1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trình bày những vấn đề cơ bản về Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Hiến pháp năm 2013

27 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trình bày những vấn đề cơ bản về Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Hiến pháp năm 2013. Hoàn cảnh ra đời, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát. Hệ thống và cơ cấu tổ chức Viện kiểm sát. Kiểm sát viên. Sự khác nhau giữa chế độ làm việc của Tòa án và Viện kiểm sát

Trang 1

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

- -

MÔN: LUẬT HIẾN PHÁP

Đề tài:

TRÌNH BÀY NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VIỆN

KIỂM SÁT NHÂN DÂN NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THEO HIẾN PHÁP 2013

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 2

I Khái quát chung về Viện kiểm sát nhân dân 2

1 Hoàn cảnh ra đời Viện kiểm sát nhân dân 2

2 Vị trí của Viện kiểm sát nhân dân 4

3 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân 6

4 Nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân 9

II Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân 10

1 Nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành 10

2 Nguyên tắc khi thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân 12

3 Nguyên tắc kết hợp vai trò lãnh đạo của Viện trưởng với quyền thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng của Ủy ban kiểm sát 13

III.Hệ thống và cơ cấu tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 14

IV.Kiểm sát viên 16

V Sự khác nhau giữa chế độ làm việc của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân 19

1 Những điểm khác nhau cơ bản về chế độ làm việc giữa hai cơ quan 19

2 Nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau 19

C KẾT LUẬN 23

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 4

1

A MỞ ĐẦU

Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một cơ chế đồng

bộ chuyên thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa với nhiều hoạt động phức tạp khác nhau để vận hành quyền lực nhà nước, quản

lý các mặt trên các lĩnh vực của đời sống xã hôi của đất nước Để bộ máy nhà nước có hiệu lực và hiệu quả trong việc quản lý xã hội thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải đảm bảo cho nó có được một cơ cấu tổ chức hợp lý, một cơ chế hoạt động đồng bộ và đội ngũ cán bộ có năng lực thực hiện những nhiệm vụ được giao Tất cả những điều đó chỉ có thể đạt được khi xác định đúng những nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.Viện kiểm sát nhân dân là một trong những hệ thống cơ quan cấu thành nên bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cùng với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, thời gian qua ngành Kiểm sát nhân dân không ngừng trưởng thành và lớn mạnh Từ khi ra đời cho đến nay, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân đã phát huy được vị trí, vai trò và thực hiện tốt chức năng của mình, góp phần đáng kể vào công cuộc bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích bảo vệ và xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Để hoàn thành tốt chức năng của mình, xứng đáng là một công cụ sắc bén của Đảng trong việc bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, ngành kiểm sát nhân dân phải tiếp tục phấn đấu phát huy thành tích, hạn chế và khắc phục khuyết điểm

Nhằm góp phần làm sáng rõ thêm về mặt lý luận và thực tiễn của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động

tư pháp, em đã quyết định đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về đề tài: “Trình bày những vấn đề cơ bản về Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Hiến pháp 2013” Qua đó đánh giá sự khác nhau giữa chế độ làm việc của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau đó

Trang 5

2

B NỘI DUNG

I Khái quát chung về Viện kiểm sát nhân dân

1 Hoàn cảnh ra đời Viện kiểm sát nhân dân

Tiền thân của ngành Kiểm sát nhân dân là cơ quan Công tố được thành lập từ năm 1946, nằm trong hệ thống Toà án, sau đó trực thuộc Bộ Tư pháp (từ năm 1945 đến năm 1958) Cơ quan Công tố được giao đồng thời thực hiện hai chức năng là: thực hành quyền công tố và giám sát các hoạt động tư pháp (chỉ đạo điều tra, trực tiếp điều tra một số loại tội phạm; quyết định việc truy tố; buộc tội trước tòa; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án và giám sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử, giam giữ, cải tạo và thi hành án; tham gia trong một số loại việc dân sự quan trọng để bảo vệ lợi ích của Nhà nước và lợi ích của xã hội Đến năm 1959, cơ quan Công tố được tách ra khỏi hệ thống Tòa án, trở thành

