1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tài liệu Tìm hiểu sự biến động của lãi suất trong thời gian qua thông qua cơ chế điều hành lãi suất docx

16 710 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu sự biến động của lãi suất trong thời gian qua thông qua cơ chế điều hành lãi suất
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 244,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌM HIỂU SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT QUA CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT: Trong những thập kỷ gần đây, thị trường tài chính - tiền tệ thế giới có sự phát triển vượt bậc về quy mô và chiều sâu,

Trang 1

I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG (CƠ BẢN) VỀ LÃI SUẤT:

1- Lãi suất :

+ Lãi suất là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong

một khoảng thời gian nhất định Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được

sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu

+ Có nhiều loại lãi suất như: lãi suất tiền vay; lãi suất tiền gửi; lãi suất tái cấp vốn; lãi suất liên ngân hàng, v.v

2- Tác động của lãi suất tới nền kinh tế :

Đối với nền kinh tế Việt Nam từ khi chuyển mình từ nền kinh tế tập trung

sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, lãi suất trở thành công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước Lãi suất đã góp phần kiềm chế lạm phát cũng như kích thích tăng trưởng và phát triển kinh

tế trong công cuộc đổi mới của đất nước

+ Thông qua vay nợ: Lãi suất tăng làm giảm vay nợ Cá nhân giảm đi vay và tăng gửi tiết kiệm, do đó giảm tiêu dùng và tác động tiêu cực tới tổng cầu

Doanh nghiệp giảm vay mới và do đó giảm đầu tư mới, nên tác động tiêu cực tới tổng cầu Mặt khác, lãi suất tăng còn có nghĩa là giá cả các khoản vay hiện thời của doanh nghiệp tăng, có nghĩa là giá vốn tăng hay chi phí sản xuất tăng Điều này làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp sản xuất; do đó tác động tiêu cực tới tổng cầu Giãn thợ còn làm giảm thu nhập của người lao động Điều này khiến họ giảm tiêu dùng Tổng cầu lại chịu tác động tiêu cực

Đối với hoạt động vay cầm cố, khi lãi suất tăng người ta sẽ giảm nhu cầu vay để xây hay mua nhà, do đó đầu tư xây nhà giảm, ảnh hưởng tiêu cực tới tổng cầu

Nó còn khiến cho việc trả nợ các khoản vay cầm cố hiện thời trở nên khó khăn hơn khiến người đi vay phải giảm tiêu dùng để còn trả nợ Tổng cầu vì thế chịu tác động tiêu cực

+ Thông qua tỉ giá hối đoái : lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất

ở nước ngoài sẽ khiến cho dòng vốn từ nước ngoài tăng cường chảy vào trong nước.Điều này làm cho tỷ giá hối đoái giữa nội tệ với ngoại tệ giảm xuống Xuất khẩu ròng vì thế giảm đi, khiến cho tổng cầu giảm theo

Trang 2

II TÌM HIỂU SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT QUA CƠ

CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT:

Trong những thập kỷ gần đây, thị trường tài chính - tiền tệ thế giới có sự phát triển vượt bậc về quy mô và chiều sâu, cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước thay đổi theo hướng tự do hoá Tuy nhiên, ở mỗi nước, NHTW căn cứ vào luật định, điều kiện và bối cảnh phát triển kinh tế

- xã hội, thị trường tài chính - tiền tệ, cũng như địa vị pháp lý của NHTW, mục tiêu của chính sách tiền tệ (lạm phát hoặc đa mục tiêu) để áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp trong từng thời kỳ nhằm ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế

Kiểm soát các biến động về lãi suất (26/05/2008) :

Với cơ chế điều hành lãi suất mới, từ nay, các ngân hàng thương mại sẽ phải đặc biệt quan tâm đến các quyết định về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước

Lãi suất kinh doanh của các NH (kể cả lãi suất trên thị trường liên NH) sẽ phải xoay quanh mức lãi suất cơ bản (LSCB)

Như vậy bằng cơ chế điều hành LSCB, NHNN có nhiều khả năng hơn trong việc điều chỉnh tốc độ tăng trưởng tiền tệ, tín dụng hiệu quả Xu hướng, thời điểm và cường độ của các thay đổi về lãi suất là mối quan tâm lớn của thị

trường, các Nhà đầu tư và dân cư

1- Lãi suất huy động:

Lãi suất huy động là lãi suất tiền gửi,lãi suất huy động càng lớn thì càng nhiều người gửi tiền vào ngân hàng và ngược lại

Đối với lãi suất huy động vốn, NHNN quy định thông qua các lần điều

chỉnh sau:

