1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ thiết kế một số dạng bài tập rèn luyện kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng anh

306 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 306
Dung lượng 4,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH PHẠM NGỌC TUẤN THIẾT KẾ MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC BẰNG TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHẠM NGỌC TUẤN

THIẾT KẾ MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN

KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TRONG DẠY HỌC

HÓA HỌC BẰNG TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHẠM NGỌC TUẤN

THIẾT KẾ MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN

KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TRONG DẠY HỌC

HÓA HỌC BẰNG TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Hóa học

Mã số: 9140111

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS CAO CỰ GIÁC

NGHỆ AN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Cao Cự Giác Các kết quả của luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác

Tác giả luận án

Phạm Ngọc Tuấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành luận án, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tập thể và cá nhân

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Cao Cự Giác, người thầy

đã định hướng đề tài, luôn tạo điều kiện, nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ, đồng hành cùng tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, thầy cô thuộc

Bộ môn Lí luận và Phương pháp dạy học Hóa học – Viện Sư phạm Tự nhiên, Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các giáo viên và các em học sinh tại các trường THPT: chuyên Trần Đại Nghĩa, chuyên Gia Định, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Quý Đôn; Bùi Thị Xuân, Quốc tế Bắc Mỹ, Quốc tế iSchool (TP Hồ Chí Minh); chuyên Huỳnh Mẫn Đạt (tỉnh Kiên Giang); chuyên Tiền Giang (tỉnh Tiền Giang); Trần Quốc Tuấn (tỉnh Quảng Ngãi); Năng khiếu Tân Học – Trường Đại học Tân Tạo (tỉnh Long An) đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi tiến hành thực nghiệm

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, khuyến khích và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Nghệ An, tháng 01 năm 2021

Tác giả

Phạm Ngọc Tuấn

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Biểu đồ nhận thức của các đối tượng khảo sát về tầm quan trọng của việc dạy học HH bằng tiếng Anh ở trường THPT 28 Hình 1.2 Biểu đồ nhận thức của các đối tượng khảo sát về MĐ quan tâm và đầu tư của nhà trường cho việc tổ chức dạy học HH bằng tiếng Anh ở trường THPT 29 Hình 1.3 Biểu đồ nhận thức của các đối tượng khảo sát về mục đích của việc học tập HH bằng tiếng Anh ở trường THPT 30 Hình 1.4 Biểu đồ MĐ khó của dạy học môn HH bằng tiếng Anh so với các môn KHTN khác 32 Hình 1.5 Biểu đồ MĐ phù hợp của nội dung dạy học HH bằng tiếng Anh 32 Hình 1.6 Biểu đồ nhận thức của các đối tượng khảo sát về tầm quan trọng của KN đọc hiểu trong dạy học bộ môn Hoá học bằng tiếng Anh ở trường THPT 35 Hình 1.7 Biểu đồ nhận thức về sử dụng KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh ở trường THPT 36 Hình 1.8 Nhận thức của HS về kết quả tự đánh giá KN đọc hiểu của HS trong việc học tập môn HH bằng tiếng Anh ở trường THPT 36 Hình 1.9 Nhận thức của HS về các KN đọc hiểu các môn KHTN bằng tiếng Anh ở trường THPT 37 Hình 2.1 Quy trình xây dựng bộ TC đánh giá KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh ở trường THPT 49 Hình 2.2 Sơ đồ KN làm BT điền từ cho sẵn vào bài đọc có nội dung HH 64 Hình 2.3 Sơ đồ KN làm BT điền từ tự do vào bài đọc có nội dung HH 69 Hình 2.4 Sơ đồ KN làm BTHH sử dụng thông tin được cung cấp từ dữ kiện đề bài rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh 73 Hình 2.5 Sơ đồ PP làm BTHH tính toán định lượng rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học

HH bằng tiếng Anh 87 Hình 2.6 Sơ đồ KN làm BTHH tính toán định lượng rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học

HH bằng tiếng Anh 87 Hình 2.7 Quy trình đề xuất và áp dụng các biện pháp sử dụng BT rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh cho HS THPT 96 Hình 2.8 Sơ đồ biểu diễn tương tác giữa GV, HS và môi trường dạy học 96 Hình 2.9 Sơ đồ biểu diễn các bước tìm cách giải quyết vấn đề 101 Hình 3.1 Biểu đồ biểu diễn điểm điểm bài kiểm tra (1), phân loại kết quả ĐKT (2), đồ thị lũy tích biểu diễn kết quả của lớp TN và ĐC (3) vòng TN thăm dò 125 Hình 3.2 Biểu đồ biểu diễn điểm điểm bài kiểm tra (1), phân loại kết quả ĐKT (2), đồ thị lũy tích biểu diễn kết quả của lớp TN và ĐC (3) TN vòng 1 127

Trang 7

Hình 3.3 Biểu đồ biểu diễn điểm điểm bài kiểm tra (1), phân loại kết quả ĐKT (2), đồ thị lũy tích biểu diễn kết quả của lớp TN và ĐC (3) TN vòng 2 đối với khối 10 129 Hình 3.4 Biểu đồ biểu diễn điểm bài kiểm tra (1), phân loại kết quả ĐKT (2), đồ thị lũy tích biểu diễn kết quả của lớp TN và ĐC (3) TN vòng 2 đối với khối 11 130 Hình 3.5 Biểu đồ biểu diễn điểm điểm bài kiểm tra (1), phân loại kết quả ĐKT (2), đồ thị lũy tích biểu diễn kết quả của lớp TN và ĐC (3) TN vòng 2 đối với khối 12 132 Hình 3.6 Biểu đồ biểu diễn điểm điểm bài kiểm tra (1), phân loại kết quả ĐKT (2), đồ thị lũy tích biểu diễn kết quả của lớp TN và ĐC (3) TN vòng 2 133 Hình 3.7 Tiết học HH bằng tiếng Anh tại trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa – TP HCM 134 Hình 3.8 Tiết học thực hành HH sử dụng tiếng Anh tại trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai – TP HCM 134 Hình 3.9 Tiết học HH bằng tiếng Anh tại trường Quốc tế Bắc Mỹ – TP HCM 135

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Top 4 quốc gia có sinh viên quốc tế đang theo học tại Hoa Kỳ 12 Bảng 1.2 Kết quả các giá trị “Mode” và giá trị trung bình “Mean” đối với những yếu tố ảnh hưởng trong quá trình dạy học HH bằng tiếng Anh 30 Bảng 1.3 Kết quả các giá trị “Mode” và giá trị TB “Mean” đối với những công việc chuẩn

bị và PP học tập cần thiết của HS khi thực hiện dạy học HH bằng tiếng Anh 31 Bảng 1.4 Bảng đánh giá độ tin cậy của số liệu thống kê Spearman – Brown về nhận thức của các đối tượng khảo sát về nội dung và PP dạy học cần thiết khi thực hiện dạy học HH bằng tiếng Anh 33 Bảng 2.1 Các tham số đặc trưng cho mô hình CFA 51 Bảng 2.2 Bộ TC đánh giá KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh ở trường THPT 52 Bảng 2.3 Bảng quy đổi điểm đánh giá từng TC KN đọc hiểu HH trong dạy học bằng tiếng Anh 56 Bảng 2.4 Bảng quy đổi điểm đánh giá KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh 56 Bảng 3.1 Thông tin các lớp TN và đối chứng (học kỳ 1 năm học 2018 – 2019) 105 Bảng 3.2 Thông tin các lớp TN và đối chứng vòng 1 (học kỳ 2 năm học 2018 – 2019) 106 Bảng 3.3 Thông tin các lớp TN và đối chứng vòng 2 (học kỳ 1 năm học 2019 – 2020) 106 Bảng 3.4 Kết quả đánh giá KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung theo từng TC đối với nhóm ĐC ở vòng TN thăm dò 112 Bảng 3.5 Kết quả đánh giá KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung theo từng TC đối với nhóm ĐC khi TN vòng thăm dò 113 Bảng 3.6 Kết quả đánh giá phân loại KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung đối với nhóm ĐC khi TN thăm dò 113 Bảng 3.7 Bảng đánh giá độ tin cậy của số liệu thống kê Spearman – Brown đối với nhóm

ĐC trong vòng TN thăm dò 113 Bảng 3.8 Kết quả đánh giá KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung theo từng TC đối với nhóm TN ở vòng TN thăm dò 114 Bảng 3.9 Kết quả đánh giá KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung theo từng TC đối với nhóm TN ở vòng TN thăm dò 114 Bảng 3.10 Kết quả đánh giá phân loại KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung theo từng MĐ đối với nhóm TN ở vòng TN thăm dò 114 Bảng 3.11 Bảng đánh giá độ tin cậy của số liệu thống kê Spearman – Brown đối với nhóm

TN trong vòng TN thăm dò 115

Trang 9

Bảng 3.12 Kết quả đánh giá KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung

theo từng TC đối với nhóm ĐC khi TN vòng 1 115

Bảng 3.13 Kết quả đánh giá KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung theo từng TC đối với nhóm ĐC khi TN vòng 1 116

Bảng 3.14 Kết quả đánh giá phân loại KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung theo từng MĐ đối với nhóm ĐC khi TN vòng 1 116

Bảng 3.15 Bảng đánh giá độ tin cậy của số liệu thống kê Spearman – Brown đối với nhóm ĐC trong vòng 1 116

Bảng 3.16 Kết quả đánh giá KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung theo từng TC đối với nhóm TN ở vòng TN 1 116

Bảng 3.17 Kết quả đánh giá KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung theo từng TC đối với nhóm TN khi TN vòng 1 117

Bảng 3.18 Kết quả đánh giá phân loại KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung theo từng MĐ đối với nhóm TN khi TN vòng 1 117

Bảng 3.19 Bảng đánh giá độ tin cậy của số liệu thống kê Spearman – Brown đối với nhóm TN trong vòng 1 118

Bảng 3.20 Kết quả đánh giá KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung theo từng TC đối với nhóm ĐC khi TN vòng 2 118

Bảng 3.21 Kết quả đánh giá KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung theo từng TC đối với nhóm ĐC khi TN vòng 2 119

Bảng 3.22 Kết quả đánh giá phân loại KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung theo từng MĐ đối với nhóm ĐC khi TN vòng 2 120

Bảng 3.23 Bảng đánh giá độ tin cậy của số liệu thống kê Spearman – Brown đối với nhóm ĐC trong vòng 2 120

Bảng 3.24 Kết quả đánh giá KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung theo từng TC đối với nhóm TN khi TN vòng 2 120

Bảng 3.25 Kết quả đánh giá KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung theo từng TC đối với nhóm TN khi TN vòng 2 122

Bảng 3.26 Kết quả đánh giá phân loại KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh nói chung theo từng MĐ đối với nhóm TN khi TN vòng 2 122

Bảng 3.27 Bảng đánh giá độ tin cậy của số liệu thống kê Spearman – Brown đối với nhóm TN trong vòng 2 122

Bảng 3.28 Tổng hợp điểm bài kiểm tra vòng TN thăm dò 124

Bảng 3.29 Bảng phân bố tần suất lũy tích vòng TN thăm dò 124

Bảng 3.30 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng vòng TN thăm dò 124

Bảng 3.31 Bảng phân loại kết quả ĐKT vòng TN thăm dò 124

Bảng 3.32 Tổng hợp điểm bài kiểm tra TN vòng 1 126

Trang 10

Bảng 3.33 Bảng phân bố tần suất lũy tích TN vòng 1 126

Bảng 3.34 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng TN vòng 1 126

Bảng 3.35 Bảng phân loại chung kết quả ĐKT TN vòng 1 126

Bảng 3.36 Tổng hợp điểm bài kiểm tra TN vòng 2 đối với khối 10 128

Bảng 3.37 Bảng phân bố tần suất lũy tích TN vòng 2 đối với khối 10 128

Bảng 3.38 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng TN vòng 2 đối với khối 10 128

Bảng 3.39 Bảng phân loại kết quả ĐKT TN vòng 2 đối với khối 10 128

Bảng 3.40 Tổng hợp điểm bài kiểm tra TN vòng 2 đối với khối 11 129

Bảng 3.41 Bảng phân bố tần suất lũy tích TN vòng 2 đối với khối 11 129

Bảng 3.42 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng TN vòng 2 đối với khối 11 129

Bảng 3.43 Bảng phân loại kết quả ĐKT TN vòng 2 đối với khối 11 130

Bảng 3.44 Tổng hợp các điểm bài kiểm tra TN vòng 2 đối với khối 12 131

Bảng 3.45 Bảng phân bố tần suất lũy tích TN vòng 2 đối với khối 12 131

Bảng 3.46 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng TN vòng 2 đối với khối 12 131

Bảng 3.47 Bảng phân loại kết quả ĐKT TN vòng 2 đối với khối 12 131

Bảng 3.48 Tổng hợp điểm bài kiểm tra TN vòng 2 132

Bảng 3.49 Bảng phân bố tần suất lũy tích TN vòng 2 132

Bảng 3.50 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng TN vòng 2 132

Bảng 3.51 Bảng phân loại kết quả ĐKT TN vòng 2 133

Trang 11

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

3.1 Về cơ sở lí luận và thực tiễn 3

3.2 Về chuyển giao và ứng dụng trong dạy học 3

3.3 Về thống kê và xử lý số liệu 4

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

5 Giả thuyết khoa học 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết 4

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4

7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học 4

8 Đóng góp mới của luận án 5

9 Cấu trúc của luận án 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC BẰNG TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6

1.1 Tổng quan về dạy học hóa học bằng tiếng Anh 6

1.1.1 Trên thế giới 6

1.1.2 Trong nước 8

Giới thiệu hai đề án của Bộ Giáo dục và Đào tạo 8

Chương trình giáo dục phổ thông môn Hóa học 2018 8

Kết quả bước đầu trong việc triển khai đề án của Bộ Giáo dục và Đào tạo về dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông 8

