NỘI DUNG
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU
1.1.1 Cơ sở phương pháp luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản cho mọi khoa học, đặc biệt là xã hội học Để áp dụng hiệu quả các lý luận này, cần tuân theo các nguyên tắc quan trọng như nguyên tắc lịch sử cụ thể và nguyên tắc nhìn nhận mối quan hệ qua lại Theo Marx, các bộ phận của xã hội không chỉ tương tác mà còn có thể mâu thuẫn và đối kháng, tạo ra động lực cho sự phát triển xã hội Đề tài này sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để giải thích bản chất của các sự kiện và hiện tượng trong quá trình nghiên cứu.
Khi nghiên cứu trợ giúp người cao tuổi bảo hiểm y tế trong quá trình điều trị tại bệnh viện, cần xem xét đến văn hóa và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Chẳng hạn, trong quá trình điều trị và tiếp cận dịch vụ y tế, người cao tuổi có thể gặp nhiều lý do khác nhau, bao gồm cả sự ảnh hưởng từ hoạt động truyền thông.
BV còn hạn chế, kinh tế gia đình eo hẹp không đủ để chi phí, nhận thức của
TC về bệnh tật và về BV nơi mình nằm điều trị còn hạn chế…
Chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét các hiện tượng xã hội trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Trong nghiên cứu này, chúng tôi phân tích tác động của nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) đến nhận thức của người cao tuổi (NCT) trong quá trình điều trị tại bệnh viện, đồng thời xem xét các yếu tố như khả năng nhận thức của NCT và trình độ của NVCTXH Phương pháp luận sử dụng là cách tiếp cận biện chứng, nhấn mạnh mối liên hệ giữa sự hiểu biết của NVCTXH và khả năng nhận thức của NCT Chúng tôi sẽ nghiên cứu mối quan hệ biện chứng này để làm rõ sự tương tác giữa các yếu tố trên.
Quá trình nhận thức không chỉ đơn thuần là mô tả các hiện tượng bên ngoài mà còn nhằm khám phá bản chất sâu xa của vấn đề Điều này giúp luận văn đạt được cái nhìn đa chiều, từ đó nghiên cứu mối quan hệ đặc trưng trong phát triển xã hội.
Các hái niệm công cụ
1.1.2.1 Khái niệm “Công tác xã hội”
Công tác xã hội, theo Hiệp hội Nhân viên công tác xã hội quốc tế (IFSW 1982), là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm thúc đẩy sự biến đổi xã hội, không chỉ cho toàn bộ cộng đồng mà còn cho từng cá nhân trong quá trình phát triển.
Công tác xã hội là lĩnh vực thực hành phát triển cao, áp dụng nguyên tắc và phương pháp đặc biệt nhằm hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết các vấn đề xã hội Mục tiêu chính của công tác xã hội là nâng cao hạnh phúc con người và phúc lợi xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng (Cục bảo trợ xã hội, Báo cáo tình hình thực hiện Quyết định 32/2010/QĐ-TTg về Phát triển nghề CTXH tại Việt Nam, 8/2014).
1.1.2.2 Khái niệm “Công tác xã hội trong bệnh viện”
Theo Thông tư 43/2015/TT-BYT của Bộ Y tế, công tác xã hội (CTXH) trong bệnh viện (BV) được định nghĩa là các hoạt động hỗ trợ người bệnh (NB), người nhà người bệnh (NNNB) và nhân viên y tế (NVYT).
BV nhằm giải quyết các vấn đề xã hội và tâm lý liên quan đến bệnh tật và quá trình KCB Mục đích của CTXH là hỗ trợ các nhóm đối tượng vượt qua khó khăn xã hội để đạt hiệu quả CSSK tốt nhất NVCTXH trong BV đóng vai trò cầu nối, giúp giải quyết mâu thuẫn giữa bệnh nhân và nhân viên y tế.
1.1.2.3 Khái niệm “ Nhân viên công tác xã hội ”
Nhân viên công tác xã hội là những người được đào tạo chuyên nghiệp, sử dụng kiến thức và kỹ năng của mình để nâng cao nhận thức của xã hội về trách nhiệm đối với sự phát triển chung Họ cung cấp các dịch vụ xã hội, tăng cường khả năng giải quyết vấn đề, giúp cá nhân tiếp cận nguồn lực và thiết lập mối quan hệ thuận lợi với môi trường xung quanh.
