1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tiềm năng du lịch văn hóa khmer nam bộ tại trà vinh

134 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Tiềm Năng Du Lịch Văn Hóa Khmer Nam Bộ Tại Trà Vinh
Tác giả Nguyễn Ngọc Diệp
Người hướng dẫn TS. Hồ Ngọc Phương
Trường học Trường Đại học Công nghệ TP. HCM
Chuyên ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố TP. HCM
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (16)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 2.2. Phạm vi nghiên cứu (0)
  • 3. Mục tiêu nghiên cứu (0)
    • 3.1 Mục tiêu chung (0)
  • 4. Điểm mới của đề tài (17)
    • 4.1. Tình hình nghiên cứu trong nước (17)
    • 4.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước (19)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (19)
    • 5.1. Dữ liệu dùng cho nghiên cứu (19)
    • 5.2. Phương pháp nghiên cứu (19)
  • Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA (21)
    • 1.1. Cơ sở lý luận về tiềm năng du lịch văn hóa (21)
      • 1.1.1. Khái niệm về du lịch và sản phẩm du lịch (21)
      • 1.1.2. Khái niệm về tài nguyên du lịch và tiềm năng du lịch (22)
      • 1.1.3. Du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng (22)
    • 1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khai thác tiềm năng văn hóa phục vụ phát triển du lịch (24)
    • 1.3. Văn hóa Khmer Nam bộ và hoạt động phát triển du lịch văn hóa Khmer Nam bộ (26)
      • 1.3.1. Văn hóa Khmer Nam bộ (26)
      • 1.3.2. Đời sống vật chất (27)
      • 1.3.3. Đời sống tinh thần (29)
    • 1.4. Kinh nghiệm khai thác tiềm năng du lịch văn hóa nói chung và văn hóa Khmer nói riêng tại Việt Nam và trong khu vực (33)
      • 1.4.1. Kinh nghiệm khai thác tiềm năng du lịch văn hóa trong khu vực (33)
      • 1.4.2. Kinh nghiệm khai thác tiềm năng du lịch văn hóa ở Việt Nam (37)
    • 1.5. Kết luận (39)
  • Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA (40)
    • 2.1. Tổng quan về Trà Vinh và du lịch tỉnh Trà Vinh (40)
      • 2.1.1. Tổng quan về Trà Vinh (40)
      • 2.1.2. Tổng quan về du lịch tỉnh Trà Vinh (41)
    • 2.2. Định hướng trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa Khmer Nam bộ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (44)
      • 2.2.1. Định hướng của Đảng và Nhà nước (44)
      • 2.2.2. Định hướng của tỉnh Trà Vinh (45)
    • 2.3. Thực trạng phát triển du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh (46)
      • 2.3.1. Môi trường du lịch (46)
      • 2.3.2. Nguồn nhân lực (năng lực, kinh nghiệm, chuyên môn, tâm huyết với nghề) . 32 2.3.3. Yếu tố Văn hóa cộng đồng (47)
    • 2.4. Các tài nguyên văn hóa Khmer có tiềm năng khai thác du lịch tại Trà Vinh và hiện trạng (49)
    • 2.5. Đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh (53)
    • 2.6. Đánh giá các thành tố tiềm năng du lịch văn hóa Khmer tại Trà Vinh (56)
    • 2.7. Kết luận (68)
  • Chương 3 CÁC ĐỀ XUẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA KHMER NAM BỘ TẠI TỈNH TRÀ VINH (0)
    • 3.1. Kết quả thảo luận và ý kiến chuyên gia (0)
      • 3.1.1. Du khách ấn tượng và muốn được tìm hiểu nét đặc trưng văn hóa Khmer (69)
      • 3.1.2. Tầm quan trọng của các yếu tố tài nguyên văn hóa Khmer có khả năng khai thác và phát triển du lịch tại Trà Vinh, (69)
      • 3.1.3. Mức độ quan trọng của các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài đến khả năng phát triển du lịch của tỉnh Trà Vinh (70)
      • 3.1.4. Để phát triển du lịch dựa vào nền văn hóa Khmer Nam bộ thì Trà Vinh cần thực hiện các nhóm công việc theo thứ tự (71)
      • 3.1.6. Để đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh, cần dựa trên những tiêu chí (72)
      • 3.1.7. Để thực hiện tốt nhiệm vụ “xã hội hóa” du lịch văn hóa Khmer Nam bộ, tỉnh Trà Vinh cần chú ý đến các yếu tố (73)
      • 3.1.8. Ý kiến cho sự phát triển của du lịch tỉnh Trà Vinh nói chung và du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh nói riêng (73)
    • 3.2. Đề xuất và chiến lược (0)
      • 3.2.1. Tập trung xây dựng và triển khai phục vụ du khách thí điểm một số sản phẩm du lịch văn hóa Khmer hoàn chỉnh (76)
      • 3.2.2. Thực hiện tốt công tác quảng bá hình ảnh người Khmer Nam bộ và sản phẩm (77)
      • 3.2.3. Quy hoạch và thực hiện kế hoạch đầu tư khai thác du lịch văn hóa Khmer tại Trà Vinh theo từng giai đoạn cụ thể với sự tham gia của xã hội và chính quyền địa phương (81)
      • 3.2.4. Phân công nhiệm vụ và công việc rõ ràng, cụ thể cho từng nhóm đối tượng697 3.3. Kết luận và Định hướng nghiên cứu tiếp theo (84)
  • KẾT LUẬN (20)

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu

Điểm mới của đề tài

Tình hình nghiên cứu trong nước

Lê Văn Hiệu (2011) đã thực hiện nghiên cứu về giá trị văn hóa dân tộc Khmer tại tỉnh Sóc Trăng nhằm phục vụ cho phát triển du lịch Luận văn Thạc sĩ Địa lý học này được thực hiện tại Trường Đại học, tập trung vào việc khai thác và bảo tồn các giá trị văn hóa độc đáo của cộng đồng Khmer để thúc đẩy ngành du lịch địa phương.

Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã giới thiệu giá trị văn hóa của dân tộc Khmer trong việc phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng Đề tài này đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng khai thác và phát huy giá trị văn hóa Khmer, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của du lịch tại Sóc Trăng.

Phạm Thị Bích Thủy (2011) trong luận văn Thạc sĩ Du lịch tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình Tác giả đánh giá thực trạng khai thác sản phẩm du lịch văn hóa tại địa phương, đồng thời đưa ra các đề xuất nhằm phát triển du lịch văn hóa và bảo tồn di sản văn hóa của tỉnh Thái Bình.

Mai Thị Huệ (2014) trong luận văn Thạc sĩ Văn hóa học tại Trường Đại học Trà Vinh đã nghiên cứu về lễ hội Phật giáo của người Khmer Trà Vinh, nhằm làm rõ vai trò và giá trị của các lễ hội này trong văn hóa dân tộc Khmer Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố văn hóa truyền thống được bảo tồn và những biến đổi trong quá trình giao lưu văn hóa với các dân tộc khác, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hiện đại hóa hiện nay.

Lưu Thị Sóc Kha (2014) trong luận văn Thạc sĩ Văn hóa học tại Trường Đại học Trà Vinh đã phân tích vai trò và chức năng của chùa Phật giáo Nam tông trong đời sống văn hóa và xã hội của người Khmer ở Kiên Giang Tác phẩm không chỉ đánh giá tầm quan trọng của chùa trong cộng đồng mà còn đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, xã hội của chùa Phật giáo Nam tông trong cộng đồng người Khmer tại Kiên Giang.

Sơn Ngọc Khánh (2015), Sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Khmer trong hoạt động du lịch ở địa bàn thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, Luận văn

Thạc sĩ Văn hóa học tại Trường Đại học Trà Vinh nghiên cứu về các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc trưng của người Khmer, liên kết với hoạt động du lịch tại tỉnh Trà Vinh Nghiên cứu nhằm khai thác tiềm năng văn hóa để phát triển du lịch, đồng thời giới thiệu, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của cộng đồng người Khmer trong bối cảnh hội nhập hiện nay.

Trần Minh Thanh (2016), Giải pháp phát triển du lịch Trà Vinh đến năm

2020 và tầm nhìn đến 2025, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Trường Đại học

Bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch Trà Vinh, nhằm xác định điểm mạnh và điểm yếu của ngành Qua đó, nghiên cứu phản ứng của du lịch trước các yếu tố tác động từ môi trường nội bộ và bên ngoài, chỉ ra cơ hội và thách thức mà ngành phải đối mặt Bài viết cũng đề xuất giải pháp thực hiện các chiến lược đầu tư và quảng bá, tập trung vào những lợi thế hiện có của tỉnh, nhằm đạt mục tiêu phát triển du lịch Trà Vinh đến năm 2025.

Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Du lịch văn hóa là một lĩnh vực nghiên cứu phong phú với nhiều đề tài và sách, nhưng thường chỉ tập trung vào một quốc gia, vùng hoặc điểm du lịch cụ thể Đến thời điểm nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tiềm năng du lịch văn hóa Khmer Nam bộ”, tác giả chưa tìm thấy bất kỳ nghiên cứu nào tương tự về đối tượng và mục đích như đề tài này.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu dùng cho nghiên cứu

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn đáng tin cậy như niên giám thống kê, các văn bản của Nhà nước, thông tin từ UBND tỉnh Trà Vinh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Trà Vinh, cũng như các nghiên cứu được công bố trên báo, tạp chí và trong các hội thảo khoa học.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ ý kiến của các chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực du lịch, bao gồm giảng dạy, quản lý và xúc tiến du lịch Những quan điểm này đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về ngành du lịch và phát triển các chiến lược hiệu quả.

Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thống kê mô tả và phân tích tổng hợp

- Nghiên cứu các tài liệu về văn hóa Khmer Nam bộ

- Chọn lọc những nét văn hóa cơ bản, đặc trưng và có khả năng khai thác du lịch đưa vào phân tích nghiên cứu

Trong bài viết này, chúng ta sẽ đánh giá thực trạng phát triển của các mãng văn hóa Khmer Nam Bộ tại Trà Vinh, tập trung vào ảnh hưởng của chúng đến đời sống sinh hoạt và kinh tế xã hội của người dân địa phương Các giá trị văn hóa đặc sắc của người Khmer không chỉ đóng góp vào bản sắc văn hóa chung mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế thông qua du lịch và các hoạt động văn hóa Sự bảo tồn và phát huy các truyền thống văn hóa này là cần thiết để nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo ra cơ hội phát triển bền vững cho cộng đồng.

- Thống kê số liệu du khách đến Trà Vinh từ năm 2010 đến nay: số lượt khách lưu trú và doanh thu từ lữ hành

5.2.2 Phương pháp khảo sát và nghiên cứu thực địa

Nghiên cứu văn hóa Khmer Nam Bộ tại Trà Vinh giúp đánh giá tiềm năng phát triển du lịch thông qua việc phân tích SWOT các thành tố văn hóa như lễ hội, chùa Khmer, làng nghề và ẩm thực Những yếu tố này không chỉ tạo nên bản sắc độc đáo mà còn thu hút du khách, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành du lịch địa phương.

Khảo sát các thành tố văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh và các huyện Châu Thành, Cầu Kè, Trà Cú, Cầu Ngang, nơi có đông người dân Khmer sinh sống và tài nguyên văn hóa phong phú phục vụ khách du lịch.

Tác giả đã thiết kế bảng hỏi nhằm thu thập ý kiến đánh giá từ các chuyên gia về tiềm năng du lịch văn hóa Khmer Nam Bộ tại Trà Vinh Các chuyên gia bao gồm nhà khoa học, giảng viên du lịch, đại diện doanh nghiệp lữ hành, điều hành và hướng dẫn viên, cũng như đại diện cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch như Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch và Ủy ban Nhân dân.

