Đỗ Thị Hà Thương – Trường ĐH Ngân hàng Tp HCM Tóm tắt Nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo trực tuyến ở Đại học Ngân hàn
Trang 1CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN CỦA
TRƯỜNG
Phạm Thị Anh Thư HQ7-GE141 Huỳnh Mai Xuân - HQ7-GE07
Lê Nguyễn Thanh Uyên HQ7-GE07
Cao Thành Tài HQ7-GE06
TS Đỗ Thị Hà Thương – Trường ĐH Ngân hàng Tp HCM Tóm tắt
Nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên
về chất lượng đào tạo trực tuyến ở Đại học Ngân hàng Tp HCM (BUH) Số liệu khảo sát
397 sinh viên hệ chính quy đang học tại trường Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra có 5 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo trực tuyến ở BUH gồm: (1)
Cơ sở hạ tầng (2) Giao diện người dùng (3) Tương tác (4) Giảng viên (5) Tài nguyên trong đó nhân tố Tương tác ảnh hưởng mạnh nhất, nhân tố Cơ sở hạ tầng ảnh hưởng yếu nhất.
Từ khóa: sự hài lòng của sinh viên, chất lượng đào tạo trực tuyến,
1 Giới thiệu
Cùng với sự tiến bộ và ứng dụng rộng rãi của khoa học công nghệ, hình thức đào tạo trực tuyến ngày càng phát triển tại các cơ sở đào tạo đặc biệt vào đầu năm
2020 khi đại dịch Covid-19 xảy ra đã khiến cho hầu hết các trường đại học phải chuyển sang đào tạo trực tuyến để đảm bảo giãn cách xã hội nhưng vẫn tiếp tục duy trì việc học tập cho học sinh, sinh viên Do đó, hơn bao giờ hết chất lượng đào tạo trực tuyến là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu với mỗi cơ sở đào tạo Vì thế cần thiết phải nghiên cứu, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về chất đào tạo trực tuyến từ đó làm cơ sở để các trường đại học xây dựng
và cải thiện chất lượng học tập trực tuyến nhằm đáp ứng được các nhu cầu học tập của sinh viên cũng như nâng cao chất lượng đào tạo Bài viết thực hiện khảo sát 397 sinh viên BUH từ năm nhất đến năm tư nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo trực tuyến của trường
2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1 Cơ sở lý thuyết
Đào tạo trực tuyến hay còn gọi là E-Learning (Electronic Learning) là một thuật ngữ có nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau: Theo Davis (1989) “E-Learning là một dạng học tập cho phép chuyển các tài liệu học tập sang sinh viên
1thuphamanh712@gmail.com
Trang 2bằng cách sử dụng internet, mạng nội bộ hoặc phương tiện mạng máy tính khác” Bates (2009) cho rằng “E-learning được định nghĩa là tất cả những hoạt động dựa vào máy tính và Internet để hỗ trợ dạy và học cả ở trên lớp và từ xa” Còn Luskin (2010) giải thích nghĩa của E-learning như sau: “E” trong thuật ngữ “E-learning” được hiểu là học tập một cách thú vị, năng động, nhiệt tình, cảm xúc, mở rộng, tuyệt vời và có giáo dục” Như vậy, có thể hiểu đào tạo trực tuyến là hình thức đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, thông qua hệ thống quản lý học tập để tạo nên các lớp học trực tuyến, cung cấp tài nguyên và công cụ học tập từ đó tạo môi trường học tập từ xa, giúp cho sinh viên có thể chủ động học mọi lúc, mọi nơi, tiết kiệm chi phí mà vẫn đảm bảo tính linh hoạt, sinh động, hiệu quả cao.Thành phần quan trọng nhất trong mô hình hệ thống E-Learning là phần mềm quản lý học tập (Learning Management System - LMS) LMS là phần mềm quản lý quá trình học tập và truyền tải nội dung khoá học tới sinh viên, bao gồm nhiều khối chức năng khác nhau, giúp cho quá trình giảng dạy và học tập trên mạng đuợc thuận tiện,