Theo IASW, NVCTXH là những chuyên gia được đào tạo bài bản về kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực công tác xã hội Họ có nhiệm vụ hỗ trợ các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống và tiếp cận các nguồn lực cần thiết Đồng thời, NVCTXH cũng thúc đẩy sự tương tác giữa cá nhân và môi trường xã hội, cũng như giữa các cá nhân với nhau, nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua các hoạt động nghiên cứu và thực tiễn.
Trong nghiên cứu này, NVXH đề cập đến những cá nhân đã được đào tạo chuyên sâu về các kỹ năng công tác xã hội Họ áp dụng kiến thức và kỹ năng đã học để hỗ trợ nhóm đối tượng yếu thế, nhằm nâng cao năng lực và phục hồi chức năng xã hội Mục tiêu là giúp các đối tượng vượt qua khó khăn bằng cách phát huy tiềm năng sẵn có của chính họ.
1.1.2.4 Khái niệm “Người cao tuổi “
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NCT
Theo quan điểm y học: NCT là người ở giai đoạn già hóa g n liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể
Về mặt pháp luật: Luật NCT (2009), tại điều 2 quy định: NCT là tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên [9]
Theo Tổ chức Y tế Thế giới - WHO: NCT phải từ 70 tuổi trở lên
Một số quốc gia phát triển như Đức và Hoa Kỳ có điều kiện phúc lợi xã hội và y tế tốt, cho phép công dân sống khỏe mạnh và tiếp tục đóng góp cho xã hội ngay cả khi đã ở độ tuổi cao Trong bối cảnh này, độ tuổi được coi là "tuổi già" và khái niệm này ngày càng được xem xét lại.
NCT (người cao tuổi) có xu hướng cao hơn ở các nước đang phát triển, với độ tuổi được xác định khác nhau giữa các khu vực Châu Âu thường xem NCT là những người từ 65 tuổi trở lên, trong khi một số nước châu Phi chỉ định nghĩa NCT từ 50 đến 55 tuổi Sự khác biệt này xuất phát từ các biểu hiện lão hóa của người dân tại từng quốc gia Các nước có hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe tốt thường có tuổi thọ cao hơn, dẫn đến các dấu hiệu tuổi già xuất hiện muộn hơn, từ đó quy định về độ tuổi cũng khác nhau.
Theo quan điểm của CTXH, người cao tuổi (NCT) thường gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống do những thay đổi về tâm sinh lý, lao động, thu nhập và quan hệ xã hội Vì vậy, NCT được xem là nhóm yếu thế cần nhận sự trợ giúp từ các dịch vụ công tác xã hội.
Nghiên cứu này áp dụng khái niệm về người cao tuổi (NCT) theo Điều 2, Chương I, Luật NCT (2009), định nghĩa NCT là công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên Những thay đổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập và quan hệ xã hội khiến NCT gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, do đó họ trở thành đối tượng yếu thế và cần sự hỗ trợ từ công tác xã hội.
1.1.2.5 Khái niệm “Người cao tuổi bất hợp tác “
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ CHO NGƯỜI CAO TUỔI ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƢƠNG HIỆN NAY
2.1 Những vấn đề của người cao tuổi bất hợp tác đang gặp phải và nhu cầu của họ khi điều trị tại bệnh viện
NCT đang trở thành một nhóm đối tượng ngày càng gia tăng, tạo ra nhiều thách thức lớn cho xã hội và yêu cầu các giải pháp hỗ trợ hiệu quả Đặc điểm nổi bật của nhóm này là sự chuyển đổi cơ bản về sức khỏe, tinh thần, điều kiện kinh tế và vai trò xã hội Trong số đó, những thay đổi về sức khỏe tinh thần là rõ rệt nhất và tập trung ở hầu hết các nhóm NCT.
Người cao tuổi (NCT) thường gặp nhiều khó khăn trong việc tạo ra thu nhập, đối mặt với khủng hoảng tuổi già và những thay đổi về sức khỏe, dẫn đến tâm lý không ổn định Hệ miễn dịch của họ suy giảm, khiến họ dễ mắc phải các bệnh lý liên quan đến tuổi tác như loãng xương, tăng huyết áp, viêm phổi, Parkinson và đãng trí Những vấn đề sức khỏe này là hệ quả tự nhiên của quá trình lão hóa.