- Phân tích ưu – nhược điểm và đánh giá khả năng hấp dẫn khách của tour du lịch văn hóa Khmer Trà Vinh

Kiểm tra tính phù hợp của các tiêu chí trong bộ tiêu chí đánh giá sản phẩm du lịch văn hóa Khmer Nam Bộ tại Trà Vinh thông qua việc thực tế đón tiếp và phục vụ khách du lịch tại các điểm tài nguyên văn hóa Khmer trong thành phố Trà Vinh.

Chương 1: Cơ sở lý luận về tiềm năng du lịch văn hóa và văn hóa Khmer Nam bộ

Chương 2: Thực trạng và tiềm năng phát triển du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại Trà Vinh

Chương 3: Các đề xuất khai thác tiềm năng để phát triển du lịch văn hóa Khmer Nam bộ tại tỉnh Trà Vinh

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA

Cơ sở lý luận về tiềm năng du lịch văn hóa

1.1.1 Khái niệm về du lịch và sản phẩm du lịch

Du lịch, cả trên thế giới và tại Việt Nam, có nhiều khái niệm khác nhau, giúp người đọc dễ dàng lựa chọn định nghĩa phù hợp với mục đích cá nhân Theo Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2009), du lịch được hiểu là hiện tượng mà những người từ nơi khác đến, sử dụng phương tiện giao thông và sản phẩm dịch vụ du lịch Đồng thời, du lịch cũng là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng phát sinh từ hành trình và lưu trú tạm thời tại những nơi không phải là nơi ở hoặc làm việc thường xuyên Ba thuộc tính chính của du lịch bao gồm: con người di chuyển khỏi nơi cư trú, sử dụng dịch vụ du lịch và hình thành các mối quan hệ trong suốt cuộc hành trình, mặc dù mục đích của chuyến đi chưa được đề cập rõ ràng.

Theo Robert W McIntosh, Charles R Goeldner và J.R Brent Ritchie, du lịch được định nghĩa là tổng hợp các mối quan hệ phát sinh từ sự tương tác giữa khách du lịch, nhà cung cấp dịch vụ, chính quyền và cộng đồng địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón du khách.

Du lịch tại Việt Nam được định nghĩa bởi Quốc hội (2017) là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm, nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí và khám phá tài nguyên du lịch Từ góc độ văn hóa, du lịch là quá trình con người rời quê hương để trải nghiệm những giá trị vật chất và tinh thần độc đáo, khác lạ, không nhằm mục đích kiếm lợi nhuận.

Theo Trần Văn Thông (2016), sản phẩm du lịch bao gồm hàng hóa và dịch vụ, được khai thác hợp lý từ tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách Đồng thời, Quốc hội (2017) định nghĩa sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách.

1.1.2 Khái niệm về tài nguyên du lịch và tiềm năng du lịch

Tài nguyên du lịch bao gồm cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và giá trị văn hóa, tạo nền tảng cho sản phẩm du lịch, khu du lịch và điểm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách Tài nguyên này được chia thành hai loại: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn (Quốc hội, 2017).

Tài nguyên du lịch nhân văn (TNDL) là những tài nguyên do con người tạo ra, bao gồm hai loại chính: TNDL nhân văn vật thể và TNDL nhân văn phi vật thể TNDL nhân văn vật thể bao gồm các di sản văn hóa thế giới, di sản tư liệu, di tích lịch sử văn hóa, công trình đương đại, vật kỷ niệm và cổ vật quý Trong khi đó, TNDL nhân văn phi vật thể bao gồm di sản văn hóa truyền miệng, nghệ thuật sản xuất hàng thủ công truyền thống, lễ hội, văn hóa ẩm thực, văn hóa nghệ thuật, tôn giáo, phong tục tập quán, các giá trị văn hóa dân tộc học, cùng với những phát minh, sáng kiến, văn học dân gian và thơ ca.

Tiềm năng được hiểu là tổng hợp các điều kiện bên trong và bên ngoài có giá trị để khai thác, sử dụng và phát triển Theo Nguyễn Như Ý (2007), tiềm năng là những thế mạnh chưa được khai thác Khi áp dụng khái niệm này vào lĩnh vực du lịch, tiềm năng du lịch được định nghĩa là những điều kiện thiết yếu cho sự phát triển du lịch, bao gồm vị trí địa lý, tài nguyên du lịch, con người, thị trường và các yếu tố kinh tế - xã hội.

1.1.3 Du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng

Du lịch cộng đồng là hình thức du lịch dựa trên các giá trị văn hóa của cộng đồng, được quản lý và tổ chức bởi chính cư dân địa phương, nhằm khai thác và mang lại lợi ích cho họ (Quốc hội, 2017).

Du lịch văn hóa, theo Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), là những chuyến đi với mục đích chính là khám phá các địa điểm và sự kiện mang giá trị văn hóa, lịch sử, góp phần vào di sản văn hóa của cộng đồng Loại hình du lịch này không chỉ khai thác giá trị văn hóa mà còn giúp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tôn vinh những giá trị văn hóa mới Du lịch văn hóa có hai hình thái chính: thứ nhất là du lịch tìm hiểu bản sắc văn hóa, thường dành cho các nhà nghiên cứu và sinh viên; thứ hai là du lịch tham quan văn hóa, nơi du khách kết hợp giữa tham quan và nghiên cứu văn hóa, với đối tượng khách rất đa dạng.

1.1.4 Tiềm năng và vai trò của khai thác tiềm năng văn hóa trong phát triển du lịch

Tài nguyên du lịch bao gồm các yếu tố tự nhiên và nhân văn quan trọng cho sự phát triển du lịch, thu hút du khách đến tham quan và sử dụng dịch vụ địa phương Tiềm năng du lịch được xác định từ tài nguyên du lịch đã được đánh giá, có khả năng khai thác để phục vụ du lịch, từ đó hình thành sản phẩm du lịch và chuỗi cung ứng tương ứng Điều này cho thấy rằng tài nguyên du lịch chính là nền tảng vững chắc để tiềm năng du lịch chuyển hóa thành sản phẩm du lịch hấp dẫn.