Những nghiên cứu về dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở Việt Nam 10

1.2 Mục đích và ý nghĩa của việc dạy học hóa học phổ thông bằng tiếng Anh 11

1.2.1 Hình thành thói quen, ý thức học chủ động, học suốt đời 11

1.2.2 Rèn luyện các kĩ năng sử dụng tiếng Anh trong học thuật 11

1.2.3 Tạo sự tự tin trong giao tiếp tiếng Anh học thuật 11

1.2.4 Hội nhập giáo dục quốc tế 12

1.3 Kĩ năng đọc hiểu tiếng Anh 12

1.3.1 Đọc hiểu tiếng Anh (Reading comprehension) 13

Việc “Đọc” (Reading) 13

Sự hiểu biết (Comprehension) 15

Trang 12

1.3.2 Kĩ năng đọc hiểu (Reading comprehension skills) 17

1.4 Kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh 18

1.4.1 Mục đích, yêu cầu của kĩ năng đọc hiểu tiếng Anh trong dạy học hóa học 19

Mục đích 19

Yêu cầu 20

1.4.2 Các kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh 22

KN đọc lấy ý chính và nội dung bao quát (Skimming skill) 22

KN đọc nhanh lấy dữ liệu cụ thể, thông tin chi tiết (Scanning skill) 23

KN đọc chuyên sâu (In-depth reading skill) 24

1.5 Năng lực của giáo viên trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh 25

1.5.1 Năng lực dạy học hóa học 25

1.5.2 Năng lực giao tiếp học thuật bằng tiếng Anh 25

1.6 Bài tập hóa học 26

1.6.1 Khái niệm bài tập hóa học 26

1.6.2 Tác dụng của bài tập hóa học 26

1.6.3 Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực thường sử dụng kết hợp với bài tập hóa học 27

Phương pháp dạy học nhóm (Group teaching method) 27

Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề (Problem solving teaching) 27

1.7 Thực trạng dạy học hóa học bằng tiếng Anh hiện nay ở các trường trung học phổ thông tại Việt Nam 27

1.7.1 Mục đích khảo sát 27

1.7.2 Nội dung khảo sát 27

1.7.3 Đối tượng khảo sát 28

1.7.4 Địa bàn khảo sát 28

1.7.5 Phương pháp khảo sát 28

1.7.6 Tiến trình khảo sát 28

1.7.7 Phân tích và đánh giá kết quả khảo sát 28

1.8 Thực trạng rèn luyện kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông tại Việt Nam 34

1.8.1 Mục đích khảo sát 34

1.8.2 Nội dung khảo sát 34

1.8.3 Đối tượng khảo sát 34

1.8.4 Địa bàn khảo sát 34

1.8.5 Phương pháp khảo sát 34

1.8.6 Tiến trình khảo sát 34

1.8.7 Các nội dung khảo sát 34

Trang 13

Nội dung 1: Tầm quan trọng của kĩ năng đọc hiểu trong dạy học bộ môn Hoá học

bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông 34

Nội dung 2: Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39

Chương 2 THIẾT KẾ MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC BẰNG TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 40

2.1 Những yêu cầu cần thiết để sử dụng bài tập rèn luyện kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh 40

2.1.1 Đọc hiểu nội dung hóa học bằng tiếng Anh 40

Đọc và hiểu được từ vựng, thuật ngữ hóa học 40

Đọc và hiểu được từ và cụm từ liên kết để kết nối chặt chẽ những đề xuất khoa học một cách hợp lý 42

Đọc và hiểu được các khái niệm hóa học và các nguyên tắc hóa học 42

2.1.2 Hoàn thành các yêu cầu của câu hỏi 43

Xác định được nội dung chính 43

Xác định được nội dung chi tiết, cụ thể 44

Suy luận từ kiến thức sẵn có hoặc dữ kiện của bài tập 44

Đoán và hiểu được nghĩa của từ vựng mới hoặc từ vựng trong ngữ cảnh 45

2.2 Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kĩ năng đọc hiểu hóa học bằng tiếng Anh 46

2.2.1 Mục tiêu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kĩ năng đọc hiểu hóa học bằng tiếng Anh 46

Đối với giáo viên 46

Đối với HS 46

2.2.2 Nguyên tắc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kĩ năng đọc hiểu hóa học bằng tiếng Anh 46

2.2.3 Quy trình xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh 48

2.2.4 Phác thảo và lấy ý kiến khảo sát về bộ tiêu chí đánh giá kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông 49

2.2.5 Cấu trúc bộ tiêu chí đánh giá kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông 52

2.3 Thiết kế một số dạng bài tập rèn luyện kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông 56

2.3.1 Nguyên tắc chung xây dựng các dạng bài tập đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh 56

Trang 14

2.3.2 Quy trình xây dựng bài tập đọc hiểu hóa học bằng tiếng Anh 57

2.4 Một số dạng bài tập rèn luyện kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường THPT 62

2.4.1 Bài tập hóa học điền từ cho sẵn 62

Mô tả dạng bài tập hóa học điền từ cho sẵn 62

Nguyên tắc thiết kế bài tập hóa học điền từ cho sẵn 63

Phương pháp làm bài tập hóa học điền từ cho sẵn 63

Kĩ năng làm bài tập hóa học điền từ cho sẵn 64

Ví dụ minh họa bài tập hóa học điền từ cho sẵn 64

2.4.2 Bài tập hóa học điền từ tự do 67

Mô tả dạng bài tập hóa học điền từ tự do 67

Nguyên tắc thiết kế bài tập hóa học điền từ tự do 68

Phương pháp làm bài tập hóa học điền từ tự do 68

Kĩ năng làm bài tập hóa học điền từ tự do 69

Ví dụ minh họa bài tập hóa học điền từ tự do 69

2.4.3 Bài tập hóa học sử dụng thông tin được cung cấp từ dữ kiện đề bài 72

Mô tả dạng bài tập hóa học sử dụng thông tin được cung cấp từ dữ kiện đề bài 72 Nguyên tắc thiết kế bài tập hóa học sử dụng thông tin được cung cấp từ dữ kiện đề bài 72

Phương pháp làm bài tập hóa học sử dụng thông tin được cung cấp từ dữ kiện đề bài 72

Kĩ năng làm bài tập hóa học sử dụng thông tin được cung cấp từ dữ kiện đề bài 73 Ví dụ minh họa bài tập hóa học sử dụng thông tin được cung cấp từ dữ kiện đề bài 73

2.4.4 Bài tập hóa học tính toán định lượng 86

Mô tả dạng bài tập hóa học tính toán định lượng 86

Nguyên tắc thiết kế bài tập hóa học tính toán định lượng 86

Phương pháp làm bài tập hóa học tính toán định lượng 86

Kĩ năng làm bài tập hóa học tính toán định lượng 87

Ví dụ minh họa bài tập hóa học tính toán định lượng 87

2.5 Một số biện pháp sử dụng bài tập rèn luyện kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh cho học sinh trung học phổ thông 94

2.5.1 Nguyên tắc và cơ sở đề xuất các biện pháp sử dụng bài tập rèn luyện kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh cho học sinh trung học phổ thông 94

Nguyên tắc đề xuất 94

Cơ sở đề xuất 95

Trang 15

2.5.2 Quy trình đề xuất và áp dụng các biện pháp sử dụng bài tập rèn luyện kĩ năng đọc

hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh cho học sinh trung học phổ thông 95

2.5.3 Nội dung các biện pháp sử dụng bài tập rèn luyện kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông 96

Biện pháp 1: Vận dụng phương pháp dạy học nhóm trong việc sử dụng bài tập rèn luyện kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh để rèn luyện kĩ năng giao tiếp học thuật chuyên ngành hóa học 96

Biện pháp 2: Vận dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong việc sử dụng bài tập rèn luyện kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh để rèn luyện kĩ năng tư duy hóa học bằng phương pháp giải quyết vấn đề 100

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 104

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 105

3.1 Mục đích thực nghiệm 105

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 105

3.3 Đối tượng thực nghiệm 105

3.3.1 Đối tượng thực nghiệm thăm dò 105

3.3.2 Đối tượng thực nghiệm vòng 1 106

3.3.3 Đối tượng thực nghiệm vòng 2 106

3.4 Tiến trình và nội dung thực nghiệm sư phạm 108

3.4.1 Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 108

3.4.2 Trao đổi với giáo viên tham gia thực thiện thực nghiệm 108

3.4.3 Tiến hành thực nghiệm 109

Chuẩn bị cho tiết dạy trên lớp 109

Tổ chức kiểm tra, đánh giá 109

Nội dung thực nghiệm sư phạm 109

3.5 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 110

3.5.1 Phân tích định tính kết quả kiểm tra 110

3.5.2 Phân tích định lượng kết quả kiểm tra 110

3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm 112

3.6.1 Kết quả đánh giá kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh 112

Kết quả thực nghiệm vòng thăm dò 112

Kết quả thực nghiệm vòng 1 115

Kết quả thực nghiệm vòng 2 118

3.6.2 Kết quả đánh giá kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh thông qua điểm bài kiểm tra 124

Đối với thực nghiệm vòng thăm dò 124

Đối với thực nghiệm vòng 1 126

Trang 16

Đối với thực nghiệm vòng 2 128

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 136

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 137

1 Kết luận 137

2 Khuyến nghị 137

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 139

TÀI LIỆU THAM KHẢO 140 PHỤ LỤC

Trang 17

Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp (PP) dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng (KN) của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, KN, phát triển năng lực (NL)” Trong các văn kiện trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta nhấn mạnh sự quan tâm đặc biệt và làm rõ hơn lập trường, quan điểm, tính nhất quán về sự cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

Kinh tế của nước Việt Nam ta đang trên đà phát triển Bên cạnh đó, giáo dục cũng đang phát triển nhanh chóng, từng bước thay đổi để phù hợp hơn với xu thế hội nhập, đáp ứng được nhu cầu của xã hội về đào tạo nguồn nhân lực Trong giai đoạn công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước cùng với đường lối đổi mới và chính sách mở cửa để thu hút nguồn lực, đẩy mạnh hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước thì ngoại ngữ là một công cụ đóng vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là tiếng Anh Bất kỳ một hội nghị quốc tế nào thì ngôn ngữ chính sử dụng khi làm việc cũng là tiếng Anh Hiện nay ở Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) cũng như người dân có sự quan tâm đặc biệt đến ngôn ngữ này, rất nhiều

đề án cũng như chương trình thí điểm được thiết lập để nâng cao NL sử dụng ngoại ngữ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Việc gia nhập WTO càng khẳng định rõ hơn vai trò của tiếng Anh, nó là cầu nối cho việc giao lưu văn hoá, học hỏi, trao đổi thông tin, thiết lập các mối quan hệ trong nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam và nhiều nước trên thế giới

Trang 18

Nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế về lĩnh vực giáo dục, khoa học, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020” [1]; Đề án “Phát triển hệ thống trường Trung học phổ thông (THPT) chuyên giai đoạn 2010 – 2020” [2] và Quyết định số 2080/QĐ-TTg ngày 22/12/2017 phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2017 – 2025” [3] do Bộ GD-ĐT đề nghị với mục tiêu đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong đó, việc dạy học các môn khoa học tự nhiên (KHTN) bằng tiếng Anh đang được chú trọng, không những nhằm nâng cao NL ngoại ngữ mà còn nâng cao khả năng nghiên cứu, học tập, trao đổi kinh nghiệm trong các lĩnh vực khoa học cũng như tạo sự tự tin khi đi học tập, tu nghiệp ở nước ngoài sau này Qua đó cho thấy tính cấp thiết của việc đào tạo nâng cao trình độ tiếng Anh trong hệ thống giáo dục của nước ta

“Khoa học mà không có ngôn ngữ diễn đạt cũng giống như một con tàu mà không có buồm Vì vậy, cũng giống như không thể xây dựng một ngôi nhà mà không có mái nhà, không thể xây dựng hiểu biết về khoa học mà không cần khám phá cách thức mà nhiều ngôn ngữ khoa học được sử dụng để diễn đạt ý nghĩa” [128, tr 203-218] Tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc học tập HH đã được biết đến từ rất lâu và đã được thảo luận gần đây ở một số quốc gia (như Taber K S., 2015 [149, tr 193-197])

Hóa học (HH) là một môn học đầy thách thức do sự phức tạp về mặt khoa học của

nó [87] HH đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của con người Là một trong những môn học có giá trị thực tiễn cao nhất, HH hiện diện ở mọi khía cạnh trong cuộc sống Thông qua việc dạy học các môn khoa học bằng tiếng Anh, trong đó có bộ môn HH thì khả năng ngoại ngữ của học sinh (HS) được nâng cao rõ rệt, HS hoàn toàn có thể tiếp cận các tài liệu bằng tiếng Anh ở cùng trình độ Tuy nhiên, việc triển khai các đề án trên cũng còn rất nhiều khó khăn Một trong số nguyên nhân quan trọng nhất là các trường vẫn chưa có sự thống nhất về giáo trình lý thuyết và bài tập nên mà tài liệu chủ yếu do tự mỗi trường biên soạn Điều đó dẫn đến sự không thống nhất về chuẩn kiến thức cần đạt được ở

HS nên HS chưa phát triển đầy đủ các KN sử dụng tiếng Anh Một trong những KN cần thiết và quan trọng cho việc tự nghiên cứu tài liệu nước ngoài, đó là KN đọc hiểu

