GIỚI THIỆU
Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu đã tiến hành một cách có hệ thống, bao gồm điều tra, thu thập và tổng hợp số liệu, cũng như xử lý thống kê để phân tích và đánh giá các vấn đề môi trường Mục tiêu là đưa ra kế hoạch cụ thể áp dụng vào thực tiễn cho tỉnh Bình Thuận trong công tác phòng ngừa và ứng phó sự cố tràn dầu.
Đề tài nghiên cứu sự phù hợp và khả năng áp dụng thực tiễn của tỉnh đối với các biện pháp xử lý chất thải nhiễm dầu, nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường và kinh tế xã hội của tỉnh.
Tính mới của đề tài
Đề tài này tập trung vào việc xây dựng Bản Đánh Giá Năng Lực Quản Trị Môi Trường (BĐNCMT) và kế hoạch ứng phó sự cố thiên tai (UPSCTD) cho tỉnh Bình Thuận, với nội dung chi tiết và đầy đủ theo quy định pháp luật Từ góc độ kỹ thuật, việc áp dụng công nghệ GIS trong xây dựng bản đồ nhạy cảm môi trường và quy trình phục hồi môi trường sau sự cố thiên tai là những sáng kiến lần đầu tiên được triển khai tại Việt Nam.
1.7 Bố cục của luận văn
Chương 2 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Chương 3 Hiện trạng tự nhiên – kinh tế xã hội tỉnh Bình Thuận
Chương 4 Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu cho tỉnh Bình Thuận
Chương 5 Bản đồ nhạy cảm môi trường phục vụ cho ứng phó sự cố tràn dầu cho tỉnh Bình Thuận Chương 6 Các biện pháp xử lý chất thải nhiễm dầu thu gom
Chương 7 Kết luận và kiến nghị
TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
Cơ sở pháp lý
Hệ thống pháp lý Quốc tế
1 Công ước năm 1982 của Liên Hiệp Quốc về luật biển (UNLOSC)
Công ước Quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu, hay còn gọi là MARPOL 73/78, được hình thành từ năm 1973 và đã trải qua nhiều lần sửa đổi Năm 1978, Công ước này được bổ sung bằng Nghị định thư 1978, kèm theo 5 phụ lục mới Đến năm 1997, MARPOL 73/78 tiếp tục được cập nhật với Nghị định thư 1997, bổ sung thêm phụ lục thứ 6 Hiện nay, MARPOL 73/78 bao gồm tổng cộng 6 phụ lục nhằm mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm từ tàu biển.
Marpol 73/78 đang được thực thi nghiêm ngặt trong ngành hàng hải thế giới
2 Các Công ước và nghị định thư Quốc tế đã về đền bù thiệt hại do ô nhiễm dầu được phát triển dưới sự bảo hộ của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO), trong đó có Công ước “Trách nhiệm dân sự 1992 (1992 CLC)” mà Việt Nam đã là một thành viên
Trong những năm gần đây, sau các vụ tràn dầu nghiêm trọng như từ tàu ERIKA (1999) và tàu PRESTIGE (2002), nhiều quốc gia đã nhận ra những hạn chế của các công ước CLC 92 và quỹ 92 Fund trong việc bồi thường cho các sự cố lớn Để khắc phục vấn đề này, các quốc gia đã thành lập "Quỹ (đền bù) bổ sung" vào tháng 3/2003 thông qua “Hội đồng Quỹ” và “Hội đồng lập pháp” của IMO Quỹ này cho phép mức bồi thường tối đa lên đến 750 triệu SDR, tương đương khoảng 1,18 tỷ USD, cho các thiệt hại do ô nhiễm trong các vụ tràn dầu.
27 Quốc gia tham gia thỏa thuận “Quĩ (đền bù) bổ xung”
Ngoài quỹ đền bù bổ sung, hệ thống quỹ đền bù cho thiệt hại do ô nhiễm dầu Quốc tế còn bao gồm các thỏa thuận khác.
STOPICA - thỏa thuận đền bù ô nhiễm dầu từ các tàu dầu nhỏ (Small tanker oil Pollution Indemnification Agreement Tanker Oil Pollution Indemnification Agreement);
TOPICA - thỏa thuận đền bù ô nhiễm dầu từ các tàu dầu (Tanker Oil Pollution Indemnification Agreement Tanker Oil Pollution Indemnification Agreement)
Ngoài ra, còn có khoảng 10 công ước và thỏa thuận Quốc tế liên quan đến việc phòng chống ô nhiễm môi trường biển đang được áp dụng như:
Công ước Quốc tế về an toàn sinh mạng người trên biển (SOLAS)
Công ước Quốc tế sẵn sàng ứng phó và hợp tác đối với việc xử lý ô nhiễm dầu (OPRC)
Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do chất thải và những vật liệu khác (London
Các thỏa thuận khu vực nhằm tạo điều kiện cho các cảng biển thực hiện việc kiểm tra sự tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường biển đối với các tàu cập bến.
Hệ thống pháp lý của Việt Nam
3 Luật bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005;
4 Luật hàng hải 40/2005/ QH11 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 14 tháng 06 năm 2005;
5 Luật Dầu khí 1993, luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật dầu khí (lần 2) số 10/2008/QH12 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 03 tháng
6 Nghị định 26/2003/NĐ-CP về Quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường
7 Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
8 Nghị định số 113/2010/NĐ-CP ngày 03/12/2010 của Chính phủ quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường;
9 Thông tư số 2262/TT-MTg ngày 29 tháng 12 năm 1995 của Bộ KHCN&MT hướng dẫn về khắc phục sự cố dầu tràn;
10 Thông tư số 17/2009/TT-BGTVT ngày 11/8/2009 của Bộ Giao thông vận tải về việc báo cáo và điều tra tai nạn hàng hải
11 Quyết định số 395/1998/QĐ-KHCN&MT của Bộ KHCN – MT quy định các quy chế bảo vệ môi trường trong các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ, khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến dầu khí và các dịch vụ dầu khí có liên quan
12 Quyết định số 41/1999/QĐ-TTg ngày 08 tháng 3 năm 1999 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý an toàn trong các hoạt động dầu khí;
13 Quyết định số 694/QĐ-UBND ngày 15/3/2007 của UBND tỉnh về việc ban hành kế hoạch Tìm kiếm cứu nạn trên địa bàn tỉnh
14 Quyết định 1864/QĐ-TTg năm 2011: phê duyệt kế hoạch thực hiện thỏa thuận về hợp tác trong lĩnh vực Ứng phó sự cố tràn dầu trên biển giữa Việt Nam và Phi-li- pin do Thủ tướng chính phủ ban hành
15 Quyết định số 02/2013-QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ban hành Quy chế về ứng phó sự cố tràn dầu
16 Công văn số 69/CV-UB ngày 05/3/2009 của Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn về việc hướng dẫn xây dựng và cập nhật Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu, bản đồ nhạy cảm các tỉnh, thành phố ven biển.
Hiện trạng về các sự cố tràn dầu tại Việt Nam
Từ năm 1994, Việt Nam đã ghi nhận hàng chục sự cố tràn dầu, với thiệt hại từ không đáng kể đến hàng chục tỷ đồng Những sự cố lớn, chủ yếu do tai nạn của tàu chở dầu, đã gây ra hậu quả môi trường nghiêm trọng và thiệt hại kinh tế lớn Bài viết này sẽ đề cập đến các sự cố tràn dầu điển hình tại Việt Nam.
Sự cố tràn dầu tàu Neptune Aries
Vào ngày 03/10/1994, sự cố tràn dầu nghiêm trọng xảy ra khi tàu Neptune Aries va chạm với cầu cảng Cát Lái, dẫn đến việc hơn 1.700 tấn dầu DO tràn ra sông Sài Gòn - Đồng Nai và các kênh rạch lân cận Khoảng 400 tấn dầu đã được người dân thu gom bằng phương pháp thủ công Thiệt hại về môi trường và kinh tế xã hội ước tính lên đến 19 triệu USD, trong khi chủ tàu Neptune Aries đã bồi thường 4,2 triệu USD để khắc phục sự cố và đền bù thiệt hại.
