Etanol sinh học Bio-Etanol là một loại nhiên liệu sinh học, được sản xuất chủ yếu bằng phương pháp lên men và chưng cất các loại ngũ cốc chứa tinh bột có thể chuyển hóa thành đường đơn,
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 3Phạm Công Minh K15 Cao học Môi trường
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
1.1 Sinh khối và nhiên liệu sinh học 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Các dạng nhiên liệu sinh học 7
1.1.3 Những lợi ích khi sử dụng nhiên liệu sinh học 8
1.2 Etanol sinh học 10
1.2.1 Tính chất lý hoá học của Etanol 10
1.2.2 Phương pháp sản xuất Etanol sinh học 10
1.2.3 Tình hình sản xuất và sử dụng Etanol sinh học 20
1.4 Vai trò của vi sinh vật trong việc phân giải hợp chất hữu cơ 28
1.4.1 Cellulosese và vi sinh vật phân giải cellulosese 28
1.4.2 Hemicellulosese và vi sinh vật phân giải hemicellulosese 30
1.5 Vai trò của vi sinh vật trong quá trình lên men rượu 32
1.5.1 Quá trình lên men rượu 32
1.5.2 Nấm men dùng trong sản xuất rượu etylic 33
1.6 Bèo tây và thực trạng sử dụng bèo tây ở Việt Nam 34
1.6.1 Đặc điểm của bèo tây 34
1.6.2 Sự phân bố bèo tây ở Việt Nam 34
1.6.3 Thực trạng sử dụng bèo tây ở Việt Nam 35
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Đối tượng nghiên cứu 37
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 37
2.2 Phương pháp nghiên cứu 37
2.2.1 Phương pháp tiền xử lý 37
2.2.2 Phương pháp thủy phân 37
2.2.3 Phương pháp xác định hàm lượng đường khử 37
2.2.4 Phương pháp lên men 38
2.2.5 Phương pháp xác định hàm lượng Etanol 39
Trang 4CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1 Thành phần và khả năng phát triển của bèo tây 40
3.1.1 Thành phần lý hóa học của bèo tây 40
3.1.2 Khả năng phát triển của bèo tây 41
3.2 Kết quả thí nghiệm thủy phân chuyển hóa bèo tây thành đường 42
3.2.1 Ảnh hưởng của thời gian 42
3.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ axit 43
3.2.3 Ảnh hưởng của tỷ lệ rắn/lỏng 44
3.2.4 Thành phần của bã bèo sau quá trình thuỷ phân 46
3.3 Khả năng chuyển hóa sản phẩm thủy phân thành Etanol 47
3.3.1 Xây dựng đường chuẩn Etanol 47
3.3.2 Phân tích nồng độ Etanol trong các mẫu 48
3.3.3 So sánh với các nghiên cứu trước đây 51
3.4 Đề xuất quy trình sản xuất Etanol từ bèo tây 53
3.5 Đánh giá về khả năng phát triển sản xuất Etanol sinh học từ bèo tây 53
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 55
KẾT LUẬN 55
KHUYẾN NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 5Phạm Công Minh K15 Cao học Môi trường
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Thành phần cellulose, hemicellulose và lignin trong SK [42] 11
Bảng 2: Thành phần đường và tro trong các nguyên liệu SK [43] 12
Bảng 3: Các phương pháp xử lý sơ bộ [26] 15
Bảng 4: Tổng sản lượng Etanol hàng năm ở một số nước [28] 22
Bảng 5: So sánh một số chỉ tiêu giữa Etanol, xăng và ETBE 24
Bảng 6: Sản lượng lý thuyết Etanol sinh ra từ 1 tấn nguyên liệu khô [20] 26
Bảng 7 Thành phần khối lượng bèo tây 40
Bảng 8 Sản lượng và độ che phủ của bèo tây 41
Bảng 9 Ảnh hưởng của yếu tố thời gian đến khả năng thủy phân 42
Bảng 10 Ảnh hưởng của nồng độ axit đến khả năng thủy phân 43
Bảng 11 Ảnh hưởng của tỷ lệ rắn/lỏng đến khả năng thủy phân 44
Bảng 12 Thành phần chất rắn còn lại sau quá trình thuỷ phân 46
Bảng 13 Khả năng chuyển hoá hydratcacbon trong quá trình thuỷ phân 47
Bảng 14 Hàm lượng Etanol tạo ra sau quá trình lên men 49
Bảng 15 Hàm lượng Etanol và đường khử trong quá trình lên men 50
Bảng 16 Dự kiến sản lượng Etanol ứng với diện tích mặt nước của thành phố 54
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Quá trình thủy phân và lên men để sản xuất Etanol sinh học [35] 13
Hình 2: Thủy phân bằng axit sunfuric loãng [39] 16
Hình 3: Thủy phân bằng axit sunfuric đặc [38] 17
Hình 4 Sử dụng enzyme để thuỷ phân, thuỷ phân và lên men tách riêng 19
Hình 5 Sử dụng enzyme để thuỷ phân, thuỷ phân và lên men đồng thời 20
Hình 6 Cấu trúc cellulose 28
Hình 7 Cấu trúc phân tử Hemicellulose 31
Hình 8 Ảnh hưởng của yếu tố thời gian đến khả năng thủy phân 43
Hình 9 Ảnh hưởng của nồng độ axit đến khả năng thủy phân 44
Hình 10 Ảnh hưởng của tỷ lệ rắn/lỏng đến khả năng thủy phân 45
Hình 11 Đường chuẩn Etanol 48
Hình 12 Sắc ký đồ mẫu phân tích Etanol qua các ngày 49
Hình 13 Hàm lượng Etanol tạo ra sau quá trình lên men 50
Hình 14 Mối quan hệ giữa hàm lượng Etanol và đường khử trong quá trình lên men 51
Hình 15 Quy trình sản xuất Etanol từ bèo tây 53
Trang 7Phạm Công Minh K15 Cao học Môi trường
MỞ ĐẦU
Ngày nay, thế giới đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng năng lượng trầm trọng Theo dự báo của các nhà khoa học trên thế giới, nguồn năng lượng từ các sản phẩm hoá thạch dầu mỏ sẽ bị cạn kiệt trong vòng 40- 50 năm nữa Để ổn định và đảm bảo an ninh năng lượng đáp ứng cho nhu cầu con người cũng như các ngành công nghiệp, các nhà khoa học đang tập trung nghiên cứu tìm ra những nguồn nhiên liệu mới, trong đó nghiên cứu phát triển nhiên liệu sinh học có nguồn gốc từ sinh khối động, thực vật là một hướng đi có thể tạo ra nguồn nhiên liệu thay thế phần nào nguồn nhiên liệu hoá thạch đang cạn kiệt, đảm bảo an ninh năng lượng cho từng quốc gia
