Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại và dịch vụ lớn nhất cả nước, với cơ cấu kinh tế chủ yếu gồm Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp, chiếm tới 1/3 GDP quốc gia Mỗi năm, hàng ngàn doanh nghiệp mới được thành lập tại đây, tuy nhiên khả năng cạnh tranh trong ngành dịch vụ vẫn còn thấp so với thế giới Nguyên nhân chính ngoài thiếu vốn còn do hạn chế về trình độ quản lý của phần lớn chủ doanh nghiệp, dẫn đến việc chưa chú trọng đúng mức công tác kế toán quản trị Do đó, các quyết định kinh doanh thường dựa trên kinh nghiệm cảm tính thay vì dữ liệu cụ thể về tình hình doanh nghiệp và thị trường, khiến doanh nghiệp Việt Nam khó có thể tồn tại và phát triển bền vững trong nền kinh tế hiện nay.
Dịch vụ bao gồm các hoạt động đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của con người, với cơ cấu phân ngành rộng nhất và vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế hiện đại Thương mại và dịch vụ thúc đẩy sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóa, góp phần phát triển thương mại trong nước và quốc tế Sự tăng trưởng của ngành thương mại và dịch vụ không chỉ là động lực phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng tích cực đến phân công lao động xã hội Ngoài ra, ngành dịch vụ còn giúp khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, di sản văn hóa, lịch sử và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại phục vụ con người.
Nâng cao chất lượng và hiệu quả kế toán quản trị tại các doanh nghiệp là yêu cầu cấp thiết giúp doanh nghiệp duy trì và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt và hội nhập sâu rộng hiện nay Chất lượng công tác kế toán quản trị có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến việc nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp Do đó, cần xây dựng một mô hình tổ chức kế toán quản trị phù hợp với trình độ quản lý và quy mô hoạt động của từng doanh nghiệp.
Hai nghiệp vụ này nhằm tạo ra những thông tin hữu ích cho người sử dụng, đồng thời đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích và chi phí.
Tổ chức công tác kế toán quản trị là nội dung quan trọng trong quản lý doanh nghiệp, bao gồm việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định nội bộ Kế toán quản trị đóng vai trò thiết yếu trong việc cung cấp thông tin giúp nhà quản trị thực hiện hiệu quả các chức năng lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra và ra quyết định.
Tổ chức công tác kế toán quản trị phù hợp với quy mô hoạt động, đặc điểm sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và chất lượng doanh nghiệp Việc cung cấp thông tin kế toán quản trị hữu ích đáp ứng nhu cầu của các đối tượng liên quan, góp phần cải thiện công tác quản lý Tuy nhiên, hiện nay, kế toán quản trị tại các doanh nghiệp ngành dịch vụ trên địa bàn TPHCM còn yếu và chưa được chú trọng đúng mức.
Các báo cáo kế toán quản trị (KTQT) không mang tính pháp lý bắt buộc mà chỉ xuất phát từ yêu cầu của người quản lý doanh nghiệp, nên nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, thường bỏ qua Nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu hiểu biết về KTQT và chi phí thiết lập hệ thống KTQT trong doanh nghiệp Tuy nhiên, việc bỏ qua KTQT là một sai lầm lớn, khiến nhiều chủ doanh nghiệp phải chịu hậu quả nghiêm trọng.
Qua quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng công tác kế toán quản trị tại phần lớn các doanh nghiệp vẫn chưa được triển khai một cách cụ thể và đầy đủ.
Một số doanh nghiệp đã áp dụng kế toán quản trị nhưng công tác này vẫn còn đơn giản và chưa phát huy hết hiệu quả Mặc dù nhận thức được lợi ích và tầm quan trọng của kế toán quản trị, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa tổ chức triển khai một cách bài bản và hiệu quả.
Công tác tổ chức kế toán quản trị thường phải thiết kế riêng cho từng doanh nghiệp, khác với kế toán tài chính áp dụng theo khuôn mẫu chung Do đó, chi phí tổ chức kế toán quản trị thường cao và cần có bộ phận kế toán riêng để thu thập, xử lý dữ liệu thông tin kế toán phục vụ cho kế toán quản trị Việc triển khai tổ chức kế toán quản trị đã gặp không ít khó khăn trong thực tiễn.
Tác giả đã lựa chọn nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nhằm làm rõ những vấn đề nổi bật và nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong lĩnh vực này.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu nhằm đáp ứng các mục tiêu sau:
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức KTQT tại các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ trên địa bàn TP HCM
- Xác định mức độ tác động của từng nhân tố đến công tác tổ chức KTQT tại các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ trên địa bàn TP HCM
- Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp ngành dịch vụ hoàn thiện công tác tổ chức KTQT.
Câu hỏi nghiên cứu
Dựa trên các nghiên cứu trước đây và lý thuyết liên quan, đề tài tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức kế toán quản trị tại các doanh nghiệp ngành dịch vụ trên địa bàn TP HCM nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và hoạt động kinh doanh.
Mức độ tác động của từng nhân tố đến công tác tổ chức kế toán quản trị tại các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ trên địa bàn TP HCM đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính và ra quyết định Việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình kế toán, đảm bảo tính chính xác và kịp thời của thông tin quản trị Đồng thời, việc tổ chức kế toán quản trị hiệu quả góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững cho các doanh nghiệp dịch vụ tại TP HCM.
Từ nghiên cứu này các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ có giải pháp gì để nâng cao hiệu quả trong tổ chức công tác KTQT?
Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tổ chức công tác kế toán quản trị (KTQT) tại các doanh nghiệp ngành dịch vụ trên địa bàn TP.HCM, đồng thời phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này Nghiên cứu lựa chọn những yếu tố phù hợp và đặc thù, phản ánh bối cảnh kinh tế thị trường mở cửa mới của Việt Nam, nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức công tác KTQT trong các doanh nghiệp dịch vụ tại TP.HCM.
