Đặc biệt thiên tai xảy ra là do con người như phá rừng, cháy rừng… Hiện tại rừng của tỉnh Điện Biên nói chung, huyện Mường Ảng nói riêng chiếm một vị trí chiến lược, hết sức quan trọng t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN HỒNG THANH
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG
HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
CHUYÊN NGÀNH: LÂM SINH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên khoa học và độc lập của bản thân tôi Các số liệu kết quả trong luận văn đều chính xác và
có nguồn gốc rõ ràng
Người cam đoan
Nguyễn Hồng Thanh
Trang 3Trong quá trình thực hiện Luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của thầy cô hướng dẫn cũng như sự giúp đỡ từ các thầy cô trong khoa Lâm học và sự giúp đỡ từ phía nhà trường Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến quý thầy cô và nhà trường đã giúp đỡ tôi hoàn thiện bài luận văn này
Ngoài ra, tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các cán bộ kiểm lâm cũng như người dân địa phương thuộc huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã giúp đỡ tôi hoàn thiện tốt bài luận văn này
Mặc dù bản thân tôi đã cố gắng hết sức nhưng vì lý do thời gian và trình dộ nên bài luận văn này của tôi vẫn có nhiều thiếu sót, hạn chế Tôi rất mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và đồng nghiệp
để giúp cho bài luận văn của tôi được hoàn thiện nhất
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người thực hiện
Nguyễn Hồng Thanh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1.Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Trên thế giới 6
1.3 Tại Việt Nam 8
1.4 Tại Điện Biên 10
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 14
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 14
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 14
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 14
2.3 Nội dung nghiên cứu 14
2.3.1 Một số Chính sách của Đảng và Nhà nước về QLBV&PTR 14
2.3.2 Điều tra, phân tích vai trò của các bên liên quan trong công tác quản lý và bảo vệ rừng 14
2.3.3 Mục tiêu đối tượng, nội dung phương pháp nghiên cứu 14
2.3.4 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội 15 2.3.5 Đánh giá nguyên nhân, mức độ tác động có ảnh hưởng đến công
Trang 5tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại huyện Mường Ảng 15
2.3.6 Nguyên nhân dẫn đến các tác động bất lợi của nhân dân địa phương có ảnh hưởng đến tài nguyên rừng 15
2.3.7 Thực trạng tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý bảo vệ rừng 15
2.3.8 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên 15
2.4 Phương pháp nghiên cứu 15
2.4.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu 15
2.4.2 Điều tra thực địa 15
2.4.3 Phương pháp xử lý thông tin 18
Chương 3 MỘT SỐ CHÍNH SÁCH VÀ CÁC VĂN BẢN TRONG LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP 19
3.1 Một số Chính sách của Đảng và Nhà nước về về quản lý bảo vệ phát triển rừng 19
- Nghị định số 01/2019/NĐ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về Kiểm lâm và lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng 20
3.2 Điều tra, phân tích vai trò của các bên liên quan trong công tác quản lý và bảo vệ rừng 21
Chương 4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HÔI TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 27
4.1 Điều kiện tự nhiên – Kinh tế xã hội 27
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31
Chương 5 THỰC TRANG KHU VỰC NGHIÊN CỨU 44
5.1 Thực trạng công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại khu vực nghiên cứu 44
5.1.1 Hiện trạng về rừng tại huyện Mường Ảng 44
5.1.2 Thực trạng về công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại huyện Mường Ảng 44
Trang 65.1.3 Mức độ tác động ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ và phát
triển rừng huyện Mường Ảng 58
5.2 Nguyên nhân, thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lí bảo vệ rừng tại huyện Mường Ảng 61
5.2.1 Thuận lợi 61
5.2.2 Khó khăn 62
5.2.3 Thực trạng tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý bảo vệ rừng 64
5.3 Đề xuất một số giải pháp trong công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng tại huyện Mường Ảng 68
5.3.1 Công tác tuyên truyền 68
5.3.2 Công tác quản lý bảo vệ rừng 69
5.3.3 Công tác phát triển rừng 74
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BNN&PTNT : Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn HĐNN : Hội Đồng Nhân Dân QLBVR : Quản lý bảo vệ
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Bảng 3.1 Một số chính sách của Đảng và Nhà Nước về quản lý bảo vệ rừng 19
Bảng 3.2 Phân tích vai trò của các bên liên quan 21
Hình 4.1 Vị trí địa lý huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên 27
Bảng 4.2 Dự báo dân số và lao động huyện Mường Ảng đến năm 2020 34
Hình 5.1 Người dân xã Mường Đăng, huyện Mường Ảng chăm sóc và bảo vệ rừng đầu nguồn 45
Hình 3.2 Các lực lượng tham gia chữa cháy rừng năm 2016 tai xã Mường Đăng 51
Hình 5.1 Lực lượng cán bộ kiểm lâm tham trồng rừng rừng 55
Hình 5.1 Đoàn giám sát HĐND tỉnh kiểm tra việc trồng rừng tại xã Búng Lao 56
Hình 3.5 Cánh rừng bị tàn phá 63
Hình 5.2 Khai thác gỗ trái phép có ảnh hưởng rất lớn đến sinh kế của người dân cả trước mắt và lâu dài 65
Hình 5.3 Cán bộ Kiểm lâm phổ biến tuyên truyền bằng 2 hình thức tại bản Huổi Lỵ, xã Mường Lạn tuyên truyền, vận động người dân trong bản không vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng 68
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là một tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá cho đời sống của con người Tuy nhiên trong những năm gần đây, sự suy giảm tài nguyên rừng đang diễn ra hết sức nghiêm trọng đã và đang trở thành mối quan tâm của toàn thế giới Người ta hiểu được rằng mất rừng chính là nguyên nhân quan trọng nhất của sự biến đổi khí hậu và giảm sút đa dạng sinh học làm gia tăng hiệu ứng nhà kính, những hiện tượng mất rừng đang đe dọa sự tồn tại lâu dài của sự sống trên toàn hành tinh
Rừng có vai trò rất quan trọng trong việc giữ nước, điều tiết dòng chảy, hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn đất, điều hoà khí hậu và cung cấp lâm sản Rừng
là một tài nguyên, một nhân tố đảm bảo cho sự phát triển ổn định và vững chắc của đất nước Mặc dù vậy, cho đến nay con người chưa hiểu hết tầm quan trọng của rừng, tình trạng phá rừng, cháy rừng, khai thác lâm sản bừa bãi, dẫn đến mất rừng làm ảnh hưởng tời đời sống của con người cũng như sự phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng
Mất rừng hiện nay đang trở thành vấn đề quan trọng ở Việt Nam Diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp về diện tích, mà còn thể hiện ở sự suy giảm về trữ lượng chất lượng rừng và cạn kiệt các nguần gen động thực vật có giá trị Trong những năm gần đây nhiều thiên tai xảy ra như bão, lũ lụt, sạt lở làm thiệt hại về người và tiền của, đã ảnh hưởng tới cuộc sống của nhiều địa phương Đặc biệt thiên tai xảy ra là do con người như phá rừng, cháy rừng…
Hiện tại rừng của tỉnh Điện Biên nói chung, huyện Mường Ảng nói riêng chiếm một vị trí chiến lược, hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và an ninh quốc phòng của khu vực; đặc biệt huyện Mường Ảng có diện tích rừng 13.947,4ha, địa hình rừng núi hiểm trở,
giao thông đi lại khó khăn, nhân dân vùng cao (Dân tộc Mông, Thái) sống
trong và ven rừng, cuộc sống chủ yêu phụ thuộc vào canh tác nương dẫy, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, ý thức bảo vệ rừng chưa cao
Trang 10Tình trạng phá rừng, khai thác, mua, bán, vận chuyển, kinh doanh lâm sản trái pháp luật vẫn còn xảy ra, nhất là tình trạng phá rừng làm nương của nhân dân các bản vùng cao, nhiều diện tích rừng bị mất, đồng thời theo phong tục tập quán của bà con làm nương luân canh và canh tác trên đất dốc, dẫn đến nhiều diện tích đất trống đồi núi chọc bị bỏ hoang Ngược lại tại các bản vùng thấp như trước đây người dân phá rừng làm nương, canh tác chủ yếu là làm nương rãy, nhưng hiện tại do nhận thức của người dân việc canh tác nương rãy không hiệu quả và phát triển kinh tế nên người dân đã đi làm các công ty, doanh nghiệp Do đó nhiều diện tích rừng đã được phục hồi và còn rất nhiều diện tích đất trống bị bỏ hoang, dẫn đến hàng năm các diện tích đó không được đầu tư, đồng thời ý thức của một số bà con đã đốt để lấy cỏ chăn thả ra xúc dẫn đến cháy rừng làm thiệt hại rất nhiều diện tích rừng
Trong khi đó một số chính quyền địa phương chưa quan tâm hết mức trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, coi việc bảo vệ rừng là trách nhiệm của lực lượng Kiểm lâm Trong khi biên chế cho lực lượng Kiểm lâm mỏng, do vậy việc tuyên truyền Luật lâm nghiệp cũng như các văn bản trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng còn hạn chế, việc tuần tra, kiểm soát nhằm phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm gặp rất nhiều khó khăn Đại đa số các chủ rừng, tổ quản lý bảo vệ rừng chưa xây dựng được phương
án bảo vệ rừng mà Kiểm lâm địa bàn phải làm thay, chưa thường xuyên tuần tra rừng nhằm phát hiện hành vi vi phạm mà hầu hết đều trông chờ vào các cơ quan chức năng và UBND xã
Chính sách cho chủ rừng chưa được quan tâm đúng mức, chỉ trong phạm vi hỗ trợ và dịch vụ môi trường rừng, nên không khuyến khích được người dân phát triển kinh tế từ rừng một cách ổn định, lâu dài
Vì vậy việc quản lý bảo vệ và phát triển rừng của huyện Mường Ảng cần có sự vào cuộc của các cấp, các ngành và mọi tầng lớp nhân dân, nhằm thúc đẩy sự phát triển rừng về cả chất và lượng, từng bước đưa độ che phủ của huyện ngày càng nâng lên
Trang 11Trước tình hình hiện nay và chức trách, nhiệm vụ được giao cần có các giải pháp phù hợp để phát triển rừng của huyện Do đó, việc nghiên cứu về đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng huyện Mường Ảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu, đánh giá nào một cách toàn diện và
hệ thống vấn đề này Vì vậy, nhằm góp phần bổ sung và hoàn thiện những cơ
sở lý luận và tìm ra giải pháp quản lý rừng bền vững trên địa bàn huyện, tôi
tiến hành “Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên”
Trang 12Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Quản lý bảo vệ rừng là một lĩnh vực tương đối rộng lớn bao gồm hàng loạt các biện pháp quản lý bảo vệ rừng đã và đang được thực hiện, nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước đã được triển khai nhằm bảo vệ và phát triển rừng, như Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 2017 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng…, các chính sách đầu tư cho lâm nghiệp, biện pháp giao đất, giao rừng, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng…
Trước đây, vấn đề quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp chỉ đơn thuần là việc khai thác và sử dụng các sản phẩm từ rừng mà ít hoặc chưa chú trọng đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng cũng như phát huy vai trò của rừng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái
Hiện nay công tác quản lý và sử dụng rừng đều phải dựa trên cơ sở đảm bảo sự phát triển rừng bền vững Quản lý rừng bền vững là thực hiện triệt để
và đồng bộ các biện pháp nhằm không ngừng phát huy hiệu quả kinh doanh
ổn định liên tục, những tác dụng và lợi ích của rừng trên các lĩnh vực khác nhau Sự phát triển rừng bền vững này phải đảm bảo 3 yếu tố: bền vững về mặt môi trường sinh thái; bền vững về mặt xã hội; bền vững về mặt kinh tế Nghĩa là phát triển phải đảm bảo lợi ích lâu dài cho con người, tài nguyên sinh vật, môi trường cần phải giữ gìn cho các thế hệ mai sau, thể hiện qua 3 mặt đó là phù hợp về môi trường, có lợi ích về mặt xã hội và đáp ứng về mặt kinh tế
Trong thực tiển để quản lý tốt một khu rừng cần phải xác định được các mối đe dọa ảnh hưởng đến khu rừng đó và tìm ra được các giải pháp can thiệp
để làm giảm sự ảnh hưởng bởi những mối đe dọa Đây chính là cách tiếp cận
Trang 13mới trong quản lý tài nguyên rừng, hướng đến phát triển lâm nghiệp bền vững Với các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ sẽ có các mối đe dọa, tác động lên khu rừng khác nhau như: cháy rừng, khai thác rừng trái phép, chuyển đổi mục đích canh tác, sử dụng rừng, xây dựng các công trình cho phát triển kinh tế, xã hội,… Do đó, các mối đe dọa này cần phải được phân hạng mức độ ảnh hưởng để có các biện pháp xử lý phù hợp
Việc đánh giá các mối đe dọa này đối với một khu rừng không có nghĩa
là phải cố để loại bỏ đi những mối đe dọa này Bởi vì trong nhiều trường hợp
ta không thể loại bỏ được như vậy (Primack, 1999) Việc con người sử dụng cảnh quan là là một thực tế mà chúng ta phải tính đến khi lập kế hoạch bảo vệ
và phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng
Trong kế hoạch quản lý các khu rừng đặc dụng hay phòng hộ, việc người dân địa phương và du khách sử dụng dịch vụ môi trường rừng và cảnh quan sinh thái cần phải là nội dung trung tâm, kể cả quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển (Mackinnon et al., 1992; Wells and Brandon, 1992; Western et al.,1994; Primark, 1999) Người dân từ ngàn đời nay đã sử dụng các sản phẩm từ rừng, nay họ lại không được phép vào rừng để phục vụ cho nhu cầu mưu sinh cho cuộc sống của họ nữa Chính vì thế mà sinh ra những mâu thuẫn giữa người dân với các ban quản lý bảo vệ rừng
Ngày nay người ta càng nhận ra rằng các chiến lược quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học hầu hết đều thiếu mất một điều quan trọng