Sử dụng nhiên liệu sinh học có những ưu điểm như giảm thiểu ô nhiễm khí thải độc hại từ động cơ, tiết kiệm nguồn nhiên liệu hóa thạch dầu mỏ, tăng hiệu suất của động cơ, mặt khác nhiên liệu sinh học khi thải vào đất có tốc độ phân hủy sinh học cao nhanh hơn gấp 4 lần so với nhiên liệu hóa thạch
Etanol sinh học (Bio-Etanol) là một loại nhiên liệu sinh học, được sản xuất chủ yếu bằng phương pháp lên men và chưng cất các loại ngũ cốc chứa tinh bột có thể chuyển hóa thành đường đơn, thường được sản xuất từ các loại cây nông nghiệp hàm lượng đường cao như ngô (ở Mỹ), lúa mì, lúa mạch, mía (ở Brazil) Ngoài ra, Etanol sinh học còn được sản xuất từ cây cỏ có chứa hợp chất cellulose Etanol từ cellulose đã được sản xuất thành công và đưa vào sử dụng làm nhiên liệu ở nhiều nước trên thế giới Hiện nay, việc sản xuất Etanol từ các loại cây lương thực đang gây ra sự lo ngại về vấn đề an ninh lương thực trên thế giới Chính vì vậy, thế giới đang đi theo hướng sản xuất Etanol từ các nguyên liệu chứa hợp chất cellulose
Việt Nam là một quốc gia nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài tảo, bèo tây Trên thế giới đã
có những công trình nghiên cứu ứng dụng khả năng hấp thụ kim loại nặng của bèo tây để làm sạch môi trường nước mặt Bên cạnh đó, bèo tây cũng đã
Trang 8được nghiên cứu trong lĩnh vực sản xuất Etanol sinh học Dựa vào thành phần hóa học của bèo tây chủ yếu là cellulose và hemicellulose, qua quá trình thủy phân và lên men nhờ vi sinh vật, chuyển hoá cellulose trong bèo tây thành Etanol sinh học Với những ưu điểm như rẻ tiền, phổ biến và có khả năng phát triển rất nhanh, bèo tây sẽ là một nguồn nguyên liệu tiềm năng trong quá trình nghiên cứu sản xuất Etanol sinh học Chính vì ý nghĩa thiết thực đó, luận văn đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu khả năng chuyển đổi bèo tây (Eichnoria) thành Etanol sinh học”
Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài đã tiến hành các nội dung nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu một số điều kiện tối ưu trong quá trình thủy phân bèo tây thành đường đơn bằng tác nhân hóa học
- Xác định hàm lượng Etanol tạo ra sau quá trình lên men bởi vi
khuẩn Klebsiella oxytoca THLC0109, phân lập từ quá trình ủ phân
cừu và cỏ Napiergrass khô
- Đề xuất quy trình sản xuất Etanol từ bèo tây và xây dựng kịch bản
áp dụng cho một thủy vực thiên nhiên
Trang 9Phạm Công Minh K15 Cao học Môi trường
1.1 Sinh khối và nhiên liệu sinh học
1.1.1 Khái niệm
Sinh khối (SK) là các vật liệu hữu cơ có nguồn gốc từ sinh vật có khả năng tái tạo như cây cối, phân gia súc… SK được xem là một phần của chu trình cacbon trong tự nhiên Cacbon từ khí quyển được biến đổi thành vật chất sinh học qua quá trình quang hợp của thực vật Khi phân giải hoặc đốt cháy, cacbon quay trở lại khí quyển hoặc đất Vì vậy cacbon khí quyển được giữ ở mức tương đối ổn định
Các vật liệu hữu cơ được tạo thành bởi các quá trình địa chất tạo than
đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên không được gọi là SK Nhiên liệu hoá thạch có nguồn gốc SK trong thời cổ xưa được xem là đã nằm ngoài chu trình cacbon
từ rất lâu.Việc đốt cháy chúng làm hàm lượng CO2 trong khí quyển mất ổn định
Nhiên liệu sinh học (NLSH) là loại nhiên liệu có nguồn gốc từ SK - có
thể là từ các sinh vật sống hoặc sản phẩm phụ từ quá trình chuyển hóa của chúng (ví dụ như phân gia súc) Chúng thuộc loại năng lượng tái tạo hoàn toàn khác với các loại năng lượng khác như hóa thạch, hạt nhân
1.1.2 Các dạng nhiên liệu sinh học
Nhiên liệu sinh học được sử dụng ở 03 dạng chính sau [40]:
- Dạng rắn (SK rắn dễ cháy): củi, gỗ và than bùn
- Dạng lỏng: Các chế phẩm dạng lỏng nhận được trong quá trình chế
biến vật liệu nguồn gốc sinh học như:
+ Cồn sinh học - các loại cồn có nguồn gốc sinh học, ví dụ: Etanol sinh học từ đường mía, ngô đang được sử dụng làm nhiên liệu hoặc phụ gia pha xăng tại Braxin, Mỹ và một vài nước khác; mEtanol sinh học (hiện
đang được sản xuất chủ yếu từ khí tự nhiên, song có thể đi từ SK)
Trang 10+ Dầu mỡ các loại nguồn gốc sinh học: diezel sinh học (Biodiezel) - sản phẩm chuyển hóa ester từ mỡ động vật hoặc dầu thực vật; Phenol và các loại dung môi, dầu nhựa thu được trong quá trình nhiệt phân gỗ, v.v…
- Dạng khí: Metan thu được từ quá trình phân hủy tự nhiên các loại
phân, chất thải nông nghiệp hoặc rác thải - Biogas; Hydro thu được nhờ cracking hyđrocacbon, khí hóa các hợp chất chứa cacbon hoặc phân ly nước bằng dòng điện hay thông qua quá trình quang hóa dưới tác dụng của một số
vi sinh vật; các sản phẩm khí khác từ quá trình nhiệt phân và khí hóa SK (các loại khí cháy thu được trong quá trình nhiệt phân gỗ)