Nghiên cứu bao gồm các nội dung sau:
-Nghiên cứu các công trình có liên quan đến luận văn để tìm ra khe hổng nghiên cứu
-Nghiên cứu các cơ sở lý thuyết liên quan đến việc vận dụng KTQT tại các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ
-Xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc tổ chức công tác KTQT trong ngành dịch vụ trên địa bàn TP HCM
-Xây dựng và thiết kế thang đo các nhân tố tác động
-Đánh giá độ tin cậy của thang đo, kiểm định giá trị thang đo, kiểm định giả thuyết nghiên cứu và kiểm định mô hình nghiên cứu
-Đề xuất những giải pháp để tổ chức công tác KTQT
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được áp dụng là phương pháp hỗn hợp kết hợp phương pháp định tính và định lượng Cụ thể như sau:
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua khảo sát, phỏng vấn và xin ý kiến chuyên gia nhằm hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến cơ sở lý luận cho công tác tổ chức kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp ngành dịch vụ Nội dung và kết quả của nghiên cứu sơ bộ được sử dụng làm cơ sở xây dựng bảng thảo luận tay đôi, từ đó tiến hành hiệu chỉnh và bổ sung các biến quan sát để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tổ chức công tác kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp ngành dịch vụ Kết quả nghiên cứu sơ bộ cuối cùng là bảng câu hỏi hoàn chỉnh phục vụ cho nghiên cứu chính thức.
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng cách chọn mẫu và gửi bảng khảo sát trực tiếp đến các đối tượng liên quan đến tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ tại TP HCM Dữ liệu thu thập được sau đó được kiểm định độ tin cậy bằng phần mềm SPSS, sử dụng các công cụ như Chi bình phương (Chi-square), Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy đa biến nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán kiểm toán, đồng thời phát hiện các yếu tố mới và đo lường mức độ tác động của chúng.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Thứ nhất, khám phá các nhân tố ảnh hưởng tới tổ chức công tác KTQT tại các
DN trong ngành dịch vụ trên địa bàn TPHCM
Thứ hai, việc đo lường mức độ tác động của từng nhân tố trong tổ chức công tác kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp ngành dịch vụ trên địa bàn TP HCM được thực hiện thông qua các phương pháp định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính chính xác và toàn diện.
Thứ ba, từ những khám phá quan trọng, tác giả đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong tổ chức công tác kiểm tra, giám sát (KTQT) Những đề xuất này có ý nghĩa thực tiễn lớn, giúp cải thiện quy trình và nâng cao chất lượng công tác KTQT trong các tổ chức.
Thông qua việc tổng hợp thực tiễn tổ chức công tác kiểm toán nội bộ tại một số quốc gia và khu vực, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức công tác kiểm tra, giám sát trong các ngành dịch vụ, góp phần cải thiện chất lượng và hiệu suất hoạt động.
- Ba là, kết quả nghiên cứu này cũng góp phần làm tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích cho các nghiên cứu khoa học liên quan khác.
Cấu trúc của luận văn
Luận văn bao gồm 5 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Tổ chức công tác kiểm toán nội bộ đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp Nhiều nghiên cứu đã được công bố nhằm xây dựng nền tảng lý luận vững chắc về tổ chức công tác kiểm toán nội bộ Các công trình này cũng đề xuất nhiều giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức và vận hành công tác kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp.
Qua việc nghiên cứu các công trình trên thế giới, tác giả nhận thấy tiến trình và xu hướng phát triển của kế toán quản trị (KTQT) đã trải qua từ việc áp dụng các công cụ kỹ thuật quản trị sơ khai đến các hệ thống hoạch định phát triển phức tạp hiện nay KTQT liên tục thay đổi để đáp ứng nhu cầu đa dạng của doanh nghiệp (DN) và chịu ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Mặc dù trước đây ít nghiên cứu tập trung vào việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), nhưng do sự gia tăng cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa, ngày càng nhiều nghiên cứu đã khảo sát thực trạng áp dụng KTQT trong DNNVV tại cả các nước phát triển và đang phát triển Các nghiên cứu này đã chỉ ra mức độ tổ chức, các kỹ thuật được sử dụng trong DN, đồng thời thông qua các phương pháp định tính và định lượng đã xác định được một số nhân tố ảnh hưởng đến công tác KTQT trong DN.
Các nghiên cứu này chủ yếu liên quan đến các nước thị trường phát triển và đặc thù kinh tế xã hội, chính trị, văn hóa riêng biệt của từng quốc gia Vì vậy, kết quả nghiên cứu chỉ phù hợp với một số quốc gia nhất định và còn khá xa rời với điều kiện thực tế tại Việt Nam.
Sau thập niên 90, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào sự thay đổi trong việc vận dụng kế toán quản trị (KTQT) tại các doanh nghiệp Tại châu Âu, nghiên cứu của Abdel-Kader và Luther (2006) về ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống tại Anh cho thấy các doanh nghiệp vẫn phổ biến sử dụng các công cụ kỹ thuật KTQT truyền thống, nhưng đồng thời cũng bắt đầu áp dụng các công cụ tiên tiến như thông tin chi phí chất lượng và các thước đo phi tài chính liên quan đến nhân viên Điều này phản ánh xu hướng chuyển dịch trong phương pháp quản lý kế toán nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Bảy tác giả khác đã tiến hành nghiên cứu về việc vận dụng kế toán quản trị tại các doanh nghiệp châu Âu trong nhiều lĩnh vực như chi phí, hoạch định và kiểm soát, hệ thống đo lường và đánh giá, cũng như các hệ thống thông tin hỗ trợ ra quyết định Các nghiên cứu này chỉ ra rằng các công cụ kỹ thuật hiện đại đóng vai trò bổ sung, không thay thế cho các công cụ kỹ thuật truyền thống.
Tại các nước Châu Á – Thái Bình Dương, nghiên cứu của Scarbrough et al (1991)
Các nghiên cứu về tổ chức kế toán quản trị (KTQT) tại Nhật Bản cho thấy các doanh nghiệp Nhật không tập trung phát triển phương pháp cải tiến đánh giá chi phí sản phẩm và hàng tồn kho như các nước phương Tây, mà thay vào đó chú trọng vào phân tích chi phí phục vụ ra quyết định và kiểm soát chi phí bằng các công cụ kỹ thuật KTQT như chi phí mục tiêu, TQC, TPM, JIT, VE và ROS Trong khi đó, nghiên cứu của Bhimani (2002) về KTQT tại châu Âu nhấn mạnh sự thành công của hệ thống KTQT phụ thuộc vào sự tương thích giữa văn hóa hệ thống và văn hóa đội nhóm, minh họa qua trường hợp tập đoàn Siemens Nghiên cứu của Kober et al (2007) về mối quan hệ giữa cơ chế kiểm soát quản lý và chiến lược chỉ ra rằng hệ thống KTQT và chiến lược có sự phụ thuộc và tác động lẫn nhau; các cơ chế kiểm soát quản trị trong hệ thống có thể ảnh hưởng đến sự thay đổi chiến lược, giúp doanh nghiệp thích ứng với biến động bên ngoài dù có sự khác biệt về quan điểm trong nhóm quản trị cấp cao.