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa Tài nguyên du lịch, Tiềm năng du lịch và Sản phẩm du lịch

(Nguồn: tổng hợp của tác giả)

Khai thác, theo từ điển tiếng Việt, là hoạt động thu lấy nguồn lợi sẵn có (Nguyễn Như Ý, 12007) Khai thác tiềm năng được hiểu là sử dụng các yếu tố tiềm năng để phục vụ con người và tạo ra lợi nhuận Trong bối cảnh du lịch, khai thác tiềm năng văn hóa có nghĩa là sử dụng tài nguyên văn hóa cho hoạt động kinh doanh du lịch, nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho cá nhân, đơn vị kinh doanh, cộng đồng và chính quyền địa phương.

(yếu tố tự nhiên và nhân văn đặc biệt, thu hút khách du lịch)

(tài nguyên có khả năng khai thác và phát triển du lịch)

(tài nguyên du lịch tiềm năng đã được khai thác để phục vụ khách du lịch)

Khai thác hợp lý giá trị di sản văn hóa thế giới vật thể là việc bảo tồn tài nguyên trong khi đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo lợi ích cho cộng đồng Việc này không chỉ là sản xuất mà còn là chuyển đổi và bảo toàn giá trị tài nguyên Đối với bất kỳ quốc gia nào, việc khai thác tài nguyên và tiềm năng du lịch một cách hợp lý là rất quan trọng Cần xác định cách thức và mức độ khai thác phù hợp, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, với sự chú trọng vào phát triển bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội Điều này giúp hạn chế suy thoái tài nguyên, giảm ô nhiễm môi trường, bảo tồn đặc thù địa phương và thúc đẩy phát triển kinh tế, đạt được mục tiêu chính của du lịch.

Việc khai thác tiềm năng văn hóa trong phát triển du lịch không chỉ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế mà còn ảnh hưởng tích cực đến đời sống xã hội Việt Nam Hiệu quả từ việc này mang lại nhiều lợi ích, bao gồm việc quảng bá tài nguyên văn hóa ra thế giới, thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia và Việt Nam thông qua văn hóa truyền thống Đồng thời, nó cũng làm phong phú và đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tăng tính cạnh tranh trên thị trường du lịch quốc tế và nội địa Hơn nữa, việc khôi phục và bảo tồn các di sản văn hóa sẽ giúp gìn giữ những giá trị lịch sử, đồng thời truyền tải nét đẹp văn hóa cho thế hệ tương lai Cuối cùng, việc đưa tài nguyên văn hóa đến gần hơn với du khách sẽ tạo ra giá trị kinh tế cho cộng đồng địa phương và ngân sách Nhà nước.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khai thác tiềm năng văn hóa phục vụ phát triển du lịch

Trong quá trình nghiên cứu và khảo sát thực tế, tác giả đã tổng hợp và đánh giá tám yếu tố chính ảnh hưởng đến hoạt động khai thác tiềm năng văn hóa trong phát triển du lịch.

Việc đánh giá tiềm năng du lịch của tài nguyên văn hóa là rất quan trọng, vì nếu các địa phương, cá nhân và đơn vị không thực hiện công tác này, sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng Tài nguyên văn hóa có thể bị mất giá trị, gây ra xung đột lợi ích và văn hóa giữa các bên liên quan Hơn nữa, nếu tài nguyên không có ý nghĩa hoặc hạn chế khả năng cung ứng dịch vụ, nhưng các nhà đầu tư vẫn tiếp tục đầu tư mà không có chiến lược phát triển hợp lý, sẽ dễ dẫn đến thua lỗ hoặc hoạt động kém hiệu quả.

Giá trị du lịch của tài nguyên văn hóa có thể thấp hoặc trùng lặp với các địa phương khác trong khu vực Ngoài ra, tài nguyên văn hóa không thể hiện rõ nét bản sắc của cộng đồng, dẫn đến giá trị nhân văn không rõ ràng Các yếu tố văn hóa thường rời rạc và thiếu sự liên kết chặt chẽ.

Khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch của tài nguyên địa phương còn hạn chế do cơ sở hạ tầng phục vụ khách du lịch chưa phát triển Cụ thể, tình trạng giao thông, số lượng cơ sở lưu trú và dịch vụ ăn uống đều chưa đủ đáp ứng, cùng với việc thiếu các dịch vụ hỗ trợ cần thiết.

Chính phủ đã ban hành các nghị quyết và kế hoạch nhằm phát triển du lịch, coi đây là ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước Để thực hiện hiệu quả các chính sách này, các cấp chính quyền địa phương cần chủ động lập kế hoạch phát triển, kêu gọi đầu tư và hướng dẫn thực hiện chính sách đãi ngộ cho nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao, từ đó tạo ra một môi trường kinh doanh du lịch thông thoáng và hội nhập.

Tính nguyên bản của tài nguyên du lịch tại Việt Nam đang bị ảnh hưởng bởi hiện tượng "làm du lịch đại trà", khi các địa phương bắt chước nhau trong cách khai thác tài nguyên tương tự Hệ quả là sự trùng lắp sản phẩm du lịch, khiến du khách cảm thấy đã hiểu hết văn hóa của cả vùng chỉ qua một điểm đến Thiếu tính sáng tạo và không khai thác đặc thù địa phương, các đơn vị du lịch sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động Hơn nữa, tài nguyên văn hóa có nguy cơ bị điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu kinh doanh, dẫn đến áp lực giao tiếp văn hóa giữa du khách và người dân địa phương.

“Thương mại hóa” tài nguyên nhân văn là vấn đề mà bất cứ địa phương nào có điểm tài nguyên du lịch cũng lo ngại

Công tác truyền thông và quảng bá tài nguyên nhân văn có tiềm năng du lịch là rất quan trọng, nhưng hiện tại thông tin về các tài nguyên này còn hạn chế Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến sự lựa chọn của du khách khi tìm kiếm điểm đến.