dễ dàng và hiệu quả hơn Các khối chức năng chính trong LMS bao gồm quản lý tài nguyên học tập, tạo nội dung học tập, diễn đàn thảo luận học tập, khảo sát lấy ý kiến, kiểm tra và đánh giá, trao đổi trực tuyến, phát video trực truyến, Trong mô hình hệ thống E-Learning, các thành phần khác như quản trị viên hệ thống, giảng viên và học viên sẽ tương tác với nhau thông qua hệ thống quản lý học tập LMS
Về chất lượng đào tạo thì Harvey và Green (1993) đề cập đến năm khía cạnh gồm: chất lượng là sự vượt trội (hay sự xuất sắc); chất lượng là sự hoàn hảo (kết quả hoàn thiện, không có sai sót), chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu (đáp ứng nhu cầu của khách hàng); chất lượng là sự đáng giá về đồng tiền (trên khía cạnh đáng giá để đầu tư) và chất lượng là sự chuyển đổi (sự chuyển đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác) Còn theo chương trình cải cách giáo dục đại học ở các nước trong khu vực Đông Nam Á SEAMEO (2003) “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” Theo đó, mục tiêu được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm sứ mệnh, các mục đích, đặc điểm của chương trình đào tạo Mục tiêu phải phù hợp với chức năng nhiệm vụ và các nguồn lực của nhà trường nhưng đồng thời mục tiêu đào tạo phải đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế - xã hội - đất nước
Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng: Theo Oliver (1985), “sự hài lòng là phản ứng của người tiêu dùng đối với việc được đáp ứng những mong muốn” Theo Zeithaml and Bitner (2000), “sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng về một sản phẩm hay một dịch vụ đã đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của họ” Còn theo Kotler (2012), “sự hài lòng là mức độ của trạng thái của một người, bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm và những kỳ vọng của người đó” Như vậy, sự hài lòng là sự so sánh giữa lợi ích thực tế cảm
Trang 3nhận được và những kỳ vọng Nếu lợi ích thực tế không như kỳ vọng thì khách hàng sẽ thất vọng Còn nếu lợi ích thực tế đáp ứng với kỳ vọng đã đặt ra thì khách hàng sẽ hài lòng Nếu lợi ích thực tế cao hơn kỳ vọng của khách hàng thì sẽ tạo ra hiện tượng hài lòng cao hơn hoặc là hài lòng vượt quá mong đợi
Để đo lường sự hài lòng Parasuraman & ctg (1988, 1991, 1993) đã xây dựng và hiệu chỉnh thành mô hình gồm 5 thành phần trên cơ sở hài lòng là đánh giá của khách hàng về một sản phẩm hay dịch vụ đã đáp ứng được những nhu cầu và mong đợi Tiếp đó, Cronin và Taylor (1992) đề xuất mô hình SERVPERP và được sự ủng
hộ của Lee và cộng sự (2000), Brady và cộng sự (2002) cho rằng sự hài lòng chính
là mức độ cảm nhận của khách hàng đối với việc thực hiện dịch vụ Theo đó, Daniel
và Yi-shun (2008) kết luận có 4 nhóm chính để đo lường sự hài lòng của sinh viên đối với e-Learning: (1) Nội dung và thiết kế thể hiện qua bài giảng; (2) Cộng đồng học tập; (3) Tính chủ động của sinh viên và (4) Công nghệ Nguyễn Quốc Long (2015) chỉ ra các yếu tố liên quan đến sự hài lòng về dịch vụ đào tạo trực tuyến của sinh viên trường đại học Duy Tân gồm: Phương tiện hữu hình, Tin cậy, Đáp ứng, Năng lực phục vụ, Cảm thông, Giá trị xã hội, Giá trị kiến thức, Giá trị chức năng Sanjai K Parahoo(2016) chỉ ra bốn yếu tố quyết định sự hài lòng của sinh viên đến môi trường giáo dục đại học trực tuyến bao gồm: danh tiếng của trường đại học; cơ
sở vật chất; sự đồng cảm của giảng viên, sự tương tác sinh viên, sự phản hồi và đồng cảm của khoa, sự tương tác công nghệ thông tin Nguyễn Thái Hiền (2019) chỉ
