhân lực lao động tại Nhật Bản, nhằm làm rõ chính sách phát triển nguồn nhân lực của nước này trong quá khứ và hiện tại Việc hiểu sâu sắc về các vấn đề liên quan đến lực lượng lao động sẽ giúp nhận diện những xu hướng và thách thức mà Nhật Bản đang đối mặt trong việc tối ưu hóa nguồn nhân lực.

Dựa trên sự kiện và tư liệu lịch sử, tác giả khái quát chính sách phát triển nguồn nhân lực của Nhật Bản, từ đó rút ra bài học quý giá cho việc phát triển nguồn nhân lực tại Việt Nam.

Bài khóa luận này có một số thiếu sót do nguồn tài liệu hạn chế và trình độ của người thực hiện đề tài còn yếu.

Tài liệu về chính sách phát triển nguồn nhân lực của Nhật Bản ở Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu chỉ là những ghi chép ngắn gọn và sơ lược.

Nguồn tài liệu lưu trữ ở nước ngoài mà tác giả tiếp cận được cũng chưa nhiều Có thể kể đến nguồn tài liệu chủ yếu ở Nhật Bản.

Internet và các tạp chí nghiên cứu về Việt Nam và Nhật Bản là nguồn tài liệu phong phú, cung cấp thông tin quý giá từ các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

Các nguồn tư liệu này được thu thập ở nhiều cấp độ khác nhau, giúp tái hiện bức tranh tổng thể về chính sách phát triển nguồn nhân lực của Nhật Bản từ sau năm 1945 cho đến nay.

Dự kiến kết quả nghiên cứ u

Bài khóa luận về “Chính sách phát triển nguồn nhân lực Nhật Bản từ sau năm 1945 và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” nhằm mục tiêu phân tích và rút ra những bài học quý giá từ sự phát triển của Nhật Bản, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp cho Việt Nam trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

- Tổng quan chính sách phát triển nguồn nhân lực của Nhật Bản từ năm

Phân tích và đánh giá chính sách phát triển nguồn nhân lực của Nhật Bản giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc về các chiến lược hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng lao động Những bài học từ kinh nghiệm của Nhật Bản có thể được áp dụng để cải thiện phát triển nguồn nhân lực tại Việt Nam, từ việc đầu tư vào giáo dục đến khuyến khích đổi mới sáng tạo Việc học hỏi từ mô hình phát triển này sẽ góp phần tạo ra một lực lượng lao động chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Cấu trúc của KLTN

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Thư mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,

Chương I: Nhận thức về nhân tố “con người” trong sự phát triển của Nhật Bản

Chương II: Chính sách phát triển nguồn nhân lực của Nhật Bản từ sau năm 1945 đến nay

Chương III: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong vấn đề phát triển nguồn nhân lực

NHẬN THỨC VỀ NHÂN TỐ “CON NGƯỜI” TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NHẬT B Ả N

Nhận thức về nhân tố “con người” thể hiện qua “Ý thức tự hào, tự tôn dân tộc”

Mỗi quốc gia, dân tộc đều sở hữu những truyền thuyết và thần thoại riêng về sự hình thành đất nước và nguồn gốc dân tộc Những câu chuyện này, mặc dù xuất phát từ trí tưởng tượng của con người, nhưng thường phản ánh bối cảnh và những biến động trong đời sống xã hội Ví dụ, người Việt Nam tin rằng dân tộc Việt là “con rồng cháu tiên”, trong khi người Ấn Độ cũng có những truyền thuyết tương tự về nguồn gốc của họ.

“Mahabharata”, dân tộc Nhật Bản là những con cháu của nữ thần Mặt trời

Nhật Bản không chỉ coi dân tộc mình là con cháu của thần, mà còn sử dụng điều này làm nền tảng để xây dựng sức mạnh và phát triển đất nước, từ đó tạo ra ấn tượng sâu sắc về văn hóa và dân tộc của mình.

Người Nhật đặc biệt tôn sùng nữ thần Mặt trời Amaterasu, biểu trưng cho tư tưởng sùng bái tự nhiên từ thời cổ đại, khi mặt trời ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp Niềm tin này không chỉ gắn liền với quá trình dựng nước và phát triển dân tộc mà còn thể hiện trong tâm thức người Nhật qua việc tôn vinh Thiên Hoàng, người được thần linh cử xuống để duy trì trật tự xã hội Điều này tạo nên niềm tự hào dân tộc mạnh mẽ, thể hiện lòng tôn kính đối với nguồn cội quốc gia.

Ngoài ra, theo số liệu của Bộ nội vụ và Thống kê Nhật Bản, đến tháng

Năm 2016, dân số Nhật Bản đạt gần 127 triệu người, đứng thứ 10 thế giới Người Yamato là tộc người chủ yếu, bên cạnh các nhóm dân tộc thiểu số như Ainu và Ryūkyū Mặc dù là một quốc gia đông dân, người Nhật Bản lại có ý thức mạnh mẽ về tính thuần chủng dân tộc.

Nhật Bản là một quốc gia Đông Á với sự đồng nhất cao về dân tộc và ngôn ngữ, thể hiện qua khái niệm "một dân tộc, một ngôn ngữ" Ý thức này không chỉ định hình văn hóa mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của đất nước trên mọi lĩnh vực, tạo nên nét độc đáo và sức mạnh to lớn trong lịch sử của Nhật Bản.

Theo ước tính của CIA World Factbook tháng 7 năm 2016, dân số Ấn Độ đạt 1,266,883,598, chiếm 18.0% tổng dân số thế giới Hoa Kỳ có dân số 323,995,523, tương đương 4.38% Indonesia đứng thứ tư với 258,316,051 người, chiếm 3.52% Brazil theo sau với 205,823,665 người, chiếm 2.79% Cuối cùng, Pakistan có dân số 201,995,540, chiếm 2.75% tổng dân số toàn cầu.