Hình ảnh về sự cố được thể hiện chi tiết như trong Hình 1.3 bên dưới
Hình 2.1: Váng dầu từ sự cố tràn dầu tàu Neptune Aries bao phủ mặt sông Sài Gòn và sông Đồng Nai (ảnh chụp từ trực thăng)
Sự cố tràn dầu tàu Pormosa One
Sự cố tràn dầu tàu Pormosa One xảy ra ngày 07/09/2001 tại vịnh Gành Rái, tỉnh
Tàu Pormosa One đã va chạm với tàu Petrolimex-01 tại vịnh Gành Rái do không tuân thủ chỉ dẫn của cảng vụ Vũng Tàu, gây ra sự cố tràn dầu khoảng 900m³ (750 tấn) dầu DO.
Vào lúc 3 giờ sáng, một sự cố tràn dầu xảy ra cách bờ khoảng 2 km tại vịnh Gành Rái, đúng lúc triều đang lên với tốc độ 2 knot, khiến dầu nhanh chóng táp vào các bãi biển như Long Sơn, Sao Mai, và Bến Đình, làm cho các biện pháp ứng cứu không thể triển khai kịp thời Ngày 08/09/2001, một ngày sau sự cố, tàu Petrolimex-01 đã được kéo đến cảng Nhà Bè để giải phóng toàn bộ lượng dầu còn lại trong tàu.
Mặc dù chính quyền địa phương đã nhanh chóng triển khai các biện pháp khắc phục để hạn chế thiệt hại từ sự cố tràn dầu, nhưng các khu vực nhạy cảm như rừng ngập mặn, bãi nuôi trồng thủy sản và bãi tắm không được bảo vệ kịp thời đã chịu thiệt hại nặng nề, ảnh hưởng đến kinh tế và môi trường tỉnh BR-VT Thiệt hại ước tính lên đến 14,2 triệu USD, trong khi sau hơn 3 năm giải quyết khiếu nại, chủ tàu Pormosa One đã bồi thường hơn 4 triệu USD cho các thiệt hại này.
Hình 2.2: Thiệt hại về nuôi trồng thủy sản từ sự cố tràn dầu tàu Pormosa One
Sự cố tràn dầu tàu Fortune Freighter
Vào ngày 12/01/2003, sự cố tràn dầu từ tàu Fortune Freighter đã xảy ra trên sông Sài Gòn, do va chạm với đoàn phương tiện tàu kéo của tỉnh đội Hậu Giang Sự cố này đã làm rò rỉ khoảng 300 tấn dầu DO ra môi trường, gây thiệt hại kinh tế và môi trường ước tính lên đến hơn 2 tỷ đồng.
Ngay sau sự cố, công ty Đại Minh đã nhanh chóng huy động lực lượng đến hiện trường, triển khai phao quây và máy hút dầu Ngày 12/01/2003, UBND Tp HCM đã thành lập Ban chỉ đạo ứng cứu gồm nhiều cơ quan như sở KHCNMT, CSGT đường thủy, cảnh sát PCCC và các công ty liên quan để phối hợp ứng cứu Đến tối 13/01/2003, toàn bộ lượng dầu còn lại trong sà lan đã được bơm ra ngoài, và đến sáng 14/01/2003, luồng tàu đã hoàn toàn được giải phóng.
Kết thúc các công tác ứng cứu sự cố, lượng dầu thu gom được là khoảng 170 tấn, chiếm hơn 36% lượng dầu đã tràn ra ngoài
Sự cố tràn dầu tàu Hồng Anh
Vào ngày 20/03/2003, tàu chở dầu Hồng Anh đã bị đắm do sóng lớn tại vịnh Gành Rái, dẫn đến việc tràn khoảng 100 tấn dầu FO Sự cố này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến rừng phòng hộ Cần Giờ và các khu vực nuôi trồng thủy sản trong huyện Cần Giờ Tổng thiệt hại về kinh tế và môi trường ước tính lên đến khoảng 23 tỷ đồng.
UBND huyện Cần Giờ đã nhanh chóng tổ chức cứu hộ thuyền viên và thông báo cho các cơ quan chức năng TP.HCM để triển khai phao quây, phối hợp thu gom dầu Đến ngày 26/03/2003, tàu Hồng Anh đã được làm nổi và đưa về cảng VISAL Vũng Tàu, kết thúc hoạt động cứu hộ lúc 17 giờ cùng ngày Tổng lượng dầu và nước bơm chuyển ra khỏi tàu là 567 tấn.
Sự cố tràn dầu tàu Kasco Monrovia
Vào ngày 21/01/2005, sự cố tràn dầu nghiêm trọng đã xảy ra khi tàu Kasco Monrovia va chạm với trụ cảng trong quá trình cập cảng Saigon Petro trên sông Sài Gòn, TP HCM, dẫn đến việc hơn 500 tấn dầu DO bị tràn ra môi trường Tổng thiệt hại ước tính khoảng 25 tỷ đồng.
Hình 2.3: Hoạt động thu gom dầu của người dân trong sự cố tàu Kasco Monrovia
Chỉ 1 giờ sau khi sự cố xảy ra, sở Tài nguyên và Môi trường Tp HCM đã huy động công ty Đại Minh triển khai lực lượng gồm 25 nhân viên, 4 tàu ứng cứu, các tàu và ca nô phụ trợ, các phao quây dầu, phao thấm dầu và các máy hút dầu đến hiện trường sự cố Mặc dù các lực lượng ứng cứu đã được triển khai nhanh chóng nhưng do sự cố xảy ra đúng lúc triều lên gần đạt đỉnh, dòng triều đã làm phân tán nhanh chóng vào hệ thống kênh rạch chằng chịt trong khu vực, tạo ra những bất lợi cho công tác thu gom dầu tràn Đến ngày 24/01/2005, các hoạt động ứng cứu chấm dứt, tàu Kasco Monrovia được kéo đến cảng Nhà Bè để sữa chữa Tổng lượng dầu thu được khoảng 50 tấn
Sự cố tràn dầu tàu La Palmas
Vào ngày 24/8/2006, tàu La Palmas, mang quốc tịch nước ngoài và có trọng tải 31.000 tấn, đã gặp sự cố khi cập cảng Sài Gòn, va vào cầu cảng và gây ra sự tràn hơn 1.500 tấn dầu DO cùng 150 tấn xăng từ hệ thống ống dẫn Mặc dù đã có biện pháp ứng phó kịp thời, chỉ sau 9 giờ, váng dầu đã lan rộng đến 40-50 km hạ lưu sông Sài Gòn, và do thủy triều lên, váng dầu còn bị đẩy ngược lên thượng lưu cách nơi xảy ra sự cố từ 4-5 km.
Trong vòng 15 ngày, tràn dầu đã ảnh hưởng đến 60.000 ha, trải dài dọc sông Sài Gòn, với 40.000 ha trong số đó bị ô nhiễm nặng nề.
Sự cố tràn dầu không rõ nguồn gốc xảy ra vào đầu năm 2007
Từ tháng 1 đến tháng 4/2007, sự cố tràn dầu không rõ nguồn gốc đã xảy ra, ảnh hưởng đến 20 tỉnh/thành phố ven biển Việt Nam, với 1.721 tấn dầu ô nhiễm được thu gom, chủ yếu là dầu thô Đến quý 3/2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã gửi báo cáo cuối cùng về vụ tràn dầu này đến Chính phủ Đây là vụ tràn dầu lớn nhất và kéo dài nhất tại Việt Nam, gây ra nhiều bức xúc về tâm lý và xã hội Mặc dù chưa có con số thiệt hại cuối cùng, nhưng nhiều bài học quý giá đã được rút ra từ công tác ứng phó, quan trắc và nhận dạng nguồn gốc dầu ô nhiễm để cải thiện trong tương lai.
Hình 2.4: Bản đồ các tỉnh thành dọc bờ biển Việt Nam bị ảnh hưởng từ đợt tràn dầu vào dầu năm 2007
Sự cố tràn dầu tàu Đức Trí
Vào ngày 2/3/2008, sự cố chìm tàu chở dầu Đức Trí đã gây ra sự tràn 1.700 tấn dầu FO trên biển, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế và môi trường từ Bình Thuận đến Vũng Tàu Hậu quả của sự cố này đặc biệt tác động đến ngành du lịch, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, cũng như nông nghiệp và tài nguyên biển Ở những khu vực nhạy cảm, thiệt hại do tràn dầu có thể kéo dài trong thời gian dài, gây ảnh hưởng đến sinh vật phù du và rừng phòng hộ ven biển.