1.1.3 Những lợi ích khi sử dụng nhiên liệu sinh học
Sử dụng NLSH sẽ giảm thiểu ô nhiễm và khí nhà kính
NLSH được sản xuất từ SK, là loại vật liệu xuất phát từ sinh vật (chủ yếu là thực vật) và là một phần trong chu trình cacbon ngắn CO2 mà cây hấp thụ từ không khí qua quá trình quang hợp sẽ quay trở lại bầu khí quyển khi chúng đã bị chuyển hóa thành năng lượng Để có thể coi đó là nguồn năng lượng tái tạo thì ít nhất kho sinh khối đó phải được duy trì không thay đổi Bởi vì trong chu trình không có lượng CO2 thừa và NLSH chạy xe phát tán ngược trở lại nên NLSH có thể được coi là yếu tố "cân bằng về mặt môi trường" thuộc chu trình
Hiện nay, hàng năm toàn thế giới phát thải khoảng 25 tỷ tấn khí độc hại và khí nhà kính Nồng độ khí CO2, loại khí nhà kính chủ yếu, tăng trên 30% so với thời kỳ tiền công nghiệp (từ 280 ppm tăng lên 360 ppm), nhiệt độ trái đất tăng 0,2- 0,40
C Nếu không có giải pháp tích cực, nồng độ khí nhà kính có thể tăng đến 400 ppm vào năm 2050 và 500 ppm vào cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trái đất tăng thêm 2-40C, gây ra hậu quả khôn lường về môi trường sống Sử dụng NLSH so với xăng dầu khoáng giảm được 70% khí CO2 và 30% khí độc hại, do NLSH chứa một lượng cực nhỏ lưu huỳnh, chứa 11%
Trang 11oxy, nên cháy sạch hơn NLSH phân huỷ sinh học nhanh, ít gây ô nhiễm nguồn nước và đất
Sử dụng NLSH sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp
Ngành kinh tế nông nghiệp ngoài chức năng cung cấp lương thực thực phẩm, nguyên liệu công nghiệp, giờ đây có thêm chức năng cung cấp năng lượng sạch cho xã hội, đóng góp vào việc giảm thiểu khí nhà kính và khí độc hại Đặc biệt, khi phát triển NLSH có thể sử dụng các giống cây có dầu, chẳng hạn như J Curcas trồng trên các vùng đất hoang hoá hoặc đang sử dụng kém hiệu quả, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng đất.[18]
Kỹ thuật và kinh tế năng lượng
Sản xuất và sử dụng NLSH đơn giản hơn so với các dạng nhiên liệu hyđrô /pin nhiên liệu Khi sử dụng E20, B20 không cần cải biến động cơ, sử dụng được cho các loại ôtô hiện có, cũng không cần thay đổi hệ thống tồn chứa và phân phối hiện có NLSH và nhiên liệu khoáng có thể dùng lẫn với nhau được Công nghệ sản xuất NLSH không phức tạp, có thể sản xuất ở quy
mô nhỏ (hộ gia đình) đến quy mô lớn Sự tiêu hao nhiên liệu, công suất động
cơ tương tự như dùng xăng dầu khoáng Nhiều công trình nghiên cứu về cân bằng năng lượng đã cho thấy: Từ 1 đơn vị năng lượng dầu mỏ sản xuất được 0,87 đơn vị năng lượng xăng, hoặc 1,02 đơn vị năng lượng ETBE, hoặc 2,05 đơn vị năng lượng Etanol Từ 1 đơn vị năng lượng dầu mỏ (dùng để cày bừa, trồng trọt, chăm sóc, vận chuyển đến chế biến) sẽ tạo ra 1,2 đơn vị năng lượng NLSH Nếu kể thêm các sản phẩm phụ (bã thải, sản phẩm phụ) thì tạo
ra 2-3 đơn vị NLSH Như vậy, cân bằng năng lượng đầu ra so với đầu vào là dương Hiện tại, giá NLSH còn cao do sản xuất nhỏ, giá nguyên liệu cao Khi sản xuất quy mô lớn với công nghệ mới sẽ giảm giá thành Nếu xăng dầu không bù giá thì NLSH có giá thành thấp hơn Có thể khẳng định, NLSH sẽ đem đến đa lợi ích
Trang 121.2 Etanol sinh học
1.2.1 Tính chất lý hoá học của Etanol
a Tính chất lý học
Etanol hay rượu Etylic là một chất lỏng, không màu, mùi thơm dễ chịu,
vị cay, nhẹ hơn nước (khối lượng riêng 0,7936 g/ml ở 150C), sôi ở nhiệt độ 78,390C, hóa rắn ở -114,150C, tan trong nước vô hạn
Độ nhớt của Etanol là 1,200 cP ở 20°C
b Tính chất hóa học
Etanol là rượu no, đơn chức, có công thức C2H5OH Etanol mang đầy
đủ tính chất của một rượu đơn chức như phản ứng thế với kim loại kiềm, phản ứng este hóa, phản ứng loại nước hay phản ứng tách nước, phản ứng oxi hóa thành andehyt, axit hay CO2 tùy theo điều kiện phản ứng Ngoài ra Etanol còn có một số phản ứng riêng như sau:
- Phản ứng tạo ra Butadien-1,3: Cho hơi rượu đi qua chất xúc tác hỗn hợp
Cu + Al2O3 ở 380 - 4000C , lúc đó xảy ra phản ứng tách loại nước
2C2H5OH CH2=CH-CH2=CH + 2 H2O + H2
- Phản ứng lên men giấm: Oxi hóa rượu Etylic 10 độ bằng khí O2 có mặt men giấm ở nhiệt độ khoảng 250C
CH3-CH2-OH + O2 CH3-COOH + H2O
1.2.2 Phương pháp sản xuất Etanol sinh học
Etanol có thể được sản xuất theo phương pháp hóa học từ nguyên liệu Etan hoặc Etylen bằng phương pháp hydrat hóa Etylen Trên thực tế, Etanol thường được sản xuất bằng con đường sinh học Khi đó sản phẩm Etanol được gọi là cồn sinh học hay Bio- Etanol Công nghệ chiếm ưu thế hiện nay
là chuyển hóa SK thành Etanol thông qua lên men rượu rồi chưng cất Quá trình lên men rượu này là quá trình chuyển hóa sinh hóa học SK sẽ bị men của vi khuẩn hoặc nấm men phân hủy Phương pháp lên men có thể áp dụng
Trang 13đối với nhiều nguồn nguyên liệu SK khác nhau
Hiện nay, các hoạt động nghiên cứu và phát triển ở châu Âu về lĩnh vực Etanol sinh học chủ yếu tập trung vào sử dụng các nguồn nguyên liệu cellulose (từ gỗ) Các loại cây trồng quay vòng ngắn (liễu, bạch dương, bạch đàn), các chất thải nông nghiệp (rơm, bã mía), các phế thải của công nghiệp