là sự tham gia của người dân địa phương Lewis và cộng sự (1990) đã khẳng định rằng “Nếu có một bài học kinh nghiệm nào đó có thể rút ra từ những thất bại trong công tác bảo tồn ở Châu Phi thì đó là sự bảo tồn chỉ do chính phủ thực hiện vì cái gọi là lợi ích của người dân địa phương Cách làm này ít khi thành, đặc biệt ở những nước có nền kinh tế thấp kém Thay vào đó, việc bảo tồn vì người dân và do người dân thực hiện dưới sự giám sát và cung cấp dịch
vụ của nhà nước có thể thúc đẩy mới quan hệ giữa chính quyền và người dân
Trang 14sống trong vùng có tài nguyên Cách tiếp cận này có thể làm giảm các chi phí cho việc thực thi pháp luật và làm tăng các nguồn thu từ khía cạnh khác của công tác quản lý động vật hoang dã, nhờ đó sẽ vừa đáp ứng những yêu cầu của công tác bảo tồn vừa đáp ứng những nhu cầu trước mắt của cộng đồng dân cư Cách tiếp cận như vậy cũng có ưu điểm nữa là duy trì quyền sở hữu truyền thống và tinh thần trách nhiệm của người dân địa phương đối với tài nguyên rừng Tuy nhiên, những bằng chứng có tính thuyết phục về mối quan
hệ hợp tác như trên vẫn chưa được minh chứng, vì vậy, nó chỉ vẫn mang tính
lý thuyết nhiều hơn là thực tiễn”
1.2 Trên thế giới
Theo thống kê của tổ chức FAO (1999), những năm cuối thập kỷ XX,
tỷ lệ mất rừng ở các nước trên thế giới và đặc biệt ở nước ta đang diễn ra và gia tăng liên tục Nếu tính cả thế giới trong 5 năm mất đi khoảng 56 triệu
hecta rừng (mỗi năm dự tính mất khoảng 11 triệu hecta)
Trước đây trên thế giới có 17,6 tỷ hecta rừng, trong đó có diện tích rừng nguyên sinh là 8,08 tỷ hecta Nhưng dưới sự tác động của con người đã làm cho diện tích rừng trên thế giới bi suy giảm nhanh chóng Theo số liệu thống kê của FAO đến năm 1991, diện tích rừng trên thế giới chỉ còn 3,717 triệu hecta Trong đó, 1,867 triệu hecta ở Bắc cực và Địa Trung Hải ổn định
và phát triển chút ít Còn 1,850 triệu hecta rừng nhiệt đới Tính trung bình mỗi năm diện tích rừng nhiệt đới bị thu hẹp khoảng 11 triệu hecta Trong khi
đó diện tích trồng chỉ bằng 1/10 diện tích rừng bị mất đi, đó là chưa kể đến việc mất đi tính đa dạng sinh học
Riêng ở Châu Á Thái Bình Dương thời gian từ năm 1976 đến năm
1980 mất 9 triệu hecta rừng, cùng thời gian này ở Châu Phi mất 37 triệu hecta rừng và Châu Mỹ mất đi 18,4 triệu ha Từ năm 1981 đến năm 1991 tỷ lệ mất rừng tăng lên 80% so với 10 năm trước Với tốc độ đó một số chuyên gia lâm nghiệp dự đoán chỉ trong vòng một thế kỷ nữa rừng nhiệt đới sẽ bị hủy diệt
Trang 15Ngoài ra mất rừng làm cho diện tích đất rừng và đất trồng rừng bị xói mòn làm biến chất, do tình trạng chặt phá rừng, sa mạc hóa hàng năm trên thế giới mất đi khoảng tỷ tấn đất, với số lượng này có thể sản xuất ra 50 tấn lương thực, thực phẩm
Để phục hồi quản lý bền vững tài nguyên rừng một số nước trên thế giới như Phần Lan, Thụy Điển, Canada đã xây dựng chiến lược về quản lý rừng bền vững từ rất sớm hay ở Châu Á một số nước như Hàn Quốc, Nhật Bản đã đưa ra kế hoạch phục hồi và phát triển rừng sau giai đoạn được khai thác kiệt quệ tài nguyên rừng
Tại Hàn Quốc việc đánh giá thực trạng tài nguyên rừng, từ đó đưa ra kế hoạch phát triển rừng đã được thực hiện gồm 5 giai đoạn: Kế hoạch phát triển lần thứ nhất: Dự án phục hồi rừng (1973 – 1978); Kế hoạch phát triển lần thứ : Dự án phục hồi rừng (1979 – 1987); Kế hoạch phát triển lần thứ 3: Dự án phục hồi rừng (1988 – 1997); Kế hoạch phát triển lần thứ 4 (1998 – 2007); Kế hoạch phát triển lần thứ 5 (2008 – 2017) trải qua thực hiện 05 giai đoạn đến nay ở Hàn Quốc đã hoàn thành được kế hoạch với mục tiêu “hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia xanh với phúc lợi và tăng trưởng xanh” nhớ có các khu rừng được quản lý theo hướng bền vững những nguồn tài nguyên quý giá phục vụ tăng cường phát triển kinh tế, bảo tồn quỹ đất và cải thiện cuộc sống trên toàn quốc
Đối với Nhật Bản là quốc gia có đến 68,6 % diện tích đất là rừng che phủ, đứng thứ 17 trên thế giới Cách đây hơn 300 năm, quốc gia này đã phải trải qua giai đoạn rừng bị tàn phá nghiêm trọng, biến cảnh quan thành những vùng đất hoang hóa Việc quản lý rừng cộng đồng của các địa phương là khởi đầu cho thời kỳ nguyên mới trong việc phục hồi rừng và phát triển lâm nghiệp của Nhật Bản
Nhật Bản đã đối mặt với những thách thức về môi trường bằng những phương pháp tích cực từ việc sử dụng rừng không bền vững trở nên bền vững
Trang 16hơn bắt đầu từ những năm 1670 Các cộng đồng địa phương đóng vai trò trung tâm của các hoạt động xúc tác và tăng cường mối quan hệ phản hồi tích cực, tạo thuận lợi cho các quá trình xã hội được thực hiện
Trong thời đại công nghệ, Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu và phát triển những hệ thống quản lý rừng giúp đơn giản hóa việc lập kế hoạch quản
lý và tái tạo rừng Hệ thống này hoạt động như một công cụ hỗ trợ cho công tác quản lý và lập kế hoạch lâm nghiệp Ví dụ, hệ thống này có thể đề xuất kỹ thuật trong việc tỉa cây hay phục hồi rừng theo điều kiện thực tế
Nhật Bản cũng xây dụng cơ sở dữ liệu về tài nguyên rừng dựa trên các thông số về điều kiện rừng hiện tại, chi phí vận chuyển gỗ và phát triển các kỹ thuật để dự báo tăng trưởng rừng và xác định hiệu quản quản lý
Có thể tóm tắt những xu hướng quản lý rừng trên thế giới trong những năm gần đây như sau:
+ Chuyển mục tiêu quản lý, sử dụng rừng từ sản xuất gỗ là chủ yếu sang mục tiêu sử dụng rừng kết hợp 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái
+ Phân cấp quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp Xu hướng là chuyển giao dần trách nhiệm và quyền lực về quản lý rừng từ cấp trung ương đến địa phương và cơ sở
+ Xúc tiến giao đất, giao rừng cho nhân dân, giảm bớt can thiệp của nhà nước, thực hiện tư nhân hóa đất đai và cơ sở kinh doanh lâm nghiệp để tạo điều kiện cho việc quản lý rừng năng động và đem lại nhiều lợi ích hơn
+ Thu hút sự tham gia của các nhóm dân cư trong quá trình xây dựng
kế hoạch quản lý rừng, rừng đã có chủ thực sự Các chính sách cũng rất quan tâm đến sự tham gia của các nhóm liên quan đến quyền lợi từ rừng Vì vậy đã được quản lý bảo vệ tốt hơn
1.3 Tại Việt Nam
Một thời gian dài, nhiều vùng của nước ta đã bị mất rừng và bị suy thoái rừng do các nguyên nhân khác nhau như: khai thác gỗ quá mức; chuyển
Trang 17đồi mục đích sử dụng rừng từ rừng nghèo sang rừng trồng và canh tác nông nghiệp; chuyển đổi tự phát do xâm lấn để canh tác nông nghiệp; phát triển cơ
sở hạ tầng, đặc biệt là các dự án xây dựng thủy điện,