007 1 1 N ig e ria 18 6 ,0 5 3 ,3 8 6 T h á n g 7, 20 1 6 2,4 9 % CIA World Factbook Lfớc tính l i

008 ■ B a n g la d e s h 15 6 ,1 8 6 ,8 8 2 T h á n g 7, 20 1 6 2 ,3 3 % CIA World Factbook Lfớc tính l i

009 H Nga 14 2 ,3 5 5 ,4 1 5 T h á n g 7, 20 1 6 2 ,0 3 % CIA World Factbook Lfớc tính l i

010 • N h ậ t B àn 12 6 7 0 2 ,1 3 3 T h á n g 7, 20 1 6 1,81% CIA World Factbook Lfớc tính l i

011 I ' l M e x ic o 12 3 ,1 6 6 ,7 4 9 T h á n g 7, 20 1 6 1,66% CIA World Factbook Lfớc tính l i

012 ^ P h ilip p in e s 10 2 ,6 2 4 ,2 0 9 T h á n g 7, 20 1 6 1,51% CIA World Factbook Lfớc tính l i

013 X E th io p ia 10 2 ,3 7 4 ,0 4 4 T h á n g 7, 20 1 6 1,34% CIA World Factbook Lfớc tính l i

014 n V iệ t N am 95,261.021 T h á n g 7, 20 1 6 1.32% CIA World Factbook Lfớc tính l i

Hình 1.1 Danh sách các nước theo số dân [22]

Theo người Nhật “nhân tố uan trọng nh t chính là yếu tố con người

Một số người cho rằng "vốn" là yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triển ngành, trong khi những người khác lại nhấn mạnh vai trò của "công nghệ" trong việc cải tiến năng suất Thực tế, cả hai yếu tố này đều có tầm quan trọng riêng Tuy nhiên, nguồn vốn có thể bị sử dụng sai cách bởi con người, và các tiêu chuẩn công nghệ cao sẽ không thể duy trì nếu thiếu nỗ lực từ con người.

Nhật Bản tin rằng "con người là công nghệ cao nhất", và họ nỗ lực khai thác tối đa tiềm năng sáng tạo của con người.

Sau Thế chiến thứ hai, Nhật Bản đối mặt với nhiều khó khăn, bao gồm thất nghiệp, thiếu lương thực và lạm phát nặng nề Tuy nhiên, đất nước này không rơi vào bất ổn như nhiều quốc gia khác nhờ vào sự ổn định sắc dân và đoàn kết của người Nhật Dưới sự chiếm đóng của quân đội Mỹ, Nhật Bản đã thực hiện nhiều cải cách dân chủ quan trọng, như ban hành hiến pháp mới năm 1946, thực hiện cải cách ruộng đất, và xóa bỏ chủ nghĩa quân phiệt Những cải cách này không chỉ giúp ổn định xã hội mà còn khơi dậy lòng tự hào dân tộc, tạo ra sức mạnh lớn cho Nhật Bản phục hồi và phát triển sau thất bại năm 1945.

Tính duy nhất của Nhật Bản, theo Paul Kennedy, được hình thành từ những yếu tố đặc trưng của con người nơi đây.

Nhận thức về nhân tố “con người” thể hiện qua chiến lược tập trung xây dựng giáo dục - chú trọng đầu tư cho “con người”

Giáo dục Nhật Bản bắt đầu từ thế kỷ VI đến IX, khi nền giáo dục Trung Hoa được giới thiệu dưới triều đại Yamato, chủ yếu phục vụ tầng lớp thống trị Mặc dù tư tưởng giáo dục Trung Hoa nhấn mạnh việc coi trọng năng lực con người và khuyến khích học tập để đạt địa vị cao, nhưng trong triều đình Nhật Bản, tư tưởng cha truyền con nối vẫn rất mạnh, khiến hệ thống giáo dục chỉ cung cấp nhân lực cho quan lại bậc thấp Đến thế kỷ IX, thủ đô Heian-kyo (nay là Kyoto) có năm cơ sở giáo dục cao cấp tồn tại cho đến thời kỳ Heian, cùng với các trường học do hoàng tộc và quý tộc thành lập Trong thời kỳ Trung Cổ từ thế kỷ XI đến XVI, các Thiền viện Phật giáo Zen trở thành trung tâm học tập quan trọng, và đến thế kỷ XV, trường Ashikaga Gakko nổi bật như một trong những trung tâm giáo dục hàng đầu.

Hình 1.2 Anh minh họa giáo d ục Nhật Bản thời xưa [23]

Vào thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17, Nhật Bản trải qua giai đoạn giao thoa văn hóa với các nước phương Tây, đặc biệt là với sự xuất hiện của các nhà truyền đạo và thương nhân Bồ Đào Nha Họ không chỉ truyền bá Thiên Chúa giáo mà còn thành lập nhiều trường học cho những người theo đạo Nhờ đó, học sinh Nhật Bản dần tiếp cận với tiếng Latin và âm nhạc cổ điển phương Tây, thay thế cho ngôn ngữ và văn hóa truyền thống.

Vào thế kỷ 17, Nhật Bản đã được thống nhất dưới triều đại Tokugawa (1600 - 1867), đánh dấu sự ra đời của nhiều học viện Nho giáo mới Trong thời kỳ này, đã có năm loại hình trường học được hình thành, bao gồm trường do Mạc phủ quản lý (như shoheiko), trường Han (hangakko), trường Hương (kyogakko), trường Tư thục (shijuku) và terakoya Ban đầu, terakoya được các nhà sư mở ra để giảng dạy cho những người tu hành, sau đó trở thành nơi học tập cho con cái của các võ sĩ trong vùng khi nhà nước mở trường dành riêng cho tầng lớp này.

Người giáo dân trong đạo Thiên Chúa giáo là con chiên của Chúa Giêsu, những người biết lắng nghe tiếng Chúa và dám bước theo Ngài Họ tin rằng việc theo Chúa sẽ giúp họ không bị hư mất và được sống đời đời.

