Việt Nam đang thực hiện rất tốt việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, củng cố một nền kinh tế vững chãi đồng thời tham gia tích cực vào xu hướng hội nhập toàn cầu, vào các tổ chức kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, sự gia tăng các hoạt động hợp tác kinh tế cũng như hòa mình vào xu thế hội nhập cũng tỉ lệ thuận với số lượng những tranh chấp, xung đột về thương mại có thể phát sinh. Hiện nay, phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương pháp hòa giải thương mại là một phương thức phổ biến, hữu hiệu, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp không chỉ của các bên đương sự xảy ra tranh chấp, mà còn của của Nhà nước và xã hội. Hòa giải giúp các bên tranh chấp có thể tự nguyên, thực hiện những thỏa thuận, tránh việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước. Chính vì tính hiệu quả cũng như hợp lý của phương pháp hòa giải thương mại, việc xây dựng một hàng lang pháp lý cụ thể, chặt chẽ là hết sức cần thiết và thiết thực. Với mục đích tìm hiểu sâu hơn về hòa giải thương mại cùng những quy định của pháp luật hiện hành về hòa giải thương mại, em xin chọn đề bài số 12: “Thực trạng quy định pháp luật về hòa giải thương mại” làm đề bài tập học kì. Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, do khả năng còn hạn chế, khó tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong các thầy cô có thể góp ý để em hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 1MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1
I, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 1
1, Khái quát về tranh chấp thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại 1
2, Khái quát về hòa giải thương mại 2
II, Quy định pháp luật về Hòa giải thương mại 4
1, Quy định của pháp luật về hòa giải thương mại tại Tòa án 4
2, Quy định của pháp luật về hòa giải thương mại ngoài Tòa án 6
III, Thực trạng áp dụng pháp luật về hòa giải thương mại 11
1, Thực tiễn áp dụng pháp luật về hòa giải thương mại tại Tòa án 11
2, Những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hòa giải thương mại ở Việt Nam 12
KẾT LUẬN 15
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam đang thực hiện rất tốt việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, củng cố một nền kinh tế vững chãi đồng thời tham gia tích cực vào xu hướng hội nhập toàn cầu, vào các tổ chức kinh tế trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, sự gia tăng các hoạt động hợp tác kinh tế cũng như hòa mình vào xu thế hội nhập cũng tỉ lệ thuận với số lượng những tranh chấp, xung đột về thương mại có thể phát sinh
Hiện nay, phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương pháp hòa giải thương mại là một phương thức phổ biến, hữu hiệu, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp không chỉ của các bên đương sự xảy ra tranh chấp, mà còn của của Nhà nước và xã hội Hòa giải giúp các bên tranh chấp có thể tự nguyên, thực hiện những thỏa thuận, tránh việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước Chính vì tính hiệu quả cũng như hợp lý của phương pháp hòa giải thương mại, việc xây dựng một hàng lang pháp lý cụ thể, chặt chẽ là hết sức cần thiết và thiết thực Với mục đích tìm hiểu sâu hơn về hòa giải thương mại cùng những quy định của pháp luật hiện hành về hòa giải thương mại, em xin
chọn đề bài số 12: “Thực trạng quy định pháp luật về hòa giải thương mại” làm đề bài tập học kì Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, do khả
năng còn hạn chế, khó tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong các thầy
cô có thể góp ý để em hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
1, Khái quát về tranh chấp thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại
1.1, Một số khái niệm cơ bản
Trang 3+ Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại + Giải quyết tranh chấp là việc cơ quan , tổ chức có thẩm quyền xem xét và đưa ra quyết định xử lý các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng
cứ có trong vụ việc tranh chấp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
cá nhân, cơ quan, tổ chức
1.2, Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
a, Phương thức thương lượng: Là phương thức giải quyết tranh chấp
thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào
b, Phương thức hòa giải: Là phương thức giải quyết tranh chấp với sự
tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh
c, Giải quyết tranh chấp thương mại bằng tòa án: Là phương thức
giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước được tòa án thực hiện theo một trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ
d, Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài: Là phương
thức giải quyết thông qua hoạt động của Trọng tài viên với kết quả cuối cùng là phán quyết trọng tài buộc các bên tôn trọng và thực hiện
2, Khái quát về hòa giải thương mại
2.1, Khái niệm và đặc điểm của hòa giải thương mại
Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp
đỡ của một bên thứ ba trung lập Các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng, hay xung đột về quyền lợi và nghĩa
vụ giữa các bên phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh
Trang 4thương mại, phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội
Hòa giải thương mại có những đặc điểm cụ thể sau:
+ Hoạt động hòa giải luôn có sự tham gia của bên thứ ba – bên trung lập để giúp các bên tranh chấp giải quyết xung đột của họ Bên thứ ba luôn được gọi là hòa giải viên, là người độc lập, khách quan trong khi tiến hành hòa giải
+ Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất tự nguyện + Các bên tranh chấp tham sự quá trình hòa giải để đạt được một thỏa thuận cho việc giải quyết tranh chấp và xây dựng quyết định của chính mình
+ Hòa giải thiết lập một môi trường giao tiếp an toàn, thân thiện giữa các bên tranh chấp
+ Hòa giải có thể là một quá trình độc lập hoặc một phần của thủ tục tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài
+ Hòa giải không bắt buộc phải tiến hành công khai
+ Hòa giải không làm ảnh hưởng đến việc các bên sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp khác
2.2, Phân loại hòa giải thương mại
a, Hòa giải thương mại tại tòa án
Hòa giải thương mại tại Tòa án là một thủ tục bắt buộc trong tố tụng Tòa án, theo quy định tại Điều 10 BLTTDS năm 2015: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ Luật này” Theo quy định hiện hành, hòa giải có thể được Tòa án tiến hành
ở nhiều giai đoạn, nhiều cấp xét xử và đối với hầu hết các vụ án, trừ một
số trường hợp không thể hòa giải được
Đặc điểm:
Trang 5+ Thứ nhất, quyền tự do ý chí, quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp vẫn được tôn trọng trong quá trình hòa giải tại Tòa án, các bên có quyền tự thỏa thuận trong các phiên hòa giải do Tòa án mở hoặc ngay trong khi xét xử, trước khi Tòa án tuyên án
+ Thứ hai, quyền tự định đoạt của các bên bị hạn chế ở phạm vi nhất định, chịu ảnh hưởng của cơ chế quyền lực công
b, Hòa giải thương mại ngoài Tòa án
Hòa giải thương mại ngoài Tòa án là hình thức hòa giải thường do các
tổ chức trọng tài thương mại thực hiện hoặc do các tổ chức làm dịch vụ hòa giải chuyên nghiệp hoặc do một bên thứ ba (tổ chức, cá nhân) làm trung gian hòa giải theo yêu cầu của các bên tranh chấp
Đặc điểm:
+ Trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết một tranh chấp cụ thể nào đó khi các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận lựa chọn trọng tài để giải quyết
+ Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba khách quan để giúp các bên giải quyết bất đồng Tuy nhiên, quyết định của trọng tài viên hoặc hội đồng trọng tài có tính chất ràng buộc pháp
lý đối với các bên tranh chấp như một bản án của Tòa án
+ Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba khách quan để giúp các bên giải quyết bất đồng Tuy nhiên, quyết định của trọng tài viên hoặc hội đồng trọng tài có tính chất ràng buộc pháp
lý đối với các bên tranh chấp như một bản án của Tòa án
+ Trọng tài là một phương pháp giải quyết không mang tính quyền lực nhà nước, tuy nhiên vẫn được điều chỉnh bằng pháp luật cụ thể
+ Trọng tài thường nhận được sự hỗ trợ của các cơ quan quyền lực Nhà nước trong quá trình tố tụng như sự hỗ trợ của Tòa án khi ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trang 6II, Quy định pháp luật về Hòa giải thương mại
1, Quy định của pháp luật về hòa giải thương mại tại Tòa án
1.1, Nguyên tắc hòa giải
Theo quy định tại Điều 205 BLTTDS năm 2015, nguyên tắc hòa giải thương mại tại Tòa án cụ thể như sau:
Thứ nhất, việc hòa giải phải tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình
Thứ hai, nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
1.2, Phạm vi hòa giải
Phần lớn các tranh chấp dân sự được tiến hành hòa giải tại Tòa án, tuy nhiên vẫn tồn tại một số trường hợp tranh chấp không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được
Theo Điều 206 BLTTDS 2015, Tòa án không được hòa giải đối với những yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, và những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội Đối với những yêu cầu đòi bồi thường vì lý
do gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước, Tòa án không được hòa giải vì nguyên tắc bất kì hành vi nào gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước đều là hành vi trái pháp luật và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Điều 207 BLTTDS 2015 quy định cụ thể các trường hợp không tiến hành hòa giải bao gồm:
+ Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình mặt
+ Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng + Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự
Trang 7+ Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải
Việc bổ sung quy định trường hợp một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải vào các trường hợp không hòa giải được là hợp
lý nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tế, hạn chế việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án
1.3, Thủ tục hòa giải
Theo quy định trong BLTTDS 2015, hòa giải được tiến hành trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án Ngoài ra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, Chủ tọa cũng hỏi các bên đương sự có thỏa thuận được với nhau giải quyết vụ án hay không Nếu các đương sự thỏa thuận được thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
2, Quy định của pháp luật về hòa giải thương mại ngoài Tòa án 2.1, Nguyên tắc hòa giải
Theo quy định hiện hành, các nguyên tắc giải quyết tranh chấp trong hoà giải thương mại tại Điều 4 Nghị định 22/2017/NĐ-CP bao gồm:
a, Nguyên tắc tự nguyện
Nguyên tắc tự nguyện là một nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 22/2017/NĐ-CP Nguyên tắc này phải được tôn trọng trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp bằng hoà giải và thể hiện ở hai phương diện:
+ Việc sử dụng phương thức hoà giải phải dựa trên cơ sở các bên lựa chọn bằng một thoả thuận tự nguyện
+ Việc tham gia giải quyết tranh chấp của hoà giải viên thương mại cũng phải dựa trên sự tự nguyện
b, Nguyên tắc tự quyết
Nguyên tắc tự quyết có nghĩa rằng khi tham gia vào quá trình hoà giải, hoà giải viên cũng không được áp đặt các bên phải tuân theo một thủ tục trình tự nhất định hay phải tuân theo một giải pháp mà hoà giải viên chọn
Trang 8lựa Ngoài ra, xuất phát từ bản chất là phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, các bên cũng không bị ràng buộc bởi các quyết định mang tính cưỡng chế của Nhà nước trong quá trình hoà giải Tuy nhiên, việc các bên thoả thuận trong hoạt động hoà giải cần đảm bảo tính hợp pháp, nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, không xâm phạm quyền của bên thứ ba (Khoản
3 Điều 4 Nghị định 22/2017/NĐ-CP)
c, Nguyên tắc bảo mật
Đây là một nguyên tắc nhằm bảo vệ lợi ích của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp Theo đó, hướng hoà giải viên và các bên tham gia
vụ tranh chấp đều có nghĩa vụ không tiết lộ các thông tin, tài liệu cho bên thứ ba Khi nguyên tắc bảo mật được các bên tôn trọng, các bên sẽ “cởi mở” hơn trong việc chia sẻ các thông tin, từ đó tăng cường hiệu quả giải quyết tranh chấp Khi mà các bên tranh chấp đã sử dụng đến các phương thức giải quyết ngoài Toà án nói chung, hoà giải thương mại nói riêng, thì một trong các mục tiêu của thương nhân là việc giải quyết được tranh chấp một cách ổn thoả và kín đáo nhất Do đó, bảo mật thông tin hoà giải thương mại cũng chính là nguyên tắc để bảo vệ “niềm tin” mà các bên đã trao cho các hoà giải viên
d, Nguyên tắc giải quyết tranh chấp linh hoạt và hiệu quả
Điểm nổi bật chung của các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Toà án là sự linh hoạt Theo đó, các bên tự do trong việc quyết định tổ chức nào hay người nào sẽ tiến hành giải quyết tranh chấp, hay quyết định thủ tục nào sẽ được áp dụng Nội dung của nguyên tắc thể hiện ở môt số