Theo Laitinen (2003) “Future-based management accounting: a new approach with survey evidence”(KTQT dựa trên tương lai: một cách tiếp cận mới với các bằng
8 chứng thực nghiệm), các nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của KTQT được dán nhãn là
Các nhân tố đóng vai trò động cơ thúc đẩy sự thay đổi trong kế toán quản trị (KTQT) được các nhà nghiên cứu phân loại rõ ràng, bao gồm các nhân tố khuyến khích như sự cạnh tranh thị trường, cấu trúc doanh nghiệp và công nghệ sản xuất; các chất xúc tác như yếu kém tài chính, sụt giảm thị phần và thay đổi tổ chức; cùng các nhân tố làm quá trình thay đổi dễ dàng hơn như nguồn nhân lực kế toán và mức độ tự trị Sự tương tác giữa các yếu tố này không chỉ thúc đẩy thay đổi trong KTQT mà còn ảnh hưởng đến cấu trúc và chiến lược doanh nghiệp Laitinen (2003) chia các nhân tố thành sáu nhóm chính gồm nhu cầu thông tin, thay đổi công nghệ và môi trường, sự sẵn sàng thay đổi, nguồn lực, mục tiêu và yêu cầu bên ngoài, đồng thời phân loại thành các nhóm nhân tố doanh nghiệp, tài chính, thúc đẩy và kỹ thuật quản trị để giải thích sự biến đổi của KTQT Môi trường kinh doanh và công nghệ được xem là nhân tố khuyến khích quan trọng trong quá trình thay đổi KTQT và các yếu tố doanh nghiệp liên quan Các nghiên cứu cũng nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ và tương tác qua lại giữa các nhân tố thúc đẩy, nhân tố doanh nghiệp và các yếu tố khác trong quá trình thay đổi KTQT dưới góc nhìn nguyên nhân - kết quả.
Sự thay đổi trong môi trường và công nghệ được xem là những nhân tố thúc đẩy chính giải thích sự biến đổi của hệ thống kế toán quản trị (KTQT) và các yếu tố khác trong doanh nghiệp như cấu trúc và chiến lược Các nhân tố cấu trúc và chiến lược trong doanh nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ với KTQT trong bối cảnh thay đổi chung, trong khi các yếu tố tài chính đóng vai trò là sản phẩm đầu ra phản ánh sự thay đổi của KTQT và cấu trúc doanh nghiệp Nghiên cứu của Granlund (2001) chỉ ra rằng các chỉ số tài chính yếu kém tạo áp lực kinh tế buộc doanh nghiệp phải thay đổi cách vận dụng các kỹ thuật KTQT nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Tương tự, Baines và Langfield-Smith (2003) cũng khẳng định rằng sự thay đổi trong KTQT dựa trên việc sử dụng thông tin kế toán đáng tin cậy là tiền đề quan trọng để thúc đẩy sự cải tiến trong hệ thống này.
Sự cải thiện về thành tích của doanh nghiệp sẽ dẫn đến các kết quả tài chính tích cực, phản ánh sự thay đổi trong kế toán quản trị (KTQT) Một nghiên cứu tổng hợp thực tiễn tại Úc, Anh và Mỹ do Lobo et al (2004) thực hiện với tiêu đề “The Future of Management Accounting: A South Australian Perspective” đã chỉ ra vai trò quan trọng của các nhân tố môi trường bên ngoài và các yếu tố thuộc doanh nghiệp trong việc thúc đẩy sự thay đổi của KTQT.
Nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến doanh nghiệp bao gồm sự toàn cầu hóa của các thị trường, tiến bộ vượt bậc trong công nghệ thông tin và các công cụ kỹ thuật sản xuất hiện đại, cùng với sự gia tăng mạnh mẽ của cạnh tranh trên thị trường.
Nhân tố thuộc về doanh nghiệp bao gồm năng lực lõi, mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng và nhà cung ứng, cùng với việc giảm biên chế, gia công, cấu trúc doanh nghiệp phẳng hơn và sự hợp tác đồng đội hiệu quả trong nội bộ doanh nghiệp.
Khi nghiên cứu về nhu cầu của việc vận dụng KTQT trong các DN, Nandan (2010)
Nhu cầu kế toán quản trị (KTQT) của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) rất quan trọng do họ thường gặp phải những khó khăn tương tự dẫn đến nguy cơ thất bại cao, đặc biệt trong quản lý và phân bổ nguồn lực Thông tin KTQT kịp thời, chính xác và đáng tin cậy đóng vai trò then chốt trong việc hỗ trợ các DNNVV phát triển và duy trì hoạt động kinh doanh hiệu quả Theo Birkett et al (1992), nhu cầu áp dụng KTQT của DNNVV phụ thuộc vào mức độ phức tạp và sự thay đổi trong chiến lược, cấu trúc cũng như tài chính doanh nghiệp ở từng giai đoạn phát triển, từ khởi đầu đến khi kết thúc Quy mô và nguồn lực thay đổi theo từng giai đoạn ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu sử dụng kế toán tài chính và kế toán chi phí, đồng thời mức độ chi tiết của KTQT cũng biến động theo sự phức tạp ngẫu nhiên trong kinh doanh Tuy nhiên, nhiều nhà quản trị DNNVV còn thiếu năng lực về KTQT, do đó vai trò của các kế toán viên chuyên nghiệp trở nên thiết yếu để đáp ứng nhu cầu vận dụng KTQT một cách hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực quản lý và phát triển bền vững cho các DNNVV.
KTQT, các chủ DN thường phải tìm kiếm các lời tư vấn từ các tổ chức hoặc hiệp hội kế toán chuyên nghiệp bên ngoài (Mitchell and Reid, 2000)
Nghiên cứu của Abdel-Kader và Luther, R.(2008) “The impact of firm characteristics on management accounting practices: A UK-based empirical analysis”
Nghiên cứu thực nghiệm tại Anh trên 658 doanh nghiệp ngành công nghiệp thực phẩm và nước giải khát đã phân tích tác động của mười nhân tố đến mức độ phức tạp trong vận dụng kế toán quản trị (KTQT) Các yếu tố được khảo sát bao gồm nhận thức về sự bất ổn của môi trường, thiết kế tổ chức, quy mô doanh nghiệp, hệ thống xử lý, kỹ thuật sản xuất tiên tiến (AMT), quản trị chất lượng toàn diện (TQM), quản trị Just in Time (JIT), chiến lược doanh nghiệp, sức mạnh nguồn lực khách hàng và mức độ dễ hư hỏng của hàng hóa Kết quả cho thấy chỉ có nhận thức về sự bất ổn môi trường, thiết kế tổ chức phân quyền, quy mô doanh nghiệp, kỹ thuật sản xuất tiên tiến (AMT), quản trị chất lượng toàn diện (TQM), quản trị Just in Time (JIT) và sức mạnh nguồn lực khách hàng thực sự ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong doanh nghiệp.
