Tiếp phần 1, nội dung Giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch: Phần 2 cung cấp cho người học những kiến thức như: Quy trình tổ chức và quản lí di sản văn hóa với phát triển du lịch; Hoạch định chính sách, biện pháp quản lý. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1ChươNq III
OUY TRÌNH TỔ CHỨC VÀ OUẢN LÝ DI SẢN
VĂN HOÁ VỚI PHÁT TRIÊN d u l ịc h9
3.1 Xác đinh di sản văn hóa
Cho đến nay, nước ta đã có khá nhiều di sản văn hóa vật thế và
di sản văn hóa phi vật thể được nhận vinh dự là di sản văn hóa thể giới, hàng ngàn di tích cấp tỉnh và gần ba nghìn di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh được xếp hạng di tích cấp quốc gia, hơn một trăm bảo tà n g Những con số đó đã phản ánh sự phong phú của các di sản văn hóa ở nước ta, nhưng con số ấy sẽ nói lên điều gì về sự đóng góp của di sản văn hóa vào sự phát triển kinh tế của đất nước?
Điều dễ nhận ra là ở nước ta các di sản văn hóa gắn bó mật thiết với hoạt động du lịch, các lễ hội lớn diễn ra tại khu vực di sản văn hóa thường thu hút được lượng khách lớn tham quan du lịch, lễ bái, hay cầu phúc, cầu tà i Vì thế, các di sán văn hóa đã và đang được coi là nguồn tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch càng phong phú, đặc sắc càng có sức hấp dẫn với du khách và có hiệu
quả kinh doanh du lịch cao
Để tiến hành nghiên cứu, quản lý, bảo tồn, tôn tạo và phát triển
di sản văn hóa một cách có hiệu quả, cần phải tiến hành xác định, phân- loại di sản văn hóa khoa học và phù họp Di sản văn hóa gồm nhiều loại, có hàm nghĩa rộng, phức tạp và chồng chéo, khó có thế
áp dụng tiêu chuẩn đo lường chính xác đế lượng hóa được Do vậy, trong khi xác định, phân loại di sản văn hóa, nhà quản lý nên thực hiiện theo các nguyên tắc sau:
Trang 2- Căn cứ vào thực tiễn điều tra di sản văn hóa trong năm, rồi
tiến hành xác định di sản văn hóa theo đăng cấp và phân loại theo thuộc tỉnh (đặc điểm, tính chất, loại hình).
- Khi phân loại di sản văn hỏa cần căn cứ vào hình thức để xác định tính chất của di sản, ngoài ra cần phân loại tầm quan trọng, quy mô, giá trị du lịch của di sản văn hóa.
Khoản 6, điều 1 - Luật Du lịch của Inđônêxia đã xác định điểm7 • • •
du lịch như sau: “Trước hết đó là vị trí có tài nguyên du lịch và có sức hấp dẫn, sức hút đối với con người Tất cà những điều này đều được Chính phủ xác định và quản lý Việc xây dựng các điểm này phục vụ cho du lịch phải được đảm bảo bốn yêu cầu: Có khả năng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội tại địa phương; Đảm bảo gìn giữ được những giá trị văn hóa, tín ngưỡng và phong tục tập quán đang tồn tại ở địa phương; Bảo vệ được môi trường sinh thái; Đảm bảo sự phát triển du lịch lâu dài”
Khoản 8, điều 4, chương I - Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005) ghi: “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”
Khoản 1, 2, điều 24 - chương IV - Luật Du lịch V iệt Nam (năm 2005): Các điều kiện để công nhận là điểm du lịch gồm:
+ Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau được công nhận là điểm
Trang 3- Có kết cấu hạ tầng và du lịch cần thiết, kha năng đám bao phục vụ ít nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm.