điểm cơ bản như: Thủ tục linh hoạt, phương pháp giải quyết mềm dẻo,
phương án giải quyết dựa trên lợi ích các bên
Ngoài ra, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng hoà giải, các bên cần đề cao tính hiệu quả Theo đó, trong thủ tục hoà giải, hoà giải viên và các bên tranh chấp cần có sự phối hợp tốt, cùng tham gia tích
Trang 9cực liên tục vào quá trình giải quyết tranh chấp, để đảm bảo ưu thế (tính hiệu quả) thời gian và chi phí so với các phương thức là trọng tài hay toà
án Ví dụ về nguyên tắc hiệu quả: Phải “thông báo cho các bên về thẩm quyền, thù lao và chi phí trước khi tiến hành hoà giải” (Điểm d khoản 2 Điều 9 Nghị định 22/2017/NĐ-CP ); không được “nhận, đòi hỏi thêm bất
kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ các bên ngoài khoản thù lao và chi phí đã thoả thuận” (Khoản 3 Điều 10 Nghị định 22/2017/NĐ-CP ) Tuy nhiên, các quy định để đảm bảo nguyên tắc hiệu quả về mặt thời gian vẫn chưa được ghi nhận cụ thể
e, Nguyên tắc trung lập, bình đẳng và công bằng
Ba yếu tố này có liên quan mật thiết với nhau, để chỉ vị trí và thái độ của người giải quyết tranh chấp đối với các bên tranh chấp Khoản 1 Điều
4 Nghị định 22/2017/NĐ-CP có ghi nhận về việc các bên tranh chấp tham gia hoà giải dựa trên nguyên tắc bình đẳng, không trực tiếp nhắc đến nguyên tắc công bằng Nguyên tắc trung lập lại không được nhắc đến tại điều khoản này, mà được nhắc đến trong nghĩa vụ của hoà giải viên thương mại về việc phải “độc lập, vô tư, khách quan, trung thực” (Điểm a khoản 2 Điều 9 Nghị định 22/2017/NĐ-CP ) Người giải quyết tranh chấp phải đảm bảo sự trung lập, công bằng cho các bên, mà thực chất là sự
“bình đẳng về quyền và nghĩa vụ” (Khoản 1 Điều 4 Nghị định 22/2017/NĐ-CP ) Tính trung lập, công bằng được thể hiện ở thái độ, hành
vi của hoà giải viên không được thiên vị hay tạo điều kiện thuận lợi hơn cho bất kỳ bên nào trong quá trình giải quyết tranh chấp Để cụ thể hoá nguyên tắc này, theo quy định hiện hành của Việt Nam, hoà giải viên không được đồng thời đảm nhiệm vai trò đại diện hay tư vấn cho một trong các bên, không được đồng thời là trọng tài viên đối với cùng vụ tranh chấp đang hoặc đã tiến hành hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác (Điểm đ khoản 2 Điều 9 Nghị định 22/2017/NĐ-CP)
2.2, Thẩm quyền hoà giải
Trang 10Các bên lựa chọn thỏa thuận hòa giải viên thương mại của tổ chức thương mại hoặc các bên lựa chọn hòa giải viên sự vụ theo danh sách của
Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương công bố Nếu các bên chỉ định hòa giải viên của trung tâm tổ chức hòa giải thì theo quy tắc hòa giải của trung tâm tổ chức hòa giải đó Còn đối với việc các bên lựa chọn hòa giải viên là hòa giải viên vụ việc của Sở Tư pháp tỉnh, thành phố công
bố danh sách thì các bên có quyền lựa chọn các quy tắc tiến hành hòa giải của các tổ chức, đồng thời nếu không lựa chọn được thì hòa giải viên sẽ lựa chọn phương thức để hòa giải
Về nguyên tắc trong hòa giải thương mại, các tranh chấp có thể giải quyết bằng nhiều hòa giải viên hoặc một hòa giải viên theo yêu cầu thỏa thuận giữa các bên Tại bất kỳ thời điểm nào, hòa giải viên cũng có quyền
đề xuất các ý kiến của mình trong việc giải quyết tranh chấp đó
Về thời gian, địa điểm thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên, trong trường hợp các bên không thỏa thuận được về thời gian, địa điểm thì hòa giải viên mới là người sắp xếp thời gian, địa điểm đó theo tính chất phù hợp nhất đối với tranh chấp đó
Có thể thấy, rõ ràng ưu điểm của giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại, đó là có thể chủ động về thời gian, về địa điểm, về lựa chọn hòa giải viên
2.3, Thủ tục hòa giải thương mại ngoài Tòa án
Hiện nay, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP của Việt Nam có quy định về trình tự thủ tục tiến hành hoà giải tại Điều 14:
+ Các bên có quyền lựa chọn Quy tắc hòa giải của tổ chức hòa giải thương mại để tiến hành hòa giải hoặc tự thỏa thuận trình tự, thủ tục hòa giải Trường hợp các bên không có thỏa thuận về trình tự, thủ tục hòa giải thì hòa giải viên thương mại tiến hành hòa giải theo trình tự, thủ tục mà hòa giải viên thương mại thấy phù hợp với tình tiết vụ việc, nguyện vọng của các bên và được các bên chấp thuận