Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp địa phương đánh giá phân tích được kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 thực hiện đến năm 2015 và kế hoạch
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nghiên cứu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và thông tin trong luận văn đã được trích dẫn cụ thể, chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Lợi
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn trước hết tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Thanh Đức, phó trưởng phòng Đào tạo đại học, trường Đại học Nông Lâm – Đại học Huế đã
trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo của trường Đại học Nông Lâm – Đại học Huế đã hướng dẫn, góp ý và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Trung, các phòng, các trung tâm của Phân viện tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho tôi trong suốt thời gian theo học và thực hiện đề tài này
Xin chân thành cảm ơn UBND huyện Khánh Vĩnh, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Thống kê và các xã, thị trấn của huyện đã giúp đỡ tôi trong quá trình
thực hiện đề tài; cảm ơn gia đình, người thân, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ tinh
thần để tôi hoàn thành đề tài này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Lợi
Trang 3TÓM TẮT
Đề tài đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011 – 2015) và
đề xuất giải pháp thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của huyện Khánh
Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa với 3 mục tiêu cụ thể: (1) Đánh giá kết quả thực hiện sử dụng
đất kỳ đầu 2011- 2015, (2) Phân tích kết quả đạt được, nguyên nhân tồn tại hạn chế
trong lĩnh vực thực hiện quy hoạch sử dụng đất và (3) Đề xuất các giải pháp thực hiện
quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu
chính: Phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp thu thập số liệu (thu thập số liệu
sơ cấp, thu thập số liệu thứ cấp), phương pháp chuyên gia, phương pháp thống kê và
phân tích, xử lý số liệu tổng hợp, phương pháp minh hoạ biểu đồ, bản đồ
Kết quả nghiên cứu cho thấy, huyện Khánh Vĩnh nằm ở phía Tây của tỉnh Khánh Hòa, tiếp giáp với tỉnh Lâm Đồng; với vị trí thuận lợi về địa lý, kết nối với các
tỉnh Tây Nguyên, thúc đẩy phát triển thông thương hàng hóa, dịch vụ du lịch Trong
những năm qua huyện có những bước phát triển kinh tế đáng khích lệ; đời sống vật
chất và tinh thần của người dân ngày càng được ổn định và nâng cao Trong những
năm qua công tác quản lý đất đai trên địa bàn huyện rất được quan tâm với việc thực
hiện tốt 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai (theo Luật Đất đai năm 2003) và 15
nội dung quản lý nhà nước về đất đai (theo Luật Đất đai năm 2013) Theo kết quả
thống kê đất đai năm 2015, tổng diện tích tự nhiên của huyện có 116.714,37 ha, được
phân bố ở 14 xã, thị trấn (1 thị trấn, 13 xã) trong đó: Đất nông nghiệp có
102.697,87ha, chiếm 87,99% diện tích tự nhiên; đất phi nông nghiệp có 3.314,18 ha,
chiếm 2,69% diện tích tự nhiên; đất chưa sử dụng có 10.882,32 ha, chiếm 9,32% diện
tích tự nhiên Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011 – 2015)
cho thấy: Đến năm 2015 nhóm đất nông nghiệp thực hiện đạt 100,94%, nhóm đất phi
nông nghiệp thực hiện đạt 90,95%, nhóm đất chưa sử dụng đạt 105,90% so với chỉ tiêu
kế hoạch được duyệt Tuy một số chỉ tiêu kế hoạch thực hiện đạt kết quả cao, nhưng
trong quá trình thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu của huyện còn một số vấn đề
tồn tại sau: Nhiều chỉ tiêu đưa vào kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu nhưng đến năm cuối
kỳ vẫn chưa triển khai thực hiện (đất quốc phòng, đất khai thác khoáng sản, vật liệu
xây dựng, đất sản xuất kinh doanh ) Một số công trình, dự án không có trong kế
hoạch sử dụng đất kỳ đầu nhưng vẫn triển khai thực hiện, trong khi đó nhiều công
trình có trong kế hoạch lại không được triển khai thực hiện Nhiều chỉ tiêu đất nông
nghiệp, kết quả thực hiện đạt cao hơn kế hoạch được duyệt nhưng không phá vỡ quy
hoạch, kế hoạch mà còn góp phần phát triển kinh tế xã hội theo hướng ngày càng bền
vững Trên cơ sở đánh giá về tình hình thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu của
huyện, với mục tiêu sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường
sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu, đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế - xã
Trang 4hội và đảm bảo quốc phòng an ninh trong thời gian tới cần có sự kết hợp tốt 5 nhóm
giải pháp chính về chính sách; nguồn lực và vốn đầu tư; khoa học và công nghệ; bảo
vệ, cải tạo đất và cải tạo môi trường; tổ chức thực hiện
Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị cũng được đưa ra để nâng cao chất lượng công tác lập quy hoạch, kế hoạch và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất của huyện Khánh Vĩnh đó là: Cần bố trí đủ vốn để thực hiện công tác lập quy
hoạch và kế hoạch hàng năm, nhằm thống nhất về chỉ tiêu sử dụng đất, các khu vực
quy hoạch, những vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất giữa quy hoạch trung hạn và
kế hoạch ngắn hạn Có như vậy sản phẩm quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất mới sớm
phát huy hiệu quả sử dụng để việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích
sử dụng đất đúng theo quy hoạch và pháp luật Đối với quy hoạch sử dụng đất cấp
huyện thì nên bỏ quy trình thông qua Hội đồng nhân dân vì trong một năm HĐND cấp
huyện thường chỉ họp 02 lần, gây ra chậm tiến độ và hiệu quả của phương án quy
hoạch sử dụng đất Đối với góc độ quản lý tại địa phương, UBND huyện và phòng Tài
nguyên và Môi trường cần xử lý nghiêm đối với các trường hợp thực hiện sai quy
hoạch và kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt; không bố trí các dự án nằm ngoài vị
trí đã được xác định trong quy hoạch, kế hoạch; kiên quyết thu hồi lại đất đối với các
trường hợp sử dụng đất sai quy hoạch, sai mục đích, kém hiệu quả và tiến độ thực hiện
dự án chậm theo quy định của Luật Đất đai năm 2013
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG x
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ xi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận các vấn đề nghiên cứu 3
1.1.1 Những cơ sở lý luận cho lập quy hoạch sử dụng đất 3
1.1.2 Khái quát một số vấn đề cơ bản về đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất 5
1.2 Cơ sở thực tiễn các vấn đề nghiên cứu 7
1.2.1 Thực tiễn công tác quy hoạch sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam 7
1.2.2 Tình hình chung về quy hoạch và thực hiện quy hoạch sử dụng đất của tỉnh Khánh Hòa 15
1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan 17
Trang 6CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
2.2 Nội dung nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Khánh Vĩnh 23
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 23
3.1.2 Các nguồn tài nguyên 28
3.1.3 Thực trạng môi trường 33
3.1.4 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội 33
3.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường 44
3.2 Khái quát tình hình quản lý và sử dụng đất huyện Khánh Vĩnh 45
3.2.1 Đánh giá chung về tình hình quản lý, sử dụng đất 45
3.2.2 Phân tích hiện trạng sử dụng đất năm 2015 huyện Khánh Vĩnh 51
3.2.3 Phân tích biến động đất đai 2010-2015 huyện Khánh Vĩnh 59
3.3 Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011-2015) của huyện Khánh Vĩnh 61
3.3.1 Khái quát quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu 2011 – 2015 của huyện Khánh Vĩnh 61
3.3.2 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu 2011-2015 63
3.3.3 Đánh giá những mặt được, những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại trong thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu 73
3.4 Đề xuất giải pháp thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 77
3.4.1 Giải pháp về chính sách 77
3.4.2 Giải pháp về nguồn lực và vốn đầu tư 77
3.4.3 Giải pháp về khoa học - công nghệ 78
Trang 73.4.4 Giải pháp bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường 79
3.4.5 Giải pháp về tổ chức thực hiện 79
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Diện tích, tỷ lệ các loại đất huyện Khánh Vĩnh 28
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Khánh Vĩnh năm 2015 53
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp huyện Khánh Vĩnh năm 2015 55
Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất chưa sử dụng huyện Khánh Vĩnh năm 2015 56
Bảng 3.5 Chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu của huyện Khánh Vĩnh 63
Bảng 3.6 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch kỳ đầu đến năm 2015 64
Bảng 3.7 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu đất nông nghiệp của huyện Khánh Vĩnh đến
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang
Hình 3.1 Sơ đồ hành chính huyện Khánh Vĩnh 24
Hình 3.2 Bản đồ mạng lưới thủy văn huyện Khánh Vĩnh 27
Hình 3.3 Bản đồ hiện trạng rừng huyện Khánh Vĩnh năm 2015 31
Hình 3.4 Diện tích và cơ cấu sử dụng đất huyện Khánh Vĩnh năm 2015 56