Trong giai đoạn 1943-1990, độ che phủ rừng của Việt Nam giảm từ 43% xuống còn 28% Tuy nhiên sau thời gian này, nhiều nỗ lực của chính phủ trong việc phục hồi rừng đã được ghi nhận, hoạt động bảo vệ rừng và thực thi pháp luật cũng có nhiều chuyển biến tích cực, diện tích rừng ngày càng được phục hồi Việt Nam trở thành quốc gia duy nhất trong khu vực có diện tích rừng ngày càng tăng Diện tích rừng tăng lên do khoanh nuôi phục hồi rừng, xúc tiến tái sinh tự nhiên và trồng mới những năm qua luôn cao hơn diện tích rừng bị giảm do nguyên nhân hợp pháp và bất hợp pháp Độ che phủ toàn quốc giai đoạn 2002 – 2007 tăng bình quân 0,5% mỗi năm, giai đoạn 2007 –
2018 tăng bình quân 0,4% Kết quả này là cố gắng rất lớn trong công tác quản
lý, bảo vệ và phát triển rừng của Việt Nam
Tuy độ che phủ rừng đã được nâng lên đạt 28,% năm 1995, 33,% năm
1999, 38% năm 2005, 40,84% năm 2015 là 41,65%, năm 2018 nhưng diện tích rừng có trữ lượng và giá trị kinh tế chưa cao Trong tổng số diện tích rừng tự nhiên hiện nay chỉ có khoảng 2% là rừng giàu, 15% là rừng trung bình, còn lại là rừng nghèo và rừng phục hồi
Trong thời gian qua đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về một số lĩnh vực liên quan đến đề tài luận văn như: “Quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng” của Vũ Hoàng Tùng, Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học viện hành chính quốc gia, năm 2013; “Đảm bảo hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” của Phạm Đình Hùng, Luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2011; “Pháp luật xử phạt vi phạm hành chính, lý luận và thực tiễn” của Bùi Tiến Đạt, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2008;
“Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay” của
Trang 18Nguyễn Thanh Huyền, 2004 Ở nước ngoài có Luận án Tiến sĩ của Sofia Hirakuri “Can Laws save the Forest Lesson from Filand and Brazil” và nghiên cứu của Ngân hàng thế giới năm 2007 “Forest law and sustainable development – Addressing Contemporary Challenges Through Legal Reform”
1.4 Tại Điện Biên
Điện Biên là tỉnh có địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi dốc, hiểm trở
và chia cắt mạnh, có nhiều sông, suối và nằm trong vùng phòng hộ đầu nguồn của sông Đà, sông Mã và sông Mê Kông; giao thông đi lại hết sức khó khăn vào mùa mưa; gần 80% dân số sống nhờ vào canh tác nông nghiệp, diện tích sản xuất lương thực chủ yếu trên đất dốc, điều kiện kinh tế khó khăn, đời sống của người dân một phần dựa vào sản phẩm của rừng Tuy nhiên trong thời gian qua, công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn toàn tỉnh đã được các cấp, ngành, địa phương quan tâm thực hiện quyết liệt và đạt được kết quả tích cực, diện tích rừng tự nhiên được bảo vệ nghiêm ngặt, giảm dần nạn phá rừng, mất rừng, người dân trên địa bàn đã tích cực tham gia quản lý và phát triển rừng
Cụ thể, hàng năm, ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành kịp thời các Văn bản chỉ đạo, điều hành, đôn đốc việc thực hiện làm cơ sở để các Sở, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố tổ chức triển khai thực hiện Đồng thời, tỉnh đã củng cố, kiện toàn và ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020 cấp tỉnh; kiện toàn và ban hành Quy chế hoạt động của 10/10 Ban Chỉ đạo cấp huyện; phê duyệt và triển khai thực hiện Đề án “Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm
2020, trên địa bàn tỉnh Điện Biên” và triển khai đồng bộ gắn với các mục tiêu của các đề án, dự án, kế hoạch đã được phê duyệt đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 trên địa bàn toàn tỉnh
Trang 19Hàng năm, rà soát, bổ sung, kiện toàn tổ chức của lực lượng Kiểm lâm, nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động của lực lượng Kiểm lâm cho phù hợp
với đặc thù từng cơ sở (theo Quyết định số 1920/QĐ-TTg ngày 24/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ), lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách ở cơ sở (bổ sung 15 biên chế cho huyện Mường Nhé năm 2018)
Nhìn chung, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả tích cực, trong đó: Giai đoạn 2011 – 2016, toàn tỉnh trồng rừng phòng hộ được 804,9 ha, trồng rừng sản xuất 1.680,2 ha, khoanh nuôi tái sinh rừng 54.063 lượt ha, bảo vệ rừng135.809,8 lượt ha; hỗ trợ gạo trồng rừng thay thế nương rẫy 2.649,45 lượt ha; thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 306,2 tỷ đồng; giao đất có rừng 319.919,02 ha đạt 84,1% kế hoạch của tỉnh; tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh năm 2016 tăng 1,9% so với năm 2011; phát hiện 2.340 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển
rừng, trong đó khởi tố hình sự là 33 vụ (đã khởi tố là 13 vụ, số bị can là 29 đối tượng, số bị cáo bị xét xử là 11 người; 20 vụ không xét xử được do không
đủ các căn cứ, hồ sơ theo trình tự); xử lý tịch thu 1.454,4 m3 gỗ các loại, tổng
số tiền thu nộp ngân sách Nhà nước 21.149.280.000 đồng
Song song với đó, đẩy mạnh trồng rừng đầu nguồn, từ năm 2017 đến hết tháng 6/2019, trồng rừng phòng hộ: 366,8 ha; trồng rừng đặc dụng: 9,36 ha; trồng rừng sản xuất: 1.908,6 ha; khoanh nuôi tái sinh rừng: 21.607
lượt ha; bảo vệ rừng (ngoài nguồn vốn dịch vụ môi trường rừng):
77.789,58 lượt ha
Cùng với đó, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã tạo thêm
việc làm, tăng thu nhập cho người dân (trên 40.108 hộ gia đình được hưởng lợi từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, bình quân mỗi hộ được hưởng từ 1,5 triệu đồng/năm), góp phần xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh;
đã thu hút được một số doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực phát triển rừng và chế biến lâm sản
Trang 20Có 7/10 huyện nghèo (theo Nghị quyết 30a, Quyết định số TTg ngày 05/02/2013) thực hiện hỗ trợ chăm sóc, bảo vệ rừng thông qua
293/QĐ-khoán, chăm sóc, bảo vệ rừng, giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất,
với tổng kinh phí thực hiện là 71.802,7 triệu đồng (thực hiện hỗ trợ hơn 12.716 lượt hộ, nhóm hộ, cộng đồng nhận khoanh nuôi, bảo vệ, chăm sóc; hỗ trợ cây lâm nghiệp trồng 810 ha rừng cho 3.693 hộ; trợ cấp 298 tấn gạo cho 1.046 hộ nghèo chăm sóc bảo vệ rừng…) Chính sách chăm sóc, bảo vệ rừng
đã góp phần cải thiện được một phần không nhỏ trong cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số khi tham gia bảo vệ rừng
- Tại huyện Mường Ảng:
Huyện Mường Ảng có diện tích tự nhiên là 44.341,44 ha, với 10 đơn vị hành chính (gồm 01 thị trấn, 9 xã) Diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp là
28.805,9 ha, chiếm 65% tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện (theo quy hoạch 3 loại rừng đã được phê duyệt, hiện tại đang rà soát lại quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn huyện đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030 theo
Kế hoạch của tỉnh) Diện tích đất có rừng 13.381 ha tỷ lệ che phủ đạt 30,71%