Trong quá trình tìm hiểu về vấn đề này tại BVLKTW, chúng tôi nhận thấy rằng 76% người bệnh có biểu hiện lo lắng, 65% cảm thấy sợ hãi, 58% trải qua cảm giác buồn chán, và 45% xem đây như một cú sốc.
Từ bảng dữ liệu này,chúng tôi biểu đồ hóa như sau:
Biểu đồ 2.1: Khó khăn về mặt tinh thần của người bệnh cao tuổi
(Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài)
Biểu đồ cho thấy rằng hầu hết những bệnh nhân điều trị (NBCT) đều trải qua cảm giác lo lắng ngay khi phát hiện bệnh, với 76% cảm thấy lo âu và 45% cho rằng đó là một cú sốc tinh thần Trong quá trình điều trị, nhiều người cảm thấy sợ hãi, lo lắng và buồn chán do đau đớn Chỉ một số ít NBCT chấp nhận thực tế và cảm thấy “quen” hoặc “bình thường”, vì họ nhận thức rằng tuổi tác đã khiến cơ thể không còn như trước, do đó cần phải chấp nhận các vấn đề về sức khỏe.
Tâm sinh lý của người cao tuổi (NCT) thay đổi theo độ tuổi, thường dẫn đến cảm giác cô độc, hoài niệm về quá khứ, và cảm giác vô dụng Sự chuyển biến này từ trạng thái tích cực sang tiêu cực trở nên nghiêm trọng, đặc biệt khi họ phải nhập viện để điều trị Giai đoạn chuyển hóa trong độ tuổi của NCT mang đến những thay đổi rõ rệt mà mọi người cần nhận thức.
Lo lắng Sợ hãi Sốc tinh thần Buồn chán
58% người cao tuổi có thể nhận biết những thay đổi về thể chất, bao gồm các dấu hiệu sức khỏe như bệnh liên quan đến trí nhớ, xương khớp, tim mạch, huyết áp và đái tháo đường Những căn bệnh này thường xuất hiện do quá trình lão hóa tự nhiên và ảnh hưởng của chế độ chăm sóc sức khỏe cũng như dinh dưỡng Mặc dù có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa, người cao tuổi vẫn có nguy cơ mắc phải một số bệnh lý nhất định.
Người cao tuổi (NCT) thường trải qua những thay đổi tâm lý đáng kể khi bắt đầu gặp vấn đề sức khỏe Hệ miễn dịch của họ suy yếu, khiến cho các bệnh nhỏ trở nên nghiêm trọng và khó chữa trị Tâm lý sợ bệnh gia tăng, đặc biệt khi họ chứng kiến bạn bè hoặc người cùng trang lứa gặp khó khăn về sức khỏe Ngay cả khi chưa mắc bệnh nặng, NCT vẫn sống trong lo âu và sợ hãi Khi đến bệnh viện, họ thường cảm thấy hoang mang và lo lắng, và khó khăn trong việc tiếp nhận chẩn đoán từ bác sĩ Điều này dẫn đến việc họ đặt ra nhiều câu hỏi và nghi ngờ về tình trạng sức khỏe của mình.
Việc điều trị tại BVLKTW có thể khiến người bệnh nảy sinh tâm lý bức xúc do thái độ của nhân viên y tế, khi họ ít có cơ hội chia sẻ cảm xúc Điều này dễ dẫn đến cảm giác bị coi thường và xúc phạm, tạo ra tâm lý bức xúc trong giao tiếp và trong quá trình điều trị.
Với câu hỏi:“Ông/Bà gặp những khó khăn gì khi đến điều trị tại
Theo khảo sát tại BVLKTW, 39% người tham gia cho biết gặp khó khăn về kinh tế, 27% gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin, 24% gặp khó khăn khi làm thủ tục hành chính, và 10% gặp khó khăn trong việc tìm chỗ ở để chăm sóc người bệnh Những rào cản này, bao gồm thiếu hướng dẫn trong thủ tục khám chữa bệnh, thời gian chờ đợi kéo dài, và đặc biệt là vấn đề tài chính, đã gây trở ngại lớn cho người bệnh khi tham gia điều trị tại BVLKTW.