Hình 3.5 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất của huyện Khánh Vĩnh năm 2015 58
Hình 3.6 Bản đồ quy hoạch sử dụng đất huyện Khánh Vĩnh đến năm 2020 62
Hình 3.7 Kết quả thực hiện KH sử dụng đất kỳ đầu huyện Khánh Vĩnh 67
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền sản xuất xã hội, đất đai giữ vị trí và có ý nghĩa quan trọng, là điều kiện chung nhất với mọi quá trình sản xuất và hoạt động con người Đất đai được nhìn
nhận là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan
trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các công trình kinh tế,
văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013[12], tại chương 3, Điều 53 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn
lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu
tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và
thống nhất quản lý” Tại Điều 54 quy định: “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc
gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật”
Điều 22 Luật Đất đai 2013 qui định “quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất”
là một trong 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai Quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất được thực hiện ở cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện (có tích hợp chi tiết đến từng
xã)[13] Điều đó cho thấy quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có vai trò vị trí quan trọng
trong công tác quản lý đất đai, là yêu cầu đặt ra đối với mọi quốc gia, cũng như tất cả
các cấp các ngành của địa phương, trong sự nghiệp phát triển phát triển kinh tế, xã hội
Là cơ sở cho việc tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có
hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư
liệu sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai
và môi trường
Tuy nhiên, quá trình triển khai lập và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn nhiều hạn chế bất cập Việc tổ chức thực hiện phương án quy hoạch sử
dụng đất được phê duyệt còn thiếu đồng bộ, thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát dẫn đến tình
trạng “quy hoạch treo” Nhiều phương án quy hoạch chưa dự báo được hết tốc độ phát
triển kinh tế xã hội của địa phương trong kỳ quy hoạch, việc bố trí quỹ đất cho các thành
phần kinh tế không sát với với nhu cầu thực tế, dẫn đến quá trình thực hiện phải điều
chỉnh bổ sung cho phù hợp
Khánh Vĩnh là huyện miền núi, nằm phía Tây tỉnh Khánh Hoà; cách Tp Nha Trang 35 km; tổng diện tích đất tự nhiên (DTTN) toàn huyện có 116.714,37ha, chiếm
22,37% tổng DTTN toàn tỉnh Huyện có lợi thế, tiềm năng đất đai để phát triển nông
nghiệp, thương mại và dịch vụ Thực hiện Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi
hành Luật, UBND huyện Khánh Vĩnh đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất đến năm
2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu 2011 – 2015 được UBND tỉnh Khánh Hòa phê
duyệt tại Quyết định số 436/QĐ-UBND ngày 26/02/2014
Trang 13Việc triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được 5 năm (thực
hiện xong kỳ đầu 2011 - 2015) nhưng đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu, đánh giá
đúng mức về kết quả thực hiện, nguyên nhân tồn tại trong quá trình thực hiện quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu để rút kinh nghiệm toàn diện và đầy đủ việc thực hiện quy
hoạch sử dụng đất đến năm 2020, lập kế hoạch sử dụng đất năm 2016 của huyện
Để đánh giá một cách chính xác kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu trong phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020; phân tích, đánh giá những kết quả
đã đạt được và những tồn tại trong quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch; kiến nghị các
giải pháp thực hiện nhằm nâng cao tính khả thi, hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất đến
năm 2020, lập kế hoạch sử dụng đất năm 2016 là việc làm cần thiết
Xuất phát từ những yêu cầu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011 – 2015) và đề xuất giải pháp thực
hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa”
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá được kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất thời kỳ đầu (2011-2015)
từ đó đề xuất các giải pháp cho việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020
của huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa;
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá kết quả thực hiện sử dụng đất kỳ đầu 2011 - 2015;
- Phân tích kết quả đạt được, nguyên nhân tồn tại hạn chế trong lĩnh vực thực hiện quy hoạch sử dụng đất;
- Đề xuất các giải pháp thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020;
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là những dẫn liệu cụ thể, làm cơ sở khoa học
để đánh giá quá trình tổ chức thực hiện một phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất sử dụng đất tại một địa phương cụ thể
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp địa phương đánh giá phân tích được kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 (thực hiện đến năm 2015)
và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu 2011 – 2015, từ đó đề xuất những giải pháp cho việc
quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, lập kế hoạch sử dụng đất năm 2016 phù hợp với
yêu cầu sử dụng đất của các ngành, các lĩnh vực kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường,
đáp ứng yêu cầu xây dựng huyện Khánh Vĩnh ngày càng phát triển trong tương lai
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận các vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Những cơ sở lý luận cho lập quy hoạch sử dụng đất
1.1.1.1 Khái nhiệm về quy hoạch sử dụng đất
Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất được xác định theo những quan điểm sau [14]:
- Xét trên quan điểm đất đai là địa điểm của một quá trình sản xuất, là tư liệu sản xuất gắn với quy hoạch sản xuất về sở hữu và sử dụng, với lực lượng sản xuất và
tổ chức sản xuất xã hội thì quy hoạch sử dụng đất nằm trong phạm trù kinh tế - xã hội;
có thể xác định khái niệm quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp của
Nhà nước về quản lý và tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, hiệu quả thông qua việc
phân bổ đất đai cho các mục đích sử dụng và định hướng tổ chức sử dụng đất trong các
cấp lãnh thổ, các ngành, tổ chức đơn vị và người sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả
sản xuất xã hội, thực hiện đường lối kinh tế của Nhà nước trên cơ sở dự báo theo quan
điểm sinh thái, bền vững
- Xét trên quan điểm đất đai là tài nguyên quốc gia, một yếu tố cơ bản của sản xuất xã hội, là nguồn lực quan trọng của sự phát triển kinh tế-xã hội thì quy hoạch sử
dụng đất là một hệ thống đánh giá tiềm năng đất đai, những loại hình sử dụng đất và
những dữ kiện kinh tế- xã hội nhằm lựa chọn các giải pháp sử dụng đất tối ưu, đáp ứng
với nhu cầu của con người trên cơ sở bảo vệ các nguồn tài nguyên lâu dài
- Xét trên quan điểm chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, đất đai là tài sản quốc gia được sử dụng trong sự điều khiển và kiểm soát của Nhà nước thì quy hoạch
sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp bố trí và sử dụng đất, thực hiện chiến lược
phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia theo lãnh thổ các cấp và theo các ngành kinh tế -
xã hội
1.1.1.2 Bản chất của quy hoạch sử dụng đất
Về mặt bản chất: đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh
vực sử dụng đất (gọi là các mối quan hệ đất đai) và việc tổ chức sử dụng đất như “tư
liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội Như vậy, quy hoạch sử
dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế,
kỹ thuật và pháp chế Trong đó:
- Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai
- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra,
khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu
Trang 15- Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo
quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật
Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa: “Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện
pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức, sử dụng và quản lý đất
đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất
đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu
sản xuất (các giải pháp sử dụng đất cụ thể), nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã
hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường” [20]
1.1.1.3 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô, tính tổng hợp, tính chính sách;tính dài hạn; tính khả thi
là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc
dân Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện cụ thể như sau [7]:
- Tính lịch sử - xã hội thể hiện ở 2 mặt: vừa thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất, vừa thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất hợp thành một bộ phận của phương thức
sản xuất của xã hội, gắn liền với lịch sử phát triển xã hội
- Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô thể hiện ở sự định hướng sử dụng đất và việc
đề xuất các chính sách, các biện pháp để thực hiện các mục tiêu của phương hướng sử
dụng đất
- Tính tổng hợp thể hiện ở 2 mặt: quản lý, sử dụng, cải tạo, bảo vệ tài nguyên đất đai cho nhu cầu toàn bộ nền kinh tế quốc dân và quan hệ chặt chẽ với nhiều lĩnh
vực khoa học, kinh tế và xã hội
- Tính chính sách thể hiện ở việc thực hiện các mục tiêu phát triển của nền kinh
tế quốc dân, việc tuân thủ các chỉ tiêu về dân số, đất đai và môi trường sinh thái
- Tính dài hạn thể hiện ở việc xác định nhu cầu sử dụng đất để phát triển kinh
tế - xã hội lâu dài
- Tính khả thi thể hiện ở sự chỉnh lý, hoàn thiện các giải pháp sử dụng đất phù hợp với thực tiễn sản xuất xã hội Phương án QHSD đất đưa ra vừa có tính khoa học,
vừa phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương trên cơ sở dự báo các nguồn lực
sẵn có và nguồn lực đầu tư từ bên ngoài vào khai thác tiềm năng đất đai của địa
phương để phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
- Điều kiện tự nhiên: Bao gồm địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết, thủy văn,
- Nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội: Bao gồm dân số, lao động, quản lý chính
sách môi trường và chính sách đất đai, yêu cầu quốc phòng sức sản xuất và trình độ
Trang 16phát triển kinh tế hàng hóa, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về công
nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải; sự phát triển của khoa học kỹ
thuật, trình độ quản lý sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công
tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỷ thuật vào sản xuất Nhân tố tự nhiên,
kinh tế - xã hội có ý nghĩa quyết định chủ đạo đối với việc sử dụng đất
- Nhân tố không gian: Trong thực tế, mọi ngành sản xuất vật chất hay phi vật chất đều cần đến đất đai như điều kiện không gian để hoạt động, đặc tính cung cấp
không gian của lao động là yếu tố vĩnh cửu của tự nhiên ban tặng cho con người Vì
vậy, không gian trở thành nhân tố hạn chế cơ bản nhất của việc sử dụng đất
1.1.2 Khái quát một số vấn đề cơ bản về đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử
dụng đất
1.1.2.1 Bản chất và phân loại tính khả thi của QHSD đất
Về mặt bản chất, tính khả thi biểu thị khả năng thực hiện của phương án quy hoạch sử dụng đất khi hội tụ đủ một số điều kiện hoặc yếu tố nhất định cả về phương
diện tính toán, cũng như trong thực tiễn
Như vậy, để nhìn nhận một cách đầy đủ về góc độ lý luận, tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất sẽ bao hàm “Tính khả thi lý thuyết”- được xác định
và tính toán thông qua các tiêu chí với những chỉ tiêu thích hợp ngay trong quá trình
xây dựng và thẩm định phương án quy hoạch sử dụng đất; “Tính khả thi thực tế” chỉ
có thể xác định dựa trên việc điều tra, đánh giá kết quả thực tế đã đạt được khi triển
khai thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất trong thực tiễn
Khi triển khai thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất trong điều kiện bình thường, sự khác biệt giữa “Tính khả thi lý thuyết’ và “Tính khả thi thực tế” thường
không đáng kể Tuy nhiên, không ít trường hợp luôn có những vấn đề phát sinh trong
quá trình triển khai thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất do tác động của nhiều
yếu tố khó đoán trước được như: tính kịp thời về hiệu lực thực thi của phương án quy
hoạch; nhận thức và tính nghiêm minh trong thực thi quy hoạch của các nhà chức trách
và người sử dụng đất; các sự cố về khí hậu và thiên tai; những đột biến về mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội; khả năng về các nguồn lực; áp lực mới về các vấn đề xã hội,
thị trường, an ninh quốc phòng; tác động của nền kinh tế quốc tế
Tính khả thi của phương án quy hoạch có thể được đánh giá và luận chứng
thông qua 5 nhóm tiêu chí sau [7]:
- Khả thi về mặt pháp lý
- Khả thi về phương diện khoa học - công nghệ
- Khả thi về yêu cầu chuyên môn - kỹ thuật
Trang 17- Khả thi về các biện pháp cần thiết để phương án QH thực hiện được
- Khả thi về các giải pháp tổ chức thực hiện và quản lý quy hoạch
1.2.1.2 Tính hiệu quả: hiệu quả về kinh tế - xã hội – môi trường
Hiệu quả sử dụng đất là tổng hoà các lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường do quy hoạch sử dụng đất đem lại khi phương án quy hoạch được triển khai thực hiện
trong thực tiễn
Quy hoạch sử dụng đất là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế của xã hội Quá trình lập phương án quy hoạch sử dụng đất khá phức tạp, liên quan đến nhiều
vấn đề và chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau như các mối quan hệ sản xuất;
hình thức sở hữu đất đai và các tư liệu sản xuất khác Với cách tiếp cận này, cần phải
lưu ý một số vấn đề khi xem xét hiệu quả quy hoạch sử dụng đất, đó là [7]:
- Hiệu quả của phương án quy hoạch phải được đánh giá trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ về kinh tế cùng với việc sử dụng các chỉ tiêu đánh giá phù hợp;
- Khi xác định hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất cần xem xét đồng thời giữa lợi ích của những người sử dụng đất với lợi ích của toàn xã hội;
- Đất đai là yếu tố của môi trường tự nhiên, vì vậy cần phải chú ý đến các yêu cầu bảo vệ và nâng cao độ phì nhiêu của đất, cũng như giữ gìn các đặc điểm sinh thái
giao thông, các dự án xây dựng công trình phục vụ sản xuất, kinh doanh Vì vậy, cần
tính đến hiệu quả của tất cả các biện pháp có liên quan được thực hiện cho đến khi
định hình phương án quy hoạch sử dụng đất (bao gồm chi phí vốn đầu tư cơ bản và
vốn quay vòng, các chi phí cần thiết để bồi thường thiệt hại và bảo vệ môi trường)
Quy hoạch sử dụng đất mang tính tổng hợp, nên việc đánh giá và luận chứng phương án quy hoạch sử dụng đất khá phức tạp, nội dung luận chứng tổng hợp và đánh
giá phương án quy hoạch sử dụng đất sẽ bao gồm các hợp phần sau:
- Luận chứng và đánh giá về kỹ thuật;
- Luận chứng và đánh giá về quy trình công nghệ;
- Luận chứng và đánh giá về kinh tế;
- Luận chứng và đánh giá tổng hợp (chứa đựng đồng thời các yếu tố kinh tế -
xã hội - môi trường)
Trang 18Luận chứng về kỹ thuật được thực hiện để đánh giá việc bố trí đất đai về mặt không gian của phương án quy hoạch sử dụng đất và về đặc điểm tính chất của đất
như: địa hình khu vực, thành phần cơ giới đất, kết cấu địa chất, độ lớn khoanh đất, tình
trạng khai thác khu đất, các trở ngại
Luận chứng về quy trình công nghệ nhằm đánh giá khả năng đáp ứng các yêu cầu tái sản xuất mở rộng của việc tổ chức lãnh thổ đề ra trong phương án quy hoạch
Các chỉ tiêu luận chứng và đánh giá thường biểu thị dưới dạng cân đối các nguồn lực,
các loại sản phẩm
Mục tiêu của luận chứng về kinh tế và luận chứng tổng hợp (kinh tế - xã hội - môi trường) nhằm xác định phương án, tính toán hiệu quả của các biện pháp đề ra
trong quy hoạch, xác định các chỉ tiêu tổng hợp (biểu thị bằng tiền) đặc trưng cho hiệu
quả của phương án quy hoạch sử dụng đất, so sánh những kết quả nhận được (do tổ
chức hợp lý sản xuất) với các chi phí bổ sung
1.2 Cơ sở thực tiễn các vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Thực tiễn công tác quy hoạch sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam
1.2.1.1 Khái quát về quy hoạch sử dụng đất ở một số nước trên thế giới [9]
Nhật Bản trong những năm gần đây, tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị tăng đã đặt ra nhu cầu sử dụng đất ngày một lớn cho tiến trình phát triển kinh tế -
xã hội, sự cạnh tranh về mục đích sử dụng đất diễn ra không chỉ ở trong khu vực đô thị
mà còn ở hầu hết trên lãnh thổ đất nước “Trong những thập kỷ vừa qua cơ cấu sử
dụng đất đã có sự thay đổi, bình quân mỗi năm chuyển đổi khoảng 30.000 ha đất sản
xuất nông nghiệp sang các mục đích khác Giá trị sinh thái, thẩm mỹ của môi trường
thường xuyên được nhấn mạnh trong quy hoạch Sự phát triển kinh tế đòi hỏi sự kết
hợp chặt chẽ việc sử dụng đất và các xu hướng của xã hội, giải quyết có hiệu quả mối
liên kết trung ương và địa phương trong quản lý môi trường” [24]
Tiến sĩ Azizi Bin Haji Muda [21] cho rằng “cơ sở của sự phát triển nông thôn là cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của dân cư nông thôn Quá trình phát triển kinh tế
(hiện đại hoá nền kinh tế thông qua phát triển công nghiệp) ở Malaysia là nguyên nhân
của những thay đổi sử dụng đất; kết quả là nhiều đất nông thôn màu mỡ được chuyển
sang các hoạt động phi nông nghiệp đặc biệt dành cho các ngành công nghiệp sản
xuất, nhà ở và các hoạt động thương mại khác”
Quá trình phát triển xã hội Đài Loan trước đây cũng giống với hiện trạng phát triển giai đoạn hiện nay của Việt Nam, tức là xã hội nông nghiệp là chính Những năm
1940 trở lại đây, nền kinh tế Đài Loan có tăng trưởng với tốc độ nhanh, giới công
thương đã trở thành ngành nghề chủ lực của Đài Loan, cũng là sức mạnh căn bản của
đất nước Hơn nữa, nông nghiệp cùng với sự phát triển của kỹ thuật đã phát triển theo
hướng thâm canh, chuyên sâu [11]
Trang 19Nhân khẩu nông nghiệp và diện tích sử dụng đất trong nông nghiệp Đài Loan giảm theo hàng năm, nhưng cùng với việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và chính sách