Các công trình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, theo khảo sát trong Top 500 doanh nghiệp lớn nhất, có đến 68% doanh nghiệp đã và đang áp dụng các công cụ kỹ thuật đánh giá, đo lường chiến lược cho doanh nghiệp Đồng thời, theo Diễn đàn VNR500, 7% doanh nghiệp đã áp dụng thẻ Bảng điểm cân bằng và 36% doanh nghiệp đang lên kế hoạch triển khai công cụ này trong quá trình xây dựng chiến lược Tuy nhiên, các nghiên cứu từ 1997 đến 2010 cho thấy nhiều doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, vẫn chưa chú trọng vận dụng các kỹ thuật quản trị chiến lược hoặc chưa có bộ máy chuyên biệt để phục vụ nhu cầu quản trị hiệu quả.
Các nghiên cứu trong nước về KTQT trong DN thì có các công trình tiêu biểu như sau:
Phạm Văn Dược (1997) đã nghiên cứu về phương hướng xây dựng nội dung và tổ chức vận dụng kiến thức quản trị (KTQT) vào các doanh nghiệp Việt Nam trong luận án tiến sĩ tại Trường Đại học Kinh Tế Công trình này tập trung phân tích các chiến lược phát triển nội dung quản trị phù hợp với đặc thù doanh nghiệp Việt, đồng thời đề xuất các giải pháp tổ chức hiệu quả nhằm nâng cao năng lực quản lý và cạnh tranh trên thị trường Qua đó, nghiên cứu góp phần thúc đẩy ứng dụng KTQT vào thực tiễn doanh nghiệp, giúp cải thiện hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững.
Luận án của tác giả đã tổng hợp các quan điểm về kiến thức quản trị (KTQT) và đề xuất phương hướng xây dựng nội dung cũng như tổ chức vận dụng KTQT trong doanh nghiệp (DN) Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng KTQT trong các DN Việt Nam, góp phần phát triển quản trị doanh nghiệp bền vững và phù hợp với thực tiễn kinh doanh hiện nay.
Phạm Châu Thành (2001) trong luận án tiến sĩ tại Trường Đại học Kinh Tế TPHCM đã tổng hợp các lý luận về kiểm toán nội bộ (KTQT) cùng với thực trạng công tác KTQT trong các doanh nghiệp thương mại Việt Nam Từ đó, tác giả đề xuất các quan điểm và nội dung chủ yếu nhằm vận dụng KTQT vào các doanh nghiệp thương mại Việt Nam thông qua các mô hình cụ thể, nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng KTQT trong thực tiễn.
Phạm Ngọc Toàn (2010) trong luận án tiến sĩ tại Trường Đại học Kinh tế TPHCM đã tổng hợp, phân tích và trình bày các nội dung cũng như tổ chức kiểm toán nội bộ (KTQT) trong doanh nghiệp, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức KTQT của một số quốc gia châu Á và các nước phát triển Tác giả cũng khảo sát thực trạng tổ chức và nội dung KTQT đang áp dụng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Việt Nam, từ đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm hỗ trợ DNNVV tổ chức tốt hoạt động KTQT, nâng cao chất lượng cung cấp thông tin phục vụ cho các quyết định quản lý hiệu quả.
Luận án tiến sĩ của Trần Ngọc Hùng (2016) tại Trường Đại học Kinh tế TPHCM đã tổng hợp các nghiên cứu về kế toán quản trị (KTQT) từ nhiều quốc gia châu Á và các nước phát triển, đồng thời phân tích nội dung và tổ chức KTQT trong doanh nghiệp Tác giả đã nghiên cứu, xác định các nhân tố ảnh hưởng cùng mức độ tác động của chúng đến việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Việt Nam Dựa trên kết quả nhận diện các nhân tố này, luận án đề xuất một số chính sách nhằm nâng cao hiệu quả và tính khả thi của việc áp dụng KTQT trong các DNNVV tại Việt Nam.
Bùi Thị Nhân (2015) trong luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học Công Nghệ TPHCM đã tổng hợp các lý luận về kế toán quản trị chi phí và đánh giá thực trạng vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp lĩnh vực công nghệ thông tin tại khu vực TP.HCM Nghiên cứu này xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ tác động đến việc áp dụng kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp CNTT, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chi phí và hỗ trợ ra quyết định chính xác hơn.
12 của từng nhân tố đến việc vận dụng KTQT trong các DN và từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác KTQT tại các DN này.
Nhận xét và xác định khe hổng nghiên cứu
Qua tổng hợp các công trình nghiên cứu liên quan đến kế toán quản trị, có thể thấy đây là lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam quan tâm Hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng phương pháp định lượng, dựa trên lý thuyết nền tảng và đặc điểm kinh tế - xã hội của từng quốc gia để xây dựng và kiểm định mô hình Ở Việt Nam, mặc dù có nhiều nghiên cứu về hoạt động kế toán quản trị trong doanh nghiệp, nhưng các bài báo và đề tài vẫn chưa bao quát đầy đủ các vấn đề tổ chức công tác kế toán quản trị hoặc chưa phân tích sâu các khía cạnh cần thiết khác.
Kết quả tổng hợp từ các công trình nghiên cứu đã công bố cho thấy thiếu vắng các nghiên cứu chuyên sâu sử dụng phương pháp định lượng và định tính với độ tin cậy cao để nghiên cứu toàn diện về các nhân tố ảnh hưởng tới công tác tổ chức kế toán quản trị của doanh nghiệp ngành dịch vụ Điều này khẳng định đây là mảng yếu và là khoảng trống trong nghiên cứu kế toán tại Việt Nam, cần được bổ sung bởi các nghiên cứu trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý kế toán.
Dựa trên việc xác định các khe hổng nghiên cứu trước đó, bài viết tiếp tục nghiên cứu một cách trực tiếp và hệ thống về các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ tại TP.HCM, đồng thời đo lường mức độ tác động của từng nhân tố nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp này.
Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây do các nhà khoa học trong và ngoài nước thực hiện, nhằm làm rõ cơ sở lý thuyết và thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Từ các nghiên cứu trước đây, tác giả đã xác định được khe hổng nghiên cứu làm cơ sở chứng minh tính cấp thiết của đề tài luận án Chương này tập trung nêu bật các công trình tiêu biểu trong và ngoài nước liên quan đến luận án, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong các nghiên cứu đó Qua đó, khẳng định sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp ngành dịch vụ trên địa bàn TP Hồ Chí Minh.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Tổng quan về KTQT
2.1.1 Các khái niệm về KTQT
Theo Luật Kế toán Việt Nam, Kế toán tài chính (KTQT) được hiểu là quá trình thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị và hỗ trợ quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán (Luật Kế toán, khoản 10, điều 3).
Theo định nghĩa của Viện Kế toán viên Quản trị Hoa Kỳ (IMA), kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, phân tích, diễn giải và truyền đạt thông tin nhằm thực hiện các mục tiêu của tổ chức Kế toán quản trị đóng vai trò là một bộ phận thống nhất trong quá trình quản lý, đồng thời nhân viên kế toán quản trị được xem là những đối tác chiến lược quan trọng trong đội ngũ quản lý của tổ chức.
Kế toán quản trị theo Hilton là một bộ phận quan trọng trong hệ thống thông tin của tổ chức, giúp các nhà quản lý hoạch định và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp (Hilton, 1991) Garrison & Noreen (1999) cũng nhấn mạnh rằng kế toán quản trị cung cấp thông tin thiết yếu cho các nhà quản lý nội bộ, những người trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh, nhằm hỗ trợ quá trình ra quyết định hiệu quả.
Kế toán quản trị (KTQT) là quá trình thu thập, đo lường, phân tích, xử lý và tổng hợp thông tin một cách có hệ thống theo từng yêu cầu quản trị Hoạt động này nhằm hỗ trợ nhà quản trị trong việc lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra và ra quyết định hiệu quả.
Tóm lại, kiểm toán nội bộ (KTQT) là quá trình phân tích và đánh giá quan trọng giúp người điều hành kinh doanh đưa ra quyết định hiệu quả, nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp.
2.1.2 Vai trò, chức năng của KTQT
Kế toán quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin chính xác và kịp thời cho nhà quản trị, giúp họ thực hiện hiệu quả các chức năng lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra và ra quyết định Thông qua việc phân tích dữ liệu tài chính và hoạt động, kế toán quản trị hỗ trợ nâng cao hiệu quả quản lý và tối ưu hóa nguồn lực doanh nghiệp.
Chức năng lập kế hoạch là yếu tố không thể thiếu của nhà quản trị, giúp định hướng và cụ thể hóa các mục tiêu ngắn hạn cũng như chiến lược dài hạn Quá trình lập kế hoạch diễn ra xuyên suốt trong hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp và được thể hiện qua các dự toán chi tiết Việc lập kế hoạch luôn song hành với chiến lược phát triển của công ty, thường được thực hiện hàng năm nhằm đảm bảo hoạt động hiệu quả trong năm tài chính.
Kế hoạch là bước quan trọng để định hướng, kiểm tra và đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của các bộ phận dựa trên chiến lược đã hoạch định Đồng thời, kế hoạch giúp điều chỉnh các quyết định trước đó nhằm phù hợp với tình hình thực tiễn, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của đơn vị.
Vai trò của kế toán quản trị trong việc lập kế hoạch là cung cấp thông tin hệ thống và có cơ sở chính xác, giúp nhà quản trị xây dựng kế hoạch khả thi và đạt hiệu quả như mong muốn.
Chức năng tổ chức điều hành là quá trình phân công và sử dụng hiệu quả các nguồn lực như nhân sự, tài sản và vốn nhằm đạt được mục tiêu doanh nghiệp Quá trình này bao gồm việc phân chia trách nhiệm, quyền hạn và thực hiện khen thưởng, phê bình đối với các phòng ban và cá nhân phụ trách công việc, đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả trong hoạt động tổ chức.
Vai trò của kế toán quản trị trong tổ chức điều hành là cung cấp thông tin cần thiết giúp nhà quản trị liên kết hiệu quả các nguồn lực như nhân sự, vật lực và tài chính Thông tin này phải đa chiều, linh hoạt, khách quan và mang tính hệ thống để hỗ trợ việc tổ chức và điều hành toàn bộ các hoạt động của các phòng ban trong doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý và vận hành doanh nghiệp.
Chức năng kiểm tra được thực hiện liên tục trong suốt quá trình triển khai kế hoạch thông qua hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp, bao gồm các quy trình như kiểm tra thanh toán, nhập xuất kho và việc thực hiện các điều khoản trong hợp đồng kinh tế Việc kiểm tra này giúp phát hiện kịp thời các sai sót, từ đó đưa ra các biện pháp ngăn chặn, điều chỉnh và khắc phục hiệu quả, đảm bảo hoạt động doanh nghiệp diễn ra suôn sẻ và đúng quy định.
Kế toán quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra thông qua việc cung cấp các báo cáo thực hiện kế hoạch, giúp nhà quản trị đối chiếu và so sánh với kế hoạch đề ra Qua đó, nhà quản trị có thể nắm bắt chính xác tình hình thực hiện, đánh giá mức độ hiệu quả và phát hiện các vấn đề tồn tại để đưa ra các giải pháp xử lý phù hợp, đảm bảo hoạt động theo đúng kế hoạch tổng thể.
Chức năng ra quyết định là yếu tố then chốt trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, kết hợp chặt chẽ ba chức năng lập kế hoạch, tổ chức điều hành và kiểm tra Chức năng này đóng vai trò quan trọng trong việc biến kế hoạch thành hiện thực, đồng thời điều chỉnh kế hoạch để phù hợp với thực tiễn, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả.
Vai trò của kế toán quản trị trong việc ra quyết định rất quan trọng, bởi thông tin chính là nền tảng để các quyết định được đưa ra hiệu quả Chất lượng của quyết định phản ánh trực tiếp quá trình kế toán quản trị thu thập, phân tích và xử lý tổng hợp thông tin một cách chính xác Kế toán quản trị còn phân tích các phương án từ nhiều khía cạnh khác nhau, từ đó cung cấp cơ sở vững chắc giúp nhà quản trị đưa ra quyết định tối ưu hóa, nâng cao hiệu quả quản lý và hoạt động doanh nghiệp.
2.1.3 Nội dung của tổ chức công tác KTQT
Các mô hình tổ chức KTQT trong DN
Để tổ chức kế toán quản trị (KTQT) trong doanh nghiệp đạt hiệu quả tối đa, các nhà quản trị cần lựa chọn bộ máy kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh, quy mô đầu tư và địa bàn hoạt động Đồng thời, hệ thống này phải tương thích với mức độ phân cấp quản lý tài chính của doanh nghiệp Bộ máy kế toán cần được thiết kế gọn nhẹ, khoa học và hợp lý nhằm tối ưu hóa khả năng cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho nhà quản trị, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và ra quyết định.