- Cần đảm bảo tính khoa học, cũng như tính thực tiễn cho việc quản lý, nghiên cứu và việc bảo tồn, tôn tạo, phát triến di sản có hiệu quả
3.2 M ô tả di sản văn hóa
Di sản văn hóa là nguồn lực quan trọng, là cơ sở đế phát triển
du lịch N hưng di sản văn hóa lại có tính biến đối và suy giảm bởi những tác động của các điều kiện tự nhiên, con người và các hoạt động kinh tế - xã hội Do vậy, quản lý và bảo tồn di sản văn hóa là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng hàng đầu của mỗi địa phương, mồi quốc gia muốn phát triển du lịch
Công tác sưu tầm, kiểm kê một cách khoa học, toàn diện di sản văn hóa luôn là nhiệm vụ quan trọng trước nhất Sau đó hình thành
bộ tư liệu về diện mạo, giá trị di sản đó trong từng địa phương Đây
là việc làm vừa cấp bách, vừa lâu dài, không được lơi lỏng, vì thời gian và các nghệ nhân cao tuổi sẽ qua đi không thể chờ đợi Thu thập được những thông tin này không phái là một nhiệm vụ dễ dàng Công việc của nhà nghiên cứu là phải phát triển kỳ năng và
kỹ thuật để có thể thu thập thông tin một cách đầy đủ, chính xác và quan trọng hơn cả là phải có tâm hồn, tình cảm để hiểu và cảm nhận được những giá trị cha ông gửi gắm ẩn chứa trong các di sản văn hóa Sau khi nghiên cứu, họ có thể hỗ trợ ngược trở lại cho những người đã cung cấp thông tin và cộng đồng đang lưu giữ di sản văn hỗa, bằng việc xác lập mối liên hệ chặt chẽ giữa giới sưu tầm, nghiên cứu và những người trực tiếp tổ chức, quản lý di sản văn hóa tại địa phương
Trong chương I, chúng tôi đã trình bày, không phải di sản vãn
h ổ a nào cũng có thể trở thành sản phẩm du lịch Bởi: “sản phấm du
Trang 4lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết đế thỏa mãn nhu cầu cùa khách
du lịch trong chuyến đi du lịch” (Luật Du lịch, điều 4, khoản 10)
Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu các bước mô tả m ột số di sản văn hóa có thể khai thác thành sản phẩm du lịch, gồm các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể
3.2.1 Mô tả di sản văn hóa vật thể
Các di sản văn hóa vật thể gồm: Các di tích khảo cổ học; Các
di tích lịch sử văn hóa; Các di tích văn hóa tín ngưỡng; Các quần thể di tích kiến trúc văn hóa; Hệ thống các bảo tàng, nhà lưu niệm,
bộ sưu tập; Hệ thống chợ phiên các vùng Chúng tôi xin giới thiệu
cụ thể cách thức mô tả một số di sản văn hóa vật thể
3.2.1.1 D i tích lịch sử văn hóa
Với truyền thống uống nước nhớ nguồn, nhớ ơn tổ tiên, nên nhiều di tích lịch sử gắn liền với các sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước cũng như cuộc đời và sự nghiệp của các danh nhân, các vị anh hùng dân tộc đã được nhiều thế hệ người Việt Nam xây dựng
và gìn giữ tới ngày nay Tính đến ngày 30 tháng 12 năm 2006, cả nước ta có 1.367 di tích lịch sử được xếp hạng cấp Quốc gia Đây là điều kiện, nền tảng để phát triển các hoạt động du lịch về nguồn
* Các di tích lịch sử ở nước ta bao gồm:
- Các di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu, có ý nghĩa định hướng phát triển của đất nước, địa phương: khu di tích Đền Hùng (Phú Thọ); Bến Bình Than (Nam Sách - Hải Dương), nơi diễn ra Hội nghị các tướng lĩnh bàn về việc đánh quân Nguyên Mông lần thứ hai
- Các di tích ghi dấu chiến công chống quân xâm lược: Bạch Đằng, Đổng Đa, Điện Biên Phủ, Đông Khê, Thất Khê (Cao Bằng), Ải Chi Lăng (Lạng Sơn), c ầ u Hàm Rồng (Thanh Hóa), Thành cổ Quảng Trị, Khe Sanh, Địa đạo Củ Chi
Trang 5- Các di tích ghi dấu những kỷ niệm: Di tích về danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi ở Côn Sơn (Chí Linh - Hái Dưưng); Khu lưu niệm nhà thơ - Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn
Du ở Tiên Điền (Nghi Xuân - Hà Tĩnh); Khu lưu niệm nhà nho, nhà giáo Chu Văn An (Phượng Hoàng, Chí Linh - Hải Dương); các khu di tích gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí M inh (Pắc Pó - Cao Bằng, Kim Liên - Nam Đàn - N ghệ An, Bến cảng Nhà Rồng - Thành phố Hồ Chí
M in h ), v.v
* C ác bước mô tả di tích lich sử:ế
- Vị trí, tên gọi, cảnh quan
+ Xác định vị trí, diện tích lãnh thổ, tên gọi di tích
+ Giá trị về phong cảnh
- Lịch sử hình thành và phát triển