KN đọc hiểu là một trong những KN cơ bản (nghe, nói, đọc, viết) được chú trọng hàng đầu trong quá trình dạy và học ngoại ngữ, quyết định xem người học có hiểu nội dung của bài hay không Vì vậy nếu HS có khả năng đọc hiểu tiếng Anh tốt thì các em có thể đọc được nhiều sách, báo, tài liệu bằng tiếng Anh với những nội dung phù hợp với trình

độ và lứa tuổi, giúp HS có điều kiện nâng cao trình độ tiếng Anh Giáo viên (GV) không chỉ đơn thuần giúp HS hiểu được nội dung trong mỗi bài đọc mà còn vận dụng một cách

Trang 19

linh hoạt các kĩ thuật giảng dạy phù hợp với nội dung cụ thể của từng bài để gây hứng thú cho HS và tạo ra những hoạt động luyện tập giúp HS luyện tập KN này một cách hiệu quả

KN đọc hiểu Hoá học bằng tiếng Anh đóng vai trò rất quan trọng trong việc thông hiểu, tìm tòi những kiến thức HH, làm nền tảng để HS THPT có thể tiếp cận với những kiến thức trên thế giới trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay Có một sự liên quan rất mật thiết giữa kiến thức HS có được (kể cả kiến thức đạt được và kiến thức sẵn có) và việc áp dụng thành công các KN đọc hiểu đối với các bài đọc Ngoài ra, bài tập (BT) HH là công

cụ có thể giúp HS kiểm tra, củng cố, đào sâu, mở rộng kiến thức một cách đa dạng, sinh động cũng như ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách hiệu quả

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Thiết kế một số dạng bài tập

rèn luyện kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu quá trình dạy học Hoá học bằng tiếng Anh ở trường THPT, đề xuất các dạng BT để rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh cho HS

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Về cơ sở lí luận và thực tiễn

- Mục đích và ý nghĩa của việc dạy học HH bằng tiếng Anh ở trường THPT

- KN, KN đọc hiểu tiếng Anh, KN đọc hiểu HH bằng tiếng Anh

- Năng lực của GV trong dạy học HH bằng tiếng Anh

- Cơ sở lý luận về PP dạy học nhóm, PP dạy học giải quyết vấn đề

- Thực trạng triển khai 2 đề án “Phát triển hệ thống trường trung học phổ thông chuyên giai đoạn 2010 – 2020” (Số 959/QĐ-TTg ngày 24/6/2010) và Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống Giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020” (Số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008)

- Thực trạng dạy học HH bằng tiếng Anh và rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học

HH bằng tiếng Anh ở trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM)

3.2 Về chuyển giao và ứng dụng trong dạy học

- Hệ thống một số kiến thức về đọc hiểu tiếng Anh, KN đọc hiểu tiếng Anh và KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh ở trường THPT

- Xây dựng bộ tiêu chí (TC) đánh giá KN đọc hiểu HH bằng tiếng Anh

- Xây dựng 4 dạng bài tập hóa học (BTHH) rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học

HH bằng tiếng Anh cho HS THPT theo hướng đổi mới PP dạy học, ứng dụng các PP dạy học tích cực để góp phần nâng cao PP dạy và học của GV và HS

- Đề xuất 2 biện pháp sử dụng BT rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh cho HS THPT

- Tài liệu tham khảo cho hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài này

Trang 20

3.3 Về thống kê và xử lý số liệu

- Thống kê, xử lý số liệu, phân tích kết quả khảo sát thực trạng làm cơ sở cho việc

đề xuất KN đọc hiểu HH bằng tiếng Anh và các dạng BT rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh ở trường THPT

- Thống kê, xử lý, phân tích kết quả TN sư phạm để khẳng định tính cần thiết, tính đúng đắn của giả thuyết khoa học được đặt ra

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: quá trình rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh trong dạy và học của GV và HS trường THPT

- Đối tượng nghiên cứu:

+ KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh ở trường THPT

+ TC đánh giá KN đọc hiểu HH bằng tiếng Anh ở trường THPT

+ Các dạng BT rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh ở trường THPT

+ Các biện pháp sử dụng BT rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh cho HS

5 Giả thuyết khoa học

Nếu thiết kế được một số dạng BT rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh cho HS THPT có chất lượng tốt và sử dụng hợp lý trong dạy học thì sẽ nâng cao

KN đọc hiểu HH bằng tiếng Anh cho HS, qua đó nâng cao chất lượng dạy học HH ở THPT

6 Phạm vi nghiên cứu

Điều tra, khảo sát và thực nghiệm (TN) ở một số trường THPT có thực hiện chương trình dạy học HH bằng tiếng Anh

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu các tài liệu Lý luận và PP dạy học HH

- Nghiên cứu các tài liệu khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến dạy học

HH bằng tiếng Anh, đặc biệt là việc phát triển KN đọc hiểu cho HS

- Nghiên cứu xu hướng tiếp cận quá trình dạy học HH bằng tiếng Anh trong thời kỳ hội nhập của các nước phát triển hiện nay

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Khảo sát bằng các phiếu hỏi

- Phỏng vấn, dự giờ, TN sư phạm

- PP chuyên gia: Trao đổi và lấy ý kiến các chuyên gia

7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học

- Xử lý số liệu khảo sát, TN sư phạm theo PP Spearman – Brown, kiểm định T-test

Trang 21

- Xử lý số liệu kiểm định độ tin cậy và mức độ phù hợp của bộ TC đánh giá KN đọc hiểu HH bằng tiếng Anh thông qua các giá trị Cronbach Alpha; phân tích nhân tố EFA, CFA và tương quan Pearson

8 Đóng góp mới của luận án

- Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về dạy học HH bằng tiếng Anh ở trường THPT

- Làm rõ thực trạng dạy học HH bằng tiếng Anh và rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh cho HS ở trường THPT; chỉ ra được những hạn chế và phân tích được những nguyên nhân cơ bản

- Đề xuất và sử dụng bộ TC đánh giá KN đọc hiểu HH bằng tiếng Anh

- Đề xuất và sử dụng 4 dạng BT rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh ở trường THPT

- Đề xuất và sử dụng hai biện pháp biện pháp sử dụng BT rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh cho HS THPT một cách hiệu quả; khẳng định tính cần thiết và khả thi của các biện pháp thông qua thăm dò ý kiến chuyên gia và TN sư phạm

- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các KN đọc hiểu cho HS thông qua việc tự học, tự nghiên cứu dưới sự hỗ trợ của giáo viên

9 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các cụm từ viết tắt, danh mục các bảng, biểu đồ, sơ đồ; danh mục tài liệu tham khảo; danh mục các công trình khoa học của tác giả và phụ lục (PL), nội dung chính của luận án được cấu trúc thành 3 chương:

- Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của của việc rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh ở trường THPT

- Chương 2 Thiết kế một số dạng BT rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh ở trường THPT

- Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 22

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC BẰNG TIẾNG ANH Ở

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tổng quan về dạy học hóa học bằng tiếng Anh

1.1.1 Trên thế giới

Trên thế giới hiện có khoảng 60 nước và vùng lãnh thổ sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức Trong đó có nhiều nước sử dụng tiếng Anh cho việc dạy các môn khoa học ở nhà trường phổ thông như Ấn Độ, Trung Quốc, Hồng Kông, Philippines, Singapore, Ireland, Anh, Wales, Scotland, Canada, Jamaica, Mỹ, Peurto Rico, Liberia, Nam Phi, Zimbabwe, New Zealand, Úc, Isarel, Malaysia, Brunei, Costa Rica, Sri Lanka,

Ở Hoa Kỳ, GV Cara Hanes – một GV giảng dạy môn HH tại trường cấp ba Long Beach Polytechnic, đã thiết kế một PP để tiếp cận đến một chương trình cơ bản nhằm giúp

HS có thể tiếp xúc với môn HH, đặc biệt là những người học sử dụng ngôn ngữ thứ hai (cụ thể là tiếng Anh) Mục tiêu của GV này là không tạo ra một lớp học có những HS có khả năng cao trong bộ môn này mà để giúp HS có thêm kinh nghiệm nghiên cứu khoa học một thành công hơn, thúc đẩy sự tự tin của HS và kiến thức khoa học tổng thể PP này kết hợp nhiều khả năng tư duy, những chu trình học tập và hướng dẫn nghiên cứu bằng ngôn ngữ học thuật được thiết kế đặc biệt bằng tiếng Anh, gọi tắt là SDAIE (specially designed academic instruction in English) PP này bao gồm nhiều bước: học ngôn ngữ, viết công thức HH, hiểu phản ứng HH, đại lượng “mol” [172]

Ở Cộng hòa Séc, Trường ĐH Ostrava đã sử dụng một chương trình tổng thể chủ yếu nhằm đặc biệt chuẩn bị cho GV môn HH, trong đó có chuẩn bị cho việc giảng dạy môn học này bằng tiếng Anh Chương trình này bao gồm nhiều môn học sư phạm, tâm lý học

và các môn khác để mở rộng trình độ của GV trong giáo dục KHTN Chương trình tập trung vào việc phát triển chuyên môn của sinh viên cũng như về khả năng truyền đạt kiến thức HH phù hợp với trình độ của HS trung học, về NL làm việc có hiệu quả bằng các PP

và kỹ thuật dạy học thích hợp Khi tốt nghiệp, sinh viên cũng có đủ khả năng để làm việc trong môi trường mang tính nguy hiểm cao; có thể làm việc với các cơ sở dữ liệu, thông tin; được trang bị khả năng truyền đạt, diễn đạt tốt; khả năng xử lý các dữ liệu TN; ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin; đặc biệt là có thể trình bày kết quả công việc hoặc

giảng dạy bộ môn bằng ngoại ngữ, cụ thể là tiếng Anh [155]

Ở Hồng Kông, môi trường học chính thức ở hầu hết các trường trung học phổ thông

là sử dụng tiếng Anh nhưng nhiều HS chưa đủ trình độ để học với ngôn ngữ này Do đó, tiếng Anh trong sách giáo khoa được sử dụng rất đơn giản cùng với nhiều sơ đồ để minh hoạ sinh động hơn Tại các trường THPT có chương trình giảng dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh (EMI: English medium of instruction), chẳng hạn như Hoá học, Vật lý, Sinh học và Khoa học Tổng hợp; nhiều chiến lược giảng dạy, ví dụ như làm việc theo nhóm

Trang 23

nhỏ, thảo luận, tranh luận, đóng vai, “bàn tay nặn bột” và dự án được khuyến khích sử dụng Việc dạy các KN giao tiếp học thuật bằng tiếng Anh luôn được đặc biệt chú trọng trong chương trình của các giáo trình mới [166]

Ở Ấn độ, tại một số trường chuẩn (“model” schools), khoa học được dạy tiếng Anh

ở trường trung học Trong những giờ học các môn khoa học, GV vẫn cho phép HS sử dụng tiếng Tamil trong quá trình thảo luận và GV sẽ giải thích các khái niệm bằng tiếng Anh Trong một trường tiểu học gần Chennai, các GV trong trường đều có trình độ đạt chuẩn và

có từ 10 đến 20 năm kinh nghiệm giảng dạy Tất cả các môn học ở trường này đều được dạy bằng tiếng Anh nhưng không GV nào có thể nói tiếng Anh đúng ngữ pháp Họ cho rằng đây là chính sách của chính phủ nên họ sẽ phải làm vậy Hầu hết GV giảng dạy tiếng Anh có thể đọc nhiều hơn một chút trong sách giáo khoa Một nghiên cứu năm 2012 NCERT về giảng dạy tiếng Anh trong các trường học ở các tiểu bang (bao gồm Jammu và Kashmir và Nagaland, nơi mà ngôn ngữ giảng dạy là tiếng Anh) cho thấy trong đa số trường học, ngôn ngữ sử dụng trong lớp học là ngôn ngữ chính thức, ngôn ngữ địa phương hoặc tiếng mẹ đẻ Theo nghiên cứu, một tỷ lệ rất lớn GV không tự tin giảng dạy bằng tiếng Anh Họ nói rằng họ không được đào tạo tiếng Anh, hoặc họ không phải là GV tiếng Anh, nhưng phải dạy tiếng Anh hoặc phát âm tiếng Anh của họ không chuẩn và họ không nói được tiếng Anh một cách chính xác hoặc lưu loát [174]

Ở Cộng hòa Áo, trong một số các kỳ thi, nội dung HS phải dự thi bao gồm phần thi viết và phần thi vấn đáp Đối với môn HH, HS có thể có một bài kiểm tra vấn đáp HS có thể lựa chọn các hình thức (liên quan đến bài kiểm tra vấn đáp về môn HH):

- Một bài kiểm tra vấn đáp thông thường có nội dung HH (2 câu hỏi)

- Một bài kiểm tra tập trung (gọi là vertiefende Schwerpunktprüfung), nếu HH được chọn là môn bắt buộc (gọi là Wahlpflichtfach)

- Một kỳ thi liên môn (gọi là fächerübergreifende Schwerpunktprüfung), nghĩa là

HH cùng với một môn thứ hai, ví dụ: Sinh học, Vật lý, Toán học

- Một hình thức hoàn toàn mới của một kỳ thi đặc biệt được gọi là ergänzende

Schwerpunktprüfung (bài thi thêm), ví dụ như: HH bằng tiếng Anh,… [130]

Ngành học Hóa sinh (Biological Chemistry) của chương trình song ngữ Thạc Sĩ Sinh học được tổ chức bởi Khoa Kỹ thuật và KHTN tại ĐH Johannes Kepler và Khoa KHTN (PRF) tại ĐH Nam Bohemia ở Budweis là một sự kết hợp liên ngành của các nghiên cứu trong HH, sinh hóa, sinh học và sinh lý học Chương trình song ngữ này được tổ chức bằng tiếng Anh, đào tạo sinh viên có được KN và kiến thức chuyên môn trong các lĩnh vực đa ngành cũng như tìm hiểu thêm về truyền thông học thuật quốc tế và nghiên cứu học thuật quốc tế [175]