Mạc phủ Tokugawa, do Tokugawa Ieyasu thành lập, đã thống trị Nhật Bản từ năm 1603 đến 1868, đánh dấu thời kỳ Edo, giai đoạn phát triển cao nhất của chế độ phong kiến Thời kỳ này chứng kiến sự quản lý thống nhất từ chính quyền trung ương trên toàn lãnh thổ, song cũng là thời điểm nổi dậy của các công quốc han ở vùng tây nam Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp tự nhiên, nhưng cũng có sự giao thoa với kinh tế hàng hóa và thương mại quốc tế Chính quyền trung ương nỗ lực duy trì trật tự xã hội thông qua giáo lý Nho giáo, trong đó quốc gia, gia đình và cá nhân có mối liên hệ chặt chẽ, với cá nhân được xem là yếu tố cơ bản nhất cấu thành gia đình và xã hội.

Mỗi cá nhân có đức hạnh tốt sẽ góp phần tạo nên gia đình và xã hội tốt đẹp, nhấn mạnh lòng trung thành của cấp dưới với lãnh đạo Giáo dục Nho giáo coi trọng hiền tài, dẫn đến việc các triều đại tôn sùng Nho giáo chủ trương tuyển dụng nhân tài qua các kỳ thi cử Những thí sinh đạt học vị thường được chọn làm quan chức cho triều đình Đồng thời, Shinto giáo được đề cao, trong khi Phật giáo bị lạnh nhạt và Cơ Đốc giáo bị chống đối Thời kỳ này cũng chứng kiến sự xuất hiện của các xu hướng tư tưởng mới như Quốc học và Khai quốc học, nhằm thoát khỏi ảnh hưởng Trung Hoa Đến năm 1640, Nhật Bản áp dụng chính sách quản lý nghiêm ngặt đối với người nước ngoài, cấm Thiên Chúa giáo và cắt đứt hầu hết mối quan hệ quốc tế, bước vào thời kỳ “bế quan tỏa cảng” kéo dài hơn 200 năm Dù ban đầu ít người biết đọc viết, nhưng giáo dục thời Tokugawa đã trở nên phổ biến, để lại di sản quý giá về sự gia tăng dân số có học, một thế hệ nhân tài và sự chú trọng vào việc phát triển năng lực, tinh thần và đạo đức.

Theo ước tính, tỷ lệ người biết chữ đạt 90% ở cả nam và nữ trong những năm 1866 và 1867, đặc biệt cao hơn ở các thành phố lớn như Edo và Osaka, dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng trong giáo dục lễ nghi và tri thức.

Vào cuối thời kỳ Tokugawa, Nhật Bản có hơn 11.000 trường học với hơn 750.000 học sinh Các dụng cụ giảng dạy bao gồm nhiều loại sách chính, bàn tính, bản sao chữ Trung Quốc và hệ thống chữ viết Nhật Bản.

Khi bước sang công cuộc Minh Trị Duy Tân vào n m 1 6 , có hơn

Tính đến nay, 200 trong tổng số 276 lãnh địa ở Nhật Bản đã thành lập trường học, với sự ưu tiên đặc biệt cho y học Tây phương, khoa học quân sự hiện đại, và chế tạo đại bác Học thuyết Hà Lan, hay còn gọi là Rangaku, đã trở thành một phong trào học thuật kéo dài 200 năm (1641 - 1853) trong bối cảnh chính quyền Mạc phủ thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng sakoku Sự kiện hạm đội hải quân Mỹ tiếp cận bờ biển Nhật Bản đã tạo áp lực buộc chính quyền Nhật Bản mở cửa cho quan hệ ngoại thương.

Trong thời kỳ Hà Lan học, tầng lớp trí thức Nhật Bản đã nhận thức sâu sắc về những thành tựu cách mạng của khoa học và kỹ thuật phương Tây, đồng thời có cái nhìn so sánh về tốc độ phát triển giữa phương Tây và phương Đông Họ cũng nắm bắt được bức tranh tổng thể về quan hệ chính trị thế giới đương thời nhờ vào thông tin cập nhật từ Công ty Đông Ân Hà Lan (1641 - 1799) và đại diện của chính phủ Hà Lan (1800 - 1853).

Nền giáo dục dành cho người dân thường chú trọng vào việc cung cấp những kiến thức cơ bản, bao gồm đọc, viết, số học, thư pháp và kỹ năng sử dụng bàn tính.

Sau Duy Tân Minh Trị, Nhật Bản tổ chức hệ thống giáo dục theo ba cấp: tiểu học, trung học và đại học từ năm 1870 Năm 1871, Bộ Giáo dục được thành lập và luật Gakusei cùng luật Kyoiku Rei được công bố vào năm 1879 Việc ban hành các luật giáo dục này là một quá trình thử nghiệm nhằm tìm ra phương pháp phù hợp với thực tiễn của Nhật Bản, do đó, các quy định giáo dục thường xuyên được điều chỉnh.

Luật Giáo dục năm 1879 đã trao quyền quản lý trường học cho các địa phương, nhưng dẫn đến sự giảm đáng kể số học sinh đến trường tiểu học Năm 1880, Chính phủ Nhật Bản đã điều chỉnh luật giáo dục theo hướng quản lý tập trung, nhằm thống nhất chương trình, sách giáo khoa và hệ thống trường lớp trên toàn quốc Arinari Mori, người đã thông qua Luật về Giáo dục tiểu học, coi giáo dục tiểu học là nền tảng của hệ thống giáo dục, quy định 3 hoặc 4 năm tiểu học là giáo dục bắt buộc và xem đây là điều kiện tiên quyết để nền kinh tế phát triển Các nhà lãnh đạo Minh Trị nhận thức rằng để xây dựng một nước Nhật mới, cần phải giảm tỷ lệ mù chữ, từ đó xem giáo dục tiểu học là gốc rễ của sự phát triển.