gỗ, gỗ thải đều thích hợp để làm nguyên liệu sản xuất Etanol Cứ khoảng 2
- 4 tấn vật liệu gỗ khô hoặc cỏ khô đã có thể cho 1 tấn Etanol Nguyên nhân khiến các nhà nghiên cứu chuyển sang sản xuất Etanol từ SK cellulose (gỗ, thân thảo) là vì các loại này sẵn có và rẻ tiền hơn so với các loại tinh bột ngũ cốc hoặc cây trồng khác, đặc biệt là với những nguồn chất thải hầu như không có giá trị kinh tế thì vấn đề càng có ý nghĩa Tuy nhiên, quá trình chuyển hóa các vật liệu này sẽ khó khăn hơn Hàm lượng cellulose, hemicellulose, lignin, đường và tro trong các nguyên liệu SK được biểu hiện trong Bảng 1 và Bảng 2
Bảng 1: Thành phần cellulose, hemicellulose và lignin trong SK [42]
Thành phần Phần trăm trọng lượng khô
Trang 14Bảng 2: Thành phần đường và tro trong các nguyên liệu SK [43]
Nguyên liệu Đường 6
Cacbon (%)
Đường 5 Cacbon (%)
Lignin (%)
Tro (%)
Phụ phẩm
b Công nghệ chuyển hóa Etanol
- Quá trình chuyển hóa từ nguyên liệu chứa đường
Etanol có thể sản xuất từ nhiều loại nguyên liệu SK khác nhau, nhưng chỉ có một vài loại cây trồng chứa nhiều loại đường đơn giản, dễ tách nên thuận lợi cho quá trình xử lý và lên men Thông thường để tách đường hoàn toàn, quá trình tách (chiết hoặc nghiền nhỏ) cần được thực hiện lặp đi lặp lại nhiều lần
- Quá tình chuyển hóa từ các nguyên liệu chứa tinh bột
Các loại tinh bột ngũ cốc là các vật liệu gồm các phân tử cacbonhydrat phức tạp hơn nên phải phân hủy chúng thành đường đơn nhờ quá trình thủy phân
Hạt được xay, nghiền ướt thành dạng bột nhão Trong quá trình này đã
có một lượng đường được giải phóng Nhưng để chuyển hóa tối đa lượng tinh bột thành đường, tạo điều kiện lên men rượu, bột nhão được nấu và cho thủy phân bằng enzym (ví dụ amylaza) Trong trường hợp thủy phân bằng axit thì cần rót axit loãng vào khối bột nhão trước khi đem nấu Quá trình lên men được xúc tiến mạnh khi có mặt một số chủng men rượu Để thuận lợi cho quá trình lên men, pH của dịch thủy phân cần điều chỉnh ở mức 4,8 - 5,0 Etanol sinh ra trong quá trình lên men sẽ hòa tan trong nước Quá trình lên men rượu này sinh ra khí CO2 Sau một chuỗi các bước chưng cất và tinh cất để loại
Trang 15nước, nồng độ Etanol sẽ được tăng cao tối đa (có thể đạt mức cồn tuyệt đối - Etanol khan)
- Quá trình chuyển hóa từ nguyên liệu chứa cellulose [28]
Hình 1: Quá trình thủy phân và lên men để sản xuất Etanol sinh học [35]
Quá trình chuyển hóa SK là hỗn hợp cellulose thành Etanol chỉ khác với quá trình lên men tinh bột ở chỗ xử lý nguyên liệu thành đường đơn sẵn sàng cho quá trình lên men Thủy phân hỗn hợp cellulose khó hơn thủy phân tinh bột vì hỗn hợp cellulose là tập hợp các phân tử đường liên kết với nhau thành mạch dài (polymer cacbonhydrat) gồm khoảng 40 – 60% cellulose và
20 – 40% hemicellulose, có cấu trúc tinh thể, bền Hemicellulose chứa hỗn hợp các polymer có nguồn gốc từ xylo, mano, galaeto hoặc arabino kém bền
Lên men
cả hai loại
Đường xylose
Nồi hơi
Thủy phân cellulose giải phóng glucose Nhiệt
Lên men glucose
Trang 16hơn cellulose Nói chung hỗn hợp cellulose khó hòa tan trong nước
Phức polyme thơm có trong gỗ là lignin (10 - 25%) không thể lên men
vì khó phân hủy sinh học, nhưng có thể tận dụng vào việc khác
c Các giai đoạn trong sản xuất Etanol sinh học
(i) Quá trình xử lý sơ bộ:
Một số phương pháp xử lý sơ bộ được trình bày trong Bảng 3 sau đây:
Hiệu quả thấp đối với SK chứa lignin cao
- Thu hồi amoniac
- Không hình thành sự ức chế
- Nhiệt độ và áp suất trung bình
- Đòi hỏi lượng Ozone lớn
- Điều kiện trung bình
- Năng suất cao khi chuyển hoá xylan thành xylose
- Ăn mòn và độc tố
- Thu hồi axit
- Khá đắt đỏ
Trang 17- Yêu cầu năng lượng thấp
- Ức chế vi sinh vật
- Mất cellulose và năng suất thấp
Bảng 3: Các phương pháp xử lý sơ bộ [26]
(ii) Quá trình thủy phân:
* Thủy phân bằng axit
Trong ngành công nghiệp sản xuất Etanol, người ta ưu tiên sử dụng công nghệ thuỷ phân bằng axit vì giá thành của enzyme cellulase quá cao Theo nguyên tắc, bất cứ axit nào cũng có thể sử dụng cho quá trình thuỷ phân, nhưng trên thực tế, axit sunfuric vẫn được dùng phổ biến nhất vì giá thành của nó rẻ và cho hiệu quả thuỷ phân tương đối cao Axit sunfuric sử dụng có thể là axit đặc hoặc axit loãng
Thủy phân bằng axit loãng
Quá trình thủy phân nguyên liệu thành đường tự do sẵn sàng lên men bằng axit sunfuric loãng phải trải qua 2 bước:
- Bước 1: Thủy phân bằng axit loãng nồng độ 0,5% để phá vỡ liên kết hyđro giữa các mạch cellulose và phá vỡ cấu trúc tinh thể của chúng thực hiện ở nhiệt độ 2000C Kết quả thủy phân bước 1 sẽ chuyển hóa hemicellulose thành đường 5 Cacbon và 6 Cacbon (chủ yếu xylo và mano)
dễ lên men tạo thành Etanol đồng thời bẻ gãy cấu trúc cellulose
- Bước 2: Để chuyển hóa hoàn toàn cấu trúc cellulose đã gãy thành đường Gluco Cacbon, bước thủy phân thứ 2 sử dụng axit nồng độ 2% được