1 Ấn định mức cố định từ ngày 01/10/1982 theo Nghị định 165/HĐBT ngày 23/9/1982;

2 Khống chế chênh lệch bình quân giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay là 0,35%/tháng còn mức cụ thể giao cho các NHTM tự quy định theo Quyết định

số 381/QĐ-NH1 ngày 28/12/1995;

Trang 3

3 Đến ngày 28/6/1997, lãi suất huy động vốn đã thực sự tuân theo quy luật thị trường khi NHNN hoàn toàn trao quyền cho các NHTM quyết định để phù hợp với thời hạn của từng loại tiền gửi, địa bàn kinh doanh của từng tổ chức tín dụng;

4 Hiện nay, ngày 16/5/2008, bằng Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN lãi suất huy động sẽ chính thức bị khống chế trong hạn mức không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN quy định (trừ trường hợp cho vay các nhu cầu vốn phục

vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng theo quy định tại Thông tư số 01/2009/TT-NHNN ngày 23/01/2009)

Trong tuần từ 06 - 03/07,lãi suất huy động bằng VND ổn định, cá biệt có NH Sài Gòn – Hà Nội tăng từ 0,2-0,4%/năm; mức lãi suất cao nhất hiện nay là 10,2%/năm của NH Việt Nam Tín Nghĩa áp dụng đối với kỳ hạn 36 tháng Mức lãi suất huy động bình quân cụ thể như sau:

Lãi suất

huy động

bình quân

Loại tiền

Không kỳ hạn

(%/năm)

3 tháng (%/năm)

6 tháng (%/năm)

12 tháng (%/năm)

Nhóm

NHTMNN

VND USD

2,88 0,20

7,52 1,10

7,85 1,26

8,01 1,48 Nhóm

NHTMCP

VND USD

2,92 0,42

7,99 1,51

8,30 1,69

8,53 2,05

Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tuần tính từ ngày 14 - 22/5/2009, số dư tiền gửi của các tổ chức tín dụng tại NHNN đảm bảo yêu cầu dự trữ bắt buộc và khả năng thanh toán Lãi suất huy động bằng VND của một số ngân hàng

TMCP: Sài Gòn, Kỹ thương, Ngoài quốc doanh, An Bình điều chỉnh tăng từ 0,2

- 0,5%/năm

Trong khi đó, lãi suất huy động bằng USD của Ngân hàng TMCP Quân đội điều chỉnh giảm, với mức giảm từ 0,1 - 0,2%/năm

Mức lãi suất huy động bình quân đến ngày 22/5 cụ thể như sau:

Lãi suất

huy động

bình quân

Loại tiền

Không kỳ hạn

(%/năm)

3 tháng (%/năm)

6 tháng (%/năm)

12 tháng (%/năm)

Nhóm

NHTMNN

VND USD

2,88 0,36

7,30 1,24

7,50 1,54

7,85 1,92 Nhóm

NHTMCP

VND USD

2,87 0,50

7,68 1,78

7,87 2,05

8,12 2,40

Trang 4

Dưới đây là biểu lãi suất huy động tiết kiệm:

BIỂU LÃI SUẤT HUY ĐỘNG TIẾT KIỆM - PG BANK

(Áp dụng cho các cá nhân, tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể)

Kì hạn

TIỀN GỬI VNĐ Trả lãi hàng tháng (%/năm) (Áp dụng từ 13/10/2009)

TIỀN GỬI VND Trả lãi cuối kỳ (%/năm) (Áp dụng từ 13/10/2009)

TIỀN GỬI USD Trả lãi cuối kỳ (%/năm) (Áp dụng từ 13/10/2009)

BIỂU LÃI SUẤT TIỀN GỬI BẰNG NGOẠI TỆ - PG BANK

(Áp dụng cho các cá nhân, tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể)

Kì hạn

TIỀN GỬI AUD Trả lãi cuối kỳ (%/năm)

TIỀN GỬI EUR Trả lãi cuối kỳ (%/năm)

Áp dụng từ 24/02/2009

Biểu lãi suất áp dụng cho sản phẩm

Trang 5

" Tiết kiệm rút gốc từng phần linh hoạt VND"

(Áp dụng cho các cá nhân, tổ chức chính trị, xã hội, đoàn

thể

từ 24/08/2009)

Kì hạn (%/năm) Lãi suất

Biểu lãi suất áp dụng cho sản phẩm

" Tài khoản tiền gửi rút gốc linh hoạt VND"

(Áp dụng cho các cá nhân, tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể

từ 05/08/2009)