Sự cố tàu Lady Belinda
Xử lý cặn dầu từ quá trình xúc rửa tàu, bồn chứa dầu
Cặn dầu thải thu gom từ các quá trình xúc rửa tàu, bồn chứa dầu sẽ được lựa chọn xử lý theo các phương án như:
1 Làm lớp lót đường: dựa vào đặc điểm của các loại bùn dầu sau xử lý, nếu nén ép nó sẽ có độ chịu nén cao từ 600 đến 1.800 kgf/cm 2 , lớp lót đường cần đổ dày khoảng 0,4m Hoặc có thể thực hiện bằng cách trộn cặn dầu với 5-50% vôi sống, ủ trong khoảng 20 ngày ở điều kiện tự nhiên sẽ thu được khối vật chất dùng làm chất độn để lót hoặc phủ bề mặt
2 Làm lớp chống thấm ở kho chứa, bãi rác: dựa vào tính kỵ nước của sản phẩm bùn dầu đã được xử lý Qua thử nghiệm cho thấy, nếu nén ép bùn sau khi xử lý thì tốc độ thấm nước của lớp này rất chậm, với lớp nước đổ dày 1m thì tốc độ thấm nước là 10 -11 –10 -7 m/s
3 Chế biến thành các bán thành phẩm dầu mỏ : cặn dầu từ quá trình xúc rửa tàu chở dầu có thể sản xuất các loại sản phẩm dầu mỏ khác như phân đoạn nhẹ có nhiệt độ sôi < 300 o C, parafin, phân đoạn nặng có nhiệt độ sôi > 300 o C và ít parafin có thể dùng làm nhiên liệu hoặc tiếp tục được oxy hóa (có bổ sung arphaten) để thu hồi bitium
4 Sử dụng nhựa đường chua để sản xuất dioxyt lưu huỳnh : thực hiện trộn nhựa đường chua với chất thải có chứa lưu huỳnh từ quá trình sản xuất axit sulfuric và đốt cháy ở nhiệt độ 800 – 1200 o C để thực hiện quá trình cắt mạch nhiệt nhựa đường Trong điều kiện đó, dioxyt lưu huỳnh được hình thành, còn các chất hữu cơ cháy hoàn toàn (nhiệt lượng sinh ra do quá trình cháy cung cấp cho quá trình phản ứng) Theo nguyên tắc này, nhiều nước đã có nhà máy sản xuất với năng xuất lên đến trên 700 tấn/ngày (tính theo axit sulfuric 98 – 99%).
Xử lý bùn dầu/dầu nhớt thải
Việc xử lý bùn dầu/ dầu nhớt thải hiện được áp dụng một số công nghệ mà các công ty lớn trên thế giới đã triển khai như:
1 Quy trình công nghệ xử lý bùn dầu của Texacoing (Mỹ)
Bùn dầu được xử lý qua hai giai đoạn chính: khử nước và dầu, sau đó là khử sáp và tinh chế Trong giai đoạn đầu, bùn dầu được trộn với hydrocacbon nhẹ, dẫn đến việc tách biệt pha lỏng (dầu – hydrocacbon) và pha rắn (sáp – nước) Giai đoạn tiếp theo liên quan đến việc tách pha rắn chứa sáp bằng dung môi acromatic, tạo ra dung dịch sáp – acromatic, từ đó sáp được chiết xuất Các dung môi phổ biến như benzene, naphtal hoặc xăng nhẹ được sử dụng để khử dầu, tuy nhiên, phương pháp này có chi phí cao, gây khó khăn về mặt kinh tế.
Texacoing áp dụng một phương pháp đặc biệt trong việc xử lý nhũ tương dầu – nước, đặc biệt là gudron dầu mỏ Quá trình này diễn ra ở nhiệt độ tối thiểu 750 °F và áp suất tối thiểu 300 Psi, nhằm tạo ra khí hydrocacbon, có thể được sử dụng làm nhiên liệu hoặc phục vụ cho quá trình cracking.
2 Quy trình công nghệ xử lý bùn dầu của Beck – Jecker (Mỹ) Đây là quy trình xử lý bùn loãng hiện đại được áp dụng rất rộng rãi cho các loại bùn đất nhiễm dầu do sự cố tràn dầu, bùn sa lắng trong tàu chứa và bồn chứa, v.v… Vì tính đa dạng này nên nó có thể áp dụng để xử lý chất thải của tất cả các quá trình khai thác và chế biến dầu
Quy trình xử lý bùn dầu của Beck – Jecker hoạt động theo nguyên lý đơn giản, bắt đầu bằng việc lọc sơ bộ để tách các chất rắn lớn Tốc độ lọc được tăng cường nhờ áp lực nước bơm vào, sau đó sản phẩm được chuyển đến cụm cyclone Tại đây, lực ly tâm giúp tách các tạp chất rắn bám vào vách cyclone và chảy xuống đáy, trong khi dầu sạch và nước được thu hồi ở pha lỏng và khí được thu ở đỉnh thiết bị Cuối cùng, các tạp chất rắn được đưa ra ngoài qua một cyclone lớn và được rửa sạch bằng nước theo phương pháp ly tâm.
Quá trình vận hành liên tục cho phép tách các tạp chất cơ học có kích thước lớn hơn 25µm với hiệu suất lên tới 99% Thiết bị có độ bền cao nhờ vào việc vận hành đơn giản, chi phí thấp và không cần sử dụng dung môi Hơn nữa, việc lắp đặt nối tiếp các cyclone có thể nâng cao hiệu suất tách một cách hiệu quả.
3 Quy trình xử lý của công ty ATM – Hà Lan
Công nghệ xử lý chất thải của công ty ATM tại Hà Lan chuyên xử lý rác thải rắn nhiễm dầu, dung môi hữu cơ, sơn, nhựa và đất ô nhiễm Phương pháp này dựa trên nguyên lý nhiệt phân, trong đó các chất hữu cơ được khí hóa để tạo ra nhiên liệu Hiện tại, công nghệ này có khả năng xử lý 200.000 tấn chất thải rắn mỗi năm.
4 Quy trình xử lý bùn dầu của tập đoàn Shimizu – Nhật Bản
Tập đoàn Shimizu của Nhật Bản đã hợp tác với Viện Nghiên cứu Khoa học Kuwait (KISR) và Công ty Dầu khí Kuwait (KOC) để nghiên cứu và triển khai dự án xử lý bùn dầu tại Kuwait với quy mô 30 tấn/ngày, nhằm ứng phó với hậu quả của cuộc chiến tranh vùng Vịnh Quá trình xử lý này kết hợp sử dụng dung môi hữu cơ và nước nóng ở nhiệt độ 70 độ C để làm sạch đất bị nhiễm dầu trong các bước xử lý phù hợp.
Quá trình xử lý bùn dầu bao gồm các bước chính: xử lý sơ bộ, rửa bằng dung môi hữu cơ với tỷ lệ 60:100 ở 70°C, khuấy trộn trong 1 giờ để tách dầu và muối Sau khi tách, phần lỏng được lọc để thu hồi dầu thô, trong khi nước sẽ được xử lý bằng công nghệ sinh học Kết quả cho thấy, hàm lượng dầu giảm từ 30,3% xuống 11,9% sau khi rửa bằng dung môi và còn 2,1% sau khi rửa bằng nước nóng Để giảm hàm lượng dầu, có thể thực hiện rửa nhiều lần hoặc áp dụng công nghệ sinh học nâng cao Dự kiến, từ việc xử lý 4.500 thùng bùn dầu, có thể thu được khoảng 750 tấn dầu.
5 Quy trình xử lý dầu nhớt thải của các nước
Quy trình xử lý dầu nhớt thải của các nước sẽ được trình bày chi tiết trong Bảng 2.1 như sau
Bảng 2.1 Ưu nhược điểm của các phương pháp xử lý dầu nhớt thải
Nước Phương pháp Ưu điểm Úc Phương pháp đông tụ: tái sinh dầu nhớt bằng dung môi tổng hợp có chứa peroxit và chất điện ly
Không nên tách nước ra khỏi dầu nhớt trước khi xử lý, vì nước là yếu tố quan trọng trong quá trình đông tụ Để xử lý sơ bộ dầu nhớt, cần sử dụng dung dịch hỗn hợp Na2CO3 và K2CO3 kết hợp với Na2SO4.