Trang 24

1.1.2 Trong nước

Giới thiệu hai đề án của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Việc nhận thấy tầm quan trọng của tiếng Anh trong đời sống cũng như trong việc đưa đất nước đi lên, hội nhập cùng với nền kinh tế, giáo dục của thế giới, Bộ GD-ĐT đã nghiên cứu để thực hiện 2 đề án “Phát triển hệ thống trường trung học phổ thông chuyên giai đoạn

2010 – 2020” (Số 959/QĐ-TTg ngày 24/6/2010) và Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống Giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020” (Số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008) với những nội dung chính được tóm tắt trong PL 4.1

Chương trình giáo dục phổ thông môn Hóa học 2018

Chương trình môn Hoá học cấp THPT (Ban hành kèm theo Thông tư số BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT) giúp học sinh phát triển các năng lực HH với các thành phần: nhận thức HH; tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc

32/2018/TT-độ HH; vận dụng kiến thức, KN đã học Từ đó biết ứng xử với tự nhiên một cách đúng đắn, khoa học và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện

và hoàn cảnh của bản thân [4]

Chương trình môn Hóa học sẽ đặc biệt quan tâm đến đánh giá năng lực nhận thức kiến thức hoá học thông qua các câu hỏi (nói, viết), bài tập, thông qua việc trình bày, so sánh, hệ thống hoá kiến thức hay vận dụng kiến thức hoá học để giải thích, chứng minh, giải quyết vấn đề Việc đánh giá năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào thực tiễn được thực hiện qua yêu cầu người học trình bày vấn đề thực tiễn cần giải quyết Trong đó học sinh phải sử dụng được ngôn ngữ hoá học, các bảng biểu, mô hình, để mô tả, giải thích hiện tượng hoá học trong vấn đề đang xem xét; sử dụng các câu hỏi đòi hỏi người học vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề, đặc biệt các vấn đề thực tiễn

Điểm mới về sử dụng thuật ngữ trong chương trình môn Hóa học lần này là sử dụng thuật ngữ theo khuyến nghị của IUPAC có tham khảo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5529:2010 và 5530: 2010 của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng), phù hợp với thực tiễn Việt Nam, từng bước đáp ứng yêu cầu thống nhất và hội nhập

Kết quả bước đầu trong việc triển khai đề án của Bộ Giáo dục và Đào tạo về dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông

Theo thông tin trên Cổng thông tin Đề án Ngoại ngữ Quốc gia [177], đã có nhiều trường chuyên và các trường không chuyên tổ chức thí điểm dạy môn Toán và môn khoa học bằng tiếng Anh Theo đó, việc giảng dạy ngoại ngữ nói chung và dạy tiếng Anh trong các trường chuyên hiện nay đã có nhiều chuyển biến tích cực so với thời điểm trước đây Một số trường chuyên có nhiều hoạt động nhằm nâng cao trình độ tiếng Anh cho GV, HS như trường THPT: chuyên KHTN (thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội), chuyên Lào Cai, chuyên Quốc học Huế, chuyên Vĩnh Phúc, chuyên Lê Hồng Phong, chuyên Trần Đại Nghĩa Một

số trường tổ chức các câu lạc bộ tiếng Anh, tham gia các kỳ thi có sử dụng tiếng Anh, như

Trang 25

thi giải Toán Singapore mở rộng; thi HH Hoàng gia Úc, thi Toán Hà Nội mở rộng để tăng cường khả năng tiếng Anh cho HS Tuy nhiên, sau vài năm áp dụng, chương trình đã bộc lộ nhiều điểm yếu, các trường loay hoay với bài toán tìm kiếm GV và nguồn giáo trình phù hợp, trong khi tiêu chuẩn đánh giá gần như chưa có

Mặc dù được mệnh danh là “cái nôi” đào tạo ngoại ngữ cho HS THPT khu vực phía Nam nhưng phải đến đầu năm học 2011-2012, Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa (TP HCM) mới triển khai thí điểm chương trình giảng dạy hai môn Toán, Lý bằng tiếng Anh Nhìn chung, HS ở bậc Trung học cơ sở theo học môn toán và các môn khoa học bằng tiếng Anh có phần đông hơn và các em hào hứng hơn Theo một số hiệu trưởng, ở bậc học này,

HS chưa bị áp lực học tập và cảm thấy thích thú với việc làm quen với các môn học bằng tiếng Anh Hơn nữa, nhiều HS còn có động lực học môn toán bằng tiếng Anh để tham dự

kỳ thi môn Toán châu Á - Thái Bình Dương (APMOS) Tuy nhiên, ở bậc THPT, nhiều HS chưa xác định rõ mục tiêu của chương trình này nên còn đắn đo

Sau khi thí điểm dạy các môn toán, KHTN ở 5 trường, năm học 2012 - 2013, Sở

GD-ĐT TP HCM mở rộng thêm 5 trường khác, nâng tổng số lên 10 trường THPT triển khai chương trình này: chuyên Lê Hồng Phong, chuyên Trần Đại Nghĩa, Lê Quí Đôn, Bùi Thị Xuân, Lương Thế Vinh, Gia Định, Nguyễn Thị Minh Khai, Hùng Vương, Nguyễn Thượng Hiền, Mạc Đĩnh Chi và phải sử dụng chương trình của ĐH Cambridge Sở GD-ĐT cũng cho biết, về nguồn GV, các trường có thể hợp đồng thỉnh giảng GV các trường khác, hoặc

GV bản ngữ từ các trung tâm Bên cạnh đó có thể gửi GV theo học các khóa bồi dưỡng có cấp bằng chứng nhận do tổ chức EMG thực hiện dưới sự ủy nhiệm của ĐH Cambridge Theo hướng dẫn của Sở, các trường thực hiện thí điểm dạy toán và các môn KHTN bằng tiếng Anh sử dụng chương trình của ĐH Cambridge ủy nhiệm cho Công ty EMG thực hiện tại Việt Nam Thời lượng: hai tiết/tuần/môn học cho HS khối 10, 11 Chuẩn đầu ra dựa trên chuẩn của ĐH Cambridge thông qua kỳ thi của Cambridge do EMG thực hiện tại Việt Nam

Việc ngành giáo dục thành phố đặt mục tiêu nâng cao NL sử dụng tiếng Anh trong các môn KHTN đối với HS là cần thiết, phù hợp với xu thế hội nhập, tiếp cận chuẩn giáo dục tiên tiến trên thế giới Tuy nhiên, sau một năm thí điểm, chương trình mang lại kết quả không như mong đợi và đa phần các hiệu trưởng đều băn khoăn, thậm chí cảm thấy “hụt hơi” nếu tiếp tục triển khai vì nhiều lý do như chương trình chưa thật sự hấp dẫn; HS khối

11 chuẩn bị cho kỳ thi ĐH nên xác định mục tiêu hướng đến kì thi này… là những nguyên nhân khiến chương trình khó có thể mở rộng

Theo đó, tại lễ phát động phong trào học tiếng Anh, xây dựng và phát triển môi trường học và sử dụng ngoại ngữ trong các nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân (kế hoạch

số 957/KH-BGDĐT ngày 18/09/2019) do Ban Quản lý Đề án ngoại ngữ Quốc gia phối hợp với Vụ Công tác chính trị Học sinh Sinh viên (Bộ GD-ĐT) tổ chức, trường THPT Yên Hòa

Trang 26

(Hà Nội) là 1 trong 5 điểm trường trên toàn quốc được Bộ GD-ĐT lựa chọn là nơi phát động phong trào Trường THPT Yên Hòa đã đặt ra chỉ tiêu chuẩn đầu ra đối với học sinh lớp 12 cần đạt từ 5.0 IELTS và 550 điểm TOEFL trở lên

Sở GD-ĐT TP HCM và Công ty IIG Việt Nam cũng đã ký kết bản ghi nhớ (20/9/2013) về phối hợp tổ chức các kỳ thi chứng chỉ Tiếng Anh quốc tế của Viện khảo thí Giáo dục Hoa Kỳ Theo đó, đối với học sinh Trung học phổ thông, mức điểm tối thiểu cần đạt ở từng bài thi bài thi TOEIC hoặc TOEFL iBT hoặc TOEFL Junior như sau (công văn

số 384 /GDĐT-VP của Sở GD-ĐT TP HCM ngày 17 tháng 02 năm 2014):

ngoại ngữ của Bộ GD-ĐT

TOEFL Junior

Những nghiên cứu về dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, tại trường ĐH Vinh, nhóm nghiên cứu của chuyên ngành

Lý luận và PP dạy học bộ môn HH đã có những nghiên cứu về dạy học HH bằng tiếng Anh

ở trường THPT, đánh giá thực trạng và giải pháp dạy học các môn KHTN bằng tiếng Anh

ở các trường THPT Việt Nam, đồng thời xây dựng hệ thống bài giảng về dạy học HH bằng tiếng Anh có ý nghĩa to lớn cho những định hướng nghiên cứu tiếp theo về lĩnh vực này ([6], [7], [16], [18], [20], [21], [23]) Trường ĐH Sư phạm Hà Nội đã tuyển sinh và đào tạo thành công ngành “Sư phạm HH (dạy Hóa bằng tiếng Anh)” Trường ĐH Sư phạm Huế cũng đã tuyển sinh và đào ngành “Sư phạm HH đào tạo bằng tiếng Anh”

Một số công trình nghiên cứu, của các nhóm tác giả, do PGS.TS Cao Cự Giác chủ trì ([8], [9], [10], [11], [12], [13], [14]) đã nghiên cứu về thực trạng dạy học HH bằng tiếng Anh ở các trường THPT Việt Nam, đề xuất các PP dạy học HH bằng tiếng Anh, quy trình thiết kế bài giảng HH bằng tiếng Anh cũng như sử dụng hệ thống BTHH THPT bằng tiếng Anh Có thể nói đây là những tài liệu tham khảo mới, hữu ích trong lĩnh vực Lý luận và PP

dạy học bộ môn HH Tuy nhiên, việc rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh ở trường THPT thông qua một số dạng BTHH chưa được quan tâm nhiều

Trang 27

1.2 Mục đích và ý nghĩa của việc dạy học hóa học phổ thông bằng tiếng Anh

1.2.1 Hình thành thói quen, ý thức học chủ động, học suốt đời

Theo ông Marshall Presnick, Giám đốc Đào tạo Language Link: Tiếng Anh chuyên ngành là hệ thống từ ngữ chuyên dụng của một ngành trong khi tiếng Anh học thuật là thể loại sử dụng trong giới học viện (ở đây được hiểu là bậc giáo dục cao đẳng, ĐH tại các nước nói tiếng Anh), với PP sử dụng câu, ngữ pháp, từ vựng hoàn toàn khác biệt theo những chuẩn mực về cấu trúc và cách tổ chức riêng; thông qua một số dạng văn bản khác nhau như: bài luận, báo cáo, bài viết nghiên cứu, hoặc các bài tóm lược [167] Đây cũng là thể loại tiếng Anh đòi hỏi người học phải có một nền ngữ pháp vững và vốn từ vựng phong phú để theo kịp chương trình học trên lớp Tiếng Anh học thuật đòi hỏi người học phải đầu

tư cả về thời gian và tài chính [165], nhưng sự đầu tư đó là nền tảng đồng hành với bạn trong suốt những năm ĐH và cả sự nghiệp sau này

Tiếng Anh trong dạy học HH cũng là một phần của tiếng Anh học thuật Vì vậy, sử dụng tiếng Anh trong dạy học HH là một hình thức, PP để rèn luyện, nâng cao khả năng

sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh, nhất là vốn từ vựng - một trong ba thành tố tạo thành hệ thống kiến thức ngôn ngữ và đóng vai trò là phương tiện, điều kiện hình thành và phát triển

KN giao tiếp

1.2.2 Rèn luyện các kĩ năng sử dụng tiếng Anh trong học thuật

Cộng đồng kinh tế chung ASEAN đã được thành lập vào cuối năm 2015, khu vực ASEAN với hơn 600 triệu dân sẽ là một cộng đồng quốc tế thống nhất Theo các nhà tuyển dụng, vốn từ tiếng Anh hạn chế là một trong những thách thức đối với lao động trẻ Việt Nam, làm mất đi sự tự tin trong giao tiếp bằng tiếng Anh, đặc biệt là tiếng Anh học thuật Rèn luyện, nâng cao KN sử dụng tiếng Anh học thuật từ cấp trung học phổ thông sẽ giúp HS, sinh viên có được nền tảng vững chắc để có thể tự tin trong giao tiếp, xóa đi rào cản về ngôn ngữ khi học tập ở các nước bạn Sự tự tin về ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ học thuật là chiếc chìa khóa, giúp người học hòa nhập với cộng đồng trong nước và quốc tế

1.2.3 Tạo sự tự tin trong giao tiếp tiếng Anh học thuật

Có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng sinh viên quốc tế có xu hướng đối mặt với những thách thức đáng kể khi họ thích nghi với một nền văn hóa, môi trường mới, đời sống xã hội và ngôn ngữ mới [35, tr 131-154], [89], [101, tr 199-217], [116, tr 33-46], [157], [150, tr 1821-1832] Ngoài những khó khăn điển hình trong việc học tập, sinh viên quốc

tế phải đối mặt với thách thức là học bằng ngôn ngữ khác với ngôn ngữ bản địa của họ [133, tr 149-166], [115, tr 222-235], [39, tr 976-984], [50, tr 228-234] Dựa trên một báo cáo gần đây của “Open Door Report” năm 2017, số lượng sinh viên quốc tế hàng đầu học tập tại Hoa Kỳ (Bảng 1.1) đến từ Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Vương quốc Ả Rập Saudi [96], ngôn ngữ chính ở các quốc gia này đều sử dụng bảng chữ cái hoặc những

ký hiệu hệ thống khác với những kí tự được sử dụng trong tiếng Anh Ngoài những thử