Trang 18thực hiện ở nhiệt độ 2400C
Hình 2: Thủy phân bằng axit sunfuric loãng [39]
Quá trình thủy phân nguyên liệu thành đường tự do sẵn sàng lên men bằng axit sunfuric loãng phải trải qua 2 bước:
- Bước 1: Thủy phân bằng axit loãng nồng độ 0,5% để phá vỡ liên kết hyđro giữa các mạch cellulose và phá vỡ cấu trúc tinh thể của chúng thực hiện ở nhiệt độ 2000C Kết quả thủy phân bước 1 sẽ chuyển hóa hemicellulose thành đường 5 Cacbon và 6 Cacbon (chủ yếu xylo và mano)
dễ lên men tạo thành Etanol đồng thời bẻ gãy cấu trúc cellulose
- Bước 2: Để chuyển hóa hoàn toàn cấu trúc cellulose đã gãy thành đường Gluco Cacbon, bước thủy phân thứ 2 sử dụng axit nồng độ 2% được thực hiện ở nhiệt độ 240oC
Thủy phân bằng axit đặc
Nguyên liệu Tiền xử lý bằng
axit loãng (0,5%)
Thuỷ phân bằng axit loãng (2%)
Trung hoà Lên men Thu hồi
ethanol
Tận dụng chất rắn
Thạch cao
Trang 19Hình 3: Thủy phân bằng axit sunfuric đặc [38]
Quá trình thuỷ phân vẫn được tiến hành qua hai bước, bước thứ nhất để thuỷ phân hemicelulose, được tiến hành ở 100oC, trong thời gian từ 2 – 6h, nồng độ axit cho vào là 10% Ở giai đoạn thuỷ phân thứ nhất, sau khi axit phân huỷ hemicellulose, hỗn hợp sẽ được pha loãng bằng nước, sự thuỷ phân xảy ra trong bước pha loãng thu được phần lớn đường Sau đó, hỗn hợp được lọc để thu hồi dung dịch, phần chất rắn còn lại được đem thủy phân tiếp Tại đây axit đặc phá vỡ liên kết hydro giữa các chuỗi cellulose, biến đổi chúng thành dạng vô định hình hoàn toàn Khi cellulose được decrystallization, chúng tạo thành một dạng chất lỏng dễ bị thuỷ phân Chính vì vậy, pha loãng dung dịch bằng nước ở nhiệt độ thường sẽ làm cho sự thuỷ phân glucose diễn
ra nhanh chóng và hoàn toàn, với ít sự thất thoát nhất Lignin được thu hồi để tận dụng làm các sản phẩm khác (thức ăn gia súc) Trong quy trình này, người ta sử dụng màng lọc để phân tách đường và axit, hệ thống thu hồi và cô
Nguyên liệu
Thuỷ phân giai đoạn 1
Thuỷ phân giai đoạn 2
Phân tách đường và axit
Trung hoà Lên men
Thu hồi Etanol
Cô
đặc
axit
Tận dụng lignin Nước
Thạch cao Nước
Dung dịch đường đã phân tách
Trang 20đặc axit nhằm tận dụng quay vòng lại lượng axit sunfuric trong dung dịch Tuy nhiên, hệ thống này có giá thành rất cao, do vậy người ta thường sử dụng một lượng lớn vôi để trung hoà axit trong dung dịch trước khi tiến hành lên men Sự trung hoà này tạo ra một lượng lớn thạch cao CaSO4 Ưu điểm của quy trình là hiệu quả thuỷ phân cao, có thể thu hồi được 90% lượng đường của cellulose và đường của hemicellulose Quá trình thủy phân cellulose thành gluco bằng axit có thể thay thế bằng men phân hủy cellulose [26]
* Thủy phân bằng enzyme [39]
Quá trình thủy phân bằng enzyme và quá trình lên men có thế được diễn ra đồng thời với nhau hoặc tách riêng
Thuỷ phân và lên men tách riêng: Vật liệu sau khi được nghiền mịn
(giảm kích thước) sẽ được xử lý sơ bộ bằng axit loãng để thuỷ phân hemicellulose, chất rắn còn lại (cellulose, lignin) sẽ được thuỷ phân bằng enzyme Trong bước xử lý sơ bộ, chuỗi liên kết các loại đường cấu thành nên hemicellulose bị phá vỡ, các phân tử hemicellulose sẽ bị phân huỷ thành các đường đơn Cụ thể là các đường 5 Cacbon có thể hoà tan như xylose, araibinose và các đường 6 Cacbon có thể hoà tan như mannose và galactose Một lượng nhỏ cellulose cũng được chuyển hoá thành glucose trong bước này Tiếp đến cần nuôi dưỡng enzyme để thuỷ phân cellulose, enzyme cellulase được sử dụng để thuỷ phân các phân tử cellulose thành đường glucose Trong phản ứng thuỷ phân cellulose, enzyme cellulase được
sử dụng để phá vỡ chuỗi liên kết glucan của cellulose, giải phóng ra glucose Quá trình thuỷ phân cellulose còn được gọi là sự hoá đường cellulose Dung dịch thu được sau giai đoạn xử lý sơ bộ và giai đoạn thuỷ phân cellulose được lên men bằng vi sinh vật Sau đó người ta chưng cất để thu hồi Etanol tinh khiết Trong quy trình này quá trình thuỷ phân và quá trình lên men được tiến hành tách rời
Trang 21Hình 4 Sử dụng enzyme để thuỷ phân, thuỷ phân và lên men tách riêng
(SCF: separate hydrolysis and fermentation) Thuỷ phân và lên men đồng thời: Khác với quy trình thủy phân và lên
men đồng thời, ở quy trình này quá trình thuỷ phân cellulose và quá trình lên men được tiến hành đồng thời Quy trình này tuy không phải thực hiện sự thủy phân trước nhưng hạn chế của nó là làm xuất hiện các phản ứng lên men đồng thời phức tạp, và làm phát sinh các sản phẩm của sản xuất Etanol sinh học ức chế hoạt động của enzyme Quy trình này được biểu diễn ở Hình 5
Thu hồi etanol
Chế biến chất thải rắn
Giảm kích thước
nguyên liệu
Tiền xử lý bằng axit loãng
Thủy phân lấy đường từ hemicellulose
e
Sản xuất enzyme
Chế biến chất thải rắn
Đường hóa
và lên men đồng thời
Thu hồi Etanol
Trang 22Hình 5 Sử dụng enzyme để thuỷ phân, thuỷ phân và lên men đồng thời
(SSCF: simultaneous saccharification and cofermentation)
d Thực trạng công nghệ và tính kinh tế [28]