K 2 SO 4 Sau đó xử lý tiếp bằng H 2 SO 4 , bằng
Phương pháp này cho phép thu được dầu tái sinh với độ sạch cao, sử dụng hóa chất xử lý dễ dàng tìm kiếm, tuy nhiên quy trình công nghệ lại khá phức tạp, thường sử dụng dung môi hoặc hydro.
Balan thực hiện quy trình khử nước dầu thải, sau đó xử lý bằng axit và kiềm Cuối cùng, tiến hành tẩy màu bằng đất sét và lọc ép Để làm sạch triệt để, chưng cất chân không được áp dụng.
Phương pháp cho hiệu quả cao nhưng chi phí rất lớn
Pháp sử dụng propan lỏng để chiết dầu, khử cặn, xử lý bằng axit, tẩy màu bằng đất sét và chưng cất chân không Dầu nhớt thải được chiết hai lần bằng propan lỏng, sau đó loại bỏ tạp chất bằng hydro và thực hiện chưng cất chân không.
Mỹ Tái sinh dầu nhớt bằng phương pháp Berc, bắt đầu bằng việc tách nước và kết tủa cặn với hỗn hợp rượu chuyên dụng Tiếp theo, dầu được chưng cất chân không để tạo ra các sản phẩm khác nhau.
Phương pháp này đắt tiền, vận hành phức tạp
Hà Lan tái sinh dầu nhớt bằng phương pháp tái chế, sử dụng các hóa chất chuyên dụng để xử lý dầu thải đã được khử nước Quá trình này bao gồm chưng cất ở nhiệt độ thấp và không đốt cặn thải, giúp bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên.
Phương pháp này thu được dầu gốc tố nhưng rất đắt
Theo đánh giá của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (US EPA), tại Mỹ, 43% dầu thải được sử dụng làm nhiên liệu đốt cho các lò công nghiệp Ngoài ra, 18% dầu thải được tái sử dụng trong ngành giao thông, 8% được tinh chế cho ngành công nghiệp hóa dầu, trong khi 31% còn lại bị phân tán vào môi trường, gây ô nhiễm đất và cống rãnh.
HIỆN TRẠNG TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH BÌNH THUẬN
Vị trí địa lý
Bình Thuận là tỉnh nằm ở vị trí chuyển hướng từ nam sang tây trên bản đồ Việt Nam, với tọa độ địa lý từ 10°33'42".
Tỉnh Bình Thuận nằm ở tọa độ 11° 33' 18" vĩ độ Bắc và 107° 23' 41" đến 108° 52' 18" kinh độ Đông Tỉnh này giáp với tỉnh Lâm Đồng ở phía bắc, tỉnh Ninh Thuận ở phía đông bắc, tỉnh Đồng Nai ở phía tây, và Bà Rịa-Vũng Tàu ở phía tây nam Ngoài ra, Bình Thuận còn có bờ biển dài 192,75 km tiếp giáp với biển Đông ở phía đông và nam.
Tỉnh Bình Thuận bao gồm các đơn vị hành chính như thành phố Phan Thiết, thị xã Lagi và 8 huyện thị: Bắc Bình, Tuy Phong, Hàm Tân, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Tánh Linh, Đức Linh và Phú Quý Địa giới hành chính của tỉnh được thể hiện trong hình dưới đây.
Hình 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bình Thuận
Đặc điểm khí tượng thủy văn
Bình Thuận có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Các đặc trưng khí tượng thủy văn của tỉnh Bình Thuận thể hiện sự phân chia rõ ràng giữa hai mùa này.
Nhiệt độ không khí tại vùng đồng bằng và đồi núi thấp trung bình năm dao động từ 26-27 độ C Trong tháng gió mùa đông bắc (tháng 1), nhiệt độ trên bề mặt biển thường dưới 24,75 độ C, còn vùng ven bờ dưới 25 độ C Đến mùa gió Tây Nam (tháng 7), nhiệt độ không khí trên mặt biển thường nhỏ hơn 26,5 độ C, đặc biệt ở đoạn từ Liên Hương ra Phan Rang, nhiệt độ có thể giảm xuống dưới 25,5 độ C do ảnh hưởng của vùng nước trồi ven bờ.
Khu vực nghiên cứu có độ ẩm không khí cao, dao động từ 70 – 80% trong suốt năm Tháng có độ ẩm cao nhất không vượt quá 85%, thường xảy ra trong mùa mưa.
Bình Thuận có hai mùa gió chính là gió Đông Bắc và gió Tây Nam, hoạt động luân phiên theo mùa trong năm Mùa gió Đông Bắc diễn ra từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, với vận tốc trung bình từ 6-10 m/s và hướng chính là Đông Bắc, cùng với các hướng Đông Đông Bắc và Bắc Đông Bắc Trong khi đó, mùa gió Tây Nam kéo dài từ tháng 6 đến tháng 9, có vận tốc trung bình từ 4-6 m/s, với các hướng thịnh hành là Tây Tây Nam, Tây Nam và Tây Tần suất và hướng gió trong vùng biển Bình Thuận được thể hiện rõ trong Hình 3.2.
Hình 3.2: Hướng gió và tần suất xuất hiện ở biển Bình Thuận
Thủy triều tại trạm Phú Quý có đặc điểm là nhật triều không đều, với mực nước triều trung bình dao động từ 213 đến 229 cm, theo ghi nhận năm 2012 Mực nước triều cao nhất ghi nhận được là 306 cm vào tháng 7/2012, trong khi mức thấp nhất là 107 cm vào tháng 5/2012 Thống kê mực nước triều qua các năm tại trạm Phú Quý cho thấy sự biến động rõ rệt trong các chỉ số này.
Bảng 3.1: Số liệu thống kê về mực nước triều tại trạm Phú Quý Đơn vị: cm
Mực nước cao nhất 301 282 280 293 296 286 292 296 279 294 302 292 Mực nước trung bình 220 216 221 222 215 216 216 216 217 230 233 224 Mực nước thấp nhất 113 117 143 160 124 127 129 130 140 150 129 131
Mực nước cao nhất 296 300 293 286 284 282 290 292 294 298 298 312 Mực nước trung bình 226 212 227 209 212 215 218 224 229 225 232 233 Mực nước thấp nhất 131 146 158 123 124 135 128 140 161 147 130 139
Mực nước cao nhất 300 296 290 284 291 292 306 292 290 286 292 300 Mực nước trung bình 224 224 224 214 216 213 223 222 228 228 229 234 Mực nước thấp nhất 126 130 155 135 107 112 128 136 155 142 133 125
Nguồn: Đài Khí tượng Thủy văn Khu vực Nam bộ, 2013 [2]
Chế độ dòng chảy của các sông suối ven biển phụ thuộc vào lượng mưa, với mô đun bình quân chỉ đạt 11,5 l/s/km², thuộc loại sông rất ít nước ở Việt Nam Tại phía Tây tỉnh, lưu vực sông La Ngà có nguồn nước dồi dào, với diện tích lưu vực 3.067 km², lưu lượng trung bình nhiều năm đạt 113 m³/s và tổng lượng nước cấp hàng năm là 3.573 triệu m³ Tuy nhiên, vào mùa khô, dòng chảy tại các khu vực như Tà Pao có thể giảm xuống chỉ còn 3,5 – 4 m³/s.
Bảng 3.2: Hệ thống các sông, suối chính khu vực tỉnh Bình Thuận
Tên sông, suối Chiều dài (km)
Diện tích lưu vực (km 2 )
Suối Đá Bạc 21 76 7,0 0,53 16 Tính đến cửa sông
Hệ thống sông suối của Bình Thuận bắt nguồn từ phía Tây, nơi có dãy núi Trường Sơn Nam, tiếp giáp với lưu vực thượng sông Đồng Nai và chảy ra biển Đông theo hướng Bắc – Nam hoặc Tây Bắc – Đông Nam Ngoại trừ sông La Ngà, các sông, suối ở đây thường có lưu vực hẹp, độ dốc lớn và thường xảy ra tình trạng dòng chảy kiệt từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau.