Công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng luôn được cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp quan tâm, chỉ đạo sâu sát Việc ngăn ngừa, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng đã được tăng cường, kiểm soát, tình hình vi phạm giảm rõ rệt Từ đầu năm đến nay trên địa bàn huyện không để xảy ra các vụ vi phạm, khai thác, phá rừng, cháy rừng nghiêm trọng, không có trường hợp tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng rừng trái phép; công tác tuyên truyền, vận động người dân, cộng đồng dân cư gần rừng trong rừng về bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng được thường xuyên, chuyển biến tích cực, các hộ dân thực hiện canh tác dần về đúng quy hoạch, tình hình du canh, du cư, đốt nương làm rẫy trái pháp luật dần được kiểm soát, giảm đáng kể
Tuy nhiên những đề tài, công trình nghiên cứu về công tác bảo vệ rừng tại Biện Biên chưa có một công trình nào, chỉ có một số đề tài nghiên cứu
Trang 21như: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố và khả năng tái sinh cây Mắc Khén (Zanthoxylum rhetsa DC) tại xã Mường Nhà, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” của Cà Thị Thoa, Khóa luận tốt nghiệp, năm 2015; “Nghiên cứu thành phần loài và tình hình sử dụng rau rừng của người dân tại xã Ảng Nưa, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên”, của Bạc Cầm Trung, Khóa luận tốt nghiệp, năm 2016; “Nghiên cứu đặc điểm của hệ thực vật xã Pá Khoang, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” của Lương Duy Hải, Khóa luận tốt nghiệp, năm 2018
Trang 22Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ
và phát triển rừng huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tác động của tự nhiên và con người dân đến sự ảnh hưởng tới tài nguyên rừng cũng như công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại các xã liên quan đến công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Một số Chính sách của Đảng và Nhà nước về QLBV&PTR
2.3.2 Điều tra, phân tích vai trò của các bên liên quan trong công tác quản
lý và bảo vệ rừng
2.3.3 Mục tiêu đối tượng, nội dung phương pháp nghiên cứu
Trang 232.3.4 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội
- Điều kiện tự nhiên
2.3.6 Nguyên nhân dẫn đến các tác động bất lợi của nhân dân địa phương
có ảnh hưởng đến tài nguyên rừng
- Thuận lợi
- Khó khăn, tồn tại hạn chế
2.3.7 Thực trạng tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý bảo vệ rừng
- Hiện trạng tài nguyên rừng của huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
- Thực trạng công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương
2.3.8 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ
và phát triển rừng huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu
- Các văn bản, chính sách của Nhà nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các báo cáo của các cơn quan, đơn vị liên quan về công tác quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng tại địa phương; các tài liệu, số liệu điều tra về điều kiên
tự nhiên và điều kiện kinh tế của khu vực nghiên cứu
- Tham khảo, kế thừa các số liệu, tài liệu có sẵn liên quan đến hiện trạng rừng, diễn biến tài nguyên rừng, báo cáo công tác bảo vệ và phát triển rừng của địa phương Kế thừa các số liệu từ các dự án về đa dạng sinh học, bảo tồn thiên nhiên; bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương
2.4.2 Điều tra thực địa
2.4.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu
- Đề tài dự kiến chọn 05/10 xã của huyện Mường Ảng để làm điểm nghiên cứu Đồng thời xuống các bản là điểm nghiên cứu thỏa mãn một số tiêu chí sau:
Trang 24+ Thuộc khu vực có nhiều diện tích rừng phòng hộ và rừng sản xuất + Đại diện cho các cộng đồng là chủ rừng thuộc dân tộc thiểu số đặc trưng của khu vực
+ Người dân có nguồn sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên rừng như: canh tác nông nghiệp; sử dụng nguồn nước; sử dụng gỗ, củi, vv
2.4.2.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
- Sử dụng có chọn lọc một số công cụ của RRA và PRA để thu thập thông tin hiện trường, các công cụ sử dụng bao gồm:
+ Phỏng vấn cá nhân Lựa chọn đối tượng phỏng vấn: công cụ này áp dụng với nhóm đối tượng
Nhóm 1: gồm 3-5 cá nhân là cán bộ làm công tác quản lý bảo vệ rừng của huyện Mường Ảng
Nhóm 2 : gồm các cá nhân là cán bộ xã (người) và cán bộ thôn bản (mỗi bản người) và chủ rừng đại diện cộng đồng (người), chủ rừng là cá nhân, hộ gia đình (người)
- Nội dung phỏng vấn cá nhân: Phỏng vấn cá nhân được thực hiện theo chủ đề thông qua bảng hỏi thiết kế sẵn, chủ đề phỏng vấn gồm:
+ Các thông tin chung về tình hình sử dụng đất đai, quản lý bảo vệ rừng tại địa phương; các chủ trương, chính sách, chương trình, dự án liên quan đến quản lý rừng của chính quyền cơ sở
+ Các hình thức và mức độ tác động của cộng đồng, chủ rừng đến tài nguyên rừng và công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng;
+ Nguyên nhân dẫn đến các tác động bất lợi của cộng đồng, nhân dân địa phương đến tài nguyên rừng
- Phỏng vấn hộ gia đình, cá nhân: Chọn hộ gia đình phỏng vấn theo trình tự các bước sau:
+ Tiến hành phân loại hộ gia đình dựa vào khả năng kinh tế, chia thành
3 nhóm hộ: hộ khá, hộ nghèo và hộ trung bình;
Trang 25+ Tại mỗi nhóm hộ lập danh sách các hộ gia đình có theo nhóm cộng đồng dân tộc đặc trưng của khu vực
+ Dựa vào danh sách đã lập chọn ngẫu nhiên 3-5 hộ gia đình ở mỗi nhóm hộ để phỏng vấn
- Nội dung phỏng vấn hộ gia đình: Các hộ gia đình được phỏng vấn dựa vào bảng phỏng vấn bán định hướng được chuẩn bị trước Các nội dung phỏng vấn gồm:
+ Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình
+ Các nguồn tài nguyên được sử dụng để phát triển sinh kế
+ Mức độ khai thác, sử dụng tài nguyên được sử dụng để phát triển sinh kế
+ Thuận lợi, khó khăn trong phát triển kinh tế hộ gia đình
- Thảo luận nhóm: Lựa chọn đối tượng tham gia nhóm thảo luận: mỗi nhóm thảo luận gồm từ 5-7 người, có tuổi đời từ 25 đến 60 tuổi, là những người có uy tín trong cộng đồng và có kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp Mỗi cộng đồng bản điểm tiến hành 1 cuộc thảo luận nhóm
- Nội dung thảo luận:
+ Tầm quan trọng của các nguồn tài nguyên rừng tại địa phương và mức độ lệ thuộc đến công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng
+ Các tác động bất lợi lên tài nguyên rừng và nguyên nhân chính
+ Các giải pháp tiềm năng góp phần giảm thiếu các tác động bất lợi của nhân dân đến công tác quản lý rừng tại địa phương
2.4.2.3 Tham vấn chuyên gia
Sau khi tổng kết các kết quả từ phỏng vấn cá nhân và thảo luận nhóm
sẽ tiến hành tham khảo ý kiến chuyên gia là những cán bộ công tác trong các
cơ quan liên quan đến lĩnh vực lâm nghiệp để bổ sung, hoàn thiện kết quả phân tích tác động bất lợi đối với quản lý bảo vệ và phát triển rừng và tham khảo các khuyến nghị để phục vụ đề xuất giải pháp