Trên thế giới, sản xuất Etanol đã được các nước tiên tiến đầu tư và phát triển từ thập niên 70 của thế kỷ 20 Để giảm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm hơn nữa thì cần cải tiến công nghệ và tìm kiếm các nguồn SK rẻ hơn (giá nguyên liệu chiếm 55 - 80% giá sản phẩm cuối) Các công ty của
Mỹ và Canađa hiện đang tiếp tục nghiên cứu tận dụng nguồn SK, là hỗn hợp cellulose và các nguồn phế thải khác
Ngoài ra, các nhà khoa học trên thế giới cũng tìm ra một công nghệ sản xuất Etanol khác là thông qua con đường khí hóa nguyên liệu, xong rất phức tạp và không kinh tế
Để dùng làm nhiên liệu, Etanol phải ở dạng cồn tuyệt đối (xấp xỉ 100%), hiện nay người ta đang tiếp tục cải tiến khâu loại bỏ triệt để nước từ sản phẩm bằng cách sử dụng phương pháp lọc màng phân tử
Chi phí đầu tư ngắn hạn cho một cơ sở sản xuất Etanol từ hạt ngũ cốc tại châu Âu, dự tính 290 euro/kW nhiệt (đối với nhà máy 400 MW nhiệt), nếu đầu tư dài hạn chi phí có thể giảm 40% Nếu nhà máy sản xuất Etanol từ nguồn gỗ, chi phí đầu tư ngắn hạn khoảng 350 euro/ kW nhiệt, nếu đầu tư dài hạn chi phí giảm 50%
Chi phí sản xuất Etanol từ đường và ngũ cốc tại châu Âu và Mỹ hiện khá cao: 15 – 25 euro/ GJ (1Giga Jun = 109 Jun) đi từ củ cải ngọt và 20 euro/
GJ đi từ ngô, tức là Etanol có giá 0,32 – 0,54 euro/ lít (tương đương với 8.640 – 14.580 VNĐ,1 euro = 27.000 VNĐ) Nếu sản xuất từ nguồn cellulose, giá Etanol còn 0,11 - 0,32 euro/ lít (tương đương với 2.970 – 8.640VNĐ)
1.2.3 Tình hình sản xuất và sử dụng Etanol sinh học
a Sản xuất và sử dụng Etanol sinh học trên thế giới [24]
Trang 23ở các mức độ khác nhau NLSH được dùng làm nhiêu liệu cho ngành giao thông bao gồm: Dầu thực vật sạch, Etanol, diesel sinh học, dimetyl ether (DME), etyl tertiary butyl ether (ETBE) và các sản phẩm từ chúng Năm
2006, toàn thế giới đã sản xuất khoảng 50 tỷ lít Etanol (75% dùng làm nhiên liệu) so với năm 2003 là 38 tỷ lít, dự kiến năm 2012 là khoảng 80 tỷ lít; năm
2005 sản xuất 4 triệu tấn diesel sinh học (B100), năm 2010 sẽ tăng lên khoảng trên 20 triệu tấn Sản lượng Etanol ở một số nước đứng đầu trên thế giới được chỉ ra ở Bảng 4
Tổng sản lượng Etanol của 15 nước
đứng đầu (2004 – 2006) (Triệu tấn gallon Mỹ)
Tổng sản lượng Etanol của 15 nước đứng đầu (2007) (Triệu tấn gallon Mỹ)
Trang 24Hiện tại, diện tích trồng mía ở Brazil là 10,3 triệu ha, một nửa sản lượng mía dùng sản xuất xăng – Etanol, nửa kia dùng sản xuất đường Dự đoán là Brazil sẽ trồng 30 triệu ha mía vào năm 2020 Các công ty tiếp tục
mở rộng diện tích canh tác mía, bắp, đậu nành cho mục tiêu sản xuất xăng sinh học vừa tiêu thụ trong nước vừa xuất khẩu Giá xăng Etanol được bán bằng nửa giá xăng thường tại Brazil
Hoa kỳ sản xuất Etanol chủ yếu từ hạt bắp, hạt cao lương và thân cây cao lương ngọt, và củ cải đường Khoảng 17% sản lượng bắp sản xuất hàng năm ở Hoa Kỳ dùng để sản xuất Etanol Hoa Kỳ đặt chỉ tiêu sản xuất E10 để cung cấp 46% nhiên liệu cho xe hơi năm 2010, và 100% vào 2012 Hãng General Motor đang thực hiện dự án sản xuất E85 từ cellulose (thân bắp), và hiện có khoảng hơn 4 triệu xe hơi chạy bằng E85 Hảng Coskata đang có 2 nhà máy lớn sản xuất xăng Etanol Hiện tại nông dân Hoa Kỳ chuyển hướng sản xuất lúa mì và bắp cho xăng sinh học, vì vậy, số lượng xuất khẩu hạt ngũ cốc giảm từ nhiều năm nay, làm giá nông sản thế giới gia tăng Vì giá cả xăng sinh học còn cao hơn xăng thường nên chính phủ Mỹ phải trợ cấp, khoảng 1,9 USD cho mỗi gallon (=3,78 lít) xăng sinh học, trợ cấp tổng cộng khoảng
7 tỷ USD/năm
Trang 25Đức là nước tiêu thụ nhiều nhất xăng sinh học trong cộng đồng EU, trong đó có khoảng 0,48 triệu tấn Etanol Nguyên liệu chính sản xuất Etanol
là củ cải đường
Pháp là nước thứ hai tiêu thụ nhiều Etanol sinh học trong cộng đồng châu Âu với mức khoảng 1,07 triệu tấn Etanol và diesel sinh học năm 2006 Công ty Diester sản xuất diesel sinh học và Téréos sản xuất Etanol là 2 đại công ty của Pháp trong lĩnh vực sản xuất nhiên liệu sinh học
Thuỵ Điển có chương trình chấm dứt hoàn toàn nhập khẩu xăng cho xe hơi vào năm 2020, thay vào đó là tự túc bằng xăng sinh học Hiện nay, 20%
xe ở Thuỵ Điển chạy bằng xăng sinh học, nhất là xăng Etanol Thuỵ Điển đang chế tạo xe hơi vừa có khả năng chạy bằng Etanol vừa có khả năng chạy bằng điện Để khuyến khích sử dụng xăng sinh học, chính phủ Thuỵ Điển không đánh thuế xăng sinh học, và trợ cấp xăng sinh học rẻ hơn 20% so với xăng thông thường, không phải trả tiền đậu xe ở thủ đô và một số thành phố lớn, bảo hiểm xe cũng rẻ hơn
Vương quốc Anh đặt chỉ tiêu 5% xe giao thông sử dụng xăng sinh học vào năm 2010 Hiện tại các xe bus đều chạy xăng sinh học Hãng hàng không Virgin (Anh quốc) bắt đầu sử dụng xăng sinh học cho máy bay liên lục địa