Theo khảo sát tại BVLKTW, 73% trong số 100 NCT được hỏi cho biết họ gặp khó khăn về kinh tế.
+ Không đủ tiền chi trả viện phí chiếm: 30%
+ Không đủ tiền mua thuốc điều trị: 20%
+ Không đủ tiền phục vụ sinh hoạt hàng ngày: 50%
Biểu đồ 2.2: Những khó khăn về kinh tế của người bệnh cao tuổi
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài
Không đủ tiền chi trả viện phí chiếm
Không đủ tiền mua thuốc điều trị
Không đủ tiền phục vụ sinh hoạt hàng ngày
Bảng 2.1 Hoàn cảnh gia đình
Gia đình chính sách 18 9.0 Không thuộc diện nào kể trên 149 75
Nguồn: Báo cáo tổng kết của Bệnh viện
Kết quả khảo sát và báo cáo tổng kết của Bệnh viện cho thấy hầu hết người bệnh cao tuổi đều gặp khó khăn về mặt kinh tế, đặc biệt là nhóm không thuộc hộ nghèo, cận nghèo hay gia đình chính sách, chiếm tới 75% Điều này chỉ ra rằng nhiều người cao tuổi đang điều trị tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và thu nhập bấp bênh Họ cần các dịch vụ chăm sóc toàn diện như tắm gội, đánh răng, với chi phí không hề nhỏ, ví dụ như tiền giường 1 triệu VNĐ/ngày và chi phí thuốc cho các bệnh lý như rối loạn lo âu gần 50.000 VNĐ/ngày Đặc biệt, với những bệnh nhân mắc nhiều bệnh lý và thời gian điều trị kéo dài, vấn đề tài chính trở nên càng cần được chú trọng.
Khi mới phát hiện bệnh, tôi cảm thấy chán nản và mọi thứ trở nên khó khăn Gia đình tôi, đặc biệt là vợ và con, luôn lo lắng và hoảng hốt Sau gần mười năm điều trị, tôi đã dần quen với tình trạng của mình.
(PVS số 5, Nam, 75 tuổi, bệnh nhân - Khoa Thần kinh và bệnh Alzheimer)
Nhiều NCT từ vùng nông thôn với trình độ học vấn thấp gặp khó khăn trong việc tiếp cận các chính sách hỗ trợ an sinh xã hội.
Do trình độ học vấn và đa phần lại đến từ các vùng nông thôn, nhóm
NCT thường chỉ đến BVLKTW khi bệnh đã trở nặng, sau khi đã thử nhiều phương pháp tự chữa trị hoặc điều trị tại các bệnh viện cấp dưới mà không thấy hiệu quả Họ thường không mong muốn phải đến đây vì nhiều lý do khác nhau.
Khi còn trẻ, tôi chỉ tập trung vào công việc và cuộc sống, mặc kệ những vấn đề sức khỏe Tuy nhiên, khi tình trạng trở nặng, tôi buộc phải đến bệnh viện để điều trị Mong muốn lớn nhất của tôi là nhanh chóng khỏi bệnh, nhưng nỗi lo về chi phí điều trị và sinh hoạt khiến tôi cảm thấy áp lực Sự lo lắng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý mà còn khiến tôi cảm thấy như gánh nặng cho gia đình Người cao tuổi như tôi thường rơi vào trạng thái khủng hoảng, cần sự quan tâm và an ủi từ gia đình và nhân viên y tế, nhưng điều này vẫn chưa được thực hiện thường xuyên.
ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI CAO TUỔI BẤT HỢP TÁC TRONG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƢƠNG
TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƢƠNG
3.1 Hoạt động can thiệp trong trợ giúp người cao tuổi bất hợp tác
Hoạt động can thiệp là chuỗi tương tác giữa nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) và người bệnh cao tuổi (NBCT) nhằm giải quyết các vấn đề hiện có NVCTXH thực hiện các bước như tiếp cận, xác định vấn đề, thu thập dữ liệu, lập kế hoạch trợ giúp, đánh giá và thực hiện trợ giúp, đồng thời theo dõi chặt chẽ để kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình can thiệp.