4 Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên của Nhật Bản

Nhật Bản đã phát triển nhiều loại trường tiểu học phù hợp với từng hoàn cảnh địa phương như thành thị, nông thôn và miền núi, nhằm thu hút trẻ em đến trường một cách tự nguyện Giáo dục tiểu học được coi là rất quan trọng trong việc hình thành nếp sống công nghiệp hóa Vào năm 19, Nhật Bản đã sửa đổi Luật trường tiểu học, quy định rõ nghĩa vụ giáo dục, yêu cầu cha mẹ và người thuê mướn trẻ em phải tuân thủ luật bắt buộc cho trẻ em đến trường Nhờ đó, tỷ lệ trẻ em đến trường tăng nhanh sau năm 1900, giúp Nhật Bản có tỉ lệ mù chữ thấp nhất vào thời điểm đó.

Hệ thống giáo dục mới tại Nhật Bản có chương trình giáo dục phong phú, được xây dựng theo mô hình phương Tây với sự thống nhất về sách giáo khoa Ở cấp tiểu học, học sinh học các môn như đánh vần, ngữ văn, đạo đức, viết thư, toán, giáo dục thể chất, địa lý và vật lý Cấp tiểu học bậc cao bổ sung thêm lịch sử, hình học, vẽ, hóa học và sinh học Chương trình học này chủ yếu dựa trên sách giáo khoa dịch và mô phỏng từ các nước châu Âu và Mỹ Ở bậc trung học và cao hơn, sách giáo khoa nước ngoài được nhập khẩu và dịch nguyên văn.

Về phương pháp và phương tiện dạy học gần giống với phương Tây

Nhận thức về nhân tố “con người” thể hiện qua vấn đề nhân công, lao động

Sau Thế chiến thứ hai, Nhật Bản nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của người lao động trong việc xây dựng và phát triển đất nước Do đó, việc đào tạo chuyên môn và đạo đức cho nhân công Nhật Bản đã trở thành ưu tiên hàng đầu Chính nhờ vậy, khi nhiều quốc gia đối mặt với vấn đề về tác phong và đạo đức làm việc, nhân công Nhật Bản vẫn được công nhận và tôn trọng toàn cầu nhờ vào phẩm chất lao động tốt và đạo đức nghề nghiệp cao.

Cụ thể, theo thống kê chiều cao trung bình của phái nam là 171,3 cm và phái nữ là 15 ,4 cm số liệu n m , tuổi thọ trung bình phái nam là

Nhật Bản hiện đang dẫn đầu thế giới về tuổi thọ trung bình, với nam giới đạt 81,4 tuổi và nữ giới đạt 85,3 tuổi (số liệu năm 2003) Người dân nơi đây nổi bật với sức khỏe dẻo dai, đặc biệt là phụ nữ, họ có thể làm việc cả ngày mà vẫn giữ được sự khỏe mạnh.

Người Nhật, ngay cả ở độ tuổi 70, 80, vẫn không ngừng làm việc, đến mức được gọi là "labor animal" (con vật lao động) Họ có những đặc điểm nổi bật như làm việc theo mục tiêu, tôn trọng thứ bậc và địa vị, cũng như duy trì trật tự xã hội Người Nhật nổi tiếng với tính cần cù, tinh thần trách nhiệm cao, tình yêu thiên nhiên, và khiếu thẩm mỹ tinh tế Trong kinh doanh, họ rất coi trọng chữ tín và phát triển mối quan hệ lâu dài.

Lực lượng nhân công Nhật Bản là niềm tự hào quốc gia, với tinh thần học hỏi và lao động miệt mài, kỷ luật cao và chuyên môn vững vàng, đã góp phần vào sự phát triển thần kỳ của đất nước từ sau năm 1945 Nhật Bản đã chứng minh khả năng vượt trội trong lĩnh vực toán học và khoa học, nhờ vào hệ thống giáo dục và đào tạo bài bản từ các công ty Để có được lực lượng lao động được thế giới ngưỡng mộ về chuyên môn và đạo đức, nền giáo dục Nhật Bản đã coi trọng yếu tố “con người” như một yếu tố then chốt cho sự phát triển quốc gia Điều này được thể hiện qua các chính sách lao động, trong đó tính mạng con người được đặt lên hàng đầu, với nhiều loại bảo hiểm lao động nhằm đảm bảo điều kiện và sức khỏe cho người lao động.

Bảo hiểm y tế quốc dân tại Nhật Bản là loại bảo hiểm bắt buộc dành cho tất cả công dân và người nước ngoài sinh sống tại đây Loại bảo hiểm này chi trả chi phí điều trị y tế khi người tham gia gặp phải bệnh tật hoặc chấn thương, hỗ trợ lên đến 70% phí điều trị khi khám và chữa bệnh tại các cơ sở y tế.

Bảo hiểm y tế phú c lợi là chế độ bảo hiểm chi trả chi phí điều trị cho người lao động tại các xí nghiệp tư nhân khi họ bị bệnh hoặc thương tật ngoài giờ làm việc Chế độ này hỗ trợ 7% chi phí điều trị cho người lao động, với phí bảo hiểm được chia đều giữa xí nghiệp và người lao động, mỗi bên đóng một nửa.

Bảo hiểm hưu trí quốc dân là loại bảo hiểm bắt buộc dành cho tất cả cư dân, bao gồm cả người nước ngoài có tư cách lưu trú tại Nhật Bản Mục đích của bảo hiểm này là cung cấp trợ cấp cho người già, người tàn tật và gia đình của những người đã mất.

Bảo hiểm hưu trí phú c lợi là loại bảo hiểm dành cho doanh nghiệp có nhân viên biên chế, nhằm hỗ trợ tài chính cho người già, người tàn tật và gia đình của người đã khuất Phí bảo hiểm được chia đều giữa doanh nghiệp và người lao động, mỗi bên đóng một nửa.