Sự đồng thuận giữa cộng đồng và chính quyền địa phương là rất quan trọng trong quản lý và phát triển du lịch tại Việt Nam Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại nhiều trường hợp "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược", cho thấy sự thiếu thống nhất trong cách thức thực hiện và sự chồng chéo trong quản lý các sản phẩm du lịch, đặc biệt là các sản phẩm du lịch văn hóa.

Văn hóa Khmer Nam bộ và hoạt động phát triển du lịch văn hóa Khmer Nam bộ

1.3.1 Văn hóa Khmer Nam bộ

Người Khmer Krôm, hay còn gọi là Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm, có nguồn gốc chung với người Khmer Lơ tại Campuchia Họ sử dụng ngôn ngữ thuộc nhóm Môn – Khmer và hiện nay có khoảng 328.000 người Khmer Krôm sinh sống tại Việt Nam, chiếm 31,5% dân số tỉnh Trà Vinh (Ban Dân tộc Trà Vinh, 2017).

Diện mạo bên ngoài của người dân tộc này thường có nước da ngâm đen, gần giống như người Ấn Độ, với gương mặt có đôi lưỡng quyền và quai hàm nhô ra Họ sở hữu mái tóc đen, quăn tự nhiên, chân mày rậm và ngắn, cùng đôi mắt đen mở to, dưới mí mắt thường có quầng đen Đặc điểm khác bao gồm mũi nhọn, môi dày và râu rậm, trong đó nhiều người có râu quai nón Vóc dáng của họ tương tự như người Kinh, và họ thường sống đơn giản, cần cù, mộc mạc và có khả năng chịu đựng gian khổ.

Người Khmer, cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, sở hữu bộ công cụ nông nghiệp hoàn thiện và hiệu quả, bao gồm những dụng cụ độc đáo phù hợp với điều kiện địa lý sinh thái Nam bộ Họ sử dụng cái phảng thay cho cày chuyên dụng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) để vơ cỏ, cây nọc cấy (Sơ chal) để cắm cây lúa trên những chân ruộng nước có đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) để cắt lúa Ngoài ra, người Khmer còn có nghề đánh cá, dệt chiếu và đan lát.

Hôn nhân thường được cha mẹ sắp đặt với sự đồng thuận của con cái, trải qua ba bước chính: làm mối, dạm hỏi và tổ chức lễ cưới tại nhà gái Gia đình nhỏ thường bao gồm một vợ một chồng, sống độc lập và là đơn vị kinh tế tự chủ, tuy nhiên vẫn có những gia đình nơi 3-4 thế hệ cùng chung sống Chế độ gia đình mẫu hệ vẫn còn tồn tại trong xã hội.

Tang ma: Tục hỏa táng đã có từ lâu Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp

“Pì chét đẩy”, xây cạnh ngôi chính điện trong chùa

1.3.2 Đời sống vật chất Ẩm thực: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ - inh làm bằng cá sặc, nổi tiếng nhất là mắm pro-hoc làm bằng cá lóc, các sặc, cá trê, tôm tép trộn với muối, cơm nguội và thính Gia vị ưa thích nhất là vị chua (quả me) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ) Ẩm thực của người Khmer rất đặc trưng nhờ vào hương vị của mắm prohoc Họ ăn gạo và nếp kết hợp với nguồn thực phẩm là những nguyên liệu sẵn có từ thiên nhiên, trong vườn nhà cùng các loại thủy sản Tại Trà Vinh, ẩm thực Khmer Nam bộ nổi bật hơn với các món ngon như:

Bún nước lèo là món ăn đặc trưng được chế biến từ mắm prohoc, kết hợp với cá, củ ngãi bún, nấm và huyết heo hoặc huyết vịt Một tô bún hoàn chỉnh không thể thiếu rau giá, bông chuối bào và bông súng, cùng với các món ăn kèm đa dạng như bánh giá, chả giò và thịt heo quay, tùy theo sở thích của thực khách Món bún nước lèo không chỉ đơn thuần là món ăn dân dã mà còn thể hiện sự chân chất, hào phóng và sáng tạo của người dân Nam bộ, đặc biệt là người Khmer.

Bánh tét Trà Cuôn là món ăn truyền thống của người dân Nam bộ, thường xuất hiện trong các dịp lễ tết và tiệc tùng Đặc biệt, người Khmer đã nâng tầm bánh tét với sự kết hợp độc đáo giữa vỏ bánh làm từ lá bồ ngót tạo màu xanh tự nhiên và nhân đậu mỡ truyền thống, cùng với thịt ba rọi, lòng đỏ trứng muối hoặc lạp xưởng Một đòn bánh tét thường nặng từ 0.5 kg đến 1.5 kg, thể hiện sự phong phú trong ẩm thực của họ.

Cốm dẹp Ba So là món bánh truyền thống được làm từ nếp non mới thu hoạch, được rang và giã vào buổi sáng sớm Quy trình chế biến đơn giản với nước dừa, dừa nạo, đường và có thể thêm sữa nếu thích, tạo nên hương vị ngọt ngào, đậm đà tình quê Để làm mới món ăn này, người dân Trà Vinh đã sáng tạo ra bánh tét cốm dẹp, sử dụng nguyên liệu chính là cốm dẹp và đậu xanh, mang đến sự hấp dẫn mới cho món ăn dân dã.

Các loại bánh truyền thống của người Khmer bao gồm bánh ống, bánh quặng (bánh lá mơ), và bánh dứa, là những món bánh dân gian đơn giản và dễ làm Hiện nay, du khách có thể dễ dàng thưởng thức những món bánh này tại khu danh thắng Ao Bà.