Sau khi tiếp cận nhóm NCT, NVCTXH lên kế hoạch thực hiện và đánh giá để hỗ trợ các đối tượng dựa trên năng lực và nguồn lực bên ngoài Hoạt động can thiệp cần xem xét ưu tiên cho từng đối tượng, đáp ứng kịp thời cho những người cần giúp đỡ Nhân viên chỉ rõ các đối tượng cần hỗ trợ sẽ được thông tin từ bác sĩ điều trị, qua đó họ sẽ liên hệ với NVCTXH để tiến hành hỗ trợ Tuy nhiên, NVCTXH gặp khó khăn khi một số đối tượng còn ngại ngùng, không cởi mở chia sẻ vấn đề, ảnh hưởng đến quá trình thu thập dữ liệu Ngoài ra, nguồn lực vật chất cũng là một vấn đề quan trọng, khi nhu cầu tài chính gia tăng, NVCTXH cần liên hệ với các tổ chức khác, đòi hỏi sự thương thảo lâu dài.
Đối tượng nhập viện điều trị có sự đa dạng, và mặc dù chúng tôi nhận được sự hỗ trợ tinh thần từ Lãnh đạo BV trong việc phát triển CTXH, nhưng chúng tôi vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức như thiếu kiến thức, khối lượng công việc lớn, sự hợp tác của bệnh nhân hạn chế và khó khăn trong việc huy động nguồn lực.
Sau khi các hoạt động can thiệp được thực hiện, người hỗ trợ sẽ dần trở lại quỹ đạo của mình, trong khi nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) tiếp tục theo dõi và giám sát Khi đã đạt được hiệu quả nhất định, NVCTXH sẽ ngừng can thiệp và không còn xuất hiện, đánh dấu sự kết thúc của quá trình trợ giúp Trước khi kết thúc, NVCTXH cần lập kế hoạch hỗ trợ bệnh nhân (BN) hoàn toàn phục hồi năng lực và ổn định trong tương lai, do đó cần có một kế hoạch lâu dài để đảm bảo các hoạt động can thiệp hiện tại được đáp ứng đầy đủ.
“Chúng tôi đón tiếp NCT sau khi họ nhập viện và được sự đề nghị của
Quy trình hỗ trợ của nhân viên công tác xã hội (NV CTXH) tại bệnh viện hiện nay được xem là hợp lý Trong những trường hợp khó khăn trong điều trị, các khoa lâm sàng phải phối hợp đề nghị sự hỗ trợ từ NV CTXH Tuy nhiên, đối với những trường hợp không đặc biệt, sự xuất hiện của NV CTXH có thể diễn ra sau hoặc thậm chí không cần thiết.
Hoạt động can thiệp là quá trình quan trọng trong công tác NVCTXH, đòi hỏi việc xây dựng kế hoạch hiệu quả và bền vững cho từng đối tượng Điều này bao gồm việc tham vấn và trò chuyện để thu thập thông tin, cũng như hiểu rõ nhu cầu cá nhân của từng bệnh nhân.
Để TC đạt được mong muốn và tìm kiếm nguồn lực hỗ trợ, quá trình thực hiện can thiệp cần tuân thủ đúng quy trình mà không được bỏ sót bước nào Việc vi phạm quy trình có thể dẫn đến kết quả không đạt yêu cầu, không đáp ứng đúng nhu cầu của TC, hoặc thậm chí làm cho tình hình phát triển theo hướng tiêu cực.
Khi can thiệp không hiệu quả, nhóm yếu thế dễ bị tổn thương tâm lý, dẫn đến việc mất niềm tin vào nhân viên công tác xã hội Họ thường từ chối trợ giúp hoặc không thể diễn đạt chính xác vấn đề của mình, gây ra tình trạng khó khăn lặp lại và cản trở sự phát triển bền vững.
Người cao tuổi (NCT) thường đối mặt với nhiều khó khăn trong cuộc sống do những thay đổi về tâm sinh lý kéo dài Khi rơi vào khủng hoảng kinh tế và tinh thần, họ cần sự hỗ trợ từ các chuyên gia có năng lực Nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) cần thực hiện quy trình can thiệp để giúp NCT phục hồi khả năng và hòa nhập xã hội Đối với những khủng hoảng tạm thời, NVCTXH có thể kết thúc vai trò hỗ trợ sau khi hoàn thành nhiệm vụ, nhưng với các vấn đề tâm lý, cần theo dõi liên tục và kéo dài thời gian can thiệp.