Sau năm 1945, hệ thống lao động tại Nhật Bản đã được cải cách theo các nguyên tắc dân chủ, với bộ luật lao động mới đảm bảo quyền lợi cho người lao động như số giờ làm việc hợp lý, ngày nghỉ có lương và an toàn lao động Tuy nhiên, người Nhật cũng nổi tiếng với "căn bệnh nghiện làm việc", dẫn đến tình trạng làm việc đến chết, phản ánh mặt trái của tinh thần chăm chỉ và cần mẫn Nhân công Nhật Bản được biết đến với ý thức tuân thủ cao, sự cần cù và tinh thần học hỏi, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền công nghiệp quốc gia.

Tóm lại, kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản tập trung vào ba yếu tố chính: con người, giáo dục và môi trường, trong đó yếu tố "con người" được đặc biệt chú trọng vì đây là yếu tố then chốt quyết định thành công.

Trải nghiệm kinh tế của Nhật Bản chủ yếu được hình thành từ khả năng phát triển nguồn nhân lực, trong đó giáo dục và huấn luyện đóng vai trò quan trọng.

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA NHẬT BẢN TỪ SAU NĂM 1945 ĐẾN N A Y

Thời kì bị chiếm đóng (từ năm 1945 đến 1952)

Sau Thế chiến thứ 2, Hệ thống giáo dục ở Nhật đã có rất nhiều thay đổi Năm 1947, Luật cơ bản về giáo dục được ban hành đặt ra mục đích:

Giáo dục ở Nhật Bản hướng tới phát triển toàn diện nhân cách, nuôi dưỡng một dân tộc khỏe mạnh về tinh thần và thể chất, yêu công lý và sự thật, tôn trọng lao động và có ý thức trách nhiệm Nguyên tắc giáo dục bình đẳng được đặt lên hàng đầu, đảm bảo mọi người dân đều có quyền tiếp cận giáo dục mà không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính hay điều kiện kinh tế Hệ thống giáo dục được cải cách theo mô hình 6-3-3-4, với giáo dục bắt buộc ở cấp tiểu học và trung học cơ sở, giúp nâng tỷ lệ phổ cập giáo dục lên 99,98% Ngay cả trẻ em khuyết tật cũng được khuyến khích học tập với điều kiện tương tự như trẻ em bình thường, góp phần vào sự phát triển toàn diện của giáo dục Nhật Bản.

6 Điều 1, Bộ Luật giáo dục cơ bản.

Về quy mô, giáo dục được mở rộng ở tất cả các bậc học, ngành học

Hệ thống giáo dục Nhật Bản đã trải qua sự thay đổi lớn so với trước Thế chiến thứ hai, đạt được tính thống nhất cao hơn Ở bậc mẫu giáo, Nhật Bản chú trọng giáo dục trẻ em từ nhỏ, giúp các em có nền tảng nhận thức về thế giới xung quanh Ở bậc tiểu học và trung học cơ sở, Nhật Bản áp dụng mô hình giáo dục 6-3-3-4, với 6 năm tiểu học, 3 năm trung học cơ sở và 3 năm trung học phổ thông, cùng với 4 năm đại học Thời gian giáo dục bắt buộc đã tăng từ 6 lên 9 năm, nâng tỷ lệ học sinh thi vào trung học phổ thông lên 94,2%, tương đương với Mỹ Năm 1998, cả nước có 7.663.500 học sinh tiểu học và 4.380.600 học sinh trung học cơ sở Ở bậc trung học phổ thông, hầu hết học sinh tiếp tục học lên cấp ba, với tổng số học sinh ở các loại trường là 4.891.917, trong đó 73,6% học sinh theo học trường phổ thông Tổng số trường trung học phổ thông là 5.427, bao gồm 17 trường quốc lập, 4.128 trường công lập địa phương và 1.282 trường dân lập.

Khu vực giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp là một phần của giáo dục phổ thông, nhằm đáp ứng nhu cầu về lực lượng lao động có trình độ khi nền kinh tế phát triển Nhà nước công nhận năm loại cơ sở đào tạo: trường kỹ thuật, trường nông nghiệp, trường thương mại, trường hàng hải và trường bổ túc Từ sau Thế chiến thứ hai, số lượng trường đại học, cao đẳng và dạy nghề đã gia tăng nhanh chóng, cùng với sự tăng trưởng ổn định của số sinh viên.

Về phương pháp giáo dục, cũng có sự thay đổi lớn Nếu như trước

Từ năm 1945, phương pháp giảng dạy đã chuyển từ việc giáo viên truyền thụ kiến thức sang việc nhấn mạnh lý luận “học sinh là trung tâm” Điều này khuyến khích độc lập trong tư duy và tự do trong tinh thần của học sinh Bộ Giáo dục Nhật Bản cũng đã thay đổi từ chế độ “Sách giáo khoa quốc định” sang “chế độ sách giáo khoa kiểm định”, công nhận quyền tự do trong thực tiễn giáo dục của giáo viên Đặc biệt, môn nghiên cứu xã hội (Social Studies) hoàn toàn mới, có nguồn gốc từ Mỹ, đã được đưa vào giảng dạy ở cả ba cấp học phổ thông.

Trong cuộc cải cách giáo dục toàn diện, môn nghiên cứu xã hội được kỳ vọng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tái khai sáng quốc dân, thể hiện triết lý của nền giáo dục mới Theo “Hướng dẫn học tập môn Xã hội” năm 1947 của Bộ giáo dục Nhật Bản, mục tiêu của môn học là phát triển những công dân có tư duy độc lập và tinh thần phê phán, không bị ảnh hưởng bởi đám đông hay tuyên truyền dối trá Để đạt được điều này, nội dung và phương pháp giáo dục môn nghiên cứu xã hội chú trọng vào tính chủ thể của học sinh, đề cao trải nghiệm sống và giải quyết các vấn đề thực tiễn Phương pháp “học tập giải quyết vấn đề” khuyến khích học sinh chủ động tìm kiếm tri thức từ nhiều nguồn khác nhau, thay vì tiếp nhận thụ động, nhằm hình thành tư duy độc lập và sáng tạo.