Trang 28

thách thông thường gắn liền với việc học tập ở một đất nước mới, sinh viên các quốc tế (ở các quốc gia không sử dụng tiếng Anh) phải đối mặt với một thử thách lớn là học bằng tiếng Anh, vốn không phải là ngôn ngữ chính của họ [135, tr 567-580], [31, tr 12-31]

Bảng 1.1 Top 4 quốc gia có sinh viên quốc tế đang theo học tại Hoa Kỳ

1.2.4 Hội nhập giáo dục quốc tế

Hiện nay, môn Tiếng Anh đã được đưa vào chương trình dạy học ở tấc cả các cấp

học Với quan điểm “Tiếng Anh là con đường ngắn nhất đến với tri thức nhân loại”, việc

giảng dạy các môn học bằng tiếng Anh đang được các trường quốc tế ở Việt Nam và một

số trường THPT triển khai tích cực Bên cạnh việc tiếp thu kiến thức môn học chuyên ngành, HS còn có cơ hội được rèn luyện các KN ngôn ngữ (như: nghe, nói, đọc, viết) trong quá trình trao đổi, thảo luận các vấn đề khoa học đang nghiên cứu Trong gần một thế kỷ, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã trở thành lựa chọn chính trên toàn thế giới dành cho sinh viên muốn theo đuổi các cơ hội giáo dục ở bậc ĐH [159] Môi trường xã hội và văn hóa

Mỹ đã thu hút nhiều HS, sinh viên quốc tế tham gia hệ thống giáo dục của quốc gia này Ngoài ra, chất lượng giáo dục tốt ở Hoa Kỳ có xu hướng dẫn đến nhiều cơ hội việc làm hơn cho sinh viên sau khi tốt nghiệp Do đó, việc dạy học các môn khoa học bằng tiếng Anh không chỉ tạo điều kiện cho HS rèn luyện KN tư duy khoa học, nâng cao vốn từ vựng chuyên ngành mà còn rèn luyện cách sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt các quan điểm, ý tưởng

về các chủ đề khoa học để có thể hội nhập với giáo dục quốc tế

1.3 Kĩ năng đọc hiểu tiếng Anh

Trong các KN dạy học HH bằng tiếng Anh, thì KN đọc hiểu được xem gần như là khó khăn nhất đối với cả GV và HS THPT ở Việt Nam Nhiều GV và HS khi giảng dạy và học tập môn HH còn chưa hiểu rõ được thực trạng rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học môn này bằng tiếng Anh ở trường THPT Việt Nam và cũng chưa có những công cụ để

Trang 29

đánh giá cụ thể MĐ KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh của HS, dẫn đến tài liệu các BT để rèn luyện KN này cũng còn nhiều hạn chế

Ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng trong việc học tập khoa học, đặc biệt là đối với những sinh viên khi làm việc nhóm để giải quyết một số những nhiệm vụ [122, tr 555] Theo nhà giáo dục Tinto, vấn đề quyết định sự thành công của sinh viên ở trường ĐH chủ yếu phụ thuộc vào các KN đã được trang bị cấp học phổ thông, trong đó bao gồm cả sự thành thạo của một số KN học thuật cơ bản ([156], được trích dẫn trong [86]) Dù hiểu rằng trang bị những KN là rất cần thiết nhưng các giảng viên lại ít quan tâm đến vấn đề này ([44], được trích dẫn trong [86, tr 20]) Nhóm nghiên cứu Erickson, Peters, & Strommer đã chỉ ra các giảng viên ĐH thường cho rằng sinh viên của họ đã thành thạo các

KN đó vì họ có xu hướng giả định rằng tất cả sinh viên đã được trang bị những KN này hoặc đó là một phần của giáo dục trung học hoặc ở những bộ môn, đoàn thể khác trong

ĐH, [72] Trên thực tế, hầu hết sinh viên năm nhất đều thiếu KN đọc hiểu các môn khoa học, nguyên nhân chính là do việc đọc hiểu ở bậc ĐH rất khác với việc đọc hiểu ở bậc trung học Vì vậy, hầu hết các sinh viên đều sử dụng các KN phi chiến lược học thuật để đọc các văn bản học thuật Điều này dẫn đến việc các sinh viên chỉ đọc với phương thức cách tiếp cận bề mặt, không có chiều sâu Nếu GV phổ thông dạy cho HS KN đọc hiểu khi đọc văn bản học thuật một cách phù hợp, HS sẽ có nhiều cơ hội tham gia vào các hoạt động rèn luyện KN đọc hiểu trong các năm học tiếp theo, từ đó HS có nhiều khả năng áp dụng phương thức tiếp cận sâu hơn để đọc [86, tr 20] Việc đọc những tài liệu học thuật được kiểm định kĩ trước khi xuất bản tạo điều kiện HS tiếp cận với văn HH thuật chuyên nghiệp

và tạo điều kiện để học tập cách đọc các văn bản công ước, các bài diễn văn, KN và kiến thức khoa học [72] Tuy nhiên, điều này chỉ có thể thực hiện được khi HS có một phương thức tiếp cận sâu khi đọc

1.3.1 Đọc hiểu tiếng Anh (Reading comprehension)

Việc “Đọc” (Reading)

Nghiên cứu của Rouai Souhila cho rằng “đọc” là một khả năng nhận thức phức tạp được xem như một trong những KN ngôn ngữ quan trọng giúp người học có thể học được ngoại ngữ Việc đọc được định nghĩa là “sự diễn giải ý nghĩa của những ký tự được viết ra

và là kết quả của sự tương tác giữa sự nhận thức về các kí tự biểu thị ngôn ngữ và KN ngôn ngữ của người đọc, KN nhận thức và kiến thức trên thế giới” [140] Việc đọc bao gồm tiến trình xử lý và hiểu biết một cách gần như tự động về văn bản ở nhiều cấp độ: (1) Từ vựng

và ý nghĩa từ; (2) Câu và các cách mà các cụm từ, các mệnh đề được kết nối trong một câu (với các dấu hiệu được nhận biết bởi dấu chấm câu); (3) Đoạn văn bản - thứ tự sắp xếp các

dữ kiện, loại dữ kiện và sự liên kết các dữ kiện Những dấu hiệu nhận biết những ý nghĩa khác của văn bản mà chúng ta thường diễn đạt gần như một phản xạ là: các thì tác giả sử

Trang 30

dụng; nghĩa của từ trong mối quan hệ với từ khác trong một ngữ cảnh cụ thể; việc sử dụng hình ảnh minh họa; đặc trưng của một số cách diễn đạt khác (ngụ ý, mỉa mai, điệp ngữ,…) Đọc cũng là một quá trình được định hình một phần bởi văn bản, một phần bởi nền tảng của người đọc và một phần bởi tình huống mà việc đọc đang diễn ra [95, tr 137-146] Đọc một văn bản học thuật không đơn giản liên quan đến việc tìm kiếm thông tin trong văn bản Hơn nữa, đó là một quá trình làm việc với văn bản Khi đọc một văn bản học thuật, người đọc sẽ suy nghĩ để xây dựng và hiểu được nội dung, ý nghĩa của văn bản cùng với tác giả Nói cách khác, người đọc sẽ suy luận ra ý nghĩa của văn bản bằng cách áp dụng kiến thức đã có trước của họ [114] Do đó, người giảng viên, giáo viên trong mỗi bộ môn, ngành học cần phải dạy hai công cụ gồm công cụ phân tích chung và công cụ phân tích các giá trị đặc thù của ngành học, môn học và những chiến lược cụ thể để tạo điều kiện cho việc đọc và học các ngành học, môn học đó [44]

Một trong những thực tế cho thấy sinh viên chỉ tiếp cận bề mặt của văn bản khi đọc thì chắc chắn sẽ bỏ qua những thông tin ẩn sâu trong văn bản hoặc chấp nhận những thông tin có sẵn mà không tìm hiểu vì sao lại có những thông tin đó, nguồn gốc xuất phát hoặc được suy luận ra từ đâu Những sinh viên chỉ đọc với phương thức tiếp cận bề mặt thường chỉ xem những thông tin trong bài đọc là những thông tin độc lập mà bỏ qua những liên kết thông tin đó với những thông tin khác trong hoặc ngoài bài đọc Điều này dẫn đến sinh viên chỉ cố gắng đọc văn bản để phục vụ cho việc trả lời câu hỏi trong các kỳ thi mà không

có sự lưu giữ kiến thức dài lâu và cũng không thúc đẩy được sự tìm tòi, học hỏi kiến thức mới Ngược lại, phương thức tiếp cận sâu khi đọc là phương thức tiếp cận mà người đọc

sử dụng những KN nhận thức ở bậc cao hơn như phân tích, tổng hợp, giải quyết vấn đề và

tư duy khái quát để hiểu được nội dung của văn bản hoặc xây dựng được ý nghĩa mới từ văn bản Những người đọc văn bản một cách sâu sắc luôn tập trung vào những thông điệp

mà tác giả muốn truyền tải, những ý tưởng mà tác giả muốn truyền đạt, lý do tranh cãi và cấu trúc của những thông tin gây tranh cãi đó Người đọc suy nghĩ để tạo những kết nối với những khái niệm và những quy luật đã biết, sau đó sử dụng những hiểu biết đó để giải quyết vấn đề trong một tình huống, ngữ cảnh mới Nói một cách đơn giản, người đọc theo phương thức tiếp cận bề mặt chỉ tập trung vào những dấu hiệu, … tức chỉ là bề ngoài của văn bản, trong khi người đọc với phương thức sâu sắc hơn thì tập trung vào những gì được biểu thị, tức là ý nghĩa của văn bản [113, tr 161-184] Các nghiên cứu cho thấy hầu hết sinh viên ĐH ngày nay đều sử dụng phương thức tiếp cận bề mặt để đọc [48, tr 57-75] Nguyên nhân do các giảng viên thường giảng dạy và đánh giá sinh viên dựa trên sự lưu giữ các thông tin, kiến thức và những nguyên tắc riêng trong quá trình truyền đạt [90], [158] Điều quan trọng ở đây là người GV là nhân tố để thực hiện các mục tiêu cụ thể và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện KN của người học [71, tr 2-7] Nghiên cứu của Gibbs

và Forsaith chỉ ra rằng cả ba thành phần của hệ thống gồm các mục tiêu, hoạt động dạy và

Trang 31

học, và đánh giá đều quan trọng thì khâu đánh giá đóng vai trò và có tầm ảnh hưởng nhất trong quyết định của người học về việc chúng sẽ chọn học bằng cách tiếp cận sâu hoặc tiếp cận bề mặt khi đọc và học [103, tr 253-262] Vì vậy, cách đánh giá phải đo lường được việc người học có sử dụng các KN nhận thức bậc cao để đọc tài liệu được yêu cầu hay không, có thể hiểu đượg đúng ý nghĩa, nội dung một cách hiệu quả với tác giả hay không,

có thể đánh giá được sự chặt chẽ trong lập luận của tác giả, có thể giải mã các giả định ẩn chứa bên trong văn bản của tác giả [86, tr 20] Việc sử dụng các kỹ thuật đánh giá lớp học (classroom assessment techniques - CAT) cũng thúc đẩy việc đọc và học một cách có chiều sâu trong suốt khóa học [86, tr 20]

Sự hiểu biết (Comprehension)

Sự hiểu biết được định nghĩa là “khả năng vượt khỏi khuôn khổ ý nghĩa của từng từ ngữ để hiểu được nội dung, ý tưởng của toàn bài” [73, tr 376-380] “Khái niệm “hiểu” thường được định nghĩa theo một cách phổ biến là một quá trình mà người đọc kiến tạo ý nghĩa bằng cách tiếp xúc với văn bản thông qua sự kết hợp giữa các yếu tố như kiến thức nền, kinh nghiệm trước đó, thông tin trong văn bản và vị thế, lập trường, quan điểm của người đọc trong mối quan hệ với văn bản” [108, tr 272-280]

Nhà giáo dục John Biggs đề xuất việc dạy học liên kết để thúc đẩy, bồi dưỡng một phương thức tiếp cận sâu để đọc và học Trong dạy học liên kết, phải có một sự nhất quán tối đa trong toàn bộ hệ thống và mỗi thành phần hỗ trợ Theo John Biggs, khái niệm hóa

sự cấu thành liên kết như một hệ thống tham chiếu với đầy đủ các TC, trong đó các mục tiêu xác định những gì chúng ta nên dạy, cách chúng ta nên dạy; và làm thế nào chúng ta đánh giá được người học đã học như thế nào [48, tr 57-75] Khi chúng ta đọc các bài viết

dễ, tất cả các dấu hiệu nhận biết được ý nghĩa của văn bản sẽ được kết nối với nhau và chúng ta có thể hiểu ngay nội dung mà tác giả muốn đề cập đến, lý do đề cập và lý do họ chọn cách diễn đạt trong văn bản Đối với những bài viết dài và khó hiểu, chúng ta cần tạm dừng việc đọc để suy nghĩ về những nội dung đang được truyền tải, thể loại bài viết và cách chúng liên hệ đến mục đích của tác giả

Hiểu được nội dung từ việc đọc là kết quả của việc diễn giải dữ kiện trong văn bản

Sự hiểu biết theo nghĩa đen là nghĩa cơ bản của từ, nhưng quan trọng hơn là những ẩn ý của từ và cách chúng được tác giả sử dụng Bên cạnh đó, việc hiểu ngữ cảnh của bài đọc

sẽ giúp HS có thể hiểu được nền tảng, môi trường và hoàn cảnh mà tác giả đã viết văn bản