Mức tiền gửi Lãi suất (%/năm)

trả lãi cuối tháng

Từ 100 triệu đồng đến 500 triệsu đồng 5.00%

Từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng 5.20%

Thực tế, lãi suất huy động được các ngân hàng liên tiếp điều chỉnh, nhất là từ giữa năm 2006 đến hết quý 2/2007 Để giữ chân khách hàng trong bối cảnh chứng khoán tăng mạnh ở thời điểm trên, lãi suất huy động đã tăng trên dưới

Trang 6

20% trong vòng một năm qua Đặc biệt là những ngân hàng vừa được chuyển đổi mô hình hoạt động từ nông thôn lên thành thị đã ra sức “chiêu dụ” khách hàng có lúc lãi suất huy động lên xấp xỉ 9,8%/năm (ở kỳ hạn 12 tháng)

Hiện Ngân hàng Navibank, Ngân hàng Kiên Long vẫn duy trì mức lãi suất huy động trên, cho dù đã có nhiều ngân hàng phải cắt giảm lãi suất để giảm chi phí đầu vào

Vài tháng gần đây đã có những chuyển động khác Cùng với chính sách thắt chặt cho vay cầm cố chứng khoán, NHNN đã ban hành Quyết định 1141/QĐ – NHNN ngày 31.5 về việc tăng dự trữ bắt buộc lên 10% (thay vì 5% như trước đó) khiến các ngân hàng gặp khó khăn trong huy động vốn Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng kéo theo chi phí đầu vào của ngân hàng đi lên Có nghĩa, trước đây huy động được 10 đồng, ngân hàng cho vay 9,5 đồng, nhưng sau khi quyết định trên được ban hành số tiền cho vay chỉ còn 9 đồng

Chính vì vậy, gần đây các ngân hàng chọn biện pháp cắt giảm lãi suất huy động

để giảm chi phí đầu vào Tính bình quân mức lãi suất cắt giảm của các ngân hàng lên đến 0,02 – 0,08%/tháng so với mức lãi suất huy động cũ Hiện đã có trên 15 ngân hàng cắt giảm lãi suất huy động

Rõ ràng lãi suất trên thị trường được điều chỉnh bởi quan hệ cung – cầu các ngân hàng cổ phần, hoàn toàn không phụ thuộc vào lãi suất cơ bản do NHNN công bố Thực tế, từ giữa năm 2006 đến hết quý 1/2007, vốn huy động của ngân hàng tăng chậm trước cơn lốc của thị trường chứng khoán Tổng vốn huy động của các ngân hàng trên địa bàn TP.HCM tính đến hết tháng 2.2007 ước đạt 303.700 tỉ đồng, chỉ tăng 0,8% so với một tháng trước và tăng 6,4% so với cuối năm 2006 Sức hấp dẫn của cổ phiếu đã hút dần vốn sang chứng khoán Chính

vì vậy các ngân hàng vẫn gồng mình đẩy lãi suất lên, chịu chi phí đầu vào cao

để huy động vốn

Đối với nước ta, cơ chế điều hành lãi suất có sự thay đổi qua nhiều giai đoạn; từ giữa tháng 5/2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam áp dụng

cơ chế điều hành lãi suất cơ bản:

Trang 7

- Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mà theo đó, các NHTM ấn định lãi suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố trong từng thời kỳ Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM; đồng thời, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt các mức lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu để điều tiết lãi suất thị trường tiền tệ Lãi suất cơ bản được xác định và công bố trên cơ sở xu hướng biến động cung - cầu vốn thị trường, mục tiêu của chính sách tiền tệ và các nhân tố tác động khác của thị trường tiền tệ, ngoại hối ở trong và ngoài nước

- Thiết lập một hành lang lãi suất thị trường liên ngân hàng với biên độ chênh lệch khoảng 2% để điều tiết lãi suất thị trường: (i) "Trần" là lãi suất tái cấp vốn,

"sàn" là lãi suất tái chiết khấu (hiện nay là 7% - 5%/năm); lãi suất cơ bản và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở biến động trong phạm vi hành lang này; (ii) Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò định hướng và thực hiện việc "bơm" tiền ra hoặc "hút" tiền về, từ đó tác động đến cung - cầu vốn, lãi suất thị trường liên ngân hàng và lãi suất huy động, cho vay của NHTM

Từ tháng 5 - 9/2008, NHNN điều hành chính sách tiền tệ "thắt chặt", các mức lãi suất chủ đạo được điều chỉnh tăng, lãi suất cơ bản từ 12%/năm lên