ra 7 yếu tố tác động đến sự hài lòng của các học viên tham gia khóa học trực tuyến trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh gồm: Nội dung học tập, Hữu hình, Trang web khóa học, Độ tin cậy, Đồng cảm, Đáp ứng và Đảm bảo Nguyễn Thị Thanh Loan (2019) có 6 nhân tố tác động đến sự hài lòng của sinh viênvới E-Learning theo thứ
tự là: “Thái độ sinh viên”; “Giao diện hệ thống”; “Chương trình đào tạo”; “Công nghệ”; “Giảng viên” và “Tương tác”
2.2 Phương pháp và mô hình nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu: Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định
tính bằng lấy ý kiến 10 chuyên gia là các giảng viên và 20 sinh viên BUH về những yếu tố nào tác động đến sự hài lòng của sinh viên BUH về chất lượng đào tạo trực tuyến của trường Đồng thời kết hợp với nghiên cứu định lượng thông qua sử dụng phần mềm SPSS 20.0 trên cơ sở thực hiện các phương pháp: Kiểm định thang đo, phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy và kiểm định sự khác biệt để giải quyết vấn đề nghiên cứu Để thực hiện nghiên cứu, các khái niệm được đo lường bằng các biến quan sát và các biến quan sát được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ theo thứ tự từ 1 đến 5, thể hiện mức độ đồng ý tăng dần (1: rất không đồng ý; 2: không đồng ý; 3: bình thường; 4: đồng ý; 5: rất đồng ý)
Trang 4Giao diện người dùng
Cơ sở hạ tầng
Giảng viên
Tài nguyên học tập
Tương tác
Sự hài lòng của sinh viên BUH về chất lượng đào tạo trực tuyến tại trường
H1 H2 H3 H4 H5
Về mẫu nghiên cứu: Nhóm tác giả sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện
với kích thước mẫu được dựa trên nghiên cứu của Slovin (1984) trích trong Hoàng
Trọng Chu, Nguyễn Mộng Ngọc (2008), khi biết được kích thước của tổng thể thì
cỡ mẫu (n) được xác định theo công thức:
Trong đó: N là tổng số sinh viênhệ chính quy đang theo học tại trường; e là sai
số cho phép (thường lấy bằng mức ý nghĩa 5%) Số lượng sinh viên hệ chính quy
đang theo học tại trường là 10.235 Từ đó xác định n=385 Để gia tăng độ chính
xác, số phiếu khảo sát cần gửi đi là 400
Về thu thập dữ liệu: Dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu được thu từ bảng câu hỏi
khảo sát được gửi cho sinh viên bằng phiếu khảo sát online Dữ liệu sau khi thu
thập sẽ được nhập vào phần mềm Excel và SPSS 20.0 để tiến hành làm sạch và sàng
lọc Quá trình này được thực hiện nhằm loại bỏ những bảng khảo sát không đạt yêu
cầu
Về mô hình nghiên cứu: Dựa vào mô hình SERVPERF của Cronin và Taylor
(1992) kết hợp với mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Loan (2019)nhóm
tác giả đề xuất mô hình đánh giá sự hài lòng của sinh viên BUH về chất lượng đào
tạo trực tuyến tại trường như sau:
Hình 1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Trên cơ sở mô hình nghiên cứu đề xuất và các nghiên cứu trước liên quan,
nhóm tác giả đưa ra các giả thuyết sau:
H1: Giao diện người dùng có quan hệ cùng chiều với Sự hài lòng của sinh
viên BUH về chất lượng đào tạo trực tuyến tại trường.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Loan (2019) đã khẳng định nhân tố này
tác động cùng chiều đối với sự hài lòng của sinh viên Có 5 tiêu chí đo lường giao
diện người dùng gồm: Giao diện đơn giản, màu sắc hài hòa; Giao diện dễ sử dụng,
Trang 5không đòi hỏi nhiều kiến thức; Dễ dàng tìm kiếm thông tin và Tốc độ load của website nhanh
H2: Cơ sở vật chất có quan hệ cùng chiều với Sự hài lòng của sinh viên BUH