Để phân tích bối cảnh của bất kỳ văn bản nào, người học cần thực hiện một số nghiên cứu, tìm hiểu về tác giả Do đó, chúng ta cần phải kết nối các kiến thức chúng ta đang sẵn có với nội dung bài viết để tìm ra được tất cả mục đích và những ý định của tác giả muốn đề cập tới

Nhà giáo dục Julian Hermida ở ĐH Algoma, Canada đã tiến hành một dự án nghiên cứu về hành động để đánh giá cách tiếp cận đối với việc đọc trong một nhóm sinh viên ĐH

Trang 32

năm thứ nhất trong môn học Nghiên cứu Pháp lý, một môn học thuật về luật Mục tiêu của

dự án này là để đánh giá liệu các sinh viên của cô ấy đã sử dụng PP tiếp cận sâu hay bề mặt khi thực hiện việc đọc Mục tiêu cuối cùng của cô ấy là đánh giá chất lượng kết quả học tập của sinh viên, vì phương thức tiếp cận khi đọc được coi là tỷ lệ thuận với chất lượng kết quả học tập của họ [113 tr 161-184] Cô đã dựa trên một nghiên cứu của nhóm

2 nhà khoa học Marton và Saljo, điều chỉnh lại nghiên cứu này về các đặc điểm của sinh viên với chủ đề cô dạy Trong nghiên cứu của nhóm 2 nhà khọc học thực hiện tại ĐH Gothenburg, Thụy Điển vào năm 1976, họ yêu cầu sinh viên đọc một bài báo được viết bởi một giáo sư trong lĩnh vực giáo dục về một số vấn đề cải cách trường ĐH được đề xuất ở nước này và sẽ đặt một số câu hỏi về nội dung bài báo khi đọc xong để đánh giá cách tiếp cận của sinh viên đối với việc đọc và hiểu của họ về nội dung bài báo [118] Thêm nữa, họ đặc biệt hỏi sinh viên đã học được kiến thức gì trong bài báo đó [113, tr 161-184] Marton

và Saljo báo cáo kết quả rằng trong khi đọc bài báo, một số sinh viên chỉ đơn giản nhận ra một số sự kiện, thông tin độc lập được đề cập trong bài báo mà họ cho rằng các nhà nghiên cứu sẽ hỏi họ trong cuộc phỏng vấn và sau đó ghi nhớ những sự kiện, thông tin đó Những sinh viên này không thể hình thành bất kỳ mối liên hệ nào giữa những sự kiện, thông tin này và không thấy được bất kỳ sự kết nối, liên quan nào với những gì thực tế của họ Một nhóm sinh viên khác đã cố gắng hiểu những gì tác giả đang nói, tập trung vào ý nghĩa cơ bản của bài báo và tìm cách tích hợp các sự kiện, thông tin khác nhau được đề cập trong bài báo Nhóm sinh viên đầu tiên tập trung tiếp cận bề mặt của bài báo trong khi nhóm thứ hai áp dụng một cách tiếp cận sâu hơn

Nhà giáo dục Julian Hermida đã thực hiện một cách tương tự, vào tuần thứ ba của học kỳ hai năm học đầu tiên, cô yêu cầu tất cả 30 sinh viên trong một khóa học “Nghiên cứu Pháp lý” đọc một bài báo ngắn Sinh viên tham gia khóa học cùng với những giảng viên không dạy họ cách đọc các văn bản học thuật trong học kỳ đầu tiên Bài báo có nội dung về giải quyết vấn đề pháp lý về quyền trên Mặt trăng [27], trong đó có nội dung ngụ

ý rằng “Hiệp định Mặt trăng” khi có hiệu lực đã như một rào cản đối với các hoạt động khai thác trên Mặt trăng Tác giả đã cố tình nêu ra và so sánh hiệp ước này với một hiệp ước quốc tế khác (Công ước Luật biển) để thuyết phục người đọc rằng luật quốc tế về việc khai thác Mặt Trăng sẽ giống như khai thác vùng biển Văn phong, độ phức tạp và cấp độ của bài báo được chọn tương tự như văn phong của sách giáo khoa và các bài viết khác mà sinh viên đã được tiếp cận trong môn học Nghiên cứu Pháp lý ở năm đầu tiên Việc đọc được thực hiện trong thư viện của trường ĐH và sinh viên có thể tham khảo bất kỳ tài liệu nào có sẵn Kết quả là hầu hết các sinh viên đã dùng phương thức tiếp cận bề mặt để đọc Sinh viên không thắc mắc gì về các lập luận của tác giả, họ chỉ nhận ra ý tưởng của tác giả theo cách văn bản viết hay nói cách khác là tiếp cận bề mặt với nội dung của bài báo, không

có chiều sâu và không ai nhận ra rằng sự so sánh với Công ước Luật biển là một chiến lược

Trang 33

của tác giả để dẫn dắt độc giả tin rằng các quy định là như nhau trong khi thực tế thì không phải vậy Những sinh viên này chỉ đọc ở mức dừng lại tại các sự kiện, thông tin được đề cập trong bài báo và không thể kết nối vấn đề được đề cập với các vấn đề pháp lý rộng lớn hơn Chỉ có hai sinh viên đã tham khảo các bài báo khác để hiểu các bài báo được giao đọc

và chỉ có một sinh viên đọc các bài báo khác của cùng một tác giả để tìm hiểu phong cách của tác giả Sau phần đầu tiên của nghiên cứu này, cô Julian Hermida đã giới thiệu một loạt các chiến lược để dạy cho HS của mình cách đọc hiểu các tài liệu học thuật và cô đã thiết kế một loạt các hoạt động đọc tập trung vào sinh viên để thực hành trong suốt học kỳ Vào cuối học kỳ, cô yêu cầu sinh viên đọc một bài báo ngắn khác cũng về Nghiên cứu Pháp lý có độ phức tạp giống như bài báo trước đây và kết quả rất khả quan Phần lớn sinh viên đã sử dụng được phương thức tiếp cận sâu khi đọc Sinh viên đã có thể ngữ cảnh hóa,

cụ thể hóa lập luận của tác giả, quản lý được thông tin cũng như tìm được cở sở, minh chứng được sử dụng để hỗ trợ cho các lập luận đó, cân nhắc được những tác động của những chính sách và hệ quả xã hội của các ý kiến được đề xuất cũng như kết nối được những vấn đề liên quan trong bài báo với các lập luận của tác giả về các vấn đề mà họ đã phân tích trong môn học Ngoài ra, sinh viên còn đề xuất được các giải pháp thay thế cho các giải pháp được đưa ra bởi tác giả Đa số sinh viên cũng báo cáo rằng đã đề xuất, hỗ trợ thêm một số nguồn tài liệu khác để hiểu được bối cảnh, những tranh luận của tác giả và những tranh luận được đề cập hoặc ám chỉ trong bài báo [86, tr 20] Qua những nghiên cứu trên, chúng ta thấy rất rõ rằng để đọc hiểu một tài liệu hoặc một văn bản một cách chuyên sâu, ngoài việc nắm được các thông tin, dữ kiện, ngữ cảnh trong bài đọc mà còn phải liên hệ được những thông tin, dữ kiện đó với những tài liệu, thông tin, ngữ cảnh khác cũng như những gì thực tế diễn ra xung quanh chúng ta Đó được gọi là cách tiếp cận sâu khi tiếp cận một tài liệu đọc hiểu

1.3.2 Kĩ năng đọc hiểu (Reading comprehension skills)

Khi học bất kỳ thứ tiếng nào, KN đọc hiểu luôn đóng vai trò quan trọng ngoài việc rèn luyện khả năng giao tiếp KN đọc hiểu quan trọng vì nó giúp vốn từ vựng trở nên phong phú và sinh động hơn Người đọc có thể không cần dùng đến từ điển và đoán nghĩa của từ mới trong ngữ cảnh của toàn bài Với cách này, chúng ta sẽ không chỉ học được từ vựng

mà còn học được cách sử dụng chúng trong những văn cảnh cụ thể Ngoài ra, bài đọc là nguồn cung cấp dồi dào tư liệu cho việc rèn các KN ngôn ngữ cần thiết như nghe, nói, viết PISA (2012) định nghĩa NL đọc “là sự hiểu biết, sử dụng, phản hồi và chú ý đến một văn bản để đạt được mục đích của cá nhân, phát triển vốn kiến thức và tiềm năng của mình,

và tham gia vào một xã hội” [127] Nhà giáo dục Langer (1995) cũng nhấn mạnh mỗi người đọc với những kiến thức nền tảng khác nhau sẽ đem đến những suy nghĩ, hình dung, tưởng tượng khác nhau về cùng một văn bản Do đó, kiến thức nền của người đọc càng kết nối được với văn bản thì người đọc càng có khả năng ý thức về những gì sẽ được đọc [107]

Trang 34

Có 5 thành tố cấu thành NL đọc hiểu [125]: (1) Nhận diện ngữ âm (Phonemic awareness); (2) Ngữ âm (Phonics); (3) Sự lưu loát (Fluency); (4) Từ vựng (Vocabulary); (5) Sự hiểu biết (Comprehension)

Việc đọc hiểu cần phải có sự hiểu biết, hiểu rõ, hoặc hiểu được ý nghĩa của bài đọc Người đọc phải phát triển được một số KN nhất định giúp họ hiểu rõ những gì họ đọc và

sử dụng chúng như công cụ trợ giúp khi đọc hiểu Vì vậy, đọc hiểu là khả năng nắm bắt được nội dung của bài đọc trên dựa trên việc hiểu được ý tưởng và sự kiện trong bài đọc; kiến thức bài đọc chứa đựng, kiến thức sẵn có của người đọc, những thông tin được trình bày trong bài đọc, việc sử dụng ngữ cảnh để nhận ra từ ngữ và đoán được ý nghĩa của nó

1.4 Kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh

KN đọc hiểu là một trong những KN quan trọng, không thể thiếu khi học bất kỳ ngôn ngữ nào Thách thức cụ thể được đưa ra bởi từ vựng HH có cả ý nghĩa khoa học và ý nghĩa đời sống thường ngày là chủ đề nghiên cứu của nhiều tác giả, như Cassels, J.R.T & Johnstone, A.H (1980, 1985) [58], [60], Brown B & Spang E (2008) [54, tr 708-732], Snow, C E (2010) [61], Jasien P G (2010, 2011) [98], [99] và Brown, B A (2011) [53,

tr 679-704], Jinsook C và cộng sự (2014) [100], Keith K (2006, 2009) [104], [105] Sau

đó, Song Y & Carheden S (2014) đã thực hiện một nghiên cứu định tính, điều tra làm thế nào sinh viên ĐH hiểu các từ vựng có nghĩa kép (dual meaning vocabulary - DMV) được chọn trước và sau khi giảng dạy HH [162, tr 128-141] Họ nhận thấy rằng: (i) trước khi giảng dạy, hầu hết các sinh viên đã định nghĩa một thuật ngữ DMV với ý nghĩa hàng ngày của nó; (ii) sau khi giảng dạy, việc lưu giữ các ý nghĩa khoa học của các từ DMV rất kém

và (iii) thiếu ý nghĩa khoa học được quy cho sử dụng không thường xuyên, thói quen học tập và không biết các thuật ngữ từ vựng khoa học khác [131, tr 475-476]

Khi đọc các tài liệu học thuật HH bằng tiếng Anh, việc hiểu được nội dung sẽ rất hạn chế và có thể gặp rất nhiều khó khăn vì một số nguyên nhân như: (1) Từ mới hoặc từ ngữ chuyên ngành; (2) Cấu trúc ngữ pháp của câu phức tạp; (3) Các đoạn văn chứa đựng thông tin có thể rất dày đặc và rất khó để giải mã các thông tin; (4) Cách viết có thể gây khó hiểu; (5) Ngữ điệu và cách hành văn của tác giả không quen thuộc; Do đó, trong tiếng Anh đối với môn HH, một môn học khó, ngoài những KN đọc hiểu cơ bản trong tiếng Anh thì GV

và HS cần phải rèn luyện thêm một số các KN đọc hiểu chuyên sâu khác đặc thù với các

bộ môn KHTN như KN suy luận, suy đoán, mô phỏng, tóm tắt, tổng hợp,

Hầu hết HS có xu hướng chỉ thấy các sự kiện, thông tin và nguyên tắc như nội dung duy nhất của khóa học mà không thấy những mục tiêu ẩn sâu trong đó Nhà giáo dục Eileen Herteis giải thích rằng sinh viên chỉ biết đến nội dung của một khóa học bao gồm các sự kiện và nguyên tắc; phần còn lại là các hoạt động (nhóm làm việc, tình huống, thuyết trình) hoặc đánh giá Do đó, GV có trách nhiệm kép: giải thích cho HS mục tiêu cụ thể của khóa học, môn học, bài học và tạo ra những cơ hội để HS đạt được những mục tiêu đó Chúng

Trang 35

ta cần dạy các quy trình, thái độ và quan trọng hơn hết đó là KN đọc một cách rõ ràng và chuyển những KN này thành những KN đi đầu trong chương trình giảng dạy thực tế của chúng ta thay vì dùng chúng đúng phân phối chương trình cho phép [106]

Do đó, rèn luyện KN đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh tại trường THPT là một nhiệm vụ quan trọng Kết quả khảo sát này sẽ là cơ sở đề xuất các KN đọc hiểu để cải thiện chất lượng giảng dạy HH bằng tiếng Anh ở THPT