Trong giai đoạn này, xã hội đã chuyển từ việc "truyền đạt tri thức" sang việc hình thành và phát triển năng lực nhận thức khoa học cho học sinh Hệ thống giáo dục Nhật Bản nổi bật với cải cách giáo dục không mang tính chắp vá, mà áp dụng những mô hình giáo dục tốt nhất cho từng cấp học, cụ thể là mô hình Hà Lan cho giáo dục tiểu học, mô hình Pháp cho giáo dục trung học và mô hình Mỹ cho giáo dục đại học.

Thời kì hậu chiếm đóng (từ 1952 đến 1984)

Bộ Giáo dục Nhật Bản sau thời kỳ hậu chiếm đóng đã khôi phục nhiều quyền lực, dẫn đến việc sàng lọc lại hệ thống trường học Một khóa học đạo đức theo khuôn mẫu truyền thống được tổ chức, mặc dù gặp phải một số phản đối, nhưng đã góp phần quan trọng trong việc phục hồi lòng tự trọng dân tộc của người dân Nhật Bản.

Năm 1961, Nhật Bản cho phép lập trường Cao đẳng chuyên nghiệp với

5 năm học (3 năm THPT, 2 năm chuyên tu) cùng tồn tại với trường dạy nghề

Từ năm 1975, Bộ giáo dục Nhật Bản đã thành lập trường chuyên tu kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực, tập trung đào tạo nhân lực kỹ thuật cho hệ thống đại học ngắn hạn (2-3 năm) và đại học chính quy (4 năm) Việc này không chỉ giảm áp lực cho các trường đại học do số lượng thí sinh đông đảo mà còn tạo cơ hội cho những thí sinh không đậu trong các kỳ thi cao đẳng và đại học vào trường dạy nghề với thời gian học ngắn hơn Hơn nữa, công nhân Nhật Bản được đào tạo không chỉ trong các trường học và trường dạy nghề mà còn ngay tại các xí nghiệp nơi họ làm việc.

Phản ứng của chính phủ với “luật quản lý trường đại học” trong năm

Vào năm 1969 và đầu những năm 70 của thế kỷ XX, nhằm cải cách nền giáo dục, một bộ luật mới đã được ban hành để quản lý việc thành lập trường mới, lương giáo viên và chương trình giảng dạy tại các trường công lập Đồng thời, sự hình thành các trường tư thục cũng nhận được sự hỗ trợ từ cộng đồng, và kỳ thi tuyển sinh đại học được tổ chức theo tiêu chuẩn phổ biến trên toàn quốc.

Nhật Bản nổi bật với chính sách giáo dục ưu tiên, tạo điều kiện cho mọi người, dẫn đến tỷ lệ biết chữ cao nhất thế giới Thành tựu này thể hiện rõ trong giai đoạn 1950, khi hơn 45% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và bắt đầu đi làm ở tuổi 15, trong khi gần 55% tiếp tục học trung học phổ thông Hiện nay, tỷ lệ học sinh học lên trung học phổ thông tại Nhật Bản đã đạt 95 - 97%.

Vào năm 1994, Nhật Bản đã tiến hành cải cách giáo dục nhằm xây dựng hệ thống giáo dục suốt đời, tạo ra một xã hội học tập và chuẩn bị cho thế hệ trẻ phát triển toàn diện, năng động, tự chủ và sáng tạo Mục tiêu là đáp ứng các yêu cầu mới của xã hội hiện đại trong nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của Nhật Bản trên trường quốc tế Hệ thống giáo dục suốt đời cho phép người lao động được tuyển dụng ngay sau khi tốt nghiệp và làm việc liên tục tại một công ty cho đến tuổi nghỉ hưu (55 tuổi), với mức lương xứng đáng dựa trên trình độ tay nghề Điều này đã tạo ra tâm lý yên tâm cho người lao động Nhật, giúp họ không lo lắng về vấn đề thất nghiệp.

Những năm 8 0 thế kỉ XX đến nay

Kể từ những năm 1980, hệ thống giáo dục Nhật Bản đã bộc lộ nhiều bất cập, không còn phù hợp với bối cảnh mới của đất nước và môi trường cạnh tranh quốc tế cũng như khu vực.

Chức năng giáo dục của gia đình và cộng đồng đã giảm sút nghiêm trọng, dẫn đến tình trạng gia tăng các tệ nạn trong trường học như bỏ học, bạo lực và hành vi lệch chuẩn đạo đức.

Xu hướng thanh niên ngày càng thờ ơ với các vấn đề xã hội đang gia tăng, trong khi môi trường sống của trẻ nhỏ cũng đang thay đổi, dẫn đến việc các em mất dần cơ hội giao tiếp và xây dựng mối quan hệ với cộng đồng xung quanh.

Việc giáo dục bắt buộc và sự nhồi nhét kiến thức cùng với chủ nghĩa bình quân đã gây ra tác động tiêu cực, làm cho giáo dục trở nên không phù hợp với khả năng và cá tính đa dạng của từng học sinh Hệ quả là học sinh có nguy cơ trở thành những "người máy", chỉ biết tuân theo mệnh lệnh và công thức cứng nhắc.

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và khoa học - kỹ thuật, cùng với quá trình toàn cầu hóa và thông tin hóa, hệ thống giáo dục hiện tại từ phổ thông đến cao đẳng, đại học và sau đại học cần phải thích ứng để đáp ứng yêu cầu phát triển Tuy nhiên, thực tế cho thấy hệ thống giáo dục chưa đáp ứng được nhu cầu này, dẫn đến tình trạng nhiều người có bằng cấp nhưng vẫn không đủ khả năng làm việc theo yêu cầu của xã hội.

Cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài từ cuối những năm 80 đến năm 2003 đã ảnh hưởng nặng nề đến Nhật Bản, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 2% - 3% Điều này cho thấy sự cần thiết phải cải cách không chỉ trong lĩnh vực giáo dục mà còn trong nhiều lĩnh vực khác như chính trị, văn hóa và xã hội Đến nay, Nhật Bản vẫn tiếp tục quá trình cải cách, trong đó cuộc đại cải cách giáo dục lần thứ ba được Chính phủ Nhật Bản tiến hành từ năm 1986 và vẫn đang diễn ra.

Vào cuối thế kỷ XX, Nhật Bản đã thay đổi cách phân bổ các trường đại học, với đại học công lập đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia, đại học địa phương phục vụ nhu cầu cấp tỉnh và huyện, trong khi đại học tư thục đáp ứng nhu cầu thị trường Để chuẩn bị cho thế kỷ XXI, Nhật Bản đã tiến hành cải cách giáo dục vào năm 1984, với mục tiêu hình thành hệ thống giáo dục suốt đời, xây dựng xã hội học tập và phát triển thế hệ trẻ tự chủ, sáng tạo, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế tri thức toàn cầu Sự đa dạng hóa chương trình giáo dục đã giúp Nhật Bản đạt kết quả cao trong các đánh giá chất lượng giáo dục quốc tế PISA trong các năm 2000, 2003, 2006 và gần đây.

Giáo dục đại học của Nhật Bản được “mở rộng” bắt đầu từ những năm

Năm 1960, Nhật Bản chứng kiến sự phát triển kinh tế nhanh chóng, đồng thời hệ thống giáo dục của nước này được chia thành ba khu vực: quốc gia, tư thục và nhà nước địa phương cấp tỉnh Đến năm 2008, Nhật Bản có tổng cộng 589 trường đại học tư thục, khoảng 86 đại học công lập cấp quốc gia theo thể chế National University Corporation (NUC) và 90 đại học công lập địa phương theo thể chế Public University.

Phần lớn chi tiêu quốc gia của Nhật Bản dành cho giáo dục đại học công lập (NUC), chiếm gần 1.3% GDP, mặc dù sinh viên chủ yếu theo học tại các trường đại học tư thục Trước năm 1998, việc phân bố các trường đại học phải đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia, địa phương và thị trường Tuy nhiên, sự phân hóa chức năng của các trường đại học đã làm phức tạp hóa vấn đề này Tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học và cao đẳng tại Nhật Bản đang tăng cao, hiện chỉ đứng sau Mỹ với khoảng 50% Nhật Bản đã trở thành một trong những cường quốc giáo dục hàng đầu thế giới, với 59 trường đại học tư thục, 90 trường công lập quốc gia và hơn 90 trường công lập địa phương.

Từ năm 1985 đến 1987, Hội đồng Cải cách Giáo dục Quốc gia, được thành lập dưới sự lãnh đạo của thủ tướng Yasuhiro Nakasone, đã bày tỏ những lo ngại về cải cách giáo dục Các báo cáo của hội đồng nhấn mạnh sự cần thiết phải phản ứng với tình trạng quốc tế hóa giáo dục, đổi mới công nghệ thông tin và phương tiện truyền thông, cũng như thúc đẩy việc học suốt đời và khả năng thích ứng với sự thay đổi xã hội Để định hướng cho tương lai, hội đồng đã đề xuất thiết kế giáo dục cho thế kỷ XXI, tổ chức hệ thống học tập suốt đời, cải thiện và đa dạng hóa giáo dục cao cấp, nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học và trung học, cải thiện chất lượng đội ngũ giảng dạy, cũng như thích ứng với quốc tế hóa và thời đại thông tin, đồng thời xem xét lại cấu trúc giáo dục, tài chính và quản lý.

Sự cải cách giáo dục và xã hội tại Nhật Bản phản ánh tầm nhìn gắn kết giáo dục với cộng đồng, và quá trình này vẫn đang tiếp diễn trong bối cảnh đất nước đối mặt với nhiều thách thức trong gần hai thập niên qua Mặc dù Nhật Bản vẫn được xem là cường quốc thứ hai, nhưng vị thế này đang bị suy giảm theo đánh giá của nhiều nhà phân tích Để đối phó, Nhật Bản cần nỗ lực thực hiện các cuộc cải cách đồng bộ trong từng lĩnh vực, nhằm đạt được một cuộc đại cải cách chung Mặc dù đã đạt được một số kết quả bước đầu, quá trình cải cách vẫn cần tiếp tục để thực hiện các mục tiêu cơ bản đã đề ra.

Nhật Bản đang duy trì một xã hội học tập suốt đời, bất chấp những khó khăn do nguồn tài nguyên hạn chế Cuộc cải cách giáo dục đã khơi dậy ý thức học tập của thế hệ trẻ, với việc xã hội hóa giáo dục ở mọi cấp học và loại hình trường Các trường đại học từ xa cũng được mở ra, tạo cơ hội cho mọi lứa tuổi tham gia học tập Để tránh những vấn đề trong việc dạy thêm học thêm, Bộ Giáo dục Nhật Bản đã soạn thảo một dự luật từ tháng 4-1990, và dự luật này đã được thông qua vào ngày 1-7-1990.

“Luật về duy trì hệ thống khuyến khích học tập suốt đời”.

Cải cách giáo dục tiểu học và trung học cơ sở được coi là rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách học sinh Việc giáo dục tốt ở lứa tuổi này sẽ tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển sau này Tại Nhật Bản, các trường tiểu học và trung học cơ sở đã thực hiện cải cách nội dung giáo dục, tập trung vào phát triển năng khiếu và sở thích cá nhân, đồng thời tạo cơ hội bình đẳng về giới trong học đường Ngoài hệ thống trường phổ thông, Nhật Bản cũng chú trọng xây dựng các trường chuyên và lớp chuyên Đáng chú ý, cả trường chung và trường chuyên đang giảm bớt các môn học không bắt buộc, tăng cường thời gian cho các môn học chuyên hoặc tự chọn, đồng thời tình trạng "nhồi nhét" kiến thức học thêm cũng đã giảm dần.