Om với giá cả rất phải chăng

Trang phục truyền thống của người Khmer bao gồm xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt, nhưng hiện nay, giới trẻ thường ưa chuộng quần âu kết hợp với áo sơ mi Người lớn tuổi và người già thường mặc quần áo bà ba đen, trong khi nam giới khá giả có thể chọn áo bà ba trắng kèm khăn rằn Trong các dịp cưới, trang phục truyền thống được sử dụng nhiều hơn: chú rể mặc xà rông và áo đỏ với khăn trắng quàng vai trái và dao cưới để bảo vệ cô dâu, trong khi cô dâu diện váy màu tím hoặc hồng và áo dài đỏ, kèm khăn và mũ cưới truyền thống Áo dài Khmer (Wện) có thiết kế tương tự như áo dài của phụ nữ Chăm, với thân áo rộng, dài dưới gối và cổ áo thấp, tạo nên sự gần gũi và đặc trưng văn hóa.

Người Khmer cư trú chủ yếu quanh các ngôi chùa, hình thành nên những phum, sóc truyền thống Có hai hình thức cư trú: một là sống tập trung quanh các chùa lớn, hai là sống rải rác cùng với các tộc người khác như Kinh và Hoa Trước đây, người Khmer thường ở nhà sàn, nhưng hiện nay họ đã chuyển sang nhà đất giống như người Kinh Trong không gian sống của người Khmer, bàn thờ tổ tiên không được đặt, thay vào đó, bàn thờ Phật được xem là nơi trang trọng nhất.

Di chuyển trong cộng đồng người Khmer thường diễn ra bằng xe bò, xe lôi hoặc các phương tiện thủy như xuồng ba lá, ghe tam bản và thuyền “tắc rán” Đặc biệt, ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, được làm từ gỗ sao và có từ 30 - 40 tay chèo, là biểu tượng văn hóa quan trọng, thường được sử dụng trong lễ hội chào mặt trăng Ok Om Bok vào tháng 10 âm lịch Trong những ngày bình thường, ghe Ngo được cất giữ trong chùa và được coi là vật thiêng, thể hiện sự gắn bó của người dân với truyền thống văn hóa và tín ngưỡng.

Văn hóa dân tộc Khmer là một nền tảng văn hóa phong phú, được hình thành qua nhiều thế kỷ, kết hợp giữa tín ngưỡng, tôn giáo và lịch sử dân tộc Nó được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và lễ hội truyền thống, tạo nên sự hài hòa và đan xen độc đáo.

Văn học dân gian: Ngôn ngữ và Chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ

Môn - Khmer thuộc ngữ hệ Nam Á và có hệ chữ viết riêng không dấu, được sử dụng để ghi chép các truyện dân gian Người Khmer sở hữu kho tàng phong phú về truyện cổ, bao gồm thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn và truyện cười.

Lễ hội đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Khmer Nam Bộ, ảnh hưởng sâu sắc đến tâm linh và văn hóa của họ Trong năm, có nhiều lễ hội diễn ra, trong đó một số lễ hội tiêu biểu không chỉ tác động lớn đến đời sống hàng ngày của cộng đồng mà còn có tiềm năng khai thác cho hoạt động du lịch văn hóa tại Trà Vinh.

Kinh nghiệm khai thác tiềm năng du lịch văn hóa nói chung và văn hóa Khmer nói riêng tại Việt Nam và trong khu vực

1.4.1 Kinh nghiệm khai thác tiềm năng du lịch văn hóa trong khu vực

Kinh nghiệm du lịch tại Cố Cung, Trung Quốc cho thấy việc bảo vệ di sản là ưu tiên hàng đầu, với quãng đường 7 km từ cổng vào đến cổng ra không cho phép sử dụng phương tiện giao thông Khách tham quan chỉ được đứng ngoài nhìn vào các cung điện để tránh hư hại di tích, và số lượng khách được kiểm soát chặt chẽ Ban quản lý Nhà cổ chịu trách nhiệm bảo vệ và quản lý du lịch, kết hợp giữa lợi ích xã hội, môi trường và kinh tế để đảm bảo tính bền vững Tại Di Hòa Viên, các chương trình bảo tồn sử dụng vật liệu phù hợp với thiết kế gốc, với nguồn vốn chủ yếu từ tiền bán vé và dự án được phê duyệt Hạn chế xây dựng xung quanh công trình nhằm bảo tồn vẻ đẹp mỹ quan, và nhân viên chủ yếu là cư dân địa phương, được đào tạo chuyên môn thường xuyên Người dân được khuyến khích bán hàng chất lượng, và vi phạm quy định sẽ bị xử phạt nghiêm khắc.

Kinh nghiệm du lịch Thái Lan tập trung vào việc bảo tồn di sản văn hóa thế giới tại thành phố lịch sử Ayutthaya, nơi đã được phục hồi từ phế tích nhưng vẫn giữ nguyên trạng Chính phủ Thái Lan đầu tư ngân sách cho việc trùng tu và bảo vệ môi trường, yêu cầu du khách sử dụng phương tiện thô sơ trong khu di sản Hoạt động truyền thông được chú trọng nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về việc giữ gìn di sản Tài nguyên du lịch được phân loại theo 5 mức dựa trên tiềm năng phát triển, với các chỉ số như số lượng khách và cơ sở hạ tầng phục vụ du khách Chính phủ cũng triển khai chính sách phát triển du lịch bền vững, bảo tồn nghệ thuật và văn hóa song song với việc bảo vệ môi trường.

Kinh nghiệm từ ngành du lịch Hàn Quốc cho thấy Cung Changdeokgung, một trong năm cung điện vĩ đại của Triều Tiên, chú trọng vào việc khai thác các tài nguyên văn hóa vật thể Quá trình này không chỉ tập trung vào việc truyền thông về di sản mà còn giáo dục cộng đồng để nâng cao nhận thức về tài nguyên nhân văn Để bảo tồn và quản lý di sản, các quy định về thời gian hoạt động được đưa ra, bao gồm việc mở cửa vào các ngày trong tuần, trừ thứ hai, và hạn chế số lượng khách tham quan trong một lượt Ngoài ra, nâng cao chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên cũng là một yếu tố quan trọng trong việc cải thiện trải nghiệm du khách.