Dòng chảy ngoài khơi là sự kết hợp giữa dòng triều và tác động của gió, phụ thuộc vào mùa gió Trong mùa gió Đông Bắc, dòng chảy di chuyển từ phía Bắc đến Phan Thiết với vận tốc cao trung bình 40cm/s, đạt cực trị 60cm/s, trong khi từ nam Phan Thiết đến Vũng Tàu, dòng chảy yếu hơn với vận tốc trung bình 15cm/s và cực trị 30cm/s Mùa gió Tây Nam, dòng chảy từ mũi Đại Lãnh đến mũi Cà Ná vẫn duy trì hướng Đông Bắc - Tây Nam và sau khi đi dọc bờ biển, chúng hội tụ với các dòng chảy từ phương Nam lên Bắc, dẫn đến sự biến đổi dòng chảy và thoát xa khỏi bờ, kết hợp với dòng hoàn lưu chung của biển Đông.
Tỉnh Bình Thuận ít khi bị bão trực tiếp tấn công, chủ yếu chịu ảnh hưởng gián tiếp từ hoàn lưu bão Theo thống kê từ năm 1961 đến 2012, tần suất bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) đổ bộ vào bờ biển Việt Nam, đặc biệt là khu vực Bình Thuận, đã được ghi nhận.
Bảng 3.3: Tần số bão và ATNĐ đổ bộ vào các vùng bờ biển Việt Nam (1961 - 2012)
Nguồn:Lê Thị Xuân Lan – Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ, 2013
Đặc điểm địa hình, địa mạo đường bờ
Tỉnh Bình Thuận có địa hình chủ yếu là đồi núi thấp và đồng bằng ven biển hẹp, kéo dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Khu vực này được phân hóa thành bốn dạng địa hình chính: đất cát và cồn cát ven biển chiếm 18,22%, đồng bằng phù sa 9,43%, vùng đồi gò 31,65% và vùng núi thấp 40,7% tổng diện tích đất tự nhiên Địa mạo động lực của khu vực ven biển từ mũi Cà Ná đến cửa sông Đu Đủ được chia thành năm vùng địa mạo động lực khác nhau, dựa trên nguyên tắc của quá trình địa mạo chiếm ưu thế.
Vùng bờ mài mòn yếu – tích tụ yếu Liên Hương: được giới hạn từ mũi Cà Ná đến mũi
La Gàn sở hữu bờ biển dài khoảng 34,15 km, với sự kết hợp giữa các đoạn bờ ổn định, không ổn định và bồi tụ.
Vùng bờ Phan Rí Cửa có chiều dài 60,07 km, bao gồm nhiều cung bờ nối tiếp từ mũi La Gàn đến mũi Né, với phương hướng chủ yếu là Đông Bắc – Tây Nam Cung bờ từ Phan Rí Cửa đến mũi La Gàn có phương Đông - Tây Bờ biển chủ yếu được hình thành từ trầm tích bở rời, ngoại trừ một số núi sót ven biển như mũi Né và Hòn Rơm, được tạo thành từ đá ryolit thuộc hệ tầng Nha Trang Tổng thể, chiều dài bờ biển ở khu vực này ổn định, với mức độ xâm thực và bồi tụ không đáng kể.
Vùng bờ mài mòn trung bình tại Phan Thiết có tổng chiều dài khoảng 49,08 km, kéo dài từ mũi Né đến mũi Kê Gà Đây là khu vực có sự tích tụ trung bình, tạo nên một cảnh quan ven biển độc đáo và thu hút du khách.
Kê Gà đến Mũi Né là đoạn bờ biển chủ yếu được hình thành từ trầm tích bở rời, với một số khối đá cứng như mũi Ghềnh Đá, mũi đá Ông Địa và mũi Né Khu vực Hàm Tiến - Mũi Né trải qua quá trình xâm thực và bồi tụ phức tạp, có thời kỳ bị xâm thực và thời kỳ bồi tụ Tại mũi Né, bờ phía Tây vào mùa gió Tây, Tây Nam thường bị sóng đe dọa, khiến tàu bè phải neo đậu ở phía Đông, trong khi bờ phía Đông lại diễn ra quá trình ngược lại.
Vùng bờ mài mòn trung bình – tích tụ yếu La Gi kéo dài từ mũi Kê Gà đến cửa sông Đu Đủ với tổng chiều dài 48,77km Khu vực này được hình thành chủ yếu từ các trầm tích bở rời như cát và cát-sét Trong đó, đoạn bờ biển mài mòn chiếm ưu thế, tiếp theo là đoạn bờ ổn định, trong khi đoạn bờ bồi tụ có chiều dài nhỏ hơn 1km.
Vùng mài mòn mạnh Phú Quý có diện tích 17,09 km², bao gồm 3 xã Long Hải, Ngũ Phụng và Tam Thanh, kéo dài theo phương Bắc – Nam với chiều dài trên 7 km và rộng khoảng 4,5 km, cách TP Phan Thiết 120 km về phía Đông Nam Địa hình Phú Quý có các núi cao như núi Cấm (107,2m) và núi Cao Cát (89m), với độ cao giảm dần về phía Nam Bờ biển phía Đông chủ yếu là đá bazan, trong khi bờ Tây là các bậc thềm biển cao 2-5m Sự tác động của gió, sóng và cấu tạo địa chất đã tạo ra các quá trình địa mạo động lực khác nhau, bao gồm thổi mòn, tích tụ cát, bóc mòn ở các đồi núi trung tâm và mài mòn đá bazan ở bờ biển phía Đông.
Bờ biển từ mũi Cà Ná đến cửa sông Đu Đủ có đặc điểm biến động mạnh do tác động của sóng và gió Dựa vào hình thái, kiểu thành tạo, hướng bờ biển và đặc điểm trầm tích, khu vực này được chia thành ba kiểu bờ biển khác nhau.
Bờ biển mài mòn trên nền đá rắn chắc thường xuất hiện tại các mũi đá gốc như granit và ryolit, nổi bật ở những địa điểm như mũi Kê Gà, mũi La Gàn, mũi Né và bờ biển phía Đông đảo Phú Quý Những bờ biển này có chiều dài biến đổi, tạo nên cảnh quan độc đáo và hấp dẫn cho du khách.
100 ÷ 200m đến >1km, chiều rộng thay đổi từ 50 đến 200m, đôi khi đến gần 1km (mũi Né)
Bờ biển xói lở trên trầm tích bở rời là một kiểu bờ biển ít phổ biến, phân bố rải rác trong vùng nghiên cứu, chủ yếu tập trung ở khu vực phía bắc cửa sông Dinh (xã Tân Bình, Tân Hải thuộc TX La Gi) và khu vực Phan Rí Cửa (huyện Tuy Phong) Đặc điểm nổi bật của kiểu bờ này là các vách xói lở, có độ cao từ 0,5 đến 1,5m.
Bờ biển tích tụ là một kiểu bờ ít phổ biến, thường chỉ xuất hiện ở một số khu vực như Đông Bắc xã Phước Thể (huyện Tuy Phong), Tây Nam Phan Rí Cửa và cửa sông Dinh.
Khu vực nghiên cứu có sự đa dạng giữa các đoạn bờ biển bị xói lở và các đoạn đang bồi tụ và ổn định Những dấu hiệu nhận biết bờ xói lở bao gồm sự phá hủy rừng ngập mặn và sự hình thành các vách xói lở, trong khi các đoạn bờ tích tụ có các bãi biển thấp với nhiều thế hệ rừng ngập mặn khác nhau.
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội và môi trường
Đặc điểm kinh tế - xã hội
Dân số sống chủ yếu dọc theo ven biển và sông, cách bờ biển từ 500-1000m, với nguồn nước sinh hoạt chủ yếu từ nước ngầm hoặc nước máy địa phương Người dân chủ yếu kiếm sống bằng nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và khai thác dịch vụ biển Tuy nhiên, khi xảy ra sự cố tràn dầu, nguồn thu nhập của họ sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do không thể ra khơi đánh bắt hoặc nguồn lợi cá, tôm bị chết.