1.4.1 Mục đích, yêu cầu của kĩ năng đọc hiểu tiếng Anh trong dạy học hóa học

Mục đích

Giúp HS rèn luyện, trau dồi, phát triển KN đọc hiểu bằng tiếng Anh Thuật ngữ

“Tiếng Anh chuyên ngành” (TACN) được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Đó là cách tiếp cận ngôn ngữ trong đó tùy theo nhu cầu cụ thể của người học

mà nội dung giảng dạy và PP giảng dạy được quyết định [152], hoặc đó là một khái niệm chỉ việc dạy hay học tiếng Anh nhằm phục vụ cho một chuyên ngành nhất định nào đó

và được biết đến là PP giảng dạy tiếng Anh như là một ngoại ngữ [148] Do đó, mục đích của KN đọc hiểu tiếng Anh chuyên ngành HH là để phát triển KN đọc hiểu cho người học trong học tập, những lĩnh vực cụ thể liên quan đến ngành nghề hay lĩnh vực

nghiên cứu của họ

Giúp HS tăng cường khả năng đọc hiểu các nội dung HH phổ thông bằng tiếng Anh với những nội dung phù hợp với trình độ lứa tuổi Ngôn ngữ là vấn đề chính đối với HS

có thể dẫn đến một số hạn chế như hiểu lầm hoặc hiểu sai lệch nội dung giữa HS và GV [32] Ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng trong việc học các môn khoa học vì HS bắt buộc phải sử dụng ngôn ngữ hàn lâm để hiểu, giao tiếp và thể hiện ý tưởng của mình về các hiện tượng khoa học [161, tr 347-352], [136, tr 470-471] Ngôn ngữ khoa học cũng

mang ý nghĩa cụ thể và có thể khác hẳn ngôn ngữ giao tiếp bình thường

Giúp HS có điều kiện để thu nhận thông tin và nâng cao trình độ tiếng Anh chuyên ngành HH Nếu bản thân là một HS quốc tế thích nghiên cứu khoa học ở Hoa Kỳ, HS có

thể cân nhắc việc học HH Những tiến bộ lớn đang được thực hiện trong các lĩnh vực như

y học, công nghệ nano, vật liệu mới và môi trường thì sự hiểu biết vững chắc về HH là

cần thiết để có thể hiểu đầy đủ hầu hết các lĩnh vực khác của khoa học HH là một trong

những ngành có thể giúp chúng ta tìm được câu trả lời cho sự vận hành của mọi hoạt động xung quanh trong đời sống hàng ngày Ngành khoa học này hiện vẫn đang phát triển

để phục vụ cho các nhu cầu trong: Y tế, Mỹ phẩm, công nghiệp năng lượng… và nhiều lĩnh vực khác trong đời sống Tuy nhiên, các tài liệu chuyên ngành hầu hết đều là tiếng Anh và chưa được dịch sang tiếng Việt Do đó, việc học tiếng Anh chuyên ngành và với

KN đọc hiểu hiệu quả sẽ giúp HS, sinh viên tìm kiếm các cơ hội học tập, nâng cao chuyên môn, nhận học bổng về các khóa HH tại nước ngoài hoặc có cơ hội làm việc ở các quốc gia phát triển Có nhiều học bổng chuyên ngành HH tại nhiều trường ĐH tại các quốc gia

Trang 36

phát triển như: Queen’s University Belfast (Anh), La Trobe University (Australia), Victoria University of Wellington (New Zealand), ĐH Nevada, Reno (University of Nevada, Reno) - Mỹ, Ohio University - Mỹ, Arkansas Tech University - Mỹ… đòi hỏi khả năng khả năng tiếng Anh thành thạo, trong đó khả năng đọc hiểu kiến thức chuyên ngành bằng tiếng Anh đóng vai trò rất quan trọng trong việc sinh viên có theo học được tại các trường thuộc các quốc gia này hay không

Đối với môn HH, KN đọc hiểu tiếng Anh giúp người học cảm thấy hào hứng và gia tăng yếu tố khám phá, thú vị trong quá trình đọc, mang lại hiệu quả cho việc đọc cũng như giúp người học cập nhật kiến thức mới một cách thường xuyên, thông suốt Trong dạy học HH bằng tiếng Anh, KN đọc hiểu tiếng Anh của người GV đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với việc giảng dạy môn này với ngôn ngữ tiếng Anh

Yêu cầu

a) Đối với giáo viên

Nhu cầu nghiên cứu và trao đổi kiến thức khoa học thông qua giảng dạy HH là một nhu cầu thiết thực trong bối cảnh hội nhập toàn cầu ngày nay Đây có thể nói là một môn học khó, đòi hỏi người học phải có KN suy luận và phân tích cùng với nền tảng tiếng Anh vững chắc, ngay cả khi học bằng tiếng mẹ đẻ Tuy nhiên, để người học học hiệu quả,

GV cần có chiến lược rõ ràng để dạy môn Hóa bằng tiếng Anh

GV cần phác thảo một hệ thống các từ và thuật ngữ chuyên ngành của từng chủ đề;

tham khảo và nghiên cứu sách HH bằng tiếng Anh hoặc sách giáo khoa trung học hiện tại đã được chuyển đổi sang tiếng Anh để có thể giảng giải cho HS thay vì giải thích ngẫu nhiên từng từ khi HS không hiểu

Trong dạy và học tiếng Anh, “từ” là một trong ba yếu tố tạo nên hệ thống ngôn ngữ, đóng vai trò là công cụ giao tiếp và là yếu tố để phát triển KN giao tiếp cũng như KN đọc hiểu Chương trình HH theo chuẩn chương trình tú tài Quốc tế (International Baccalaureate, viết tắt là IB) cũng đòi hỏi kiến thức về các từ và thuật ngữ liên quan đến

HH để có thể hiểu được nội dung chính xác của các bài đọc

Những GV dạy HH không có kinh nghiệm xử lý các vấn đề ngôn ngữ trong lớp học cần phải tham khảo các kỹ thuật để phát triển ngôn ngữ trong lớp học khoa học Nhà giáo dục Keith Kelly ở nước Bulgaria đã phát triển một nguồn tài nguyên miễn phí, đó là “Học tập tích hợp nội dung và ngôn ngữ” (Language Integrated Learning) [102]

GV cần thiết lập việc học tập theo nhóm giữa các HS để tăng cường sự tương tác

giữa HS và HS cũng như giữa HS và GV, vừa học vừa thảo luận, tạo ra một môi trường thú vị và hào hứng hơn để học môn học này Như vậy mới có thể phát huy được hiệu quả

KN đọc hiểu của người dạy và người học

GV cần khuyến khích HS đặt câu hỏi và đưa ra ý kiến của bản thân về các vấn đề

HS quan tâm cũng như đưa ra các BT cơ bản cần phải suy luận để đánh giá được MĐ KN

Trang 37

đọc hiểu trong dạy học HH bằng tiếng Anh của HS trong quá trình học tập Sau đó tăng dần MĐ các BT để nâng cao khả năng vận dụng KN đọc hiểu của HS, có thể thông qua các bài kiểm tra

GV cần tổ chức các hoạt động thực hành thí nghiệm Đây cũng là một PP hiệu quả

cần được áp dụng, giúp HS ôn lại kiến thức đã học và tiếp nhận kiến thức mới một cách trực quan

GV cần đưa ra quy trình đọc hiểu đối với từng dạng BT rèn luyện KN đọc hiểu Tác

giả Phil Ball ở Tây Ban Nha đưa ra một cách tiếp cận thực tế đối với việc học các nội dung của người học về ngôn ngữ, khái niệm và quy trình [42] Nhà giáo dục Keith Kelly

ở nước Bulgaria đã đưa ra ba khía cạnh (ngôn ngữ, khái niệm, thủ tục) đối với việc đọc nội dung theo khung sơ đồ; điều này cho phép GV đặt câu hỏi, lên kế hoạch giúp cho HS học tốt củng như tạo cơ hội cho HS học hỏi nhiều hơn [106]

GV cần đưa một số hoạt động HH hỗ trợ ngôn ngữ như: sử dụng sơ đồ để dẫn dắt

HS nghe GV giảng và ghi chú; sử dụng biểu đồ trong khi đọc các văn bản HH để chuyển thông tin từ dạng tuyến tính sang dạng sơ đồ; yêu cầu HS tìm thông tin HH bị thiếu bằng cách trao đổi với một bạn cùng lớp, cùng nhóm; sử dụng những khung sườn để viết những nội dung HH như viết dàn ý, lập bảng biểu và danh sách từ vựng; các bản đồ đơn vị từ

vựng HH có hiển thị các liên kết các từ vựng liên quan; [157]

GV giảng dạy HH bằng tiếng Anh không phải chỉ đọc, hiểu được mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc giúp HS đọc, hiểu được nội dung của bài đọc có nội dung HH

GV ngoài việc cần có KN đọc tốt thì họ cũng cần phải có khả năng “tương tác” với bài đọc có nội dung HH, cụ thể như: tiên đoán được những dữ kiện, những hiện tượng xảy

ra tiếp theo bằng cách sử dụng chính những dữ liệu được cung cấp trong bài đọc; tự đặt

ra những câu hỏi về nội dung chính của bài đọc; những thông điệp cần truyền tải thông qua bài đọc; phân biệt, làm rõ được những đoạn văn bản có nội dung khó, dễ nhầm lẫn hoặc dễ hiểu sai; liên kết, kết nối được các sự kiện trong bài đọc với những kiến thức và những kinh nghiệm đã có; Tất cả điều đó sẽ giúp cho GV giảng dạy môn HH bằng tiếng Anh có thể vừa đọc hiểu, vừa gợi mở giúp HS dễ dàng tiếp cận với các KN đọc hiểu trong quá trình đọc và hơn hết là giúp cho HS có thể tự đối thoại với chính mình trong quá trình đọc để tự hiểu được nội dung bài đọc

b) Đối với học sinh

HS cần xác định đúng mục đích, mục tiêu khi đọc hiểu Mục đích của việc đọc

hiểu một tài liệu không chỉ là hiểu được nội dung của tài liệu đó mà còn tìm ra được cách tiếp cận với những dạng tài liệu liên quan

HS cần nâng cao vốn từ vựng chuyên ngành của bản thân Khi đọc một tài liệu HH

bằng tiếng Anh, HS sẽ gặp không ít từ mới Do đó dẫn đến việc hiểu được nội dung của tài liệu sẽ trở nên khó khăn đối với HS HS cần phải biết đoán nghĩa của từ mới từ ngữ

Trang 38

cảnh và từ những từ mà HS đã biết trước đó, thay vì dùng tự điển Vì vậy, HS không những học được từ mới mà còn học được cách sử dụng chúng trong ngữ cảnh cụ thể

HS cần nắm vững được các kĩ thuật, KN đọc hiểu Theo tác giả Nguyễn Thị Hiền

Lương (2011), khi đọc, HS phải nhìn vào chữ để làm quen với kí hiệu khi viết của âm thanh, phải nhận diện được chúng chứ không được học vẹt [19, tr 55-60] HS cần đọc từng nhóm chữ, nhóm từ có ý nghĩa thay vì một chữ, một từ mà chưa biết nó thuộc nhóm chữ, nhóm từ nào để tránh bị hiểu lầm, hiểu sai ý nghĩa của chữ, của từ Mỗi nhóm từ đều mang những ý nghĩa riêng giúp cho HS nhận diện được để khi đọc thì HS có thể hiểu ngay trong đầu Xác định được loại từ (danh từ, tính từ, động từ, trạng từ,…) cũng rất quan trọng trong quá trình đọc để có thể hiểu được nội dung sâu xa của tài liệu Nắm được vị trí, cách thức tổ chức của các loại từ cơ bản trong câu cũng giúp HS có thể dễ dàng hiểu được toàn bộ ý nghĩa của câu Đối với những tài liệu dài, đôi khi HS phải đọc lướt Đây là một KN rất cần thiết đối với HS trong học tập nói chung, trong đọc hiểu tiếng Anh nói riêng, đặc biệt là đối với tiếng Anh chuyên ngành khoa học Nó giúp HS phân biệt, nhận biết được những nội dung quan trọng, kém quan trọng trong tài liệu để từ

đó tập trung vào những nội dung quan trọng hơn

HS cần nhận diện nhanh những dấu hiệu cấu trúc về thì, câu nghi vấn, câu phủ

định,… Việc này không những giúp HS không những đọc đúng mà còn hiểu rõ ý nghĩa của câu

HS cần lựa chọn những tài liệu đọc phù hợp với sở thích và trình độ của bản thân

Chẳng hạn như hóa lý thuyết, hóa ứng dụng, hóa vô cơ,… Thực tế cho thấy, nếu HS lựa chọn được những tài liệu chuyên ngành phù hợp với sở trường và tạo được hứng thú cho bản thân thì việc rèn luyện KN đọc hiểu sẽ trở nên thú vị và hiệu quả hơn rất nhiều

HS cần rèn luyện KN làm việc nhóm KN làm việc nhóm, tham gia vào các câu lạc

bộ học thuật là rất quan trọng và cần thiết Thông qua việc làm việc nhóm trong giờ học, ngoài giờ học cũng như tham gia các câu lạc bộ học thuật sẽ giúp cho HS có điều kiện đặt câu hỏi, trao đổi kiến thức lẫn nhau, qua đó trau dồi kiến thức, tự tin và cải thiện đáng

kể KN đọc hiểu

1.4.2 Các kĩ năng đọc hiểu trong dạy học hóa học bằng tiếng Anh

KN đọc lấy ý chính và nội dung bao quát (Skimming skill)

Skimming là KN “đọc lướt qua tất cả các ý chính của bài đọc với mục đích nắm được

ý chính và nội dung chính mà tác giả muốn truyền tải; người đọc cần tìm những thông tin đặc biệt hoặc nắm được ý tưởng chung của bài đọc trước khi đọc kĩ” [129] KN này có thể được chia thành 3 dạng: đọc lướt trước (preview skimming), đọc lướt toàn bộ (overview skimming) và đọc lướt lại (review skimming) Trong trường hợp người đọc không muốn đọc toàn bộ bài đọc, người đọc có thể sử dụng vài kĩ thuật khác nhau để đọc lướt: (1) Lướt