Trang 262.4.3 Phương pháp xử lý thông tin
Số liệu sau khi thu thập được tổng hợp, phân loại và phân tích để đưa ra những nhận định, đánh giá khách quan về hiện trạng tài nguyên rừng, thực trạng công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương
Thông tin thu thập từ hiện trường được được phân loại và tổng hợp bằng phương pháp thống kê thông dụng trên phần mềm Excel 2017 Kết quả
xử lý thông tin được thể hiện ở dạng liệt kê, mô tả và mô phỏng bằng biểu đồ, hình ảnh và bảng nhằm nêu rõ các hình thức và mức độ tác động của tự nhiên, con người có ảnh hưởng trực tiếp đến tài nguyên rừng, từ đó xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp sơ bộ, kết hợp với tham khảo ý kiến chuyên gia để
đề xuất giải pháp
Trang 27Luật lâm nghiệp
số 16/2017/QH14, ngày
15/11/2017
- Nghị định 156/2018/NĐ-CP, ngày 16/11/2018 của Chỉnh phủ, Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật lâm nghiệp
- Thông tư số 27/2018/TT-BNNPTNN ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản
- Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Lâm nghiệp
- Thông tư số 32/2018/TT-BNNPTNN ngày 16/11/2018 thông tư của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về quy định phương pháp định giá rừng, khung giá rừng
- Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNN ngày 16/11/2018 thông tư của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng
Trang 28- Nghị định số 01/2019/NĐ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về Kiểm lâm và lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng Luật xử lý vi phạm hành
2018, Kế hoạch số 16/KH-UBND ngày 31/1/2018 của UBND huyện Mường Ảng về Quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng huyện Mường Ảng; tiếp tục thực hiện các Văn bản: Chỉ thị số 18-CT/HU ngày 13/12/2017 của Huyện ủy Mường Ảng về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; Nghị quyết số 03-NQ/HU ngày 13/12/2017 của Huyện ủy Mường Ảng về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Mường Ảng; Nghị quyết số 71/NQ-HĐND ngày 21/12/2017 của HĐND huyện Mường Ảng về bảo vệ và phát triển rừng huyện Mường Ảng giai đoạn 2018 - 2020; Kế hoạch số 164/KH-UBND ngày
Trang 2913/12/2017 của UBND huyện Mường Ảng về bảo vệ và phát triển rừng huyện Mường Ảng giai đoạn 2018-2020, Công văn số 1235/UBND-NN ngày 30/10/2017 của UBND huyện Mường Ảng V/v tăng cường công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô 2017-2018,…
3.2 Điều tra, phân tích vai trò của các bên liên quan trong công tác quản
1
Hạt
kiểm
lâm
1 Tham mưu cho người đứng đầu Kiểm lâm cấp tỉnh
và Ủy ban nhân dân cấp huyện:
a) Xây dựng chương trình, kế hoạch, phương án về quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về lâm nghiệp trên địa bàn quản lý;
b) Phối hợp các cơ quan, tổ chức, lực lượng khác trên địa bàn bảo vệ rừng thuộc sở hữu toàn dân nơi Nhà nước chưa giao, chưa cho thuê;
c) Giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư
2 Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về lâm nghiệp trên phạm vi địa bàn được giao quản lý:
a) Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch, phương án, đề án về quản lý rừng, bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về lâm nghiệp;
b) Hướng dẫn, kiểm tra việc xây dựng kế hoạch quản
lý, bảo vệ rừng; phương án phòng cháy và chữa cháy rừng của chủ rừng; phối hợp với chủ rừng tổ chức
Rất quan trọng
Trang 30thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về lâm nghiệp thuộc địa bàn quản lý;
c) Theo dõi diễn biến rừng, kiểm kê rừng;
d) Tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ về phòng cháy và chữa cháy rừng cho tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng ở
cơ sở; xây dựng lực lượng quần chúng, tổ, đội phòng cháy và chữa cháy rừng, bảo vệ rừng;
đ) Thông tin kịp thời về dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng; triển khai các biện pháp phòng cháy rừng; tham mưu cho cấp có thẩm quyền tổ chức huy động lực lượng, phương tiện trên địa bàn tổ chức chữa cháy rừng;
e) Kiểm tra, xác minh, xác nhận nguồn gốc lâm sản; kiểm tra việc khai thác, vận chuyển, chế biến, mua bán, gây nuôi, trồng cấy các loài động vật rừng, thực vật rừng theo quy định của pháp luật;
g) Tổ chức đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn, bảo đảm chấp hành pháp luật về lâm nghiệp; xử lý vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm hành chính; khởi tố, điều tra vụ án hình sự hành vi vi phạm pháp luật về lâm nghiệp theo quy định của pháp luật;
h) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vận động quần chúng nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển rừng;
i) Quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, phương tiện, trang thiết bị chuyên dụng, đồng phục theo quy định của pháp luật;
k) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo định kỳ
và theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
3 Quản lý, chỉ đạo hoạt động của Trạm Kiểm lâm và
Trang 31Kiểm lâm làm việc tại địa bàn thực hiện các nhiệm vụ tham mưu, giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch, phương án về quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về lâm nghiệp
4 Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao
2 Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ, kiểm tra hiện trường, khám nơi cất giữ lâm sản trái pháp luật, thu giữ, tạm giữ, bảo quản tang vật, kiểm tra phương tiện vận chuyển lâm sản trái phép theo thẩm quyền và theo quy định của pháp luật
3 Xử lý vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm hành chính Thủ trưởng Kiểm lâm trung ương, Thủ trưởng Kiểm lâm vùng, Thủ trưởng Kiểm lâm cấp tỉnh, Thủ trưởng Kiểm lâm cấp huyện, Thủ trưởng Kiểm lâm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ có thẩm quyền khởi tố, điều tra vụ án hình
sự hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực lâm nghiệp theo quy định của pháp luật
4 Được trang bị và sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ, đồng phục, phương tiện, trang thiết bị chuyên dụng theo quy định của pháp luật
5 Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao khác theo quy định của pháp luật
Rất quan trọng
án về phát triển lâm nghiệp bền vững, sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp, canh tác nương rẫy và tổ
Trang 32chức thực hiện tại địa phương;
b) Quản lý diện tích, ranh giới khu rừng; xác nhận hồ
sơ đề nghị giao rừng, thuê rừng đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư theo quy định của pháp luật;
c) Tổ chức quản lý, bảo vệ diện tích rừng Nhà nước chưa giao, chưa cho thuê;
d) Tổ chức thực hiện kiểm kê rừng tại địa phương;