Bảng 3.4: Diện tích, dân số và mật độ của các huyện ven biển Bình Thuận
Thành phố/huyện Diện tích (km 2 ) Dân số (người) Mật độ
Dân số trung bình nông thôn (người)
Hàm Tân 738,6 71.755 97 54.503 Đảo Phú Quý 17,8 26.818 1.505 26.818
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Thuận 2012 [4]
Bình Thuận nổi bật với các bãi biển đẹp, bờ thoai thoải, cát trắng và nước trong xanh, tạo tiềm năng lớn cho phát triển du lịch Tính đến nay, tỉnh đã thu hút 267 dự án đầu tư, trong đó có 15 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 649,66 tỷ đồng và 252 dự án trong nước với tổng vốn 1.826,3 tỷ đồng.
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch đang phát triển với tốc độ cao, hiện có
71 cơ sở lưu trú du lịch đang hoạt động kinh doanh với tổng số 2010 phòng tiêu chuẩn
Tỉnh Bình Thuận có 2 khách sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao, 138 phòng tiêu chuẩn 1 sao, 61 phòng tiêu chuẩn tối thiểu, 95 phòng chưa xếp hạng và 1.860 phòng trọ Các khu du lịch chủ yếu nằm ven biển, nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp và hoang sơ Thống kê lượng khách du lịch đến Bình Thuận trong giai đoạn 2010-2012 được trình bày chi tiết trong bảng 3.5.
Bảng 3.5: Số khách du lịch đến Bình Thuận giai đoạn 2010-2012
Số khách đến (lượt khách) 2.500 2.802 3.144
Số khách lưu trú (lượt khách) 2.001 2.205 2.490
Số ngày khách lưu trú 3.400 3.834 4.367
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Thuận 2012 [4]
Theo định hướng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận, hiện có
5 cụm du lịch đang hoạt động như sau:
Khu du lịch Bình Thạnh – Tuy Phong có diện tích khoảng 300 ha, bao gồm các khu vực ven biển của xã Bình Thạnh từ chùa Hang đến đền Bình An, khu ven biển xã Vĩnh Hảo từ Cà Ná đến trại tôm giống CP, khu vực ven biển xã Phước Thể, xã Chí Công (khu Gành Son) và đảo Cù Lao Câu.
Khu du lịch Bắc Bình có diện tích phát triển khoảng 5 ha, được chia thành 2 khu vực chính Khu đầu tiên, với diện tích khoảng 17.000m², nằm ven biển Đông và do nhà nước quản lý, không tiến hành giải tỏa hay đền bù Khu thứ hai có diện tích khoảng 28.184m², là khu du lịch được quy hoạch liên hoàn từ Mũi Né đến Hòn Rơm, Bắc Bình và kết nối với khu du lịch Disney do Mỹ đầu tư.
Khu du lịch Phan Thiết – Mũi Né có diện tích phát triển khoảng 900 ha, bao gồm các khu vực nổi bật như Đồi Dương – Thương Chánh, lầu Ông Hoàng, và mũi đá Ông Địa kéo dài dọc theo bờ biển xã Hàm Tiến Ngoài ra, khu vực này còn có bãi sau Mũi Né đến Hòn Rơm, ven biển xã Tiến Thành, và khu vực bãi sau Hòn Rơm đi suối Nước.
Khu du lịch Tiến Thành – Hàm Thuận Nam có diện tích 600 ha, trải dài ven biển xã Tiến Thành, thành phố Phan Thiết, bao gồm khu vực Hòn Giồ, Hòn Lan, suối nước nóng Bưng Thị, Tân Thuận và núi Tà Cú Nơi đây sở hữu tổng cộng 49 điểm du lịch, trong đó có 29 di tích văn hóa, lịch sử và kiến trúc nghệ thuật, cùng với 27 điểm tài nguyên du lịch tự nhiên.
Khu du lịch Hàm Tân – LaGi có diện tích khoảng 500 ha, với trung tâm là khu vực Đồi Dương và Hòn Bà Không gian phát triển chủ yếu nằm ở khu vực Đồi Dương thuộc xã Tân Bình.
Khu vực nghiên cứu bao gồm nhiều địa điểm quan trọng như Hòn Bà với diện tích 4 ha, các khu vực ven biển Nhảnh Tâm Tân–Mỏm Đá Chim trong phạm vi 4 km, Dinh Thầy Thím, Hồ Núi Đất với tổng diện tích 150 ha, dải đất ven biển khu vực Đồi Dương – Tân Thiện rộng 100 ha, và khu vực vườn cây ăn trái thôn Thắng Hải, xã Tân Thắng có diện tích khoảng 100 ha.
Hoạt động đánh bắt thủy sản tại Bình Thuận được hưởng lợi từ sự giao lưu giữa hai dòng chảy Bắc-Nam và hiện tượng nước trồi, tạo điều kiện cho sự phát triển phong phú của động thực vật phù du Sản lượng khai thác hàng năm đạt 150.000 tấn, bao gồm 75.000 tấn cá tươi, gần 20.000 tấn mực, khoảng 20.000 tấn sò điệp và 3.000 tấn tôm Các địa phương có sản lượng đánh bắt hải sản cao nhất là Phan Thiết với 46.000 tấn/năm, Tuy Phong đạt 36.000 tấn/năm, và huyện đảo Phú Quý với hơn 10.000 tấn/năm.
Tỉnh Bình Thuận có hơn 5.200 ha bãi triều ngập mặn, chủ yếu tập trung ở các khu vực Hàm Tân, Tuy Phong, Bắc Bình, Phan Thiết và Hàm Thuận Nam Hiện tại, tỉnh đã đưa vào nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh 2/3 diện tích này Ngoài ra, Bình Thuận còn có 5 vũng vịnh lớn nhỏ thuận lợi cho việc nuôi tôm lồng bè, bao gồm các loại hải sản như tôm hùm, cá mú, sò, điệp và trai ngọc.
Huyện Phú Quý hiện có 30 cơ sở nuôi lồng bè với diện tích mặt biển 6.859 m² và 8 hồ chắn 1.490 m², đã thả nuôi trên 100.000 con cá mú và hơn 7.000 con tôm hùm, sản lượng cá và đặc sản biển đạt trên 100 tấn Trong khi đó, huyện Tuy Phong có khoảng 45 hộ nuôi với hơn 300 lồng, chủ yếu nuôi tôm hùm bông, tôm hùm xanh và cá giò Năm 2012, diện tích trồng rong sụn đạt 118,8 ha với sản lượng 700 tấn.
Bảng 3.6: Sản lượng thủy sản của tỉnh Bình Thuận (2008-2012) Đơn vị: tấn
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Thuận 2012 [4]
▪ Hoạt động sản xuất kinh doanh
Nông nghiệp tại tỉnh Bình Thuận tập trung chủ yếu ở các huyện Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Tánh Linh và Đức Linh, với sản lượng cao Các loại cây trồng chính bao gồm lúa, hoa màu và cây ăn trái Dưới đây là thống kê diện tích và sản lượng sản xuất nông nghiệp phân theo từng huyện và thị xã.
Bảng 3.7: Thống kê diện tích và sản lượng sản xuất nông nghiệp tỉnh Bình Thuận
Thành phố/huyện Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
Thành phố/huyện Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
Hàm Tân 4.218 4.934 21.114 26.308 Đảo Phú Quý 199 169 101 211
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Thuận 2012 [4]
Diêm nghiệp: tổng diện tích làm muối toàn Tỉnh khoảng 720 ha, tập trung tại các huyện: Tuy Phong, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân và Tp Phan Thiết
Tổng diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh đạt 401.509 ha, bao gồm 224.774 ha rừng phòng hộ, 36.900 ha rừng đặc dụng và 139.835 ha rừng sản xuất Đặc biệt, đảo Phú Quý hiện có khoảng 200 ha rừng phòng hộ.
▪ Các di tích lịch sử: tỉnh Bình Thuận có 25 di tích lịch sử phân bố trên địa bàn các huyện, thị xã và thành phố như sau:
Huyện Tuy Phong: 4 di tích bao gồm đình Bình An (Bình Thạnh), Cổ Thạch Tự (Bình Thạnh), tháp Pô Đam (Phú Lạc), miếu Quan Thánh (Chí Công)
Huyện Bắc Bình nổi bật với 6 di tích lịch sử văn hóa quan trọng, bao gồm đền thờ Pô Klong Mơh Nai tại Lương Sơn, di sản văn hóa Hoàng tộc Chăm ở Phan Thanh, đình Xuân An và đình Xuân Hội tại Chợ Lầu, đền thờ Pô Nít ở Phan Hiệp, và đình Đông An tại Phan Rí Thành.