thâm canh hóa, chuyên sâu hóa, giá trị sản lượng về tổng sản phẩm quốc nội trong
nông nghiệp vẫn tăng ổn định Nhưng sự phát triển của nghề chế tạo tuy chỉ với nhu
cầu sử dụng đất không lớn nhưng phát huy hiệu quả sử dụng đất lớn nhất; giá trị sản
xuất trên đơn vị nhân khẩu và tổng sản phẩm quốc nội trong nghề chế tạo đều có cống
hiến to lớn hơn so với nông nghiệp
“Từ kinh nghiệm phát triển của Đài Loan có thể thấy sự phát triển nông nghiệp Đài Loan tuy vẫn chiếm vị trí số một, nhưng cống hiến đối với phát triển kinh tế vẫn
dựa vào sự phát triển của nghề chế tạo Đài Loan đã lấy nghề chế tạo làm chủ lực, vì
nó có thể sử dụng diện tích đất đai ít nhất, nhưng phát huy hiệu quả kinh tế lớn nhất
Đối với phát triển nông nghiệp đã tích cực đưa vào kỹ thuật sản xuất tiên tiến, nâng
cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, giảm bớt diện tích và nhu cầu nhân lực của nông
nghiệp, chuyển một bộ phận nhân lực và đất nông nghiệp đưa vào sản xuất trong nghề
chế tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đồng thời tạo cơ hội việc làm, tiến tới nâng
cao giá trị và thu nhập quốc dân trong nước” [11]
Thực tiễn của nhiều nước trên thế giới cho thấy quá trình công nghiệp hoá nếu không sớm có quy hoạch toàn diện về đất đai, nếu không biết khai thác sử dụng hợp lý
thì diện tích đất nông nghiệp bị giảm tại các vùng đồng bằng đất tốt làm mất an ninh
tác, độ phì nhiêu của đất cũng suy giảm do ô nhiễm chất thải từ công nghiệp hoặc do
chế độ canh tác thiếu khoa học gây ra Chẳng hạn ở Mỹ, do những nguyên nhân này
gây ra đã làm cho gần 20 triệu ha đất không còn sử dụng được…” [20]
Hầu hết các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển và đang phát triển, quy hoạch sử dụng đất đai mang tính đặc thù riêng, mỗi một loại hình quy hoạch ở các
nước đều có những quy định về nội dung, phương pháp tiến hành phân ra các cấp,
kiểu quy hoạch, song 2 loại hình quy hoạch này dù ở đâu trên thế giới thì cũng có
những mối quan hệ nhất định Trên cơ sở quy hoạch không gian người ta tiến hành
phân vùng sử dụng đất sau đó tiến hành quy hoạch chi tiết cho từng khu vực Quy
hoạch chi tiết phát triển từng vùng thông thường được đấu thầu cho các cơ quan phát
triển bất động sản tư nhân Tuy nhiên, mỗi phương án quy hoạch chi tiết đều phải tuân
thủ chặt chẽ các quy định về xây dựng và môi trường; các phương án quy hoạch chi
tiết phải được công bố công khai và trưng cầu ý kiến của cộng đồng dân cư nơi có quy
hoạch ít nhất là ba tháng trước khi phê duyệt và triển khai
Trang 20Ở Liên bang Australia (Úc) [23] hầu hết các Tiểu bang đều có cơ quan quy hoạch riêng (Planning Commision) trực thuộc Chính phủ Tiểu bang, người đứng đầu
cơ quan quy hoạch là thành viên Chính phủ có quyền hạn tương đương các Bộ trưởng
khác (hàm Bộ trưởng) Quy hoạch tổng thể không gian và phân vùng sử dụng đất do
ngân sách Nhà nước Tiểu bang cấp, quy hoạch chi tiết do các công ty trúng thầu tự bỏ
sau đó tính vào giá các khu đất hoặc các toà nhà bán đấu giá sau này Ở Úc khi tiến
hành quy hoạch điều đầu tiên người ta chú trọng là phân bổ sử dụng đất làm sao cho
sử dụng có hiệu quả nhất điều kiện tự nhiên sẵn có bảo đảm phát triển bền vững và có
môi trường tốt Thông thường các khu có hồ, rừng cây được giữ tối đa trong quá trình
quy hoạch Các khu nhà ở thường được bố trí ven các dòng sông, bờ biển, gần hồ Các
khu sản xuất bố trí xa khu dân cư, xa nguồn nước Trong các khu dân cư chú trọng bố trí
đầy đủ các khu dịch vụ thương mại, trường học Thông thường khu trường học và trung
tâm thương mại được bố trí ở vị trí gần trung tâm nhất để thuận lợi cho mọi công dân
trong khu Tuy nhiên, bệnh viện thông thường được bố trí ở phía ngoài khu dân cư,
thuận lợi về giao thông nhưng xa các đường cao tốc hoặc nhà ga để tránh tiếng ồn và để
ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh Tất cả các khu đô thị mới hiện nay khi thiết kế
thường gắn với sử dụng tiết kiệm năng lượng, đèn chiếu sáng dùng đèn tiết kiệm, các
nhà ở sử dụng tối đa pin năng lượng mặt trời, nước thải sinh hoạt được xử lý và theo
đường ống riêng dành cho tưới cây và rửa xe để tiết kiệm nước
Malaysia và Indonesia có quy định quy hoạch tương đối giống nhau và giống Liên bang Úc Tuy nhiên, Malaysia đang có định hướng và đã tiến hành với Chính phủ
Trung ương tách khu hành chính (Thủ đô hành chính) ra khỏi khu đô thị cũ, khu dân
cư và khu thương mại Đây là phương án quy hoạch khá mới, một cách tiếp cận và tư
duy hoàn toàn đổi mới Với phương án này Malaysia vừa bảo toàn được các khu phố
cổ để duy trì du lịch, vừa có điều kiện hiện đại hóa các cơ quan công quyền, thực hiện
Chính phủ điện tử (E-Government) vừa tránh được ùn tắc giao thông trong khu đô thị
Một vấn đề đang đặt ra đối với Malaysia là Chính phủ cần có hỗ trợ để xây dựng các
khu dân cư dành cho công chức tại các khu hành chính mới này Với quy hoạch các
“Thủ đô hành chính” tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và các tổ chức khi thực
hiện các thủ tục hành chính và thuận lợi cho các cơ quan kiểm tra, giám sát việc thực
thi công vụ của các cơ quan công quyền
Các bước đi của Indonesia có nét giống Việt Nam; vẫn chủ yếu dựa trên việc cải tạo và tu bổ các đô thị cũ, tính chắp vá trong quy hoạch còn tồn tại khá phổ biến
Kinh nghiệm của Trung Quốc và Đài Loan là bài học đáng nghiên cứu: Những khu dân cư, khu công nghiệp, khu đô thị mới quy hoạch rất hiện đại và có tầm nhìn
phát triển bền vững cho một tương lai xa Tuy nhiên, để quy hoạch được như Trung
Quốc và Đài Loan đòi hỏi phải có tiềm lực kinh tế lớn; ở các nước này quy hoạch đô
thị vẫn do cơ quan xây dựng đảm nhiệm, việc quy hoạch sử dụng đất đai chủ yếu tập
trung vào phân vùng các khu chức năng do cơ quan quản lý đất đai đảm nhiệm [22]
Trang 21Các nước thuộc Liên Xô (cũ) có bước đi tương tự nhau; trước hết là lập sơ đồ tổng thể phát triển lực lượng sản xuất sau đó tiến hành quy hoạch chi tiết các ngành,
trên cơ sở nhu cầu sử dụng đất của các ngành để tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai
Tuy nhiên, việc phân bổ các khu chức năng để bảo đảm phát triển bền vững và bảo vệ
môi trường luôn luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu Một nguyên tắc cơ bản của
các nước này là bảo vệ nghiêm ngặt đất sản xuất, đặc biệt là đất canh tác Tại các nước
này quy hoạch tổng thể phát triển lực lượng sản xuất do Ủy Ban kế hoạch Nhà nước
(tương đương Bộ Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam) đảm trách; quy hoạch đô thị do
ngành xây dựng, quy hoạch sử dụng đất đai do cơ quan quản lý đất đai thực thi
Tại Thụy Điển và các nước Đông Âu khác phân vùng sử dụng đất được lồng ghép ngay trong khi tiến hành quy hoạch tổng thể không gian Việc mọi quan tâm chủ
yếu tập trung vào quy hoạch chi tiết phát triển đô thị và vấn đề bảo vệ môi trường sống
luôn được đặt lên hàng đầu
Nói tóm lại bước đi, cách làm và tổ chức bộ máy tiến hành của các nước có khác nhau nhưng tất cả đều có nguyên tắc chung là sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai,
bảo vệ được tài nguyên rừng hiện có để hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu; duy
trì và bảo vệ các khu phố cổ, bảo đảm phát triển bền vững và bảo vệ môi trường sống
cho hiện tại và thế hệ mai sau
1.2.1.2 Đánh giá tình hình thực hiện công tác quy hoạch sử dụng đất của Việt Nam
a Thời kỳ trước Luật Đất đai năm 1993 [10]
Trước đây, quy hoạch sử dụng đất đai chưa được coi là công tác của ngành Quản lý đất đai, mà chỉ được thực hiện như một phần của quy hoạch phát triển ngành
nông - lâm nghiệp Các phương án phân vùng thực hiện theo Chỉ thị số
122/1970/CT-TTg ngày 13/7/1970 của Thủ tướng Chính phủ về “phân vùng và quy hoạch vùng
nông lâm nghiệp” Sau ngày thống nhất đất nước, dựa trên cơ sở của Chỉ thị số
122/1970/CT-TTg trước đây, Hội đồng Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo phân vùng
quy hoạch nông lâm nghiệp Trung ương để triển khai công tác này trong cả nước
(1975 - 1978) Kết quả phân vùng nông lâm nghiệp trong cả nước đã được Chính phủ
phê duyệt năm 1978 và là cơ sở để triển khai công tác quy hoạch sử dụng đất đai
Đến đầu những năm 1980, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương mới trong công tác quản lý đất đai, quy hoạch sử dụng đất đã trở thành một trong những nội dung
chính của công tác quản lý Nhà nước đối với ruộng đất
Nội dung quy hoạch sử dụng đất được Nhà nước quan tâm ở mức cao nhất, được khẳng định trong Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1980: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất
đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm…” (Điều 20)
Trang 22Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 201/1980/QĐ-CP ngày 01/7/1980 về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả
nước nêu rõ: “Toàn bộ ruộng đất trong cả nước đều do Nhà nước thống nhất quản lý
theo quy hoạch và kế hoạch chung nhằm bảo đảm ruộng đất được sử dụng hợp lý, tiết
kiệm và phát triển theo hướng đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa” Đồng thời quy