2.2.1 Mô hình kết hợp Đối tượng áp dụng: Mô hình này thường được vận dụng ở các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, số lượng các nghiệp vụ kinh tế phát sinh với tần xuất ít
Theo mô hình này, kế toán đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chính là thu thập và xử lý thông tin kế toán tài chính cùng kế toán quản trị Ưu điểm nổi bật của mô hình là sự kết hợp chặt chẽ giữa thông tin kế toán tài chính và kế toán quản trị, giúp tiết kiệm chi phí và thu thập thông tin nhanh chóng, hiệu quả.
Nhược điểm: Chưa chuyên môn hoá hai loại kế toán theo công nghệ hiện đại
Các công việc của kế toán được thực hiện cho mỗi phần hành kế toán được cụ thể hoá như sau:
Căn cứ vào chứng từ ban đầu để ghi vào các sổ kế toán tài chính và KTQT
Cuối kỳ hoặc theo yêu cầu của nhà quản trị kế toán tiến hành lập các báo cáo kế toán: Báo cáo kế toán tài chính và KTQT
Phân tích và đánh giá kết quả thu được so với các dự toán, định mức đã xây dựng là bước quan trọng để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong quản lý Việc xử lý thông tin kịp thời giúp cung cấp dữ liệu chính xác, hỗ trợ ra quyết định nhanh chóng và hiệu quả cho mọi đối tượng liên quan Điều này góp phần nâng cao chất lượng quản lý và tối ưu hóa nguồn lực trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
2.2.2 Mô hình tách biệt Đối tượng áp dụng: Mô hình này thường được vận dụng ở các doanh nghiệp có quy mô lớn, số lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh với tần suất nhiều, kinh doanh đa ngành, đa nghề
Theo mô hình này, các chuyên viên kiểm toán nội bộ được tách biệt hoàn toàn với chuyên viên kế toán tài chính, giúp đảm bảo tính độc lập và khách quan trong công tác kiểm toán Ưu điểm nổi bật của mô hình là khả năng tách biệt thông tin kế toán tài chính và kiểm toán nội bộ, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc hiện đại hóa cả hai lĩnh vực một cách hiệu quả.
Nhược điểm: Chưa khái quát được thông tin của 2 phân hệ với nhau
Các công việc cụ thể của KTQT được cụ thể hoá như sau:
Lập dự toán, định mức chi phí, ngân sách cho các bộ phận và toàn doanh nghiệp
Căn cứ vào chứng từ ban đầu, hướng dẫn để ghi vào sổ KTQT theo nhu cầu của các nhà quản trị
Tiến hành lập các báo cáo KTQT theo yêu cầu của nhà quản lý và thực tế của doanh nghiệp
Phân tích, đánh giá kết quả thu được so với các dự toán, định mức đã xây dựng để đưa ra các thông tin thích hợp
Thu thập thông tin thích hợp để phục vụ ra quyết định kinh doanh tối ưu
Mô hình hổn hợp kết hợp cả tính tách rời và tính liên kết trong kế toán, áp dụng mô hình kết hợp cho các phần hành tương đồng giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị, trong khi các phần hành có sự khác biệt quan trọng được tổ chức tách rời, như kế toán chi phí - giá thành Mô hình này mang lại tính linh hoạt cao và khả năng cung cấp thông tin chính xác, nhưng đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư đáng kể vào tổ chức bộ máy và công tác kế toán so với mô hình kết hợp thuần túy.
Tác giả nhấn mạnh rằng việc lựa chọn mô hình tổ chức kinh tế quốc tế cần dựa trên điều kiện thực tiễn và đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm phân tích chi phí và lợi ích khi vận hành từng mô hình tổ chức phù hợp.
Mục tiêu của hệ thống kế toán quản trị (KTQT) là hỗ trợ các nhà quản trị quản lý chi phí phát sinh trong doanh nghiệp một cách hiệu quả và tiết kiệm, do đó việc vận hành hệ thống phải đáp ứng mục tiêu này Đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ và hoạt động đơn giản, áp dụng mô hình tách rời hoặc mô hình hỗn hợp có thể gây tốn kém chi phí hơn so với lợi ích nhận được Ngược lại, doanh nghiệp với hoạt động phức tạp và chi phí đa dạng không thể chỉ áp dụng mô hình kết hợp một cách thuần túy Việc lựa chọn và áp dụng hợp lý mô hình tổ chức KTQT là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả của hệ thống trong doanh nghiệp Bên cạnh đó, dù áp dụng mô hình nào, bộ máy KTQT cũng cần được bố trí nhân sự hợp lý để thực hiện các công việc một cách hiệu quả.
Việc tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ và báo cáo kế toán được thực hiện linh hoạt, phù hợp với đặc thù và quy mô hoạt động của từng doanh nghiệp, giúp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính và đáp ứng đúng yêu cầu kế toán.
Ngoài các biểu mẫu chứng từ bắt buộc theo hệ thống kế toán tài chính, doanh nghiệp cần xây dựng thêm biểu mẫu và chương trình luân chuyển chứng từ để nâng cao quản lý chi phí và cung cấp thông tin đặc thù cho hệ thống kế toán quản trị (KTQT) Về tài khoản, doanh nghiệp có thể mở thêm tài khoản ngoài hệ thống kế toán tài chính hoặc chi tiết hóa các tài khoản chi phí theo loại chi phí và bộ phận phát sinh Các mẫu sổ kế toán cũng được thiết kế phù hợp với nhu cầu thông tin KTQT, phụ thuộc vào phương pháp kế toán chi phí áp dụng, ví dụ như sổ chi phí tiêu chuẩn và sổ chi phí thực tế khi dùng phương pháp chi phí tiêu chuẩn Hệ thống báo cáo kế toán KTQT chi phí được xây dựng định kỳ và đặc biệt, bao gồm báo cáo chênh lệch chi phí thực tế và dự toán, báo cáo kết quả kinh doanh theo bộ phận và các báo cáo đánh giá dự án nhằm hỗ trợ quản lý hiệu quả.