Đặc điểm hệ sinh thái
▪ Hệ sinh thái trên cạn
Rừng Bình Thuận có tổng diện tích 300.156 ha, trong đó 256.943 ha là rừng tự nhiên với các loại gỗ quý giá như cẩm lai, giáng hương, dầu, sao, và sến, phục vụ cho ngành chế biến đồ mộc cao cấp và mỹ nghệ xuất khẩu Bên cạnh đó, tỉnh còn sở hữu 43.213 ha rừng trồng, với trữ lượng 23 triệu m³ gỗ và hơn 25 triệu m³ tre nứa cùng nhiều lâm sản và dược liệu quý giá.
Bảng 3.8: Đặc điểm tài nguyên rừng các huyện ven biển Bình Thuận
Huyện Rừng ngập mặn Rừng phòng hộ Rừng trồng
- - Có rừng phòng hộ ven biển, chủ yếu là rừng dương
Tuy Phong 219,48 ha rừng phòng hộ và rừng ngập mặn ven biển ở 3 xã:
Hòa Phú, Hòa Minh và Hòa Thạnh đang tích cực triển khai trồng rừng theo hướng xã hội hóa, với các giống cây chịu hạn cao như xoan, cốc, và hành Mật độ trồng rừng đạt từ 258 đến 700 cây/ha, với độ tuổi của cây phi lao từ 15 đến 29 tháng.
Bắc Bình Rừng nghèo bao gồm các loại cây gỗ nhỏ, cây bụi và cây tái sinh như sò đo, cóc, nhãn rừng, chai, dầu cát, gõ đỏ, thành ngạnh và găng Tổng diện tích rừng tại đây lên tới 98.996 ha.
Rừng phòng hộ (Lê Hồng Phong): thuộc diện rừng nghèo, chủ yếu là các cây gỗ nhỏ, cây bụi Tổng diện tích rừng 4.476,76 ha
Diện tích rừng khoảng 20 ha ở xã
Thuận Quý Thực vật chủ yếu là đước, bần, mắm, sú, vẹt Trước đây được sử dụng làm rừng phòng hộ
- Rừng sản xuất chiếm 740 ha
Hàm Tân Diện tích rừng khoảng 60ha ở xã
Tân Thắng Thực vật chủ yếu là đước, bần, mắm, sú, vẹt Trước đây được sử dụng làm rừng phòng hộ
Diện tích đất rừng tự nhiên khoảng 17.712 ha
Rừng trồng chiếm khoảng 15.002 ha
Diện tích 14 ha (đước trưởng thành), mật độ 1000 cây/ha Trong đó Tân Tiến 9 ha; Tân Hải: 5 ha
Rừng phòng hộ ven biển:
Rừng sản xuất: 3.954,1ha Đảo Phú
Quý - 10 ha tại khu vực núi Cấm > 300 ha rừng phòng hộ và rừng phân tán
Trong những năm gần đây, công tác bảo vệ và quản lý rừng đã được tăng cường, với việc giao đất và giao rừng cho các cá nhân Tính đến nay, tỉnh đã giao khoán 105.500 ha rừng cho các hộ dân, chiếm 28% tổng diện tích đất rừng.
▪ Hệ sinh thái dưới nước
Vùng biển Bình Thuận có đáy biển bằng phẳng và giàu tiềm năng nguồn lợi hải sản, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nghề khai thác Các loại cá được đánh bắt chủ yếu bao gồm cá nổi ven bờ và cá nổi biển khơi chiếm 60%, trong khi cá tầng giữa và cá tầng đáy chiếm 40%.
Bảng 3.9: Thành phần các loài cá chiếm tỷ lệ >1%
Tên Việt Nam Tên khoa học
1 Cá Mối thường Saurida tumbil 31,14
2 Cá Mối vạch Saurida undosquamis 19,76
3 Cá Nục sồ Decapterus maruadsi 6,41
4 Cá Nục đỏ đuôi Decapterus kurroides 6,32
5 Cá Nục thuôn Decapterus lajang 3,91
6 Cá Trác ngắn Priacanthus macracanthus 2,94
Các bãi cá nổi tại tỉnh Bình Thuận bao gồm Phan Rí - Phan Thiết, Hàm Tân - Vũng Tàu và Tây Nam Phú Quý Trong khi đó, các bãi cá đáy gồm Phan Rí - Cà Ná, Phan Thiết - Vũng Tàu, Nam Phú Quý và Đông Bắc Phú Quý Đặc biệt, bãi cá Nam và Đông Bắc Phú Quý đóng vai trò quan trọng nhất với sản lượng khai thác ước tính đạt từ 15.000 đến 20.000 tấn mỗi năm.
Ngư trường khai thác tôm trọng điểm của Bình Thuận nằm ở phía Đông Nam đảo Phú Quý, chủ yếu khai thác các loài tôm như Penaeus merguiensis, Panaeus indicus, và Panaeus japonicus Các loài tôm Vỗ thuộc Họ Scyllaridae tập trung chủ yếu quanh đảo Phú Quý Thông tin về thành phần và trữ lượng tôm đánh bắt trong vùng biển miền Trung được tóm tắt trong bảng 3.10.
Bảng 3.10: Thành phần và trữ lượng đánh bắt tôm chủ yếu trong vùng biển
Vùng biển Thành phần tôm đánh bắt chủ yếu
Khả năng khai thác (tấn)
Trữ lượng tôm ước tính (tấn)
Penaeus merguiensis, Penaeus indicus, Penaeus penicillatus, Penaeus plebenus, Ibacus ciliatus,
Thenus orientalis, Panulirus ornatus, Panulirus penicillatus, Panulirus longipes, Panulirus versicolor, Panulirus homarus, Panulirus stimpsoni,
Linuparus trigonus, Nephrops thompsoni, N sinensis, N japonicus, Penaeus teraoi
Vùng biển Ninh Thuận - Bình Thuận nổi bật với ngư trường khai thác tôm he tại cửa Phan Rí, Hàm Tân và cửa Phan Rang vào mùa Bắc, trong khi tôm rồng được khai thác ở Cà Ná, Mũi Kê Gà vào mùa Nam Tôm Vỗ thường xuất hiện ngoài khơi, trong khi tôm Hùm được nuôi theo hình thức thả lồng bè trên biển.
Nguồn lợi mực chủ yếu được khai thác bằng nghề câu và vó mực do địa hình đáy phức tạp, không thuận lợi cho nghề kéo đáy Hoạt động khai thác diễn ra chủ yếu quanh các đảo nhỏ và rạn đá ngầm, với phạm vi hoạt động hẹp Mùa khai thác có thể chia thành hai vụ.
Từ tháng 5 đến tháng 10, đặc biệt là trong tháng 8 và 9, mực ống phân bố chủ yếu ven bờ vùng biển Đông Bắc đảo Phú Quý và khu vực ven biển từ Mũi Né đến Hàm Tân Trong thời gian này, mực nang phân bố rải rác, dẫn đến sản lượng khai thác thấp.
+ Vụ Bắc (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau): mực ống phân bố xa bờ, quanh đảo Phú
Phú Quý, đặc biệt là khu vực Đông Bắc, có sản lượng khai thác thấp hơn so với mùa vụ phía Nam Trong khi đó, mực Nang lại phân bố chủ yếu ở vùng biển từ Đông Bắc đến Đông Nam của đảo Phú Quý, với sản lượng khai thác cao hơn trong mùa vụ phía Nam.
Theo ước tính của Bùi Đình Chung năm 1995, trữ lượng mực nang tại vùng biển miền Trung, đặc biệt là ở Bình Thuận, được xác định với những con số cụ thể.
Bảng 3.11: Trữ lượng mực nang theo các tuyến độ sâu Độ sâu (m) Trữ lượng (tấn) Tỷ lệ (%)
Nguồn: Ước tính trữ lượng mực nang vùng biển miền Trung [6]
San hô là nguồn lợi quý giá, chủ yếu tập trung ngoài khơi Đông Nam Việt Nam Loài này rất nhạy cảm với sự thay đổi môi trường sống Các rạn san hô nổi bật trong khu vực bao gồm Cù Lao Cau (đảo Hòn Cau), mũi Cà Ná, Phú Quý và Côn Đảo.