về chất lượng đào tạo trực tuyến tại trường
Nghiên cứu của Sanjai K Parahoo (2016), Nguyễn Quốc Long (2015), Nguyễn Thái Hiền (2019) đã khẳng định nhân tố này tác động cùng chiều đối với sự hài lòng của sinh viên Có 5 tiêu chí đo lường cơ sở vật chất gồm: Đường truyền có tốc
độ truyền dẫn nhanh; Hệ thống chạy ổn định, hạn chế tình trạng không truy cập được vào hệ thống; Có phần mềm/hệ thống chính thức cho chương trình giảng dạy; Thuận tiện cho việc truy cập trên smartphone và vi tính và Phần mềm với cấu hình bảo đảm an toàn, không bị rò rỉ thông tin của sinh viên và giảng viên
H3: Giảng viên có quan hệ cùng chiều với Sự hài lòng của sinh viên BUH về chất lượng đào tạo trực tuyến tại trường
Các nghiên cứu của Daniel và Yi-shun (2008), Nguyễn Thị Thanh Loan (2019) đã khẳng định nhân tố này tác động cùng chiều đối với sự hài lòng của sinh viên Có 6 tiêu chí đo lường cơ sở vật chất gồm: Giảng viên nhiệt tình, thân thiện đối với sinh viên; Giảng viên sử dụng nhiều phương pháp giảng dạy đa dạng; Giảng viên liên hệ nhiều kiến thức thực tế giúp bài học dễ hiểu, sinh động; Giảng viên giải đáp thắc mắc của sinh viên rõ ràng; Giảng viên có trình độ về công nghệ thông tin
và Giảng viên tạo điều kiện cho sinh viên được tranh luận, bàn luận, thuyết trình về một vấn đề nào đó của bài học
H4: Tài nguyên học tập có quan hệ cùng chiều với Sự hài lòng của sinh viên BUH về chất lượng đào tạo trực tuyến tại trường.
Nghiên cứu của Sanjai K Parahoo (2016), Nguyễn Quốc Long (2015), Nguyễn Thái Hiền (2019) đã khẳng định nhân tố này tác động cùng chiều đối với sự hài lòng của sinh viên Có 5 tiêu chí đo lường quản lý và phục vụ đào tạo gồm: Tài nguyên học tập gồm: Tài liệu được giảng viên cung cấp trước khi bắt đầu môn học được cập nhật liên tục từ giảng viên; Tài nguyên có nội dung phù hợp với nội dung giảng dạy; Tài nguyên được thiết kế theo nhiều hình thức đa dạng; Tài nguyên được download dễ dàng và đầy đủ tài liệu, e book tham khảo, riêng cho mỗi môn học
H5: Tương tác có quan hệ cùng chiều với Sự hài lòng của sinh viên BUH về chất lượng đào tạo trực tuyến tại trường.
Nghiên cứu của Daniel và Yi-shun (2008), Sanjai K Parahoo (2016), Nguyễn Thị Thanh Loan (2019) khẳng định nhân tố này tác động cùng chiều đối với sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo Có 5 tiêu chí đo lường công tác tổ chức thi gồm: Giảng viên và sinh viên tương tác tốt; Sinh viên có thể kết nối, trao đổi với nhau (qua các diễn đàn, phòng học nhóm, ); Sinh viên có cơ hội làm quen
Trang 6với nhau, trau dồi được kĩ năng, tạo mối quan hệ, teamwork từ xa; Môi trường trực tuyến ẩn danh nên tương tác, trả lời câu hỏi giảng viên đưa ra của sinh viên tương đối nhanh, nhiều và dễ dàng tương tác mọi lúc mọi nơi với giảng viên khi gặp khó khăn
3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1 Kết quả nghiên cứu
3.1.1 Kết quả thống kê mẫu nghiên cứu
Về giới tính: Phần lớn sinh viên được khảo sát là nữ (chiếm 68%), sinh viên là
nam chiếm tỷ lệ thấp (32%)
Về thời gian học: Chiếm tỷ lệ cao nhất là sinh viên năm thứ nhất với 67%;
sinh viên năm hai 16%, sinh viên năm ba 13,8% và sinh viên năm tư 3,2%
Về thiết bị sử dụng học trực tuyến: Theo kết quả khảo sát, sinh viên sử máy
tính là chủ yếu với tỷ trọng 62,6%, sử dụng smartphone với tỷ trọng 37,4%
3.1.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo
Để kiểm định độ tin cậy của các nhân tố sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha và