Ngành du lịch Campuchia nổi bật với sự văn minh và thân thiện, đặc biệt tại khu đền Angkor, nơi không có tình trạng chèo kéo hay ăn xin Người bán hàng rong được sắp xếp vào khu vực nhất định, trong khi những người ăn xin được hỗ trợ để trở thành nhạc công Hàng hóa tại Campuchia được niêm yết bằng USD, Ria hoặc Đồng, và khách du lịch có thể thoải mái trả giá Cao nguyên Thansur Bokor là điểm đến nghỉ dưỡng cao cấp nhưng giá cả phải chăng, cho phép khách tham quan miễn phí Tại Siem Reap, vé buffet và xem ca múa cung đình Khmer có mức giá tương đương với một bữa ăn bình dân ở Việt Nam.

Campuchia đã quy hoạch ba thành phố Phnom Penh, Siem Riep và Sihanoukville để phát triển du lịch văn hoá và tự nhiên Tại Siem Riep, các khách sạn quanh khu Angkor bị giới hạn chiều cao tối đa là 3 tầng, bất kể sao Các khu vực mặt tiền và tuyến phố cổ đều phải tuân thủ quy chuẩn kiến trúc và màu sơn đồng nhất Đồng thời, 10 hòn đảo trong vịnh Sihanoukville đã được cho các doanh nghiệp lớn từ Mỹ, Hong Kong, và Anh thuê để phát triển du lịch, nhưng với điều kiện nhà đầu tư chỉ được hồi sinh Sihanoukville mà không được biến nơi này thành một thành phố mới.

Kể từ năm 2003, đền Angkor Wat đã giới hạn số lượng khách tham quan tối đa 300 người mỗi lượt và chỉ cho phép tham quan trong vòng 2 giờ Đến nay, các biện pháp hạn chế này vẫn đang được nghiên cứu và đề xuất nhằm đối phó với sự gia tăng nhu cầu tham quan hàng năm Đồng thời, việc phát triển các khu du lịch biển tại Sihanoukville, bao gồm các hòn đảo và thị trấn Kép, không chỉ nhằm khai thác tài nguyên du lịch biển mà còn nhằm giảm bớt áp lực cho di sản Angkor bằng cách khuyến khích du khách khám phá các sản phẩm du lịch khác.

Mức vé tham quan Angkor rất đặc biệt, không thay đổi và chỉ áp dụng cho khách quốc tế, trong khi khách nội địa được miễn phí Điều này thể hiện quan niệm rằng di sản là của cha ông để lại, và con cháu có quyền thụ hưởng Giá vé phân định theo thời gian tham quan: 20 USD cho 1 ngày, 40 USD cho 2 ngày, và 60 USD cho 3 ngày, với mức tối đa 60 USD cho cả tuần hoặc tháng Nếu du khách yêu thích Angkor và tham quan 3 ngày, họ sẽ được miễn phí cho những ngày tiếp theo Cách làm này không chỉ tạo cảm giác được chào đón mà còn kích thích sự khám phá, từ đó quảng bá văn hóa và lịch sử Campuchia một cách hiệu quả.

Chính phủ Campuchia đã triển khai nhiều chính sách du lịch nhằm thu hút du khách từ các quốc gia châu Á, Âu và Mỹ, bao gồm tổ chức các chương trình quảng bá, cải thiện hạ tầng giao thông và phát triển các điểm du lịch sinh thái tại miền Bắc Ngoài ra, thủ tục xuất nhập cảnh được đơn giản hóa với việc cấp visa tại cửa khẩu và miễn visa cho một số quốc gia, cùng với sự hiện diện của cảnh sát du lịch tại các điểm tham quan Những chính sách này đã tạo dựng hình ảnh Campuchia thân thiện và chuyên nghiệp Đặc biệt, các hướng dẫn viên du lịch đều được đào tạo bài bản từ các tổ chức uy tín như UNESCO, với mức giá thuê tối thiểu là 30USD/ngày.

Bí quyết thành công của Campuchia trong ngành du lịch nằm ở sự quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương, nhưng quan trọng nhất là ý thức của người dân Chính quyền đã xây dựng một hệ thống điều hành chuyên nghiệp cho các hoạt động du lịch, bao gồm bảo vệ rừng, tôn tạo di tích, tổ chức biểu diễn văn hóa, và có lực lượng cảnh sát du lịch đảm bảo an ninh cho du khách Đào tạo nhân viên dựa trên nền tảng ngoại ngữ cũng là một yếu tố quan trọng Bảo tồn di sản để phát triển du lịch bền vững là một trong những chính sách du lịch hiệu quả của Campuchia, trong khi quảng bá hình ảnh đất nước chủ yếu thông qua quảng cáo truyền miệng.

Từ kinh nghiệm du lịch của Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc và Campuchia, Việt Nam có thể học hỏi nhiều bài học quý giá để cải thiện quản lý và kinh doanh du lịch văn hóa Những quốc gia này đã áp dụng các chiến lược hiệu quả để thu hút du khách, bảo tồn di sản văn hóa và phát triển bền vững trong ngành du lịch Việc nghiên cứu và áp dụng những phương pháp này sẽ giúp Việt Nam nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường trải nghiệm cho du khách và phát triển du lịch văn hóa một cách toàn diện.

Nhà nước cần xây dựng hệ thống pháp luật cho ngành du lịch nhằm chuẩn hóa hoạt động du lịch thông qua các nguyên tắc, tiêu chuẩn và khung pháp lý Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương trong việc khai thác, bảo vệ và tôn tạo tài nguyên du lịch.

Vào thứ hai, cần thực hiện phân loại, đánh giá và xếp hạng các tài nguyên du lịch; đồng thời khai thác các yếu tố độc đáo trong văn hóa để phát triển du lịch Ngoài ra, cần phân công rõ ràng trách nhiệm cho cơ quan chính trong việc khai thác và bảo tồn những tài nguyên này.

Địa phương cần nâng cao nhận thức của cộng đồng và du khách về giá trị tài nguyên, đồng thời chú trọng cải thiện chất lượng nguồn nhân lực.