đ) Hướng dẫn cộng đồng dân cư xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn phù hợp với quy định của pháp luật;
e) Tổ chức hoạt động phòng cháy và chữa cháy rừng;
phòng, chống hành vi vi phạm pháp luật về lâm nghiệp trên địa bàn; xử lý vi phạm pháp luật, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực lâm nghiệp tại địa phương theo quy định của pháp luật
- Công an, huyện đội, viện kiểm sát nhân dân, PGD
& ĐT và các tổ chức xã hội khác như Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ…
căn cứ vào quy chế phối hợp và chương trình hành động cùng kiểm lâm để thực hiện quy chế phối hợp
đã ký kết có hiệu quả
- Tuyên truyền, phổ biến luật bảo vệ và phát triển rừng đến các thành viên trong ngành, cơ quan đơn vị mình, vận động nhân dân, gia đình mình tham gia tích cực bảo vệ và phát triển rừng
- Công an, huyện đội, quản lý thị trường phối hợp chặt chẽ với kiểm lâm địa bàn để phối hợp truy quét, xóa bỏ các tụ điểm khai thác, tập kết, buôn bán, vận chuyển lâm sản và động vật trái phép
- Công an huyện tổ chức điều tra, xử lý theo thẩm quyền các tội phạm trong lĩnh vực quản lý bảo
vệ rừng
Quan trọng
Trang 335 Chủ
rừng
1 Quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng bền vững theo Quy chế quản lý rừng, quy định của Luật và quy định khác của pháp luật có liên quan
2 Thực hiện quy định về theo dõi diễn biến rừng
3 Trả lại rừng khi Nhà nước thu hồi rừng theo quy định của Luật này
4 Bảo tồn đa dạng sinh học rừng, thực vật rừng, động vật rừng
5 Phòng cháy và chữa cháy rừng; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng
6 Chấp hành sự quản lý, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
7 Thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Rất quan trọng
6 Người
dân
- Cơ quan Nhà nước, tổ chức, cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ rừng, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về bảo vệ rừng theo quy định của luật này, pháp luật về PCCC, luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật, pháp luật về thú y
và các quy định khác có liên quan
Tổ chức, cá nhân hoạt động trong rừng, ven rừng cótrách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ rừng, thông báo kịp thời với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc chủ rừng về cháy rừng, sinh vật gây hại rừng và hành vi vi phạm quy định về quản
lý, bảo vệ rừng, chấp nhận sự huy động nhân lực, phương tiện của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi có cháy rừng xẩy ra
Quan trọng
vệ và phát triển rừng trên phạm vi toàn huyện
- Chủ trì phối hợp với các phòng ban, các đơn vị có liên quan về việc giao đất gắn với giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, thu hồi đất, chuyển mục
Rất quan trọng
Trang 34đích sử dụng rừng
- Công nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, quyền
sử dụng rừng một cách hợp pháp cho các chủ rừng theo thẩm quyền
- Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch phát triển lâm nghiệp của tỉnh quy hoạch, kế hoạch phát triển lâm nghiệp trên địa bàn huyện theo xu hướng xã hội hóa
có sự tham gia tích cực của người dân
- Hướng dẫn lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch phát triển rừng hằng năm ở các thị trấn, các xã theo chỉ tiêu kế hoạch của cấp trên giao
- Phối hợp với trạm khuyến nông, khuyến lâm, hạt kiểm lâm huyện hướng dẫn các chủ rừng sản xuất kinh doanh rừng có hiệu quả trên diện tích được giao
Rất quan trọng
Trang 35Chương 4
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HÔI TẠI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên – Kinh tế xã hội
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý huyện Mường Ảng
- Tọa độ: 1°33′39″B 103°13′35″Đ
- Diện tích: 443,5 km²
- Phía bắc giáp huyện Tuần Giáo và huyện Mường Chà
- Phía đông giáp huyện Tuần Giáo
- Phía tây giáp huyện Điện Biên;
- Phía nam giáp huyện Điện Biên Đông và huyện Thuận Châu của tỉnh Sơn La
Hình 4.1 Vị trí địa lý huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
Trang 364.1.1.2 Địa hình
Là huyện có địa hình phức tạp, được hình thành bởi các dãy núi cao, sườn dốc Các dãy núi này phần lớn là núi đá vôi, rải rác khắp địa bàn huyện, nằm xen với các dãy núi đá vôi này là những thung lũng hẹp, khá bằng phẳng Huyện nằm ở phía Đông tỉnh Điện Biên, trung tâm huyện là thị trấn Mường Ảng
4.1.1.3 Khí hậu, thuỷ văn
Khí hậu Mường Ảng mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản của khí hậu vùng núi Tây Bắc Việt Nam, đó là khí hậu nhiệt đới núi cao, có hai mùa rõ rệt:
+ Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
+ Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 tới tháng 10
+ Nhiệt độ trung bình đạt khoảng 21 - 23oC
+ Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm đạt khoảng 86 - 90%
Điều kiện khí hậu ở Mường Ảng thích hợp với nhiều loại cây trồng vật nuôi, đây là một trong những điều kiện thuận lợi để huyện có thể đẩy mạnh phát triển sản xuất đa dạng các loại các loại sản phẩm hàng hoá
* Đặc điểm về thuỷ văn:
Là một huyện có hệ thống sông và suối tương đối ít và khá đơn giản Trên toàn huyện không có sông lớn Hệ thống suối của Mường Ảng chủ yếu bao gồm 204 con suối chính đó là: Suối Nậm Lạn, Nậm Lịch, Nậm Cô và Nậm Ẳng
Hệ thống suối của Mường Ảng có đặc điểm đều bắt nguồn từ các đỉnh núi cao, có độ dốc lớn, do vậy về mùa mưa thường dễ gây lũ đột ngột
* Đặc điểm về môi trường và thiên tai
Hiện nay môi trường của Mường Ảng đã và đang bị xâm hại, diện tích rừng bị suy giảm trong một thời gian dài, hiện tượng sói mòn, sạt lở đất đai thường xảy ra vào mùa mưa, gây thiệt hại lớn đến sản xuất và cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện Là một huyện vùng cao của khu vực Tây Bắc, Mường
Trang 37Ảng cũng như nhiều huyện khác thường xuyên chịu ảnh hưởng của hiện tượng dông, mưa đá, sương muối…
4.1.1.4 Các dạng tài nguyên thiên nhiên khu vực
* Tài nguyên đất đai
Diện tích và cơ cấu sử dụng đất: Huyện Mường Ảng có tổng diện tích đất tự nhiên là 44.352,2 ha, nhìn chung đất đai của Mường Ảng khá phong phú về chủng loại, thích hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau, đặc biệt là các loại cây công nghiệp và cây lâm nghiệp So với một số huyện khác như Tủa Chùa, Tuần Giáo, Mường Chà thì đất đai của huyện Mường Ảng khá phì nhiêu, có độ dốc không lớn lắm, tầng canh tác dầy Theo số liệu thống kê năm 2008, diện tích đất nông - lâm nghiệp của huyện có 39.476,93 ha, chiếm 89,01%; trong đó đất sản xuất nông nghiệp có 13.400,11 ha, đất lâm nghiệp
có 5.968, ha, đất nông nghiệp có khoảng 108,6ha; diện tích đất phi nông nghiệp có 868,7 ha chiếm 1,96%, diện tích đất chưa sử dụng có 4.006,57 ha chiếm 9,03% so với tổng diện tích đất tự nhiên của huyện
* Tài nguyên khoáng sản