định quy hoạch sử dụng đất là một trong 7 nội dung của công tác quản lý nhà nước đối
với ruộng đất
Từ năm 1981 đến năm 1986 thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ V
của Đảng (năm 1981) hầu hết các quận huyện trong cả nước đã xây dựng quy hoạch
tổng thể cấp huyện Tuy nhiên, do nguồn nhân lực hạn chế, các tài liệu điều tra cơ bản
chưa đầy đủ, nhận thức của nhiều ngành, nhiều cấp còn khác nhau nên chất lượng quy
hoạch còn nhiều hạn chế
Sau Đại hội lần thứ VII của Đảng (năm 1992), Nhà nước ta triển khai công tác
nghiên cứu chiến lược phát triển, quy hoạch tổng thể kinh tế, xã hội ở hầu hết 53 tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương, các vùng kinh tế Đây là mốc bắt đầu của thời kỳ
đưa công tác quản lý đất đai vào nề nếp
Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Điều 18, Chương II khẳng định lại một lần nữa: [12] “Đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn
dân”, “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử
dụng đúng mục đích và có hiệu quả”
Luật Đất đai đầu tiên được Quốc hội thông qua ngày 29/12/1987 và công bố ngày 08/01/1988 Tại Khoản 2, Điều 9 của Luật này quy định: “Quy hoạch và kế
hoạch hoá việc sử dụng đất đai” là một trong bảy nội dung quản lý Nhà nước đối với
đất đai Tại Điều 11 quy định cụ thể về thẩm quyền lập quy hoạch sử dụng đất: “… Uỷ
ban nhân dân các cấp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong địa phương
mình…” cũng như thẩm quyền phê chuẩn, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
của các cấp
Luật Đất đai năm 1988 ra đời đã đặt nền tảng cơ sở pháp lý cho công tác quản
lý đất đai nói chung cũng như quy hoạch sử dụng đất nói riêng
b Giai đoạn từ năm 1993 – 2003 [10]
Trong giai đoạn này, được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước, công tác quy hoạch sử dụng đất ngày càng được đẩy mạnh và hoàn thiện cho phù hợp với giai
đoạn phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Điều đó được
thể hiện rõ nét qua các lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993 đã
ban hành qua các năm 1998 và 2001, trong đó đã có các quy định bổ sung về công tác
quy hoạch sử dụng đất các cấp Để đưa công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
Trang 23hàng năm vào nề nếp, Công văn số 1814/CV-TCĐC ngày 12 tháng 10 năm 1998 của
Tổng cục Địa chính hướng dẫn việc triển khai thực hiện các công việc sau: Công tác
quản lý nhà nước về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; trình tự và nội dung các
bước xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ hành chính các cấp
(cấp tỉnh, huyện, xã…); quản lý cấp phát, thanh quyết toán vốn quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất đai; việc lập kế hoạch chuyển đất nông lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào
mục đích khác hàng năm
Để đáp ứng yêu cầu chất lượng ngày càng cao của thực tiễn đối với QHSD đất đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện các quy định đối với quy hoạch sử dụng đất Trên cơ
sở Luật Đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai 1998
và Luật Đất đai 2001; ngày 01 tháng 10 năm 2001 Chính Phủ đã ban hành Nghị định
số 68/2001/NĐ-CP về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai Đây là lần đầu tiên có
một Nghị định riêng của Chính phủ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp
Để cụ thể hoá Nghị định 68/2001/NĐ-CP, ngày 01/11/2001 Tổng cục Địa Chính đã ban hành Thông tư số 1842/2001/TT-TCĐC về hướng dẫn chi tiết đối với
công tác quy hoạch sử dụng đất các cấp và điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sử dụng đất
cho phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng trong quá trình phát triển của đất
nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá đã góp phần thay đổi diện mạo vùng
nông nghiệp nông thôn, đất đai được sử dụng phát triển sản xuất nông nghiệp theo
hướng hàng hoá Đất ở nông thôn được cải tạo, chỉnh trang phát triển theo hướng đô
thị hoá Đất có mục đích công cộng được quy hoạch đồng bộ với kết cấu hạ tầng phát
triển đã góp phần tăng khả năng phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân”
Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Đất đai 1993-2003 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường [4] Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã góp phần đảm bảo
tính thống nhất trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai Thông qua quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất Nhà nước đã thực hiện quyền định đoạt về đất đai, nắm được quỹ
đất đai, đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử
dụng đất, gắn chuyển mục đích sử dụng đất với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội,
làm cơ sở để điều chỉnh chính sách đất đai tại mỗi địa phương, chủ động giành quỹ đất
hợp lý cho phát triển các ngành, các lĩnh vực, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch
Trang 24cơ cấu kinh tế, vừa đảm bảo ổn định các mục tiêu xã hội vừa đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Từng bước chủ động giành quỹ đất hợp lý cho xây
dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kết cấu hạ tầng cho công nghiệp, dịch vụ, đô thị Qua
công tác quy hoạch sử dụng đất đai, UBND các cấp nắm chắc được quỹ đất đai của địa
phương mình, có dự tính được nguồn thu từ đất đai cho ngân sách
c Giai đoạn từ năm 2003 đến 2013
Để đáp ứng nhu cầu đổi mới của đất nước nói chung và những yêu cầu cấp bách
về công tác quản lý đất đai trong tình hình mới, tại kỳ họp thứ 4 Khoá XI, Quốc hội đã
thông qua Luật Đất đai năm 2003 Trong đó đã dành 10 điều (từ Điều 21 đến Điều 30)
để quy định về nguyên tắc, căn cứ, nội dung, thẩm quyền quyết định, xét duyệt, quy
hoạch, kế hoạch và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng
10 năm 2004 về thi hành Luật Đất đai năm 2003 Liên quan đến công tác quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất, Nghị định đã dành hẳn một chương (Chương III), từ Điều 12
đến Điều 29 quy định rất cụ thể về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp
Để hướng dẫn các địa phương thực hiện tốt Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số
30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, kế
hoạch sử dụng đất các cấp (ban hành kèm theo Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT ngày
30/6/2005); ban hành Định mức sử dụng đất (Công văn số 5763/BTNMT-ĐKTKĐĐ
ngày 25/12/2006 về việc hướng dẫn định mức sử dụng đất áp dụng trong công tác lập,
điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ); Định mức, đơn giá điều tra, lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp (Quyết định số 10/2005/QĐ-BTNMT ngày
24/10/2005 Về việc ban hành Định mức kinh tế - kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất)
Có thể nói, trong giai đoạn này, hệ thống các văn bản pháp luật, pháp quy liên quan đến công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của nước ta là khá đầy đủ, đồng
bộ và toàn diện nhất từ trước tới nay Điều đó khẳng định sự quan tâm đặc biệt của
Đảng và Nhà nước đối với công tác quản lý Nhà nước về đất đai cũng như công tác quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp nói riêng
Thực hiện quy định của Luật Đất đai, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
đã được triển khai ở cả 4 cấp với kết quả đã thực hiện đến cuối năm 2009 trên toàn
quốc như sau [5]:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước: Chính phủ đã lập QHSD đất đến năm 2010 và KHSD đất đến năm 2005 của cả nước trình Quốc hội Khóa XI, Kỳ
Trang 25họp thứ 5 và được thông qua tại Nghị quyết số 29/2004/QH11 ngày 15/6/2004; kế
hoạch sử dụng đất 5 năm 2006 - 2010 của cả nước đã được Quốc hội Khóa XI, Kỳ họp
thứ 9 thông qua tại Nghị quyết số 57/2006/QH11 ngày 29/6/2006
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh: Đến nay cả nước đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
đến năm 2010 được Chính phủ xét duyệt
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện: Cả nước có 531/681 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là huyện) hoàn thành việc lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 (chiếm 77,97%); 98 huyện đang triển khai (chiếm
14,4%); còn lại 52 huyện chưa triển khai (chiếm 7,64%), phần lớn là các đô thị (quận,
việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở 2 cấp xã, huyện Có 16 tỉnh đã triển khai
lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã nhưng kết quả đạt được còn thấp (dưới
50% số xã) gồm Lai Châu, Yên Bái, Cao Bằng, Hà Nội, Hà Nam, Nghệ An, Thừa
Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre,
Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng
Theo TS.Nguyễn Đình Bồng [3] quy hoạch sử dụng đất ở nước ta được pháp luật quy định là một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về
đất đai; việc tổ chức triển khai quy hoạch sử dụng đất ở nước ta trong giai đoạn từ
1994 đến nay đã cơ bản hoàn thành QHSD đất cả nước, QHSD đất cấp tỉnh; QHSD đất
đã góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai, phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước
Tồn tại chủ yếu của QHSD đất ở nước ta là mới thực hiện chủ yếu ở mức độ khái quát, mang tính định hướng, còn thiếu quy hoạch chi tiết; về phương pháp và quy
trình thực hiện còn nhiều bất cập chưa có quy trình QHSD đất mang tính đặc thù đối
với đô thị; sự phối hợp giữa quy hoạch sử dụng đất với các quy hoạch tổng thể phát
Trang 26triển kinh tế - xã hội các cấp (nhiều địa phương lập QHSD đất mà chưa lập quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế-xã hội), quy hoạch các ngành chưa đồng bộ, đặc biệt là quy
hoạch đô thị chi tiết chưa thực hiện trên nền bản đồ địa chính Do những nguyên nhân
trên chất lượng và tính hiệu quả QHSD đất được đánh giá thấp, các dự án “treo” còn
tồn tại phổ biến
d Giai đoạn từ năm 2013 đến nay
Sau khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật đất đai năm 2013; Bộ Tài nguyên và Môi trương đã ban hành Thông tư số
29/2014/TT-BTNMT ngày 02/06/2014 Quy định chi tiết lập, điều chỉnh quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất Theo Luật đất đai 2013 và các văn bản hiện hành, công tác lập quy
hoạch sử dụng đất được tiến hành ở 3 cấp: cấp Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện;
riêng quy hoạch sử dụng đất cấp xã được tích hợp trong quy hoạch sử dụng đất cấp
huyện Cũng theo các văn bản trên, cấp huyện sẽ lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm
và được UBND tỉnh phê duyệt trước ngày 31 tháng 12 của năm trước [16]
Như vậy, sau khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực, năm 2014 các huyện trên
cả nước đã lập kế hoạch sử dụng đất năm 2015 và được UBND các tỉnh phê duyệt
trước ngày 31 tháng 12 năm 2014 Hiện nay, Chính phủ giao cho Bộ Tài nguyên và
Môi trường điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất toàn quốc đến năm 2020 thông qua
Quốc hội tại kỳ họp tháng 4 năm 2016, một số tỉnh và một số huyện có biến động lớn
cũng đang tiến hành điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020
1.2.2 Tình hình chung về quy hoạch và thực hiện quy hoạch sử dụng đất của tỉnh
Khánh Hòa
Thực hiện luật đất đai 1993 tỉnh Khánh Hòa đã lập quy hoạch sử dụng đất thời
kỳ 2001 – 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1635/QĐ-TTg
ngày 28/12/2001; cùng với việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2001 – 2010
của tỉnh, Thủ tướng chính phủ cũng phê duyệt kế hoạch sử dụng đất 2001 – 2005 của
tỉnh tại Quyết định số 59/QĐ-TTg ngày 13/01/2003 Song song với lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, một số huyện và xã của tỉnh cũng đã lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất đến năm 2010; việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ
này thiếu tính đồng bộ và không được triển khai đồng loạt ở 3 cấp (cấp tỉnh, cấp huyện
và cấp xã)
Thực hiện Luật đất đai 2003, năm 2005 tỉnh Khánh Hòa tiến hành điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006 – 2010) được
Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 46/2007/NQ- CP ngày 15 tháng 08
năm 2007 Trên cơ sở điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử
dụng đất 5 năm (2006 – 2010) của tỉnh được phê duyệt, có 7/7 huyện, thị, thành phố trực
Trang 27thuộc tỉnh tiến hành điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và được UBND tỉnh
phê duyệt trong năm 2007; có 95/140 xã, phường tiến hành điều chỉnh quy hoạch sử
dụng đất cấp xã được UBND cấp huyện phê duyệt trong năm 2007 và 2008
Năm 2010 tỉnh Khánh Hòa triển khai đồng bộ việc lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 05 (2011 – 2015) ở cả 3 cấp (cấp tỉnh, cấp
huyện và cấp xã), tính đến tháng 06 năm 2013 quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh được
phê duyệt, có 8/8 huyện, thị, thành phố của tỉnh và 140 xã, phường, thị trấn lập xong
quy hoạch sử dụng đất của cấp mình và được phê duyệt
Việc triển khai đồng bộ việc lập quy hoạch sử dụng đất cả 3 cấp (cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã) đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để tiến hành giao đất, cho thuê đất và
chuyển mục đích sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất đai là phương tiện để Nhà nước
định hướng việc sử dụng đất đai, làm tăng lợi ích cộng đồng Đồng thời trong cơ chế
thị trường, đất đai là tài sản quý và ngày càng có giá trị, nên luôn phát sinh những mâu
thuẫn, tranh chấp Công tác quy hoạch, kế hoạch vừa là can thiệp vào thị trường tự do
để quản lý, vừa thông qua đó để thuyết phục, hướng dẫn, tổ chức mọi thành phần kinh
tế sử dụng đất đai vì lợi ích chung Nhờ có việc xây dựng, thẩm định quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất của tỉnh Khánh Hòa đã rà soát chặt chẽ việc chuyển đất nông
nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác và chủ động trong việc
khai hoang mở rộng diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, không những bù được
diện tích đất chuyển sang sử dụng vào mục đích khác mà còn làm tăng đáng kể diện
tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng ở những nơi có điều kiện phát triển, đặc
biệt diện tích đất trồng lúa nước, diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được bảo vệ
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cũng chỉ ra khả năng thu tiền từ giao
đất, chuyển mục đích sử dụng đất là rất lớn; nguồn thu này đóng góp đáng kể vào ngân
sách nhà nước và tái đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh
Đối với huyện Khánh Vĩnh: quy hoạch huyện Khánh Vĩnh giai đoạn 1997-2010
đã được lập và phê duyệt vào năm 1998; năm 2010 đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng
đất giai đoạn 2011-2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu 2011-2015 đã được duyệt vào
năm 2014 Hiện nay, theo chỉ đạo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, huyện đang tiến
hành lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất
năm 2016 Đối với 14 xã, thị trấn đã được lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn
2001-2010 và lập điều chỉnh quy hoạch 2006-2001-2010; quy hoạch sử dụng đất giai đoạn
2011-2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu 2011-2015 được phê duyệt vào năm 2014 Theo
Luật đất đai 2013, sẽ không tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất cấp xã mà lồng ghép
vào nội dung quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện
Trang 281.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan
Qua quá trình thực hiện đề tài “Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng
đất đến năm 2010 của huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận”, tác giả Vũ Thành Quynh
(2010) đã có kết luận sau:
- Thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của huyện Ninh Hải đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Ninh Hải
theo hướng thương mại dịch vụ, công nghiệp và nông nghiệp, từng bước hoàn thiện hệ
thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đáp ứng nhu cầu của người dân Thực hiện quy
hoạch sử dụng đất đến năm 2010 từng bước tăng cường công tác quản lý và sử dụng
hiệu quả quỹ đất, phân bổ quỹ đất cho các ngành, các mục đích sử dụng một các hợp
lý và hiệu quả trên quan điểm bảo vệ đất bảo vệ môi trường sinh thái
- Đề tài cũng đã nêu ra những bất cập trong việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 như: có nhiều công trình dự án không triển khai thực
hiện theo tiến độ đã đề ra, một số công trình dự án phát sinh ngoài quy hoạch, một số
chỉ tiêu cấp tỉnh phân bổ cho cấp huyện không được hợp lý dẫn đến việc thực hiện gặp
rất nhiều khó khăn, thiếu vốn để thực hiện các công trình dự án, quy hoạch sử dụng đất
vẫn chưa bám sát với thực tế, vẫn mang nặng tính chủ quan của người lãnh đạo và tư
tưởng nhiệm kỳ
- Trên cơ sở đánh giá kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại hạn chế trong thực hiện, đề tài cũng đã nêu ra 4 nhóm giải pháp chính để nâng cao hiệu quả công tác lập
và triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gồm: nhóm giải pháp về chính
sách, nhóm giải pháp về kinh tế, nhóm giải pháp về kỹ thuật, nhóm giải pháp về tổ
chức thực hiện…[15]
Qua quá trình thực hiện đề tài “Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng
đất đến năm 2010 của tỉnh Ninh Thuận”, tác giả Nguyễn Văn Bật (2010) đã có kết
luận sau:
- Tỉnh Ninh Thuận đã tổ chức và chỉ đạo thực hiện khá tốt công tác lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất sau khi được Chính phủ phê duyệt Tỉnh đã tập trung đầu tư
khá mạnh cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng để tăng nhanh tốc độc tăng trưởng, đẩy mạnh
đô thị hoá, phát triển công nghiệp-TTCN, du lịch dịch vụ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
nhất là giao thông, thuỷ lợi, sản xuất nông-lâm nghiệp, vì vậy mà tiềm năng đất đai đã
được khai thác khá tốt vào mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp Việc thực hiện
quy hoạch đã đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh cơ cấu kinh tế
các ngành đã thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và
thương mại-dịch vụ, cụ thể [19]: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm
11-12%, tổng sản phẩm GDP năm 2010 tăng 1,8-2 lần năm 2005; cơ cấu ngành công