Lý thuyết nền tảng về việc tổ chức KTQT vào DN
2.3.1 Lý thuyết bất cân xứng (Asymmetric Information)
Lý thuyết thông tin bất cân xứng xuất hiện từ những năm 1970 và được khẳng định quan trọng trong kinh tế học hiện đại khi George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz nhận giải Nobel năm 2001 Bất cân xứng thông tin xảy ra khi doanh nghiệp cung cấp thông tin hoặc báo cáo tài chính (BCTC) không đáng tin cậy, như che giấu thông tin bất lợi hoặc thổi phồng thông tin có lợi Hiện tượng này trở nên nghiêm trọng hơn khi tính minh bạch, khả năng tiếp cận và cơ sở hạ tầng thông tin yếu kém Nhà đầu tư thường bị động trong việc thu thập thông tin, chủ yếu dựa vào BCTC và các báo cáo kiểm toán Do đó, xây dựng tổ chức công tác kế toán quản trị chất lượng là giải pháp quan trọng giúp nâng cao chất lượng thông tin BCTC và giảm thiểu bất cân xứng thông tin, từ đó cải thiện hiệu quả quản lý và đầu tư trong doanh nghiệp.
2.3.2 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Lý thuyết đại diện nhấn mạnh rằng các cổ đông cần sử dụng các cơ chế thích hợp để hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty Việc này bao gồm thiết lập các cơ chế đãi ngộ phù hợp cho nhà quản trị nhằm khuyến khích họ hoạt động hiệu quả Đồng thời, cần xây dựng cơ chế giám sát hiệu quả để ngăn chặn các hành vi không bình thường và tư lợi từ phía người quản lý, đảm bảo lợi ích của cổ đông được bảo vệ tối đa.
Theo Jensen và Meckling (1976), quan hệ giữa cổ đông và người quản lý công ty được hiểu như một mối quan hệ đại diện hay ủy thác, trong đó cổ đông (người chủ - principals) bổ nhiệm người quản lý (người thụ ủy - agents) để thực hiện việc quản lý và ra quyết định về tài sản công ty Mối quan hệ này được coi như một hợp đồng, theo đó người quản lý được trao thẩm quyền nhằm tối đa hóa lợi ích của cả hai bên Lý thuyết đại diện nhấn mạnh rằng, nếu cả cổ đông và người quản lý đều hướng đến việc tối đa hóa lợi ích chung, thì hiệu quả quản lý công ty sẽ được nâng cao.
Có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty không luôn hành động vì lợi ích tốt nhất của cổ đông, dẫn đến xung đột do thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa chủ sở hữu và đại diện Hai bên có lợi ích khác nhau, vì vậy cần sử dụng các cơ chế thích hợp nhằm giảm thiểu sự phân hóa lợi ích này Việc thiết lập cơ chế đãi ngộ hợp lý cho nhà quản trị cùng với cơ chế giám sát hiệu quả sẽ giúp hạn chế hành vi tư lợi và không bình thường của người quản lý công ty.
2.3.2.2 Áp dụng vào việc vận dụng KTQT
Lý thuyết đại diện giải thích lý do cần áp dụng hệ thống kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp, đặc biệt đối với các công ty cổ phần và công ty niêm yết, nhằm cung cấp thông tin chính xác và minh bạch đảm bảo lợi ích cho nhà đầu tư và cổ đông Đồng thời, lý thuyết này cũng là cơ sở để xây dựng các báo cáo nội bộ và báo cáo đánh giá trách nhiệm phù hợp với hệ thống phân quyền trong doanh nghiệp.
Theo Healy và Palepu (2001), hợp đồng tối ưu giữa nhà quản trị và nhà đầu tư cần bao gồm thỏa thuận về thù lao và tiền thưởng của nhà quản trị, nhằm dung hòa lợi ích giữa nhà quản trị doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp và nhà đầu tư bên ngoài Các hợp đồng này yêu cầu doanh nghiệp sử dụng thông tin từ hệ thống kế toán quản trị như dự toán ngân sách, kiểm soát chi phí và phân bổ nguồn lực để nhà đầu tư có thể đánh giá việc tuân thủ cam kết trong hợp đồng cũng như khả năng quản trị nguồn lực của nhà quản trị gắn liền với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài.
2.3.3 Lý thuyết quan hệ lợi ích – chi phí (Cost benefit theory)
Lý thuyết quan hệ lợi ích – chi phí nhấn mạnh rằng lợi ích từ thông tin kế toán phải được đánh giá so với chi phí tạo ra và cung cấp thông tin đó Lợi ích này phục vụ cho các bên liên quan như nhà đầu tư và doanh nghiệp, trong khi chi phí do người lập báo cáo chịu, nhưng thực chất là gánh nặng của xã hội Do đó, cần cân bằng mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí để đảm bảo chi phí không vượt quá lợi ích mang lại (Vũ Hữu Đức, 2010).
2.2.3.2 Áp dụng vào việc vận dụng KTQT
Mục đích của KTQT là nhằm hướng đến phục vụ nhu cầu quản trị DN, nên mỗi
Các doanh nghiệp khác nhau có yêu cầu và vận dụng hệ thống kế toán quản trị (KTQT) cùng các công cụ kỹ thuật KTQT khác nhau, phụ thuộc vào lý thuyết quan hệ lợi ích – chi phí Việc áp dụng KTQT chịu ảnh hưởng bởi mức chi phí đầu tư cho tổ chức hệ thống và lợi ích từ thông tin KTQT mang lại Đối với doanh nghiệp siêu nhỏ với nhu cầu thông tin quản trị đơn giản, đầu tư vào hệ thống KTQT phức tạp và tốn kém không phù hợp vì lợi ích không tương xứng với chi phí Ngược lại, doanh nghiệp quy mô lớn cần thông tin phức tạp để ra quyết định nên việc đầu tư chi phí hợp lý cho hệ thống KTQT phức tạp là cần thiết và chấp nhận được.
Các nhân tố ảnh hưởng tới tổ chức công tác KTQT tại các DN trong ngành dịch vụ trên địa bàn TP.HCM
ngành dịch vụ trên địa bàn TP.HCM
Qua quá trình tổng hợp các nghiên cứu trước đây, tác giả đã quyết định lựa chọn các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ trên địa bàn TP.HCM để tiến hành khảo sát.
Quy mô doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cấu trúc và sự sắp xếp kiểm soát trong doanh nghiệp, được khẳng định qua các nghiên cứu của Abdel-Kader và Luther (2008), Ahmad (2012) và Trần Ngọc Hùng (2016) Các doanh nghiệp lớn với nguồn lực dồi dào và hệ thống thông tin nội bộ hiệu quả có khả năng áp dụng kiểm toán nội bộ (KTQT) phức tạp hơn so với doanh nghiệp nhỏ Bên cạnh đó, doanh nghiệp lớn thường đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp hơn, đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ hơn về thông tin hoạt động kinh doanh, từ đó cần vận dụng KTQT toàn diện và hiện đại để nâng cao hiệu quả quản lý.