Các nhà làm du lịch cần phát triển chiến lược marketing hiệu quả, đồng thời chú trọng vào việc liên kết ngành du lịch với các lĩnh vực khác Hợp tác quốc tế về du lịch với các quốc gia trong khu vực và toàn cầu cũng là một yếu tố quan trọng để nâng cao sự phát triển bền vững của ngành.

Vào ngày thứ năm, hãy cân nhắc và lập kế hoạch hợp lý cho việc sử dụng doanh thu từ việc bán vé tham quan, nhằm mục đích giữ gìn, tôn tạo và bảo vệ các di sản văn hóa cũng như tài nguyên nhân văn.

Có chính sách bán vé phù hợp với từng đối tượng khách tham quan

Kết luận

Văn hóa Khmer Nam Bộ là một biểu hiện đặc trưng của người dân Trà Vinh, Sóc Trăng và toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Du lịch văn hóa là một lĩnh vực kinh doanh đầy thách thức, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế hiện nay Tuy nhiên, nếu tỉnh Trà Vinh học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia và địa phương khác, cùng với nguồn tài nguyên văn hóa Khmer phong phú, thì tiềm năng du lịch nơi đây sẽ mang lại lợi ích lớn cho cộng đồng địa phương Điều này không chỉ góp phần phát triển kinh tế mà còn là cơ hội để nâng cao vị thế du lịch Việt Nam trong tương lai.

THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA

CÁC ĐỀ XUẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA KHMER NAM BỘ TẠI TỈNH TRÀ VINH

Ngày đăng: 10/07/2021, 10:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Khắc Cảnh, Đặc trưng tổ chức xã hội tộc người của người Khmer Nam bộ, Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn – ĐHQG-HCM, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng tổ chức xã hội tộc người của người Khmer Nam bộ
5. Chính phủ (2011), Quyết định phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”, số 1270/QĐ-TTg, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
9. Lê Văn Hiệu (2011), “Nghiên cứu giá trị văn hóa dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng phục vụ cho phát triển du lịch”, Luận văn Thạc sĩ Địa lý học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giá trị văn hóa dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng phục vụ cho phát triển du lịch”
Tác giả: Lê Văn Hiệu
Năm: 2011
10. Mai Thị Huệ (2014), “Lễ hội Phật giáo của người Khmer Trà Vinh”. Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Trà Vinh, Trà Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Phật giáo của người Khmer Trà Vinh”
Tác giả: Mai Thị Huệ
Năm: 2014
11. Lưu Thị Sóc Kha (2014), “Chùa Phật giáo Nam tông trong đời sống văn hóa người Khmer Kiên Giang”, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Trà Vinh, Trà Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Phật giáo Nam tông trong đời sống văn hóa người Khmer Kiên Giang”
Tác giả: Lưu Thị Sóc Kha
Năm: 2014
12. Nguyễn Thị Phượng Khánh (2014), “Văn hóa trang phục của người Khmer Trà Vinh”, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Trà Vinh, Trà Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa trang phục của người Khmer Trà Vinh”
Tác giả: Nguyễn Thị Phượng Khánh
Năm: 2014
14. Sơn Ngọc Khánh (2015), “Sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Khmer trong hoạt động du lịch ở địa bàn thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh”, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Trà Vinh, Trà Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Khmer trong hoạt động du lịch ở địa bàn thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh
Tác giả: Sơn Ngọc Khánh
Năm: 2015
15. Nguyễn Văn Mạnh và PGS.TS Phạm Hồng Chương (2009), Giáo trình Quản trị Kinh doanh Lữ hành, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị Kinh doanh Lữ hành
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh và PGS.TS Phạm Hồng Chương
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2009
16. Nguyễn Thị Thống Nhất (2016), Phát triển du lịch trên cơ sở khai thác hợp lý giá trị di sản văn hóa thế giới vật thể. NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch trên cơ sở khai thác hợp lý giá trị di sản văn hóa thế giới vật thể
Tác giả: Nguyễn Thị Thống Nhất
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2016
18. Võ Quế (2006), Du lịch cộng đồng lý thuyết và vận dụng, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch cộng đồng lý thuyết và vận dụng
Tác giả: Võ Quế
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2006
21. Trần Minh Thanh (2016), “Giải pháp phát triển du lịch Trà vinh đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2025”, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Trà Vinh, Trà Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển du lịch Trà vinh đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2025”
Tác giả: Trần Minh Thanh
Năm: 2016
22. Trần Văn Thông (2016), Giáo trình Tổng quan du lịch, Đại học Kinh tế Tài chính, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tổng quan du lịch
Tác giả: Trần Văn Thông
Năm: 2016
24. Phạm Thị Bích Thủy (2011), “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình”, Luận văn Thạc sĩ Du lịch (Chương trình đào tạo thí điểm), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình”
Tác giả: Phạm Thị Bích Thủy
Năm: 2011
28. Bùi Thị Hải Yến (2012a), Quy hoạch du lịch, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch du lịch
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
29. Bùi Thị Hải Yến (chủ biên) (2012b), Du lịch cộng đồng, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch cộng đồng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
17. Trúc Giang, Sóc Trăng tập trung khai thác tiềm năng du lịch, tháng 6/2015, http://baodautu.vn/soc-trang-tap-trung-khai-thac-tiem-nang-du-lich-d28902.html, ngày truy cập 15/11/2017 Link
23. Hoài Thu, Du lịch Sóc Trăng - Bài 2: Cần giải pháp đồng bộ khai thác tiềm năng, Thông tấn xã Việt Nam, 10/2017, https://baotintuc.vn/du-lich/du-lich- Link
25. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Cổng thông tin điện tử tỉnh Thừa Thiên Huế, https://www.thuathienhue.gov.vn/vi-vn/ Link
26. Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Cổng thông tin điện tử tỉnh Sóc Trăng, https://soctrang.gov.vn/wps/portal/ Link
1. Ban Dân tộc Trà Vinh (2017), Niên giám thống kê dân số và dân tộc tỉnh Trà Vinh năm 2017, Ủy ban Nhân dân tỉnh Trà Vinh, Trà Vinh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w