hệ số tương quan biến tổng Kết quả kiểm định được thể hiện trên bảng sau:
Bảng 1 Kiểm định độ tin cậy của các thang đo STT Thang đo Hệ số Cronbach’s Alpha
(Nguồn: Kết quả điều tra và xử lý trên SPSS 20)
Kết quả kiểm định cho thấy các biến quan sát của các nhân tố đều có hệ số tương quan tổng biến ≥ 0.3 và hệ số Cronbach’s Alpha ≥ 0.6 nên đạt yêu cầu về độ tin cậy và phù hợp Đồng thời, kết quả kiểm định thang đo cho thấy 26 biến quan sát trong thang đo các nhân tố và 4 biến quan sát trong thang đo sự hài lòng đều có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3 Điều này chứng tỏ các biến quan sát này sử dụng tốt
3.1.3 Phân tích nhân tố khám phá
Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA đối với biến độc lập cho thấy: Giá trị Eigenvalue bằng 1,072 ≥ 1 và trích được 5 nhân tố mang ý nghĩa tóm tắt thông tin tốt nhất Tổng phương sai trích là 69,99% lớn hơn 50% cho thấy mô hình EFA là phù hợp Như vậy 5 nhân tố được trích giải thích được 69,99% biến thiên các quan sát Các hệ số khác đều đạt yêu cầu (KMO = 0,965>0.5; Sig = 0,000 < 0,05) Điều này thể hiện rằng nhân tố được trích ra này có thể giải thích được 69,99% biến thiên của dữ liệu
Trang 7Khi phân tích nhân tố khám phá EFA biến phụ thuộc, phương sai trích đạt 74,915% Các hệ số khác đều đạt yêu cầu (KMO = 0,807> 0.5; Sig =0,000 < 0,05; Eigenvalue = 2,997> 1) Điều này thể hiện rằng nhân tố được trích ra này có thể giải thích được 74,915% biến thiên của dữ liệu
Tất cả các nhân tố được rút trích sau khi phân tích nhân tố khám phá EFA nhóm biến độc lập và biến phụ thuộc sẽ được đưa vào phân tích để kiểm định sự tác động giữa nhóm biến độc lập lên biến phụ thuộc
Khi phân tích tương quan kết quả cho thấy: Sig tương quan Pearson các biến độc lập GD, CSHT, GV, TN và TT với biến phụ thuộc HL nhỏ hơn 0,05 Như vậy
có mối liên hệ tuyến tính giữa các biến độc lập này với biến HL
Giữa TT và HL có mối tương quan mạnh nhất với hệ số r là 0,739, giữa CSVC
và HL có mối tương quan yếu nhất với hệ số r là 0,601
Phân tích hồi quy sẽ được thực hiện với 5 biến độc lập là GD, CSHT, GV, TN
và TT bằng phương pháp Enter Kết quả ước lượng như sau:
Bảng 2 Kết quả phân tích hồi quy
Model Unstandardized
Coefficients StandardizedCoefficients t Sig. CollinearityStatistics
(Constant) 052 152 344 231
(Nguồn: Kết quả điều tra và xử lý trên SPSS 20)
Theo bảng kết quả hồi quy cho thấy Sig kiểm định t hệ số hồi quy của các biến độc lập đều nhỏ hơn 0,05 Do đó, các biến độc lập này đều có ý nghĩa giải thích cho biến phụ thuộc
Các hệ số hồi quy đều lớn hơn 0 Như vậy, ở độ tin cậy 95%, các biến độc lập
GD, CSHT, GV, TN và TT đều có tác động cùng chiều với sự hài lòng của sinh viên BUH về chất lượng đào tạo trực tuyến tại trường
Giá trị Sig của kiểm định F là 0,000 <0,05 cho biết mô hình hồi quy tuyến tính xây dựng là phù hợp với tổng thể
Qua bảng kết quả hồi quy cho thấy: Sig kiểm định hệ số t hồi quy của các biến độc lập đều nhỏ hơn 0,05 Do đó các biến độc lập đều có ý nghĩa giải thích cho biến phụ thuộc, không biến nào bị loại khỏi mô hình Hệ số phóng đại phương sai VIF của các biến độc lập đều nhỏ hơn 2 Do vậy kết luận mô hình không có hiện tượng
đa cộng tuyến
Trang 8Kết quả hồi quy tuyến tính cho thấy mô hình có hệ số R2 hiệu chỉnh bằng 0,598 tức là biến độc lập đưa vào chạy hồi quy ảnh hưởng 79,8% sự thay đổi của các nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến, còn lại 20,2% là do các biến ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên
Hệ số Durbin – Watson bằng 1,918 nằm trong khoảng từ 1,5 đến 2,5 Điều này cho thấy không có hiện tượng tự tương quan chuỗi bậc nhất xảy ra
3.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu
Phương trình hồi quy chuẩn hóa có dạng như sau:
HL = 0,205GD + 0,022CSHT + 0,116GV + 0,123TN + 0,387TT
Theo đó, thứ tự tác động từ mạnh nhất đến yếu nhất của các biến độc lập tới biến phụ thuộc HL là: TT (0,387) >GD (0,205) >TN (0,123) >GV (0,116)> CSHT (0,022) tương ứng với biến Tương tác tác động mạnh nhất tới Sự hài lòng của sinh viên; biến Giao diện tác động mạnh thứ hai; biến Tài nguyên tác động mạnh thứ ba; biến GV tác động mạnh thứ tư và biến Cơ sở hạ tầng tác động yếu nhất đến sự hài lòng của sinh viên
Kết quả từ bảng 2 cho thấy:
Giả thuyết H1: Giao diện có quan hệ đồng biến với Sự hài lòng của SV BUH
về chất lượng đào tạo trực tuyến của trường.
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy nhân tố giao diện có tác động tích cực đến
Sự hài lòng của SV BUH về chất lượng đào tạo trực tuyến của trường với hệ số bêta
là 0,205 Điều này có nghĩa nếu ảnh hưởng của các nhân tố khác lên Sự hài lòng của
SV BUH về chất lượng đào tạo trực tuyến của trường không đổi thì nhân tố “Giao diện” được SV đánh giá nếu nhân tố này tăng lên 1 đơn vị thì sẽ làm Sự hài lòng của SV BUH về chất lượng đào tạo trực tuyến của trường tăng 0,205 đơn vị
Giả thuyết H2: Cơ sở hạ tầng có quan hệ đồng biến với sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến.
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy nhân tố cơ sở vật chất có tác động tích cực đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến của trường với hệ số bêta là 0,022 Điều này có nghĩa nếu ảnh hưởng của các nhân tố khác lên
sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến không đổi thì nhân tố “Cơ sở hạ tầng” được sinh viên đánh giá nếu nhân tố này tăng lên 1 đơn vị thì sẽ làm sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến của trường tăng 0,022 đơn vị
Giả thuyết H3: Đội ngũ giảng viên có quan hệ đồng biến với Sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến của trường.
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy nhân tố đội ngũ giảng viên có tác động tích cực đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo với hệ số bêta là
Trang 90,116 Điều này có nghĩa nếu ảnh hưởng của các nhân tố khác lên sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến không đổi thì nhân tố “Đội ngũ giảng viên” được sinh viên đánh giá nếu nhân tố này tăng lên 1 đơn vị thì sẽ làm sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến tăng 0,116 đơn vị
Giả thuyết H4: Tài nguyên học tập có quan hệ đồng biến với Sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo của cơ sở đào tạo.
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy nhân tố tài nguyên học tập có tác động tích cực đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến với hệ số bêta là 0,123 Điều này có nghĩa nếu ảnh hưởng của các nhân tố khác lên sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến không đổi thì nhân tố
“Tài Nguyên” được sinh viên đánh giá nếu nhân tố này tăng lên 1 đơn vị thì sẽ làm
sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến tăng 0,123 đơn vị
Giả thuyết H5: Tương tác có quan hệ đồng biến với Sự hài lòng của sinh viên
về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến của trường.