Trung quốc đã sản xuất 920.000 tấn Etanol Chỉ tiêu sản xuất 6 triệu tấn Etanol vào năm 2013, và 300 triệu tấn Etanol vào 2020 Hiện nay Trung quốc chỉ cho phép trồng sắn, lúa miến ngọt và một số hoa màu không quan trọng khác trên các loại đất nghèo dinh dưỡng, không thích ứng sản xuất nông nghiệp như ở Shangdong và Xinjiang Uygur
Ở Ấn Độ, Chính phủ đã có chính sách sử dụng xăng Etanol E5 hiện nay, và E10 và E20 trong những năm tới Ấn Độ gia tăng diện tích trồng cây dầu lai để sản xuất diesel sinh học, và diện tích mía cho sản xuất xăng Etanol
Thái Lan bắt đầu nghiên cứu sản xuất xăng sinh học từ năm 1985 Năm
2001, Thái Lan thành lập Uỷ ban NLSH để điều hành và phát triển nghiên
Trang 26cứu NLSH Xăng E10 đã bắt đầu bán ở các trạm xăng từ 2003
Sử dụng Etanol sinh học: Etanol sinh học chủ yếu được nghiên cứu sử dụng làm nhiên liệu [28]: Etanol có thể làm phụ gia cấp oxy cho xăng (nồng
độ 3%) giảm phát thải khí CO đồng thời làm phụ gia thay thế chì tetraetyl, hoặc cũng có thể thành nguyên liệu sản xuất etyl ter-butyl eter (ETBE) – một phụ gia cho xăng Etanol còn được dùng làm yếu tố tăng chỉ số octan cho xăng và qua đó giảm nổ và cải thiện tiếng ồn động cơ
Chỉ số octan ở Etanol cao nên rất thích hợp với hệ đánh lửa động cơ đốt trong của ô tô, song chỉ số xetan thấp nên không thích hợp lắm với động
cơ diezel Giải pháp kỹ thuật đối với điều này là người ta sẽ đưa vào nhiên liệu một lượng nhỏ dầu diezel hoặc là sử dụng phụ gia
(Quy ước)
1 Công thức hóa học C2H5OH C4H9-OC2H5 C8H15
6 Áp lực bay hơi Reid là chỉ số đo độ
bay hơi của nhiên liệu (kPa) ở
Bảng 5: So sánh một số chỉ tiêu giữa Etanol, xăng và ETBE
Chỉ số octan của Etanol cao hơn xăng nên có tác dụng giảm tiếng ồn động cơ tốt hơn, hơn nữa Etanol chứa oxy nên hiệu quả nhiên liệu ở động cơ được cải thiện hơn Pha trộn với tỉ lệ hợp lý giữa Etanol và xăng sẽ làm tăng hiệu quả động cơ xe Các loại xe chạy nhiên liệu xăng pha Etanol được gọi là
Trang 27xe chạy nhiên liệu gasohol Thông thường gasohol có tỉ lệ pha trộn 10% Etanol và 90% xăng không pha chì (E10) Nếu xe được cải thiện bộ phận đánh lửa ở động cơ, có thể chạy với nhiên liệu gasohol E85 (85% Etanol và 15% xăng) Đa số các loại xe thiết kế ở Mỹ hiện nay có thể chạy nhiên liệu tùy ý cả E85 lẫn chạy hoàn toàn xăng (E0) Dùng gasohol có tỷ lệ pha trộn từ
10 – 30% Etanol vào xăng thì không cần cải tiến động cơ xe
b Xu hướng sản xuất Etanol từ nguyên liệu SK
Theo nhận định của ông Donald Coxe, nhà chiến lược hàng đầu, của tập đoàn tài chính BMO Canada, một cuộc khủng hoảng lương thực mới đang xuất hiện và sẽ trở nên trầm trọng hơn bất kỳ cuộc khủng hoảng lương thực nào trước đây thế giới từng chứng kiến Việc sử dụng đất để trồng cây nguyên liệu sản xuất nhiên liệu sinh học có thể ảnh hưởng đến nguồn cung cấp lương thực, hoặc làm tăng giá lương thực, đặc biệt đối với các nước đang phát triển Khi nông dân trồng cây nguyên liệu có lợi hơn trồng cây lương thực sẽ làm giảm sản lượng lương thực Để giải quyết nguồn nguyên liệu SK sản xuất năng lượng sinh học, ngoài cây lương thực, các quốc gia có nguy cơ thiếu nhiều năng lượng đang tìm kiếm các nguồn cây trồng khác có thể canh tác trên đất hoang hóa, trên cạn, dưới nước, đồng thời, tích cực tìm kiếm công nghệ mới thu hiệu suất cao, tiết kiệm nguyên liệu, hạ giá thành
Tính toán sản lượng lý thuyết Etanol từ 1 tấn nguyên liệu khô như Bảng 6
Nguyên liệu
Sản lượng dự tính (theo lý thuyết) cho mỗi
tấn nguyên liệu khô
Trang 28Phế phẩm của bong sợi 56,8 214,988
Bảng 6: Sản lượng lý thuyết Etanol sinh ra từ 1 tấn nguyên liệu khô [20]
c Tình hình nghiên cứu ứng dụng nhiên liệu sinh học tại Việt Nam [23]
Đứng trước cuộc khủng hoảng năng lượng trên, Việt nam cũng đã tiến hành nghiên cứu sử dụng các dạng năng lượng tái tạo Trong đó năng lượng sinh học rất được chú ý Các cuộc hội thảo diễn ra vào tháng 7/2006 tại Tp
Hồ Chí Minh và tháng 10/2007 tại Hà Nội đã thu hút sự chú ý của hàng trăm nhà khoa học và kinh doanh chung quanh vấn đề xăng sinhhọc Qua các cuộc hội thảo này, một số chuyên gia và nhà kinh doanh đã đề cập đến việc sử dụng lúa gạo, mía đường, để sản xuất Etanol; cây dầu lai (miền Bắc gọi là cây dầu mè – Jatropha curcas), mỡ cá ba sa (khoảng 40.000 tấn/năm) Hội thảo cũng đề cập đến 3 lý do chính hạn chế phát triển xăng sinh học là: (i) số lượng nguyên liệu sản xuất xăng sinh học là tinh bột ngũ cốc, mật rỉ đường và
mỡ cá ba sa còn hạn chế; (ii) chưa có đầu tư thích đáng vì chưa có hỗ trợ của Chính phủ, (iii) Chính phủ chưa có chính sách, chiến lược phát triển NLSH Các nhà khoa học và kinh doanh đang mong chờ Chính phủ ban hành chính sách và luật lệ rõ ràng Nhiều công ty đã sẵn sàng đầu tư nghiên cứu phát triển NLSH như mía đường Lam Sơn ở Thanh Hoá, Sài Gòn Petro, Công ty Rượu Bình Tây, Công ty Chí Hùng, v.v Tuy nhiên chưa có một nhà kinh doanh nào dám mạnh dạn đầu tư nghiên cứu khi chính phủ chưa có chính sách quy định cụ thể
“Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025” đã được Chính phủ phê duyệt vào ngày 20/11/2007 theo đó “Giai đoạn