14%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 13%/năm lên 15%/năm, lãi suất tái chiết khấu

từ 11%/năm lên 13%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở từ 11,7%/năm lên 15%/năm Từ tháng 10/2008 đến nay, NHNN chuyển hướng điều hành chính sách tiền tệ từ "thắt chặt" để chống lạm phát sang "nới lỏng" nhằm mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế, điều chỉnh giảm mạnh lãi suất cơ bản

từ 14% - 13% - 11% - 8,5% - 7%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 15% - 13% - 12%

- 9,5% - 8% - 7%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 13% - 11% - 12% - 10% - 7,5%

- 6%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở từ 15% - 14,3% - 13,5% - 11% - 9%

- 8% - 7,5% - 7%/năm

2- Lãi suất cho vay:

Lãi suất cho vay là loại lãi suất quy định tỉ lệ lãi mà người đi vay phải trả cho người cho vay

Trong các HĐTD cho vay trung và dài hạn NH thường có thoả thuận với khách hàng là lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ theo công thức bằng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng tính theo năm trả lãi tại thời điểm điều chỉnh cộng với biên độ từ 3,7 đến 4,8%/năm Với mức lãi suất tiết kiệm cao như hiện nay thì khách hàng phải trả lãi suất lên tới 23-24%/năm

Để thống nhất thực hiện trong hệ thống phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, ngày 15/7/2008, NHNN đã ban hành văn bản

6399/NHNN-CSTT hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc áp dụng lãi suất theo quy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008

Trang 8

Theo đó, lãi suất cho vay có điều chỉnh được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 19/5/2008 (ngày Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN có hiệu lực thi hành), các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng theo lãi suất cho vay có điều chỉnh không vượt quá mức lãi suất cho vay theo quy định tại Quyết dịnh 16/2008/QĐ-NHNN

Đối với các hợp đồng tín dụng được ký kết trước ngày 19/5/2008, trong đó có thỏa thuận lãi suất cho vay có điều chỉnh, thì kể từ ngày 19/5/2008, mức lãi suất cho vay có điều chỉnh cũng không được vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN, tức là không quá

21%/năm

Ngày 28/10/2009, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam đã ban hành Quyết định số 2459/QĐ-NHNN về việc tiếp tục áp dụng mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 7%/năm Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2009 và thay thế Quyết định số 2232/QĐ-NHNN ngày 24/9/2009 của Thống đốc NHNN Việt Nam về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam Các mức lãi suất khác cũng được giữ như trước, cụ thể: Lãi suất tái cấp vốn của NHNN đối với các tổ chức tín dụng là 7%/năm; lãi suất tái chiết khấu của NHNN đối với tổ chức tín dụng là 5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán

bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng là 7%/năm

Tuần từ 06 - 03/07:

Lãi suất cho vay VND trung và dài hạn ổn định ở mức 10 - 10,5%/năm

Lãi suất cho vay thỏa thuận đối với các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phổ biến từ

12-16,5%/năm

*** Lãi suất VND :

Mặt bằng lãi suất cho vay VND tiếp tục ổn định so với tuần trước: Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND của nhóm Ngân hàng thương mại nhà nước phổ biến ở mức từ 8,5-10%/năm, trung và dài hạn từ 10-10,5%/năm Lãi suất cho vay bằng VND của nhóm NHTM cổ phần phổ biến ở mức từ 10-10,5%/năm

Lãi suất cho vay sau khi trừ đi phần hỗ trợ lãi suất phổ biến ở mức từ

4,5-6%/năm

Trang 9

Lãi suất cho vay thỏa thuận đối với các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phổ biến từ

12-16,5%/năm

*** Lãi suất USD :

Lãi suất cho vay USD cũng ổn định so với tuần trước Hiện tại, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng USD của nhóm NHTM nhà nước phổ biến ở mức 3%/năm, trung

và dài hạn từ 3,5-5%/năm

Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng USD của nhóm NHTM cổ phần phổ biến ở mức từ 3-5%/năm, trung và dài hạn từ 4-6%/năm

Theo số liệu báo cáo nhanh của các tổ chức tín dụng, trong tuần, lãi suất giao dịch bình quân bằng VND trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng các kỳ hạn 1 tháng, 6 tháng và 12 tháng có xu hướng giảm so với số liệu tuần trước; trong đó lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng có mức giảm cao nhất (0,77%/năm)

Lãi suất bình quân các kỳ hạn còn lại (qua đêm, 1 tuần, 2 tuần và 3 tháng) có xu hướng tăng nhẹ so với tuần trước, tuy nhiên mức tăng không nhiều (dưới

0,3%/năm) Lãi suất bình quân qua đêm là 5,73%/năm (tăng 0,29%/năm so với tuần trước), lãi suất các kỳ hạn còn lại dao động trong khoảng từ 6,6% đến trên 8,45%/năm