nghiệp và xây dựng chiếm 35%; nông-lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 30%; dịch vụ
Trang 29chiếm 35% Việc triển khai thực hiện quy hoạch được thực hiện khá tốt Trong giai
đoạn 2001-2005 do việc dự báo về vấn đề đô thị hoá, phát triển công nghiệp, chưa tốt
nên còn có tình trạng một số dự án thực hiện không đúng vị trí, khu vực quy hoạch đã
được phê duyệt Giai đoạn 2006-2010, hầu hết các công trình, dự án đều thực hiện đúng
theo phương án quy hoạch đất được duyệt
- Bên cạnh những thành tựu đạt được, quy hoạch còn những mặt tồn tại: Việc phân bổ các chỉ tiêu quy hoạch đất giữa cấp tỉnh với cấp huyện còn có sự chênh lệch,
nhất là đối với đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp; đất ở đô thị; đất tôn giáo tín
ngưỡng; chưa thực sự phù hợp theo đúng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 21
Luật Đất đai 2003 Một số chỉ tiêu sử dụng đất thực hiện chưa sát với chỉ tiêu quy
hoạch được duyệt, đặc biệt là sử dụng đất tại các khu công nghiệp, khu du lịch nhiều
nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng, chờ bán dự án cho chủ
sử dụng đất mới để kiếm lời hoặc sử dụng không hiệu quả gây ra việc sử dụng đất lãng
phí Các khu, cụm công nghiệp hiện nay sử dụng khá lớn vào diện tích đất sản xuất
nông nghiệp, đất làm muối, nhưng có nhiều công trình, dự án do địa phương không
cân nhắc đầy đủ khả năng thực hiện trước mắt cũng như trong tương lai, làm cho quy
hoạch có tính khả thi không cao, dẫn tới một số khu vực quy hoạch đã được công bố,
song trong thời gian dài không được thực hiện Việc quản lý quy hoạch sau khi được
phê duyệt ở cấp huyện, xã chưa tốt nên còn tình trạng người dân tự ý chuyển mục đích
sử dụng đất không theo quy hoạch; việc chấp hành các quy định của pháp luật về điều
chỉnh hoặc huỷ bỏ quy hoạch chưa được coi trọng và nhìn chung không được chấp hành
nghiêm túc Nhiều khu vực quy hoạch không còn phù hợp với diễn biến của tình hình
thực tế hoặc đã rõ là không hợp lý; nhiều khu vực quy hoạch đã công bố sẽ thu hồi đất
và đã quá thời hạn 3 năm kể từ ngày công bố nhưng cơ quan nhà nước có thẩm quyền
không tiến hành điều chỉnh hoặc huỷ bỏ quy hoạch
- Trên cơ sở đánh giá kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại hạn chế trong thực hiện, đề tài cũng đã nêu ra 5 nhóm giải pháp chính để nâng cao hiệu quả công tác lập và
triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gồm: nhóm giải pháp về kinh tế;
giải pháp về chính sách; giải pháp về tổ chức; giải pháp nâng cao chất lượng phương án
quy hoạch sử dụng đất; giải pháp quản lý, giám sát thực hiện quy hoạch…[2]
Qua quá trình thực hiện đề tài “Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng
đất đến năm 2010 của huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình”, tác giả Nguyễn Quang Anh
(2012) đã có kết luận sau:
- Trong việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến 2010, huyện Kim Sơn đã thực hiện được nhiều công trình, dự án; việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
đã dựa trên cơ sở của quy hoạch được duyệt, Huyện đã huy động được mọi tiềm
năng về đất đai và tài nguyên sẵn có để phát triển nền kinh tế toàn diện, với nhịp độ
Trang 30tăng trưởng kinh tê ngày càng cao, phát triển bền vững Chuyển đổi nền kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Khai thác tối đa lợi thế vùng bãi bồi ven biển,
phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Nghề trồng cói đảm bảo cung cấp đủ
nguyên liệu cho ngành tiểu thủ công nghiệp và chế biến
- Bên cạnh những thành tựu đạt được thì việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất của huyện còn những tồn tại, hạn chế: Nhiều chỉ tiêu sử dụng đất chưa sát với chỉ tiêu
quy hoạch được duyệt (quy hoạch khu công nghiệp 17,12 ha, không thực hiện; đất sản
xuất kinh doanh 30,08 ha, không thực hiện ); một số công trình, dự án thực hiện
ngoài quy hoạch (nhà thi đấu TDTT huyện 1 ha, trường dạy nghề 5 ha); việc chuyển
mục đích sử dụng đất trong nông nghiệp đạt kết quả không cao (93,48%); việc chuyển
đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp không theo quy hoạch vẫn còn diễn ra, đặc biệt
là đất ở; cơ chế chính sách và cân đối nguồn vốn thực hiện quy hoạch chưa tương
xứng với nhu cầu thực tế tại địa phương, Việc lập quy hoạch sử dụng đất của các xã
là không đồng đều, không thống nhất về giai đoạn, khả năng định hướng sử dụng đất
của một số xã không đúng theo thực tế phát triển, do đó dẫn đến tình trạng bổ sung quy
hoạch ở nhiều xã trong giai đoạn cuối kỳ quy hoạch Hệ thống xử lý rác thải chưa được
chú trọng, toàn bộ quy hoạch sử dụng đất của các xã, thị trấn và quy hoạch huyện chưa
có quy hoạch vị trí để làm bãi rác Tỷ lệ lao động được đào tạo ở huyện còn chưa cao,
nhất là các xã bãi ngang của huyện, phương thức nuôi thuỷ sản chủ yếu vẫn là nuôi
quảng canh tự nhiên Do đó, làm giảm năng suất và gây ô nhiễm môi trường sinh thái
- Trên cơ sở đánh giá kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại hạn chế trong thực hiện, đề tài cũng đã nêu ra 6 nhóm giải pháp chính để nâng cao hiệu quả công tác lập và
triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gồm: nhóm giải pháp về chơ chế
chính sách, pháp luật; giải pháp về quản lý hành chính; giải pháp về kinh tế; giải pháp về
kỹ thuật; giải pháp về môi trường; giải pháp thực hiện quy hoạch được duyệt…[1]
Trang 31CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Quỹ đất theo mục đích sử dụng của huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa;
- Quy hoạch sử dụng đất của huyện Khánh Vĩnh giai đoạn 2011-2020
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội môi trường tác động đến sử dụng đất tai địa bàn nghiên cứu
- Khái quát tình hình quản lý và sử dụng đất tại địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011-2015) của địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống
Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố, từ luận chứng của phương án đến các điều kiện về kinh tế, chính trị, chính sách pháp luật;
về tổ chức triển khai thực hiện, quản lý và giám sát quy hoạch…Vì vậy cần phải tiếp
cận với nhiều hệ thống từ kỹ thuật đến các hệ thống chính sách, luật pháp, hệ thống
quản lý, hệ thống giám sát; tiếp cận từ trên xuống, từ dưới lên để phân tích đánh giá
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
a Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Phương pháp khảo sát thực địa:
Điều tra, nghiên cứu, khảo sát tại thực địa về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình sử dụng đất tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện và để kiểm định tính sát
thực của các số liệu thu thập
Trang 32- Phương pháp phỏng vấn
Thực hiện điều tra tại UBND xã, thị trấn về việc quản lý sử dụng đất trong vùng quy hoạch sử dụng đất Đã điều tra tình hình thực hiện quy hoạch tại 14 xã, thị trấn về
các nội dung: các công trình thực hiện trong năm 2015, trong giai đoạn 2011-2015 và
nhu cầu sử dụng đất trong các năm 2016-2020
Qua đó tìm hiểu những hạn chế và tích cực cũng như nguyên nhân, giải pháp khắc phục các tồn tại trong công tác triển khai thực hiện quy hoạch
b Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Trên cơ sở các tài liệu, số liệu, bản đồ đã thu thập được tiến hành phân loại, chọn lọc, kế thừa các tài liệu được xây dựng phù hợp với nội dung nghiên cứu, bao gồm:
- Tài liệu về vị trí, đất đai, thổ nhưỡng
- Tài liệu về khí hậu và thủy văn
- Tài liệu về dân sinh, kinh tế
- Các tài liệu thuyết minh chuyên ngành
- Các tài liệu đã có về tình hình quản lý, sử dụng đất của địa phương tại các phòng ban chuyên ngành
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất
- Nghị quyết về phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội của huyện
2.3.3 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo những ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực lập quy hoạch, quản lý quy hoạch và giám sát quy hoạch để đánh giá cũng như đề xuất giải pháp Những thành
phần được lấy ý kiến như lãnh đạo các Sở, ban ngành có chuyên môn về công tác quy
hoạch của ngành đó như: giao thông, thủy lợi, công nghiệp, tài nguyên và môi trường…
2.3.4 Phương pháp thống kê và phân tích, xử lý số liệu tổng hợp
- Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel Các số liệu được tính toán, phân tích theo các bảng biểu, kết hợp với phần thuyết minh
- Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập được, tiến hành phân nhóm, thống kê diện tích các công trình, dự án đã thực hiện theo quy hoạch hoặc chưa thực hiện theo
quy hoạch
- Tổng hợp, so sánh và phân tích các yếu tố tác động đến việc thực hiện phương
án quy hoạch và điều chỉnh QHSDĐ So sánh các chỉ tiêu thực hiện so với mục tiêu đề
ra trong phương án QHSDĐ
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Khánh Vĩnh
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
- Huyện Khánh Vĩnh nằm phía Tây tỉnh Khánh Hoà, trung tâm huyện cách Tp
Nha Trang 35 km Huyện gồm có 13 xã và 1 thị trấn Trên địa bàn huyện có Quốc lộ
27C, Tỉnh lộ 2 nối Nha Trang với Đà Lạt; tỉnh lộ 8B, tỉnh lộ 8 nối với Quốc lộ 26 tạo