Phân tích các nhóm đối tượng trong mô hình trị liệu hành vi giúp hiểu rõ đặc điểm chung, vấn đề và cơ chế phòng vệ của họ Hoạt động trợ giúp của nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) là rất quan trọng, vì họ mang đến sự cân bằng và chuyên nghiệp trong việc hỗ trợ những người gặp khó khăn mà không thể tự giải quyết Quan điểm tập trung vào người nhận trợ giúp trong quá trình can thiệp của NVCTXH theo mô hình trị liệu hành vi sẽ làm sáng tỏ mối quan hệ trong quá trình trị liệu.
Về sự BHT của NCT, tình trạng đó được mô tả như sau:
Thứ nhất, đôi khi bác sĩ và y tá có những cử chỉ, hành vi, thái độ làm
Thứ hai, áp lực công việc trong bệnh viện rất căng thẳng Cả BS,
NVYT và NCT thường xuyên trải qua trạng thái căng thẳng, điều này có thể tác động mạnh mẽ đến cảm xúc và tâm trạng của mỗi cá nhân Hệ quả là, những hành vi và thái độ của họ có thể dễ dàng bị hiểu nhầm bởi người khác.
NVYT tại các vị trí tiếp xúc thường xuyên với NBCT cần được đào tạo về kỹ năng xử lý tình huống và kiểm soát cảm xúc Việc này giúp họ điều chỉnh hành vi và cử chỉ cho phù hợp, đảm bảo hiệu quả trong các tương tác Khóa huấn luyện này là cần thiết cho những người làm việc trong môi trường tương tác với NBCT.
Môi trường vật lý và bầu không khí làm việc có ảnh hưởng lớn đến tâm trạng và cảm xúc của con người, nhưng chưa được chú trọng trong BVLKTW Hình ảnh máu me, mùi hóa chất và những cảm xúc tiêu cực như lo sợ có thể làm tăng sự hoảng loạn Do đó, việc cải thiện không gian bằng hình ảnh tích cực, vui tươi và thân thiện sẽ giúp nâng cao cảm xúc tích cực cho cả bệnh nhân và nhân viên y tế, đồng thời giảm căng thẳng Áp lực công việc khiến bác sĩ thường chỉ trả lời ngắn gọn, không sử dụng danh xưng tôn trọng, từ đó làm bệnh nhân cảm thấy không được tôn trọng, ảnh hưởng đến giao tiếp và quá trình điều trị.
Quy trình hỗ trợ NCT BHT được chúng tôi vận dụng như sau:
Trình tự thực hiện Mô tả
Bước 1: Tiếp nhận yêu cầu
Nhận được thông tin từ Khoa/phòng về trường hợp NBCT BHT cần hỗ trợ
NV CTXH xuống khoa/phòng tìm hiểu hoàn cảnh NBCT BHT, tiếp nhận thông tin
Bước 2: Đánh giá và lập kế hoạch hỗ trợ
NVCTXH tiếp xúc với NBCT BHT, ghi nhận thông tin ban đầu từ NCT, gia đình và người có liên quan, thăm hỏi chia sẻ với họ
Xác nhận và thu thập thông tin từ nhân viên y tế tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân cao tuổi và người nhà, nhằm tìm hiểu lý do gây ra tình trạng bệnh lý liên quan đến tình trạng sức khỏe của họ.
Để hỗ trợ NCT BHT, cần thống nhất kế hoạch với lãnh đạo khoa/phòng và yêu cầu có văn bản đề nghị can thiệp từ khoa/phòng, được xác nhận bởi lãnh đạo khoa.
Bước 3: Thực hiện kế hoạch
Tổng hợp và thống nhất thông tin nhận đưowjc về NCT BHT
Lập kế hoạch hỗ trợ NCT BHT
Thông báo, yêu cầu có sự đồng thuận của khoa/phòng khi hỗ trợ NCT BHT
Có sự chứng kiến của NVYT/lãnh đạo khoa phòng có liên quan khi có sự hỗ trợ từ nhà tài trợ
Bước 4: Lượng giá và kết thúc
Tổng kết kết quả đạt được sau quá trình hỗ trợ
NVCTXH ghi chép lại ca can thiệp
Bảng 3.1: Quy trình hỗ trợ NCT BHT
Mô hình can thiệp CTXH cá nhân được chúng tôi vận dụng theo tiến trình như sau:
Quy trình thực hiện mô hình can thiệp cá nhân