Trang 292011-2015, sẽ phát triển mạnh sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học thay thế nhiên liệu truyền thống, mở rộng quy mô sản xuất và mạng lưới phân phối phục vụ cho giao thông và các ngành sản xuất công nghiệp khác Đến năm 2020, công nghệ sản xuất nhiên liệu sinh học ở Việt Nam sẽ đạt trình độ tiên tiến trên thế giới, với sản lượng đạt khoảng 5 tỷ lít xăng E10 và 500 triệu lít dầu Biodiesel B10/năm”
Việt Nam với đất hẹp (diện tích canh tác khoảng 9,3 triệu ha), dân đông (85 triệu năm 2007, trung bình mỗi đầu người 0,11 ha), lại nghèo (GDP trung bình là US$726/đầu người năm 2006), vùng sản xuất nông nghiệp chính là đồng bằng Cửu Long và Sông Hồng đã quá tải Đất canh tác hiện nay phải tiếp tục sản xuất lương thực thiết yếu cho đời sống người dân Vì vậy, Việt Nam phải tìm nguồn nguyên liệu thực vật nào để sản xuất xăng sinh học
mà không ảnh hưởng đến sản xuất và cung cấp lương thực Cụ thể là: (i) không ảnh hưởng đến diện tích đất trồng cây lương thực, chăn nuôi gia súc, nuôi cá tôm hiện tại; (ii) không được phá thêm rừng; (iii) thích hợp trên diện tích đất bỏ hoang cằn cổi, sa mạc hoá, tổng cộng khoảng 10 triệu ha, gồm đất đồi trọc ở Miền Bắc (4,77 triệu ha), Bắc Trung Bộ (1,9 triệu ha), phía Nam Trung Bộ (1,63 triệu ha), và Tây nguyên (1,05 triệu ha, (iv) có hiệu quả kinh
tế cao; (v) tăng lợi nhuận, giúp xoá đói giảm nghèo cho nông dân
Hiện nay, cây lúa miến ngọt (sweet sorghum) là một cây trồng được quan tâm trrong nghiên cứu sản xuất Etanol sinh học: Trồng cây lúa miến ngọt trong mùa hạn trên vùng ruộng sạ ở đồng bằng Cửu Long Trước 1960, sau khi gặt lúa sạ, tại An Giang Châu Đốc đất bỏ hoang từ tháng 1 đến tháng
5 dương lịch là lúc mùa khô, thiếu nước canh tác Bắt đầu khoảng sau 1965, nông dân trồng cây lúa miến trong các tháng mùa khô trên đất thiếu nước để làm thức ăn cho gia súc và cá, và lúa thuần nông trên một số ruộng đất dọc sông rạch có khả năng bơm nước Hiện nay, đa số đất còn bỏ hoang trong mùa khô vì thiếu nước, hay không có lợi khi canh tác lúa (vì giá xăng, phân,
Trang 30thuốc quá cao)
Lúa miến chịu hạn hán, chịu được đất phèn, đất mặn, đất kiềm, chịu được nước ngập, ít sâu bọ bệnh tật, ít đòi hỏi phân bón, ít tốn nước tưới (chỉ bằng 1/4 nhu cầu nước của mía) Đây là loại cây trồng phù phợp với đất vùng
Tứ Giác Long Xuyên
1.4 Vai trò của vi sinh vật trong việc phân giải hợp chất hữu cơ
1.4.1 Cellulosese và vi sinh vật phân giải cellulosese
a Cellulose
Cellulose là thành phần chủ yếu của vách tế bào thực vật và chiếm 50% tổng lượng hydrocacbon trên trái đất Ngoài thực vật, cellulose cũng là nguồn chủ yếu trong SK động vật, nhưng số lượng ít hơn Cellulose là polysacarit gồm có anhydro- D- liên kết với nhau bằng liên kết -1,4-glucozit Mức độ polyme hóa của cellulose rất cao tới 10000-14000 đơn vị glucoza/ phân tử Số lượng lớn liên kết hydro nội và gian phân tử làm cho phân tử cellulose có độ cứng và vững chắc [36].
Liên kết glucozit không bền với axit, cellulose dễ bị phân hủy bởi acid
và tạo thành sản phẩm phân hủy không hoàn toàn là hydro- cellulose có độ bền cơ học kém hơn cellulose nguyên thủy, còn khi thủy phân hoàn toàn thì sản phẩm tạo thành là D-glucoza
Trang 31Về bản chất hóa học, cellulose là một rượu đa chức có phản ứng với kiềm hay kim loại kiềm tạo thành cellulose-ancolat Nguyên tử hydro ở các ở các nhóm OH bậc một và hai trong phân tử Cellulose cũng có thể bị thay thế bởi các gốc – metyl, -etyl,… tạo ra những chất có độ kết tinh và độ hòa tan trong nước khác nhau
Cellulose cũng bị oxy hóa bởi một số tác nhân tạo thành sản phẩm oxy hóa một phần là oxy- Cellulose Tác nhân oxy hóa chọn lọc nhất là acid iodic (HIO4), và muối của nó Cellulose không tan trong nước, dung dịch kiềm làm trương phồng mạch Cellulose và hòa tan một phần Cellulose phân tử nhỏ Đặc biệt Cellulose dễ hòa tan trong dung dịch đồng amin hydrat (Cu(NH3)4(OH)2), và hàng loạt các dung dịch là các phức chất của đồng, niken, cadmi, kẽm….[37]
b.Vi sinh vật phân giải cellulose
Vi sinh vật có khả năng phân giải cellulose là những vi sinh vật có khả năng tổng hợp được hệ enzym celluloza Hệ enzym celluloza gồm bốn enzym khác nhau [32,34]
CelloBiohydrolaza có tác dụng cắt đứt liên kết hydro làm biến dạng celluloza tự nhiên, phân giải vùng kết tinh tạo dạng cấu trúc vô định hình
Endoglucanaza có khả năng cắt đứt các liên kết β 1-4 glucozit bên trong phân tử tạo thành những chuỗi dài
Exo-gluconaza có khả năng phân giải các chuỗi dài trên thành các disacarit gọi là xelloBioza β-gluconaza sẽ thuỷ phân xelloBioza thành glucoza
Trong tự nhiên có rất nhiều nhóm vi sinh vật có khả năng phân huỷ celluloseza nhờ hệ enzym xellulaza ngoại bào [30, 36, 37]:
Nấm mốc (Aspergillus, Fusarium, Mucor, Tricoderma ) có cấu tạo dạng hệ sợi, sinh sản chủ yếu bằng bào tử Chúng phát triển mạnh ở nhiệt độ 25-300C và pH= 6,5 - 7,0, chúng có khả năng phân giải cellulose mạnh nhất