thành những tuyến giao thông quan trọng phía Tây tỉnh Huyện Khánh Vĩnh nằm trong
toạ độ địa lý :
+ Kinh độ Đông: từ 108040‘26’’ (cực Tây) đến 109004‘06’’ (cực Đông)
+ Vĩ độ Bắc: từ 12 030’12 ’’ (cực Bắc) đến 12005’16’’ (cực Nam)
- Ranh giới của huyện theo chỉ thị 364 như sau:
+ Phía Bắc giáp thị xã Ninh Hoà
+ Phía Đông giáp huyện Diên Khánh, Cam Lâm
+ Phía Nam giáp huyện Khánh Sơn, huyện Bác Ái-tỉnh Ninh Thuận
+ Phía Tây giáp tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng
- Huyện Khánh Vĩnh là cửa ngõ giao lưu của tỉnh Khánh Hòa với tỉnh Lâm Đồng và các tỉnh Tây Nguyên nên có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng, phát
triển du lịch đối với tỉnh Khánh Hòa Trên địa bàn huyện có một số điểm du lịch nổi
tiếng như khu du lịch thác Yang Bay (xã Khánh Phú), suối nước nóng Nhân Tâm (xã
Khánh Hiệp) đã được đầu tư và khai thác; sẽ tiếp tục kêu gọi đầu tư như khu du lịch xã
Giang Ly, thác Giông (xã Khánh Trung),
Trang 35Hình 3.1 Sơ đồ hành chính huyện Khánh Vĩnh
3.1.1.2 Địa hình
Huyện Khánh Vĩnh chủ yếu là đất đồi núi, độ cao địa hình phân theo các cấp
như sau:
- Độ cao dưới 100 m: khoảng 14.500 ha, chiếm 12,45% tổng diện tích tự nhiên
Vùng này địa hình khá bằng, độ dốc dưới 15 độ, đây là vùng sản xuất nông nghiệp chủ
yếu của huyện
Trang 36- Độ cao từ 100 m đến 200 m: 13.053 ha, chiếm 11,20% diện tích tự nhiên toàn huyện Vùng này có địa hình khá dốc, hầu hết là đất trồng cây lâu năm, cây hàng năm,
nương rẫy và một phần diện tích là đất đồi núi chưa sử dụng Độ dốc 15-20 độ, có thể
sông Chò, sông Cầu, sông Khế, Mức độ chia cắt lớn nên việc khai thác tiềm năng
đất đai vào sản xuất nông - lâm nghiệp còn nhiều khó khăn Diện tích đất có thể sản
xuất nông nghiệp chủ yếu ở vùng có độ cao dưới 100 m
3.1.1.3 Khí hậu
Theo tài liệu đặc điểm khí hậu, thuỷ văn tỉnh Khánh Hoà, toàn tỉnh Khánh Hoà được phân thành 3 vùng khí hậu thuỷ văn thì huyện Khánh Vĩnh chủ yếu nằm ở vùng
III : Khí hậu vùng núi
Do địa hình bị chia cắt mạnh, có nhiều dãy núi che hướng gió khác nhau nên điều kiện khí tượng thuỷ văn có biến đổi giữa các khu vực trong huyện:
- Tiểu vùng núi cao: tập trung khu vực phía Tây, Tây Bắc và phía Nam huyện
từ độ cao 600 m trở lên thuộc các xã Khánh Bình, Khánh Hiệp, Khánh Trung, Khánh
Thượng, Giang Ly, Sơn Thái, Khánh Thành, Khánh Phú, Lượng mưa lớn giống như
huyện Khánh Sơn, độ ẩm cao, dòng chảy phân bố khá đều trong năm
- Tiểu vùng núi thấp: tập trung vùng có độ cao dưới 600 m thuộc hầu hết các xã
Lượng mưa ít, phân bố dòng chảy không đều, các suối có lưu vực lớn song về mùa khô
không sinh dòng chảy
- Nhiệt độ: Nhiệt độ bình quân năm tiểu vùng núi cao là 25,50C Nhiệt độ bình quân năm tiểu vùng núi thấp là 26,60C
- Chế độ mưa: Phân bố lượng mưa không đều, chia làm 2 vùng rõ rệt
+ Tiểu vùng núi cao : lượng mưa trung bình năm 2.150,20 mm/năm
+ Tiểu vùng núi thấp: lượng mưa trung bình 1.485,80 mm/năm
Trang 37- Độ ẩm : Độ ẩm thay đổi trong năm không lớn khoảng 2 - 4 % Độ ẩm tối cao
khoảng 90 - 95 % Độ ẩm trung bình bình năm 79,6 %
- Lượng bốc hơi: Các tháng bốc hơi lớn là 5,6,7,8 Các tháng bốc hơi ít là vào
mùa mưa Lượng nước bốc hơi trung bình năm là 1.494 mm
3.1.1.4 Thuỷ văn
Huyện Khánh Vĩnh có mật độ sông suối cao so với các huyện khác trong tỉnh
Hầu hết sông suối ở huyện đều xuất phát từ các dãy núi cao trên 1.000 m ở phía Nam,
Tây và Bắc của huyện rồi tập trung về sông Thác Ngựa và sông Chò rồi chảy về sông
Cái Nha Trang và chảy ra biển
- Mật độ sông suối bình quân 0,65 km/km2 , thay đổi trong phạm vi 0,4 - 0,8 km/ km2 tại các xã
- Hướng dòng chảy chủ yếu là từ Tây sang Đông theo sông Cái Nha Trang và các suối nhánh chảy gần vuông góc với sông chính có dạng cành cây
Theo báo cáo rà soát quy hoạch thủy lợi tỉnh Khánh Hòa đến năm 2015, một số sông chính của huyện Khánh Vĩnh có đặc điểm như sau:
- Sông Thác ngựa là con sông lớn nhất của huyện Khánh Vĩnh, bắt nguồn từ đỉnh núi ChưTgo cao 1.475m, chiều dài là 45 km chảy theo hướng Tây Bắc-Đông
Nam Sông có lưu lượng bình quân 55,7m3/giây, lưu lượng mùa kiệt là 7,32m3/giây
Sông có diện tích lưu vực là 684 km2
+ Sông Khế là phụ lưu bên phải của sông cái Nha Trang, sông Khế bắt nguồn từ ngọn núi cao 1500 m, chảy theo hướng Tây nam - Đông bắc có chiều dài sông là 22km,
diện tích lưu vực là 75,4km2 Hệ số uốn khúc là 1,2 Hệ số hình dạng 0,2, độ dốc lòng
sông 3,70/00 Sông Khế nhập vào Sông Cái Nha Trang tại thị trấn Khánh Vĩnh
+ Sông Giang bắt nguồn từ vùng núi cao trên 1500m, sông chảy theo hướng Tây bắc - Đông nam có chiều dài sông là 40km, diện tích lưu vực 198 km2, hệ số uốn
khúc 1,41, mật độ lưới sông 1km/km2 Sông Giang là phụ lưu bên trái của Sông Cái
Nha Trang, nhập vào Sông Cái Nha Trang ở xã Khánh Nam
+ Sông Cầu bắt nguồn từ ngọn núi cao 1.395m, chảy theo hướng Tây nam - Đông bắc có chiều dài sông là 32km, diện tích lưu vực là 140km2, hệ số uốn khúc 1,2,
hệ số hình dạng 0,3, mật độ lưới sông 1,0km/km2 Sông Cầu là phụ lưu bên phải của
Sông Cái Nha Trang, nhập vào Sông Cái Nha Trang tại xã Sông Cầu
+ Sông Chò là phụ lưu lớn nhất của Sông Cái Nha Trang bắt nguồn từ núi Chủ Hạt cao 1.475m thuộc địa phận Đắc Lắc Sông chảy theo hướng Tây bắc - Đông nam,
có chiều dài 63km với diện tích lưu vực là 589km2, hệ số uốn khúc là 1,4; mật độ lưới
sông là 0,5km/km2 Sông Chò nhập vào sông Cái Nha Trang tại xã Diên Đồng
Trang 38Huyện Khánh Vĩnh có nhiều sông lớn nhưng do độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh nên không thể khai thác phục vụ giao thông đường thuỷ được Việc khai thác phục vụ
sản xuất nông nghiệp cũng bị hạn chế do địa hình các vùng đất canh tác ven sông cao,
địa hình không bằng phẳng Hiện nay chủ yếu là khai thác các nhánh suối của các sông
trên làm đập dâng, hồ chứa nhỏ để mở rộng diện tích trồng lúa Muốn mở rộng diện
tích được tưới phải xây dựng hồ chứa nước lớn
Bên cạnh đó, do sông có độ dốc lớn nên thuận lợi trong việc khai thác làm các công trình thủy điện vừa và nhỏ
Hình 3.2 Bản đồ mạng lưới thủy văn huyện Khánh Vĩnh
Trang 393.1.2 Các nguồn tài nguyên
Tỷ lệ
%
(Nguồn: Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Trung, 2005)
Trên cơ sở tài liệu điều tra, phân loại đất toàn tỉnh trước đây và điều tra, bổ sung phân loại đất năm 2005 tỉnh Khánh Hoà do Phân viện Quy hoạch và Thiết kế
Nông nghiệp miền Trung thực hiện và tài liệu điều tra đất các xã Tổng diện tích tự
nhiên toàn huyện có 116.714,37 ha; gồm có các nhóm đất sau:
Trang 40- Nhóm đất phù sa (P): có 3 đơn vị đất là Pbc, Pc, Py; tổng diện tích 1.839ha, chiếm 1,58% diện tích tổng DTTN toàn huyện, phân bố dọc hai bên các sông chính
như sông Cái - Thác Ngựa, sông Chò, sông Giang, sông Cầu, sông Khế và các nhánh
suối chảy xuống các sông trên Tập trung ở hầu hết các xã nhưng các xã có diện tích
khá lớn là Khánh Hiệp, Khánh Bình, Khánh Đông, Khánh Trung, Khánh Thượng,
Khánh Phú, Sông Cầu Nhóm đất này chia làm 3 loại như sau :
+ Đất phù sa được bồi chua hàng năm (Pbc): diện tích 51 ha, chiếm 0,04%
tổng diện tích toàn huyện Vùng đất này nằm dọc sông Chò, địa hình thấp thuộc xã
Khánh Bình và Khánh Hiệp
+ Đất phù sa không được bồi chua hàng năm (Pc): diện tích 713 ha, chiếm
0,61% tổng diện tích toàn huyện Vùng đất này phân bố ở địa hình bằng cao ít bị ngập
nước ven sông Thác Ngựa, sông Giang, sông Cầu, sông Chò thuộc các xã Khánh Hiệp,
Khánh Bình, Khánh Đông, Khánh Trung, Khánh Phú
+ Đất phù sa suối (Py): diện tích 1.075 ha, chiếm 0,82% tổng diện tích toàn
huyện Tập trung chủ yếu ở các xã Khánh Hiệp, Khánh Bình, Khánh Đông, Khánh
Trung, Khánh Phú, Cầu Bà, Khánh Thượng
- Đây là nhóm đất phân bố ở địa hình bằng phẳng, có những tính chất lý hoá học tốt hơn các nhóm đất khác, rất thích hợp cho các loại cây trồng nhất là lúa, màu,
mía, nên cần khai thác triệt để vào sản xuất nông nghiệp Hiện nay, người dân đang
canh tác lúa nước và cây hàng năm như: ngô, mía,
- Nhóm đất xám trên đá mác ma axit (Xa): có diện tích 829 ha, chiếm 0,71%
tổng diện tích tự nhiên; phân bố ở các xã Khánh Thượng, Khánh Hiệp, Khánh Trung
Do đất có thành phần cơ giới chủ yếu là thịt nhẹ, tầng dầy chủ yếu dưới 70 cm, tập
trung ở đọ dốc dưới 8o nên thích hợp bố trí trồng màu, cây công nghiệp ngắn ngày
- Nhóm đất đỏ vàng (F): có 2 đơn vị đất là Fa, Fs: diện tích 80.823,79 ha chiếm 69,25 % tổng DTTN toàn huyện;
+ Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất (Fs): diện tích 24.053 ha chiếm 20,61%
tổng DTTN toàn huyện, phân bố chủ yếu trên địa hình đồi thoải dưới 15o, tập trung
chủ yếu ở trung tâm huyện gồm xã Khánh Nam và Thị trấn Khánh Vĩnh
+ Đất đỏ vàng trên đá mác ma axit (Fa): diện tích 56.770,79 ha chiếm 48,64%
tổng DTTN toàn huyện Phân bố ở địa hình núi cao, tập trung nhiều nhất ở các xã Khánh
Phú, Khánh Thượng, Khánh Trung, Khánh Bình Nhóm đất đỏ vàng phân bố ở độ dốc
3-150 và trên 150 nên thích hợp trồng mía, cây lâu năm và phát triển lâm nghiệp
- Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi (Ha) : có diện tích 31.653 ha chiếm 27,33 % tổng DTTN toàn huyện Phân bố tập trung ở vùng độ dốc trên 25o các thuộc các xã
Khánh Trung, Khánh Thành, Khánh Phú, Khánh Thượng và Sơn Thái Nhóm đất này