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy nhân tố tương tác có tác động tích cực đến
sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến với hệ số bêta là 0,387 Điều này có nghĩa nếu ảnh hưởng của các nhân tố khác lên sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến không đổi thì nhân tố “Tương tác” được sinh viên đánh giá nếu nhân tố này tăng lên 1 đơn vị thì sẽ làm sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến của cơ sở đào tạo tăng 0,387 đơn vị
Như vậy với 5 giả thuyết từ H1 đến H5 nhóm tác giả đã đặt ra ban đầu thì cả 5 giả thuyết H1, H2, H3, H4 và H5 đều được chấp nhận là tương ứng với các biến Giao diện người dùng; Cơ sở vật chất; Đội ngũ giảng viên; Tài nguyên và Tương tác
Tiếp đến, nhóm tác giả sử dụng phân tích phương sai một chiều (One – way ANOVA) và kiểm định T (Independent Samples T-Test) để kiểm định sự khác biệt
về nhân tố nhân khẩu học ảnh hưởng đến kết quả đánh giá sự hài lòng của sinh viên
về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến của trường Các kết quả đều cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về sự hài lòng của sinh viên BUH về chất lượng đào tạo trực tuyến
4 Các hàm ý
Qua việc phân tích các yếu tố tác động đến sự hài lòng của sinh viên BUH đối với chất lượng đào tạo trực tuyến của trường, nhằm nâng cao sự hài lòng của sinh viên BUH về chất lượng đào tạo trực tuyến tại trường trong thời gian tới nhóm tác giả đưa ra một số khuyến nghị như sau:
Trang 104.1 Đối với yếu tố giao diện người dùng
Để nâng cao sự hài lòng của sinh viên đối với yếu tố “Giao diện người dùng”, trong thời gian tới nhà trường cần thực hiện một số biện pháp sau:
Một là, nhà trường cần phối hợp với các công ty thiết kế website, phần mềm
để cải thiện, nâng cấp giao diện người dùng, với đầy đủ các tính năng tối ưu, giao diện đẹp mắt, nội dung phong phú và dễ truy cập
Hai là, nhà trường cần phối hợp với nhà mạng, nhà cung cấp dịch vụ internet
để cải thiện tốc độ load của website
Ba là, cân đối giữa nội dung dạng chữ và dạng hình ảnh của các bài học và
cho phép sinh viên tùy chọn theo từng mức độ chi tiết của chủ đề học tập Nhất quán về kiểu chữ kiểu biểu tượng và kiểu trình bày giữa các trang của hệ thống nhằm giúp sinh viên dễ dàng tìm kiếm lẫn khai thác thông tin trong từng trang bài học, chẳng hạn dùng các form chữ in đậm, màu sắc nổi cho các tiêu đề bài giảng để sinh viên tập chung nội dung chính tương ứng
4.2 Đối với yếu tố cơ sở hạ tầng
Để nâng cao sự hài lòng của sinh viên đối với yếu tố “Cơ sở hạ tầng”, trong thời gian tới nhà trường cần thực hiện một số biện pháp sau:
Một là, nhà trường cần mở rộng hệ thống băng thông đường truyền để tăng tốc
độ load của website và không hạn chế số lượng truy cập để giúp sinh viên trực tuyến có thể dễ dàng truy cập vào website bất cứ thời điểm và vị trí nào một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn
Hai là, nhà trường cần tạo ra ứng dụng có thể dùng được trên smartphone để
giúp sinh viên dễ dàng download và sử dụng
Ba là, cần nâng cao hệ thống bảo mật thông tin cá nhân của sinh viên và giảng
viên
4.3 Đối với yếu tố tài nguyên học tập
Để nâng cao sự hài lòng của sinh viên đối với yếu tố “Tài nguyên học tập”, trong thời gian tới nhà trường cần thực hiện một số biện pháp sau:
Một là, tài nguyên phù hợp với nội dung giảng dạy có tính năng mở rộng bao
quát cả những nội dung yêu cầu ở mức đầu ra của cả chương trình đào tạo chứ không hạn định vào từng môn học cụ thể
Hai là, tài nguyên nên được thiết kế theo nhiều hình thức đa dạng như game,
video để tạo hứng thú cho sinh viên quá trình trong việc học tập và ôn tập kiến thức
Ba là, cần cung cấp cho sinh viên nhiều tài nguyên đa dạng phong phú cho
từng môn học và cần cập nhật liên tục nhằm đảm bảo theo kịp sự thay đổi của thế giới