Trang 39

mắt nhanh qua các trang; (2) Chú ý những tựa đề, tiêu đề chính và tiêu đề phụ; (3) Đọc kĩ câu mở đầu và câu kết luận; (4) Đọc câu đầu và câu cuối của mỗi đoạn [66]

Đối với KN đọc lướt trước (preview skimming): được thực hiện thông qua việc đọc lướt lần thứ hai hoặc đọc tổng thể một lần, có thể được sử dụng trong những trường hợp sau: (1) Việc chọn một cuốn sách; (2) Việc khảo sát nội dung một chương trước khi đọc hoặc nghiên cứu; (3) Việc tìm kiếm tài liệu phù hợp để sử dụng trong nghiên cứu; (4) Việc trả lời nhanh nội dung chính của tài liệu Chúng ta đọc lướt trước để tìm hiểu về những ý tưởng, cấu trúc tài liệu và cách thức phát triển ý tưởng của tác giả thông qua việc đọc đoạn văn đầu tiên, tiêu đề và câu đầu tiên của các đoạn văn và các phần của bài đọc

Đối với KN đọc lướt toàn bộ (overview skimming): được thực hiện khi chúng ta không có ý định đọc tài liệu sau đó nhưng cần lấy nhiều thông tin chính của tài liệu hoặc bài viết hơn thông tin có được từ việc đọc lướt trước Cũng giống như KN đọc lướt trước, chúng ta cần đọc đoạn văn đầu tiên, các tiêu đề và câu đầu tiên của các đoạn và các phần của tài liệu, nhưng ngoài ra, bạn cần kết hợp việc đọc và nghĩ thoáng qua một cách luân phiên, khi đó bạn sẽ tự hình dung ra cấu trúc và nội dung chính của tài liệu thông qua việc nhận ra các mẫu đoạn văn, sự chuyển biến trong tư duy của tác giả và từ khoá đầu mối Sự nhận biết này sẽ giúp chúng ta hiểu được nội dung, thu thập được nhiều thông tin hơn và nắm bắt được các mối quan hệ một cách rõ ràng và nhanh chóng hơn

Đối với KN đọc lướt lại (review skimming): được thực hiện khi chúng ta cần nhớ lại nội dung của tài liệu mà trước đó chúng ta đã đọc hết hoặc đã từng đọc lướt Chúng ta cần

cố gắng nhớ được càng nhiều chi tiết một cách rõ ràng càng tốt, quan trọng là nắm bắt được nội dung chính và khi cần thiết có thể dừng việc đọc để ghi chú lại một số chi tiết quan trọng như tên, địa điểm, thời gian,… Ngoài ra, chúng ta cần cố gắng thiết lập trong đầu chuỗi các dữ kiện, sự kiện diễn ra, hoặc cố gắng phác thảo ra một đề cương để nắm được cấu trúc của toàn bộ bài đọc, tài liệu Chúng ta có thể dễ dàng đọc lướt qua rất nhanh nhiều loại tài liệu khi đã quen thuộc với KN này và chỉ tạm dừng để đọc kĩ khi thật cần thiết

KN đọc nhanh lấy dữ liệu cụ thể, thông tin chi tiết (Scanning skill)

Scanning là “một kĩ thuật đọc yêu cầu người đọc tìm kiếm những thông tin cụ thể mà không cần đọc cả bài đọc, chỉ thông qua việc nhìn tựa đề bài đọc, nội dung bảng biểu,…” [129] Để vận dụng KN này, chúng ta có thể thực hiện các bước như sau: (1) Nhớ thật kĩ

và rõ ràng dữ kiện đang cần tìm; (2) Dự đoán trước cách tiếp cận thông tin dữ kiện; (3) Rê ngón tay tới lui trên trang giấy và để mắt nhìn theo những mục tiêu cụ thể đang tìm kiếm

Ví dụ như: tìm kiếm tên, địa điểm hoặc tiêu đề: tìm các dấu hiệu biểu thị bởi những chữ in hoa; dữ liệu về khoảng cách hoặc ngày giờ: tìm các con số hoặc những từ như dặm (miles), mét (metres), phút (minutes) hoặc giờ (hours),…; một ý tưởng: dự đoán những từ có thể được dùng để diễn tả ý tưởng đó; một mối quan hệ, mối liên quan: tìm những từ thể hiện

sự liên quan hoặc một nguyên nhân, kết quả như “thus”, “consequently”, or “as a result”

Trang 40

Khi bắt đầu tìm kiếm thông tin, chúng ta có thể sử dụng PP này cho đến khi tìm thấy thông tin cần thiết Sau đó tiếp tục đọc đến khi nào trả lời được câu hỏi đã đưa ra

KN đọc chuyên sâu (In-depth reading skill)

KN đọc chuyên sâu hướng đến 3 mục đích [170]: (1) Hiểu sâu hơn nội dung của một tài liệu, văn bản, bài đọc; (2) Nghiên cứu các thông tin chi tiết phục vụ cho việc thực hiện một BT, một dự án; (3) Đọc được những phần nội dung khó của một tài liệu, một bài đọc Đối với KN này, có 4 PP khác nhau có thể vận dụng để nâng cao tầm hiểu biết: PP RAP, RIDA, Five S và SQ3R

PP RAP (Read – Ask – Put): thích hợp đối với việc đọc sách giáo khoa và các bài báo nghiên cứu Các bước tiến hành thường là: (1) Đọc một đoạn hoặc một phần; (2) Tự hỏi một số câu hỏi về những nội dung vừa đọc; (3) Đưa ra câu trả lời theo cách diễn đạt của bản thân (và ghi chú lại nếu cần thiết) PP này có thể được sử dụng khi chúng ta đọc một bài đọc khó hoặc khi tìm một nội dung nào được thể hiện trên rất nhiều trang của bài đọc Chúng ta có thể rời mắt khỏi bài đọc, tự nhớ lại những gì mình vừa đọc để gợi nhớ và tự

kể lại những thông tin, nội dung quan trọng có liên quan tới những thông tin, nội dung khác của bài đọc Ví dụ, chúng ta có thể nghĩ những điều như: phần này nói về …; tác giả đã đưa ra ba điểm chính là …; có một ví dụ về …; ý cuối cùng là …

PP RIDA (Read – Imagine – Describe – Add): thích hợp với việc đọc các nội dung

mô tả và tường thuật Các bước tiến hành thường là: (1) Đọc; (2) Tưởng tượng về những

gì vừa đọc; (3) Tự mô tả lại những gì vừa đọc; (4) Thu thập thêm thông tin, chi tiết khi đọc

PP này giúp chúng ta suy nghĩ về những chi tiết liên quan đến địa điểm, con người, hành động, các sự kiện và tạo nên một hình ảnh, một bức tranh dựa trên những từ ngữ và phong cách sử dụng ngôn ngữ của tác giả

PP Five S (Skim – Scan – Select – Slurp – Summarise): là một PP rất hiệu quả giúp cho người đọc có thể sử dụng được những KN đọc thích hợp và tiết kiệm được thời gian khi đọc [81] Theo nhà giáo dục Gawith thì các bước tiến hành như sau: (1) Đọc phần giới thiệu, tóm tắt, câu đầu tiên và cuối cùng của mỗi đoạn văn; (2) Tìm thông tin cần tìm; (3) Chọn phần nào cần đọc kĩ để nắm thêm thông tin; (4) Đọc các phần đã được lựa chọn một cách cẩn thận và từ từ Đọc lại nếu cần; (5) Tóm tắt lại nội dung bằng cách sử dụng sơ đồ,

từ khoá, thẻ mục lục, hoặc đặt ra những câu hỏi để ghi chú lại một số thông tin cần nhớ

PP SQ3R (Survey – Question – Read – Recite – Review): (1) Đọc lướt qua tài liệu, ghi chú các đề mục, các tiêu đề phụ, sơ đồ, biểu đồ, Bước này được sử dụng nắm tổng quan về tài liệu sắp đọc; (2) Tự hỏi một số câu hỏi về tài liệu trong khi đang đọc bằng cách

sử dụng tiêu đề, câu hỏi ở cuối chương hoặc phần mục tiêu trong phần hướng dẫn học tập; (3) Đọc cẩn thận, chậm rãi và có chiều sâu Thường xuyên tạm dừng để trả lời những câu hỏi nêu ra, sau đó đọc tiếp Sử dụng bút chì để ghi chú ngoài lề hoặc gạch dưới các từ hoặc cụm từ quan trọng Đọc toàn bộ tài liệu, bao gồm cả các biểu đồ và bảng biểu; (4) Ghi chép

Ngày đăng: 10/07/2021, 18:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, giai đoạn 2008 - 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, giai đoạn 2008 - 2020
3. Quyết định số 2080/QĐ-TTg ngày 22/12/2017 phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2017 – 2025” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2017 – 2025
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Dự án Việt Bỉ (2010), Nghiên cứu khoa học Sư phạm ứng dụng. Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoa học Sư phạm ứng dụng
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Dự án Việt Bỉ
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2010
6. Trần Thị Bông (2016), Dạy học chủ đề phản ứng hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông. Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học chủ đề phản ứng hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Trần Thị Bông
Năm: 2016
7. Nguyễn Thùy Linh Đa (2014), Nghiên cứu phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông (Áp dụng chương trình hóa học vô cơ lớp 12). Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông (Áp dụng chương trình hóa học vô cơ lớp 12)
Tác giả: Nguyễn Thùy Linh Đa
Năm: 2014
8. Cao Cự Giác (2012), Chemistry teaching methodology in English at high school. Nxb Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chemistry teaching methodology in English at high school
Tác giả: Cao Cự Giác
Nhà XB: Nxb Đại học Vinh
Năm: 2012
9. Cao Cự Giác (2014), “Thực trạng và giải pháp dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông Việt Nam”. Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt 4/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông Việt Nam”. "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Cao Cự Giác
Năm: 2014
10. Cao Cự Giác (2016), “Thiết kế bài giảng hóa học bằng tiếng Anh dạy học ở trường trung học phổ thông”. Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 124 (1/2016), tr. 18-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng hóa học bằng tiếng Anh dạy học ở trường trung học phổ thông”. "Tạp chí Khoa học Giáo dục
Tác giả: Cao Cự Giác
Năm: 2016
11. Cao Cự Giác (2019), Dạy học một số chủ đề hóa học bằng tiếng Anh. Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học một số chủ đề hóa học bằng tiếng Anh
Tác giả: Cao Cự Giác
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2019
13. Cao Cự Giác (cb), Trần Trung Ninh (2018), Giáo trình Phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông. Nxb Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Cao Cự Giác (cb), Trần Trung Ninh
Nhà XB: Nxb Đại học Vinh
Năm: 2018
14. Cao Cự Giác, Tạ Thị Thao, La Thanh Ngà, Nguyễn Thùy Linh Đa (2014), “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông”. Tạp chí giáo dục, số đặc biệt tháng 3/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông”. "Tạp chí giáo dục
Tác giả: Cao Cự Giác, Tạ Thị Thao, La Thanh Ngà, Nguyễn Thùy Linh Đa
Năm: 2014
16. Ngô Ngọc Huỳnh Hân (2016), Phát triển kỹ năng viết trong việc giải bài tập hóa học hữu cơ cho học sinh trung học phổ thông bằng tiếng Anh. Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kỹ năng viết trong việc giải bài tập hóa học hữu cơ cho học sinh trung học phổ thông bằng tiếng Anh
Tác giả: Ngô Ngọc Huỳnh Hân
Năm: 2016
17. Nguyễn Thị Bích Hiền (2012), Rèn luyện kĩ năng sử dụng bài tập hóa học trong dạy học ở trường trung học phổ thông cho sinh viên đại học sư phạm ngành hóa học. Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng sử dụng bài tập hóa học trong dạy học ở trường trung học phổ thông cho sinh viên đại học sư phạm ngành hóa học
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hiền
Năm: 2012
18. Dương Lệ Hồng (2014), Nghiên cứu phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông (Áp dụng chương trình hóa học 10). Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông (Áp dụng chương trình hóa học 10)
Tác giả: Dương Lệ Hồng
Năm: 2014
19. Nguyễn Thị Hiền Lương (2011), “Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu tiếng Anh cho sinh viên hệ không chuyên”. Tạp chí Giáo dục, tập 259, tr. 55-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu tiếng Anh cho sinh viên hệ không chuyên
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền Lương
Năm: 2011
20. La Thanh Ngà (2014), Nghiên cứu phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông (Áp dụng chương trình hóa học hữu cơ lớp 12). Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông (Áp dụng chương trình hóa học hữu cơ lớp 12)
Tác giả: La Thanh Ngà
Năm: 2014
21. Nguyễn Thị Trúc Nguyên (2014), Nghiên cứu phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông (Áp dụng chương trình hóa học 11). Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thông (Áp dụng chương trình hóa học 11)
Tác giả: Nguyễn Thị Trúc Nguyên
Năm: 2014
22. Trịnh Lê Hồng Phương, Đoàn Cảnh Giang (2015), “Xây dựng thang đánh giá năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học cho học sinh phổ thông”. Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 3(68), tr. 101-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng thang đánh giá năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học cho học sinh phổ thông”. "Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trịnh Lê Hồng Phương, Đoàn Cảnh Giang
Năm: 2015
24. Trung tâm từ điển Viện ngôn ngữ học (2001), Từ điển Tiếng Việt. Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Trung tâm từ điển Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2001
25. Nguyễn Xuân Trường (2005), Giáo trình bài tập hóa học ở trường phổ thông. Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bài tập hóa học ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Xuân Trường
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w