hệ thống cơ quan độc lập và trực thuộc Chính phủ, chịu sự lãnh đạo của Chính phủ

Hệ thống Viện Công tố ở các địa phương được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc song trùng trực thuộc, vừa chịu sự lãnh đạo của Viện Công tố cấp trên về chuyên môn, nghiệp vụ; đồng thời chịu sự lãnh đạo của Ủy ban hành chính cùng cấp Viện Công tố có chức năng, nhiệm vụ: Điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm tội; giám sát việc chấp hành luật pháp trong công tác điều tra, xét xử, thi hành các bản án về hình sự, dân sự; giam giữ và cải tạo; khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và nhân dân (Trích từ Nghị định số 256-TTg ngày 01/7/1959 của Thủ tướng Chính phủ về nhiệm

vụ và tổ chức Viện Công tố Trung ương và hệ thống Viện Công tố)

Vào những năm đầu 60 của thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới: Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhân sân ta ra sức củng

cố, cải tạo xã hội chủ nghĩa và tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Ở miền Nam tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước (Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (năm 1960) đã đề ra hai nhiệm vụ chiến lược: “ra sức củng

cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục đấu tranh thống

Trang 6

3

nhất nước nhà, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ trong cả nước”) Trước yêu cầu mới của cuộc cách mạng xây dựng xã hội chủ nghĩa, cải cách bộ máy nhà nước ta, việc cải cách cơ quan Công tố và thành lập Viện kiểm sát nhân dân trở thành yêu cầu khách quan, tất yếu Đồng thời, xuất phát từ tính chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân, từ nguyên tắc tổ chức Nhà nước ta là tập trung dân chủ, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; học tập kinh nghiệm quốc tế, kinh nghiệm tổ chức hoạt động cơ quan Công tố trong những năm đầu của công cuộc kháng chiến, kiến quốc, Hiến pháp năm 1959 đã ghi nhận chế định Viện kiểm sát nhân dân, trong đó xác định vị trí, chức năng và các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam, cụ thể: Viện kiểm sát nhân dân tối cao có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân

Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, ngày 15 tháng 7 năm 1960, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa II nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20-LCT công bố Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Đây là đạo luật quan trọng đánh dấu sự ra đời của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong

bộ máy Nhà nước ta và kể từ đó, ngày 26/7 hàng năm trở thành ngày truyền thống của ngành Kiểm sát nhân dân Có thể nói, việc xác định vị trí, chức năng, nhiệm

vụ, tổ chức, bộ máy và nguyên tắc tổ chức theo hệ thống dọc của VKSND là một bước tiến mới bảo đảm cho việc thực hiện chế độ pháp chế thống nhất trong lịch

sử nước ta

Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 đã quy định: Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố Nhà nước, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh

và thống nhất Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc chung của bộ máy Nhà nước ta, đồng thời có một nguyên tắc đặc thù là: Tập trung thống nhất, lãnh đạo trong ngành

Trang 7

2 Vị trí của Viện kiểm sát nhân dân

Vị trí của Viện kiểm sát nhân dân được xác lập trong Hiến pháp Vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện thông qua các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói chung, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói riêng Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (Điều 2 Hiến pháp 2013)

Với chức năng hiến định, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp (Điều 107 Hiến pháp 2013) Theo Hiến pháp

2013, vị trí của Viện kiểm sát nhân dân được xác lập trên cơ sở sau đây:

Thứ nhất, Viện kiểm sát nhân dân là hệ thống cơ quan độc lập nằm trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các cơ quan trong bộ máy nhà nước được tạo nên bởi chính địa vị pháp lý của mình thông qua việc quy định chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước đó: Quốc hội là cơ quan có quyền lập hiến và lập pháp; Chính phủ thực hiện quyền hành pháp; Tòa án nhân dân có chức năng xét xử, thực hiện quyền tư pháp; Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực

Trang 8

5

hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất do mọi quyền lực tập trung tại đây, tuy nhiên, Quốc hội không thực thi quyền lực trực tiếp mà giao lại cho các cơ quan nhà nước Trong số đó, Viện kiểm sát nhân dân chính là một cơ quan nhà nước đảm nhiệm chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan quản lý, các chủ thể tham gia tố tụng, các nhân viên nhà nước và công dân Đồng thời Viện kiểm sát nhân dân còn thực hành quyền công tố, đảm nhiệm công tác truy bắt tội phạm ra trước tòa án và nhân danh nhà nước buộc tội kẻ phạm tội tại phiên tòa theo quy định của pháp luật Thứ hai, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan hiến định do Quốc hội lập ra và chịu sự giám sát của Quốc hội Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu

sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; hoặc trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước trong thời gian Quốc hội không họp; trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Quốc hội (khoản

2 Điều 108 Hiến pháp 2013)

Thứ ba, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là người lãnh đạo cao nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Vị trí này do Quốc hội Việt Nam bầu theo đề nghị của Chủ tịch nước Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội (05 năm) Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu ra Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Thứ tư, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan có cơ cấu tổ chức độc lập từ trung ương đến địa phương Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống thống nhất theo hệ thống ngành dọc: “Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định” (khoản 2 Điều 107), bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo

Trang 9

6

của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng VKSND các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014)

Có thể khẳng định Viện kiểm sát với vị trí như trên là hoàn toàn phù hợp cho việc phát huy vai trò và tính chất của cơ quan giám sát Vị trí của Viện kiểm sát nhân dân hoàn toàn đứng trên lập trường vì lợi ích chung của nhân dân, của Nhà nước để duy trì pháp luật, bảo đảm cho pháp luật và lợi ích của nhân dân, quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân được tôn trọng và bảo vệ

3 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân

Chức năng của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân về cơ bản là kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp (Điều 107 Hiến pháp 2013 và Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân) Tuy Tòa án có chức năng thực hiện quyền tư pháp không có nghĩa là phủ định việc thực hiện quyền tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân và các cơ quan bổ trợ

tư pháp Vậy cụ thể của hai chức năng trên cần được hiểu chính xác như thế nào? 3.1 Chức năng thực hành quyền công tố

Công tố là quyền của nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

Quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh nhà nước đưa người phạm tội ra xét xử trước Tòa án nhân dân, do đó, đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với người

đã thực hiện hành vi phạm tội

Về bản chất, thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự

Trang 10

7

(Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014) Như vậy, thực

hành quyền công tố là một trong hai chức năng hiến định Viện kiểm sát nhân dân Trong quá trình tố tụng hình sự, hoạt động thực hành quyền công tố bao gồm: – Khởi tố bị can: Để có được quyết định khởi tố bị can, cơ quan công tố phải khởi tố vụ án và điều tra, xác minh

– Truy tố bị can ra trước tòa án trên cơ sở kết quả điều tra vụ án và chứng minh được người phạm tội

– Buộc tội bị cáo và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa bằng cách công bố bản cáo trạng, tham gia xét hỏi, trình bày lời luận tội và tranh luận trước phiên tòa

sơ thẩm; nếu vụ án bị kháng cáo hoặc kháng nghị thì có mặt để tham gia xét hỏi

và trình bày lời kết luận về kháng cáo, kháng nghị trước phiên tòa phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố của mình trong những lĩnh vực sau: Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố tội phạm; thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự; điều tra một số loại tội phạm; thực hành quyền công tố trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự (khoản 1 Điều 6 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014)

Đây là chức năng đặc thù của Viện kiểm sát nhân dân được Hiến pháp trao cho mà các cơ quan khác không thể thay thế được thực hiện từ khi phát hiện có

sự kiện phạm tội và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố góp phần bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy

tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật

3.2 Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp

Trang 11

8

Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân đã được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, theo đó, kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ

án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật

Như vậy, đối tượng của kiểm sát các hoạt động tư pháp là tình hợp pháp việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia vào quan hệ tố tụng Đồng thời, phạm

vi của chức năng này được bắt đầu từ khi hoạt động tư pháp xảy ra trong thực tế

và kết thúc khi bản án, quyết định giải quyết vụ án, vụ việc của Tòa án nhân dân Mục đích của chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND là đảm bảo việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, việc giải quyết các vụ án, việc thi hành án đúng quy định của pháp luật Bản án, quyết định của toà án có hiệu lực phải được thi hành nghiêm chỉnh Mọi hành vi

vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh Theo pháp luật hiện hành thì kiểm tra và giám sát việc tuân theo pháp luật nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất là nhiệm vụ của cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội

Là một chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân, bắt nguồn từ yêu cầu của thực tiễn hoạt động tư pháp, việc đảm bảo thực hiện tốt quyền giám sát của Viện kiểm sát nhân dân đối với hoạt động tư pháp góp phần bảo vệ pháp chế

xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự

do, danh dự và nhân phẩm của công dân; bảo đầm để mọi hành vi xâm phạm lợi

Trang 12

9

ích của nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xét xử theo pháp luật; phù hợp với thực tiễn trong công cuộc đổi mới xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân

4 Nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân

Nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân được quy định tại khoản 3 Điều 107 Hiến pháp 2013 và khoản 2 Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, theo đó, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

So với các Hiến pháp trước đây, Hiến pháp 2013 đã bổ sung nhiệm vụ quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân là “bảo vệ pháp luật, […] góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” và không quy định nhiệm

vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Bảo vệ pháp luật chính là bảo vệ những quy định được ban hành tại các văn bản quy phạm pháp luật Mọi hành vi vi phạm của bất kỳ cá nhân tổ chức nào đều phải bị xem xét xử lý theo quy định pháp luật Với chức năng Hiến định, Viện kiểm sát nhân dân sẽ có điều kiện để góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, thông qua việc thực hiện quyền năng pháp lý như kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu trong hoạt động

tư pháp; đồng thời phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, các

cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp luật, kiến nghị với Đảng, Nhà nước để hoàn thiện hệ thống pháp luật, tiến tới xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Bên cạnh đó, Hiến pháp lần đầu tiên quy định Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nhằm đề cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân Ngoài ra, Viện KSND còn thực hiện một số công tác: Thống kê tội phạm; xây dựng pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; Đào tạo, bồi dưỡng; nghiên cứu khoa học; hợp tác quốc tế và các công tác khác để xây dựng Viện kiểm sát nhân dân

Trang 13

10

II Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân

Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta nói chung Song, do có vị trí, chức năng và nhiệm vụ mang tính đặc thù nên hệ thống các Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc đặc thù Đó là nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành; nguyên tắc khi thực hành quyền công tố

và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và nguyên tắc kết hợp vai trò lãnh đạo của Viện trưởng với quyền thảo luận và quyết định theo đa số những vấn

đề quan trọng của Ủy ban kiểm sát

1 Nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành

Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc tập trung dân chủ và nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp chế

Các cơ quan nhà nước ở địa phương một mặt trực thuộc Chính phủ hoặc Bộ chủ quản, mặt khác lại trực thuộc Hội đồng nhân dân hoặc ủy ban nhân dân địa phương Nguyên tắc này được gọi là nguyên tắc phụ thuộc hai chiều Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta không được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều nêu trên, mà theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành Nguyên tắc bảo đảm cho ngành kiểm sát được tổ chức theo một chinh thể thống nhất và hoạt động được tập trung thống nhất theo chiều dọc từ người lãnh đạo cao nhất cho đến các cấp, các cán bộ của ngành kiểm sát

- Theo nguyên tắc này, Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Viện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Phó viện trưởng Viện kiểm sát quân sự quân khu và khu vực, Điều tra viên của Viện kiểm sát nhân dân đều

Ngày đăng: 10/07/2021, 12:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w