2.3.2 Mức độ cạnh tranh của thị trường
Yếu tố mức độ cạnh tranh của thị trường được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và phân tích, mặc dù các kết quả nghiên cứu thường có sự khác biệt Khi thảo luận về thị trường cạnh tranh, Mia và Clare đã đưa ra những quan điểm quan trọng nhằm làm rõ ảnh hưởng của cạnh tranh đối với sự phát triển và chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp.
(1999) cho rằng chính thị trường cạnh tranh đã tạo ra sự hỗn loạn, áp lực, rủi ro và bất
Doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cạnh tranh cao cần hệ thống chi phí phức tạp để cung cấp thông tin chi phí sản phẩm chính xác, tránh sai sót bị đối thủ tận dụng Drury (2000) nhấn mạnh rằng để thành công và cạnh tranh hiệu quả trong môi trường toàn cầu hóa, doanh nghiệp phải ưu tiên thỏa mãn khách hàng và áp dụng các phương pháp quản trị mới, đổi mới hệ thống sản xuất, đầu tư vào công cụ kỹ thuật hiện đại Các công cụ kỹ thuật kế toán quản trị cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ những thay đổi này Theo lý thuyết kế toán, môi trường cạnh tranh là yếu tố quyết định cấu trúc và mức độ áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp (Anderson và Lanen, 1999).
Khi sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, doanh nghiệp cần hoạt động hiệu quả hơn để đảm bảo khả năng tồn tại và phát triển bền vững trên thị trường (Laitinen, 2001).
2.3.3 Nhận thức về KTQT của ban quản trị DN
Do bối cảnh kinh tế ở Việt Nam mới chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường trong thời gian gần đây, hầu hết các doanh nghiệp chưa quen với kinh tế quốc tế mà chỉ tập trung vào kinh tế trong nước theo các yêu cầu, mệnh lệnh của cơ quan quản lý hơn là đáp ứng nhu cầu quản trị thực tế.
Việc vận dụng kỹ thuật KTQT trong doanh nghiệp thường gặp khó khăn hoặc không thể thực hiện nếu người chủ hoặc người điều hành không hiểu rõ lợi ích mà các công cụ kỹ thuật KTQT mang lại Sự hiểu biết sâu sắc về các công cụ này giúp người chủ phát sinh nhu cầu áp dụng KTQT vào doanh nghiệp, đồng thời đánh giá cao tính hữu ích và sẵn sàng đầu tư chi phí cho việc vận dụng KTQT Nghiên cứu của Kosaiyakanont (2011) tại miền Bắc Thái Lan cũng chỉ ra rằng nhận thức của người chủ doanh nghiệp càng cao thì nhu cầu vận dụng kỹ thuật KTQT càng lớn.
2.3.4 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Các nhân tố ngành nghề kinh doanh và các kỹ thuật sản xuất tiên tiến như ATM, kỹ thuật quản trị toàn diện (TQM), kỹ thuật quản trị Just in time là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc vận dụng kỹ thuật quản trị Đặc biệt, trong một số ngành nghề đặc thù có chi phí đầu vào cao, các doanh nghiệp thường áp dụng các phương pháp này để tối ưu hóa hiệu quả sản xuất và quản lý, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.
Các doanh nghiệp trong ngành này sử dụng nhiều công cụ kỹ thuật kiểm toán hơn so với các ngành khác nhằm đánh giá và kiểm soát chi phí, đo lường lợi nhuận và hiệu suất của từng dòng sản phẩm Do một số sản phẩm đặc thù bị khống chế giá cả bởi chính sách bình ổn của Chính phủ, việc áp dụng các công cụ kỹ thuật kiểm toán càng trở nên cần thiết để doanh nghiệp có thể ra quyết định kịp thời như mở rộng sản xuất hoặc tạm dừng, từ đó đạt được lợi nhuận kỳ vọng.
2005, Tuan Zainun Tuan Mat, 2010, Abdel-Kaderand Luther, R., 2008)
2.3.5 Trình độ nguồn nhân lực
Trong doanh nghiệp, sự hiện diện của nhân viên kế toán có trình độ chuyên môn cao là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán quốc tế (KTQT) Các doanh nghiệp lớn thường có phòng ban kế toán hoặc tài chính chuyên biệt, do đó ưu tiên tuyển dụng nhân viên kế toán đủ năng lực để thực hiện báo cáo chính xác và cung cấp tư vấn chuyên nghiệp.
Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng sự hiện diện của nhân viên kế toán chuyên nghiệp trong doanh nghiệp có mối tương thích chặt chẽ với mức độ hiểu biết cao về vận dụng kế toán quốc tế (KTQT) trong doanh nghiệp (Ismail và King, 2007) Đồng thời, việc có nhân viên kế toán chuyên nghiệp góp phần thúc đẩy sự phát triển và ứng dụng KTQT hiệu quả hơn trong doanh nghiệp (McChlery et al., 2004).
2.3.6 Chi phí để tổ chức hệ thống KTQT cho DN
Một trong những yếu tố khiến các doanh nghiệp ngần ngại và từ chối áp dụng kiểm toán nội bộ (KTQT) là chi phí tổ chức KTQT cao Việc đầu tư cho một bộ phận KTQT chuyên biệt không chỉ tốn kém về nguồn nhân lực mà còn bao gồm chi phí máy móc, trang thiết bị và các chi phí phát sinh khác như chi phí tư vấn từ các công ty, tổ chức bên ngoài và chi phí tăng lương Nghiên cứu của Lucas, Prowle và Lowth (2013) khảo sát thực trạng KTQT trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Anh cũng chỉ ra rằng tài chính hạn chế là nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức KTQT trong doanh nghiệp.
Chương này cung cấp cơ sở lý luận tổng quát về kế toán quản trị (KTQT), bắt đầu bằng việc giới thiệu các khái niệm, vai trò và chức năng của KTQT trong hỗ trợ nhà quản trị doanh nghiệp ra quyết định Tác giả cũng trình bày các lý thuyết liên quan đến việc vận dụng KTQT trong doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác này Từ đó, phần cơ sở lý luận tập trung làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức KTQT tại doanh nghiệp trong ngành dịch vụ tại TP HCM Dựa trên nền tảng lý thuyết này, tác giả sẽ tiến hành phân tích, khảo sát và đánh giá mức độ tác động của các nhân tố trong chương tiếp theo.