Đối với các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng bằng USD, lãi suất bình quân các kỳ hạn qua đêm và 2 tuần có xu hướng tăng; lãi suất các kỳ hạn 1 tuần, 1 tháng và 3 tháng có xu hướng giảm; tuy nhiên ở tất cả các kỳ hạn mức thay đổi đều không lớn (từ 0,03 đến 0,21%/năm)

Lãi suất bình quân cao nhất là 1,90%/năm (đối với kỳ hạn 6 tháng), lãi suất các

kỳ hạn còn lại dao động trong khoảng 0,45%/năm đến 1,75%/năm

Trong tuần qua, các Ngân hàng thương mại có xu hướng để tỷ giá niêm yết mua

và bán USD/VND ở mức sát trần, tỷ giá niêm yết bán USD/VND phổ biến quanh mức 17.800 – 17.804

Trên thị trường có hiện tượng một số tổ chức tín dụng (TCTD) được phép hoạt động mua bán ngoại hối mua bán đô la Mỹ với khách hàng vượt mức tỷ giá trần theo quy định

Trước tình hình trên, để hoạt động mua bán ngoại tệ của các TCTD trên thị trường thực hiện đúng quy định của pháp luật, ngày 1/7/2009, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã có công văn số 4941/NHNN-QLNH gửi Tổng Giám đốc các TCTD về việc chấn chỉnh hoạt động mua bán ngoại tệ

Bên cạnh đó, NHNN đang tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường, điều hành

tỷ giá tương đối ổn định, áp dụng các biện pháp can thiệp thích hợp để thị trường ngoại hối hoạt động tích cực hơn

Trang 10

Ngày 01 / 02/ 2009 : Lãi suất cho vay VND thấp nhất 6,5%/năm :

Từ ngày 1/2, lãi suất cho vay của các ngân hàng giảm xuống còn 8% một năm, sau khi Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh lãi suất cơ bản về 7% hồi trước Tết Ngân hàng Đầu tư phát triển VN (BIDV) trở thành nhà băng đầu tiên công bố điều chỉnh giảm lãi suất đồng nội tệ đầu tiên trong năm 2009 Lần giảm gần đây nhất được BIDV công bố vào ngày 4/12/2008

Lần này, lãi suất cho vay VND của BIDV tối đa là 10,5% một năm Lãi suất cho vay ngắn hạn thời hạn đến 3 tháng là 8% một năm đối với các khoản vay xuất khẩu có hợp đồng xuất khẩu trực tiếp và khách hàng cam kết bán lại ngoại

tệ tương ứng cho BIDV

Lãi suất cho vay ngắn hạn với thời hạn đến 3 tháng là 9% một năm Trường hợp thời hạn vay trên 3 tháng, lãi suất áp dụng trên 9% đến tối đa 10% một năm Lãi suất cho vay trung dài hạn VND của BIDV từ nay bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng trả sau cộng với phí tối thiểu là 3% một năm nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản

Cũng theo thống kê từ NHNN, mặt bằng lãi suất cho vay tương đối ổn định ở mức: Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước phổ biến ở mức từ 8,5 - 10%/năm, trung và dài hạn từ 10 -

10,5%/năm

Lãi suất cho vay VND của nhóm ngân hàng TMCP phổ biến ở mức từ 10 - 10,5%/năm Lãi suất cho vay sau khi trừ đi phần hỗ trợ lãi suất phổ biến ở mức

từ 4,5 - 6%/năm Lãi suất cho vay USD ở mức 6 - 7%/năm

Tuy nhiên, lãi suất cho vay thỏa thuận đối với các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phổ biến

từ 12 - 16,5%/năm

Ngày 05/ 02 /2009 :

Sau khi lãi suất cơ bản được điều chỉnh giảm, các ngân hàng thương mại tiếp tục công bố giảm lãi suất cho vay, với mức vay trung và dài hạn là 10,5%/năm, vay ưu đãi có thể dao động từ 7-9%/năm

Ngân hàng Liên Việt (LienVietBank) áp dụng mức lãi suất cho vay kể từ tháng 2/2009 là 10,5%/năm với cho vay thông thường bằng VND và mức ưu đãi 9,5% với các khách hàng có nguồn tiền gửi thường xuyên tại ngân hàng, khách hàng hoạt động trong các lĩnh nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu thủy hải sản, thu mua, chế biến xuất khẩu lương thực; khách hàng doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân

có nhu cầu vay phát triển làng nghề Ngân hàng này cũng giảm lãi suất cho vay

Ngày đăng: 17/12/2013, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w