Mở rộng cơ hội giáo dục bậc cao bao gồm việc tăng cường các cơ sở đào tạo, từ trường công lập, bán công đến trường tư thục, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội.

Nhờ vậy mà bước vào thế kỷ XXI, Nhật Bản đã có tới 622 trường đại học,

585 trường đại học ngắn hạn, trong khi đầu những n ăm 90 thế kỷ XX chỉ có

Tính đến nay, Nhật Bản có 460 trường đại học và 536 trường đại học ngắn hạn, với số lượng sinh viên tăng từ 1.734.080 lên 2.448.804 Đặc biệt, đào tạo sau đại học cũng ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng, với số đại học viện tăng từ 279 lên 463 và số nghiên cứu sinh cao học, tiến sĩ tăng từ 65.692 lên 191.125 Mặc dù vẫn còn nhiều thách thức trong cải cách giáo dục bậc cao, nhưng hầu hết các cơ sở giáo dục đại học và sau đại học tại Nhật Bản đã thống nhất định hướng hoạt động đào tạo và nghiên cứu theo bốn mục tiêu chính.

1 - Nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học.

2 - Tạo sự mềm dẻo và linh hoạt hơn trong hệ thống đào tạo và nghiên cứu khoa học để bảo đảm quyền tự chủ của các trường đại học.

3 - Cải tiến cơ cấu hành chính để làm rõ trách nhiệm ra quyết định và thực hiện quyết định.

BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TRONG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN L Ự C

Ngày đăng: 11/07/2021, 08:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Ngọc Liên (1997), Lịch sử Nhật Bản, Nxb Văn hóa thông tin, HN, tr 167 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
Tác giả: Phan Ngọc Liên
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1997
2. Mai Ngọc Chừ (2009), Văn hóa ngôn ngữ phương Đông, Nxb Phương Đông, tr 74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ngôn ngữ phương Đông
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2009
3. Nguyên Tiệp (2006), PGS.TS, Trường Đại học Lao động-xã hội, nghiên cứu kinh tế Số 333- tháng 2/2006, Đào tạo và phát triển lao động chuyên môn kỹ thuật - tiền đề quan trọng để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực. tr 3 - 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo và phát triển lao động chuyên môn kỹ thuật - tiền đề quan trọng để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực
Tác giả: Nguyên Tiệp
Năm: 2006
4. Paul Kennedy (1995), Chuẩn bị cho thế kỷ X X I , Nxb Chính trị Quốc gia, tr 196 - 197 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị cho thế kỷ X X I
Tác giả: Paul Kennedy
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
6. Trần Phương Hoa (2006), Giáo dục Pháp - Việt ở Việt Nam giai đoạn 1906 - 1945 và cải cách giáo dục ở Nhật Bản thời Minh Trị, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 64, tr.43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Pháp - Việt ở Việt Nam giai đoạn 1906 - 1945 và cải cách giáo dục ở Nhật Bản thời Minh Trị
Tác giả: Trần Phương Hoa
Năm: 2006
7. Đông Á - Đông Nam Á: những vẩn đề lịch sử và hiện tại (2004), Nhà Xuất Bản Thế Giới, Hà Nội, tr.18 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Á - Đông Nam Á: những vẩn đề lịch sử và hiện tại
Tác giả: Đông Á - Đông Nam Á: những vẩn đề lịch sử và hiện tại
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Thế Giới
Năm: 2004
8. Trần Thị Tâm (2 013) - Ths Đại học Khoa học Huế: cải cách giáo dục Nhật Bản trong thời kỳ minh trị và vai trò của nó, Đ ăng ngày: 2 8-10­ Sách, tạp chí
Tiêu đề: cải cách giáo dục Nhật Bản trong thời kỳ minh trị và vai trò của nó
9. Trần Phương Hoa (2006), “Giáo dục Pháp - Việt ở Việt Nam giai đoạn 1906 - 1945 và cải cách giáo dục ở Nhật Bản thời Minh Trị ”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 64, tr.45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo dục Pháp - Việt ở Việt Nam giai đoạn 1906 - 1945 và cải cách giáo dục ở Nhật Bản thời Minh Trị ”
Tác giả: Trần Phương Hoa
Năm: 2006
11. Paul Kennedy (1992), Thay đổi kinh tế và xung đột quân sự từ 1500 đến 2000 - Hưng thịnh suy vong của các cường quốc, Nxb Thông tin lý luận, tr 145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi kinh tế và xung đột quân sự từ 1500 đến 2000 - Hưng thịnh suy vong của các cường quốc
Tác giả: Paul Kennedy
Nhà XB: Nxb Thông tin lý luận
Năm: 1992
12. Nguyễn Hiến Lê (1996), Khổng Tử, Nxb Văn hoá, Hà Nội.III. TÀI LIỆU INTERNET Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng Tử
Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1996
15. Kinh nghiệm đào tạo nhân lực của một số quốc gia trên thế giới và bài học tham khảo cho Việt Nam. Link:http://www.tuvengiao.vn/Home/giaoduc/69646/Kinh-nghiem-dao-tao-nhan-luc-cua-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi-va-bai-hoc-tham-khao-cho-Viet-Nam Link
5. Kỷ yếu hội thảo khoa học (2 013), Nxb Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh - Đại học khoa học xã hội và nhân văn.II. TÀI LIỆU BÁO CHÍ Khác
10. Tác giả tự tính toán theo số liệu của Apo Productyvity Databook, 2 014 Khác
13. http : //www.vysaip.org/news/tin-ngoai/kinh-te-xa-hoi/kinh-nghi Khác
14. Tình hình Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay. Link: http : //kenhdaihoc. net/threads/tinh-hinh-nhat-ban-tu- sau-chien-tranh-the- gioi-thu-hai-den-nay.3752/ Khác
18. Con người và tính cách người Nhật Bản (11/05/2017). Link Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w