Cù Lao Cau là một địa điểm nổi bật với rạn san hô phong phú, phân bố chủ yếu ở các vùng nước nông quanh đảo và dọc theo bờ biển từ Cà Ná đến Vĩnh Hảo Rạn riềm không điển hình chủ yếu tập trung ở phía bắc và đông của Cù Lao Cau, bên cạnh đó còn có một số rạn dạng mảng trong vịnh Độ phủ san hô tại khu vực này khá cao, trung bình đạt gần 43%, với các giống san hô chiếm ưu thế như Montipora, Acropora, Porites và Hydnophora.
Khu vực xung quanh đảo có tính đa dạng sinh học cao với 134 loài thuộc 48 giống san hô cứng, 28 loài san hô mềm, 2 loài san hô sừng và 2 loài thủy tức.
Hoạt động thăm dò, khai thác và vận chuyển dầu khí
Vùng biển Bình Thuận hiện có 7 mỏ dầu đang khai thác, bao gồm Rubi, Rạng Đông, Sư Tử Đen, Sư Tử Trắng, Sư Tử Nâu, Sư Tử Vàng và Emeral Ngoài ra, còn một số mỏ dầu triển vọng khác đang trong giai đoạn thăm dò.
Các mỏ dầu Sư Tử tại lô 15.1 thuộc vùng bồn trũng Cửu Long và nằm trong
Tam giác vàng dầu khí, bao gồm vùng mỏ Bạch Hổ, vùng trũng Nam Côn Sơn và vùng bồn trũng Cửu Long, sở hữu trữ lượng dầu và khí khổng lồ Đặc biệt, mỏ dầu Sư Tử Đen đã bắt đầu khai thác từ năm 2003, với sản lượng gần 90.000 thùng dầu thô mỗi ngày Năm 2005, nguồn thu từ các mỏ dầu ở Bình Thuận đạt trên 1.000 tỉ đồng.
Khu công nghiệp dịch vụ dầu khí tại tỉnh Bình Thuận sẽ có quy mô từ 4.000 đến 5.000 ha, với kế hoạch xây dựng được dự kiến trong thời gian tới.
Tại xã Sơn Mỹ, huyện Hàm Tân, sẽ được xây dựng một hệ thống nhà máy điện khí, nhà máy đạm, các sản phẩm phụ từ khí và một trung tâm cung ứng dịch vụ, với tổng diện tích lên tới hơn 1.500 ha.
Trên đảo Phú Quý, một khu công nghiệp dầu khí quy mô khoảng 2.000 ha sẽ được xây dựng tại huyện đảo, cách thành phố Phan Thiết khoảng 50 hải lý về phía Đông, nhằm mục đích xây dựng kho dự trữ dầu thô và chế biến dầu.
Khu liên hợp công nghiệp và dịch vụ sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế ngành công nghiệp của tỉnh trong giai đoạn 2010 - 2015 và những năm tiếp theo Dự kiến quy mô khu liên hợp này rộng khoảng 3.920 ha, bao gồm 2.800 ha vùng công nghiệp, 925 ha khu dân cư và dịch vụ, cùng 195 ha khu cây xanh cách ly Khu công nghiệp sẽ tạo ra từ 120.000 đến 130.000 lao động trực tiếp, trong đó khoảng 40-50% là người địa phương và 15-20% là lao động làm dịch vụ gián tiếp, số còn lại sẽ đến từ các địa phương khác.
CHƯƠNG 4: KẾ HOẠCH ỨNG PHÓ SỰ CỐ TRÀN DẦU
Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu (KHƯPSCTD) của tỉnh Bình Thuận được xây dựng theo Công văn số 69/CV-VP của UBQG Tìm kiếm cứu nạn ngày 5/3/2009, nhằm hướng dẫn triển khai và cập nhật kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu cùng với bản đồ nhạy cảm cho các tỉnh thành phố ven biển Kế hoạch này bao gồm 15 chương và 02 phụ lục, với những nội dung chính sẽ được trình bày chi tiết trong các phần tiếp theo.
Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu (KHƯPSCTD) được xây dựng nhằm giúp tỉnh Bình Thuận chủ động ứng phó với các tình huống tràn dầu xảy ra trong khu vực, cũng như dầu tràn từ nơi khác Mục tiêu của kế hoạch là đảm bảo phản ứng nhanh chóng và hiệu quả, từ đó hạn chế thiệt hại tối đa đối với môi trường và các hoạt động kinh tế - xã hội của tỉnh.
Kế hoạch ƯPSCTD góp phần huy động sức mạnh tổng hợp từ các cấp, cơ quan, ban, ngành và lực lượng địa phương nhằm ngăn chặn, hạn chế thiệt hại kinh tế, bảo vệ môi trường và tài nguyên, đồng thời đảm bảo phát triển bền vững cho vùng biển Bình Thuận.
Dầu: dầu thô và các sản phẩm dầu được hiểu như sau:
- Dầu thô: là dầu từ các mỏ dầu khai thác chưa qua chế biến
Dầu thành phẩm bao gồm các loại dầu đã được chế biến như xăng, dầu hoả, dầu máy bay, dầu diesel (DO), dầu mazut (FO) cùng với các loại dầu bôi trơn, bảo quản và dầu thủy lực.
- Các loại khác: là dầu thải, nước thải lẫn dầu từ các hoạt động súc rửa, sửa chữa tàu biển, tàu sông và các phương tiện chứa dầu
Sự cố tràn dầu là hiện tượng khi dầu từ các phương tiện chứa và vận chuyển, cũng như từ các công trình và mỏ dầu, thoát ra ngoài môi trường tự nhiên Hiện tượng này có thể xảy ra do sự cố kỹ thuật, thiên tai hoặc do hành động của con người.
Sự cố tràn dầu nghiêm trọng là hiện tượng dầu tràn ra với khối lượng lớn, ảnh hưởng đến nhiều tỉnh, thành phố, gây đe dọa đến tính mạng, tài sản, môi trường và sức khỏe của cộng đồng Ứng phó với sự cố này bao gồm các hoạt động huy động lực lượng, phương tiện, thiết bị và vật tư để xử lý kịp thời, nhằm loại trừ hoặc giảm thiểu tối đa tác động của dầu tràn ra môi trường.
Hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu bao gồm tất cả các bước từ chuẩn bị, ứng phó đến khắc phục và giải quyết hậu quả sau khi xảy ra sự cố tràn dầu.
Khắc phục hậu quả sự cố tràn dầu bao gồm các hoạt động làm sạch đất, nước và hệ sinh thái tại khu vực bị nhiễm dầu Đồng thời, cần thực hiện các biện pháp hạn chế thiệt hại và phục hồi môi trường sau sự cố tràn dầu.
Cấp ứng phó gián tiếp, hay còn gọi là cấp chỉ đạo ứng phó, đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận thông tin và đưa ra quyết định cuối cùng về huy động lực lượng, phương pháp ứng cứu sự cố, cũng như thời điểm kết thúc quá trình ứng cứu.
Đặc điểm và tính chất hóa lý của các loại dầu hiện có trong tỉnh
Dựa trên các nguy cơ tràn dầu, loại dầu có thể ảnh hưởng đến vùng biển Bình Thuận bao gồm dầu thô (do phun trào hoặc vận chuyển) và dầu DO (do tràn đổ trong quá trình vận chuyển, tồn chứa, xuất nhập nhiên liệu) Dưới đây là mô tả về đặc tính của các loại dầu này.
Đặc trưng hóa lý của dầu thô
Dầu thô được khai thác từ các mỏ khu vực phía Nam như Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, Sư Tử Đen và Chim Sáo chủ yếu là loại dầu thô ngọt nhẹ.
Khi dầu tràn ra môi trường biển, các thành phần nhẹ sẽ bay hơi nhanh chóng, để lại trên mặt nước những thành phần khó bay hơi Bảng dưới đây trình bày các đặc trưng hóa lý của dầu thô thương mại từ một số mỏ ở Việt Nam.
Bảng 4.5: Đặc trưng hóa lý một số loại dầu thô
0,942 29,4-37,8 Điểm đông đặc, 0 C 33 27 18-30 29,4-37,8 Độ nhớt tại 40 0 C, cSt 10 4 4,9-6,0
< C4, % thể tích 0,15 0,90 51,3 32-41 Điểm sôi