Nhìn chung Mường Ảng là huyện có ít tài nguyên khoáng sản, do chưa có điều kiện để thăm dò và đánh giá kỹ cho nên sơ bộ qua các tài liệu hiện có tới thời điểm này cho thấy:Tài nguyên khoáng sản của huyện Mường Ảng chỉ có một số loại chủ yếu như: Mỏ cát ở xã Búng Lao, mỏ đá ở Thị trấn Mường Ảng
và xã Ẳng Nưa, đất sét làm gạch ngói ở khu vực Búng Lao, Thị trấn Mường Ảng
và một số xã khác trên địa bàn Với nguồn tài nguyên khoáng sản như vậy, Mường Ảng ít có cơ hội để phát triển mạnh các ngành công nghiệp khai khoáng
và công nghiệp sử dụng tài nguyên khoáng sản trên địa bàn Do vậy định hướng phát triển kinh tế của huyện trong thời gian tới đối với ngành công nghiệp cần tập trung vào đầu tư phát triển công nghiệp chế biến nông lâm sản
* Tài nguyên du lịch
Là một huyện miền núi, có khí hậu mát mẻ, lại có vị trí nằm trên trục đường quốc lộ 279 nối liền giữa hai đô thị lớn của tỉnh Điện Biên đó là Thành
Trang 38phố Điện Biên Phủ và thị trấn Tuần Giáo, mặt khác lại gần với một số điểm
du lịch quan trọng của tỉnh Điện Biên cho nên Mường Ảng có điều kiện phù hợp để xây dựng các điểm nghỉ dừng chân của du khách trong các tua du lịch đường dài nằm trên tuyến du lịch đi qua huyện
Với đặc điểm về địa hình khá đa dạng, có nhiều đồi núi và những cảnh quan đẹp, có thể khai thác để phục vụ phát triển du lịch, mặt khác Mường Ảng cũng là nơi địa bàn có con người đến cư trú khá sớm, Trong quá trình lịch sử phát triển, Mường Ảng đã từng bước đi lên với một cộng đồng dân tộc khá phong phú, hiện nay trên toàn huyện có nhiều dân tộc anh em khác nhau sinh sống như: dân tộc Thái, Hơ Mông, Khơ mú, Kinh, Kháng,v.v Mỗi dân tộc đều có những nét văn hoá đặc trưng riêng gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể, những thiết chế văn hoá xã hội truyền thống của từng dân tộc,v.v tạo nên một nền văn hoá phong phú, đa dạng, như người Hơ Mông, người Thái có chữ viết riêng, có phong tục tập quán trong sản xuất, sinh hoạt, và trong tín ngưỡng, hội hè những nét văn hoá độc đáo đó chính là tài nguyên
du lịch nhân văn hấp dẫn thu hút khách du lịch trong thời gian tới
* Tài nguyên rừng và đất rừng
- Tài nguyên rừng:
Tính đến năm 2008 diện tích đất lâm nghiệp của Mường Ảng là 25.968,2
ha chiếm 58,55% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, trong đó diện tích đất
có rừng phòng hộ là 25.933,2 ha và đất có rừng sản xuất là 35 ha
Trong thời gian qua việc phát triển tài nguyên rừng của huyện đạt tỷ lệ
chưa cao, hầu hết diện tích đất có rừng hiện nay đều là rừng phòng hộ (diện tích cây phân tán chiếm tỷ lệ không đáng kể) Phần lớn rừng ở Mường Ảng
hiện nay có chất lượng và trữ lượng không cao, chỉ có tác dụng phòng hộ và cung cấp chất đốt, các loại gỗ quý như: lát, lim, nghiến, pơ mu, thông hiện còn không nhiều Các loại động vật quý hiếm đã bị suy giảm tới mức báo động - Đất rừng: Là một huyện vùng thấp của tỉnh Điện Biên mới được thành
Trang 39lập từ tháng 11/2006, Mường Ảng có diện tích đất lâm nghiệp tương đối thấp
so với một số huyện khác như Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo, Điện Biên với tổng diện tích đất lâm nghiệp của toàn huyện là 25.968,2 ha chiếm khoảng 3,1% so với tổng diện tích đất lâm nghiệp của toàn tỉnh Tiềm năng về đất để duy trì và phát triển rừng của Mường Ảng là không lớn, do vậy trong thời gian tới cần đẩy mạnh việc khoanh nuôi, bảo vệ, tu bổ diện tích rừng để từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tăng nhanh tỷ lệ che phủ của rừng nhằm thực hiện tốt chức năng phòng hộ và phục vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện
- Tài nguyên nước và thuỷ năng
Với địa hình có độ dốc không cao lắm so với một số khu vực khác của tỉnh Điện Biên, nguồn tài nguyên nước của huyện không được dồi dào, trên địa bàn huyện không có sông lớn, ngoài một số suối chính như suối Nậm Lịch, suối Nậm Cô, Nậm Lạn, Nậm Ẳng Thuỷ năng có thể khai thác để phục vụ phát triển thuỷ điện tại chỗ được tập trung ở khu vực các xã Xuân Lao, Búng Lao Nhìn chung tài nguyên nước và tiềm năng về thuỷ năng ở Mường Ảng là khá khiêm tốn, đặc biệt là nguồn nước sử dụng phục vụ sản xuất và sinh hoạt còn gặp nhiều khó khăn vào mùa khô Hiện nay huyện đã và đang tiến hành xây dựng các công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ cùng việc kiên cố hoá hệ thống kênh mương, cùng hệ thống hồ đập như hồ chứa Ẳng Cang, kè Búng Lao
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Dân cư
Toàn huyện có 9 xã và 1 thị trấn, trong đó: 8 xã vùng III hưởng chính
sách 135, 01 xã vùng II (có 4 bản được hưởng chính sách 135) và 2012 xã
vùng I Tỷ lệ đói nghèo: 56,33%
Dân số: 38.951 người (tính đến 31/1/2008), trong đó: Dân tộc Thái:
78,1%; Mông: 11,8%; Kinh: 8,43%; Dân tộc khác: 1,67% Số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động: 3.714 người
Trang 40Nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Trình độ dân trí thấp và không đồng đều giữa các vùng Cơ sở vật chất trang thiết bị còn nhiều thiếu thốn và chưa được đầu tư đồng bộ 100% số xã cơ sở
hạ tầng còn gặp nhiều khó khăn; Đường đi từ trung tâm huyện đến xã trước đây đa số chỉ đi được vào mùa khô, đến nay các xã đã có đường nhựa đi từ trung tâm huyện đi các xã; Toàn huyện không có xã nào chưa có điện lưới quốc gia
- Về dân số
Dân số trung bình của huyện năm 2008 là 38.951 người, trong đó dân
số nông thôn có 35.105 người chiếm 90% tổng dân số của huyện Mật độ dân
số đạt 88 người/km, phân bố không đều ở các xã trong huyện, phần lớn dân số tập trung đông ở các xã nằm ven trục quốc lộ 279 và các tuyến đường liên xã như: Búng Lao, Ẳng Tở, Ẳng Nưa, Ẳng Cang, Thị trấn Mường Ảng Trong thời gian qua Mường Ảng đã thực hiện tốt công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình, tỷ lệ tăng tự nhiên đã đạt mức 1,79% ở năm 2008 Là huyện mới thành lập nên số lượng dân cư ở các vùng chưa được ổn định, đặc biệt ở khu vực thị trấn Mường Ảng Hiện nay tỷ lệ dân số thành thị của huyện chiếm một tỷ lệ thấp (gần 10%) so với tổng số dân của toàn huyện Đây là chỉ tiêu phản ánh trình độ đô thị hoá của huyện còn khiêm tốn trong thời gian qua
Mường Ảng là đơn vị hành chính mới thành lập trên cơ sở được tách ra
từ huyện Tuần Giáo, nền kinh tế của huyện còn kém phát triển, điểm xuất phát còn khá thấp so một số huyện khác trong tỉnh Điện Biên Sự phát triển dân số sẽ có tác động lớn đến quá trình phát triển kinh tế và ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người dân trên địa bàn huyện Do vậy để góp phần tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển một cách bền vững, ngay từ bây giờ Mường Ảng cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt việc sinh đẻ có kế hoạch, đồng thời phải tiến hành việc bố trí dân
cư một cách hợp lý trên cơ sở gắn với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trên