- Giá trị cổ vật (cả về số lượng và chất lượng), vật kỷ niệm
- N hân vật được tôn thờ và những người có công xây dựng trùng tu
- Những di sản phi vật thể gắn với di sản: các phong tục tập quán, các lễ hội, các giá trị văn h ọ c
- Thực trạng tổ chức quản lý bảo vệ, tôn tạo và phát triển di tích
- Thực trạng chất lượng môi trường ở khu vực di tích
- Giá trị được xếp hạng: Quốc tế, quốc gia, địa phương, thời gian được xếp hạng
3.2.1.2 D i tích văn hóa tín ngưỡng
Bàn về các di tích văn hóa tín ngưỡng, ta cỏ thể nhắc tới các di tích với kiến trúc nghệ thuật khá đa dạng và phong phú của nước ta Trong đó có nhiều di tích lưu giữ nhiều giá trị về kiến trúc, mỹ thuật, lịch sử - văn hóa
Trang 6* Di tích văn hóa tín ngưõTig gồm:
- C hùa: hiện nay ở nước ta có hàng nghìn ngôi chùa, tính đến
ngày 30 tháng 12 năm 2005, cả nước có 580 ngôi chùa được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia, trong đó những tỉnh và thành phố có nhiều ngôi chùa được xếp hạng danh thắng kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia là: Hà Nội (163), Hà Tây (cũ) (134), Hưng Yên (37), Hải Dương (35), Bắc Ninh (30), Hải Phòng (23), Nam Định (20)(l) theo nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn có 42 ngôi chùa Việt Nam nổi tiếng, mang giá trị văn hóa - lịch s ử (2)
- Đình', là ngôi nhà chung của cộng đồng làng xã Việt Nam, với
ba chức năng chính: hành chính, tín ngưỡng, văn hóa Tính đến ngày 30 tháng 12 năm 2005, cả nước có 874 ngôi đình được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc gia, các địa phương có nhiều ngôi đình được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc gia chủ yếu thuộc vùng châu thổ Bắc Bộ như:
H à Tây (cũ) (249), Hà Nội (181), Hải Dương (68), Hưng Yên (68), Bắc N inh (46), Hải Phòng (28), Thái Bình (27), Bắc
G iang (27), Phú Thọ ( 2 2 ) (3)
- Đền: Có nhiều kiến trúc đền đã và đang trở thành những điểm
tham quan hấp dẫn du khách đến như: đền Bạch Mã, đền Quan Thánh, đền Đồng Nhân, đền Ngọc Son (Hà Nội); đền Trần (Nam Định); đền Kiếp Bạc (Hải Dương); đền Nghè (Hải Phòng); đền V ua Đinh,Vua Lê, đền Thái Vi (Ninh Bình); đền
B à Triệu (Thanh Hóa); đền Cuông (Nghệ An); V V Tính đến ngày 30 tháng 12 năm 2005, cả nước có 257 ngôi đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Quốc gia Đến nay những địa
(1> Cục di sản - B ộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sđd.
(2) Hà Văn Tấn, Sđd.
í3) Cục di sản - B ộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch, Sđd.
Trang 7phương có nhiều di tích kiến trúc đền được xếp hạng cấp Quốc gia như: H à Nội (32), Hưng Yên (30), Bắc Ninh (24), Nam Định (20)
- Nhà thờ' Kiến trúc nhà thờ gắn liền với Đạo Thiên chúa, được
du nhập vào nước ta khoảng cuối thế ký XVỈ các nhà thờ ngày nay phần lớn được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX có kiến trúc Gô-tích Hiện nay ở Việt Nam có 5.390 nhà thờ trong đó nhà thờ Phát Diệm (Ninh Bình), nhà thờ Đức Bà (Thành phố Hồ Chí Minh), nhà thờ Lớn (Hà Nội), nhà thờ Phú Nhai (Nam Đ ịnh) là những nhà thờ lớn, những điếm du lịch hấp dẫn của du khách
* Các bước mô tả di tích văn hóa tín ngưỡng
- Vị trí, tên gọi, cảnh quan
+ Xác định vị trí, diện tích lãnh thổ, tên gọi di tích
-t- Giá trị về phong cảnh
- Lịch sử hình thành và phát triển
- Quy mô, kiểu, giá trị kiến trúc mỹ thuật, niên đại kiến trúc mỹ thuật
- Giá trị cổ vật (cả về số lượng và chất lượng), vật kỷ niệm
- Nhân vật được tôn thờ và những người có công xây dựng trùng tu
- Những di sản phi vật thể gắn với di tích: các phong tục tập quán, các lễ hội, các giá trị văn h ọ c
- Thực trạng tổ chức quản lý bảo vệ, tôn tạo và phát triển di tích
- Thực trạng chất lượng môi trường ở khu vực di tích
- Giá trị được xếp hạng: quốc tể, quốc gia, địa phương, thời gian được xếp hạng
Trang 8Đình Trà c ổ (vào thời Nguyễn có đặt thêm tên chữ cho công
trình là Vạn cổ từ - nghĩa là ngôi đền có từ lâu đời) thuộc xã
Trà Cổ, huyện Hải Ninh, Tỉnh Quảng Ninh Từ thời Nguyễn vùng này được gọi là: đạo Hải Ninh, châu Hà c ố i, xã Trà c ổ
Được đánh giá là ngôi đình khá đồ sộ ở địa đầu đất nước và hoàn toàn mang dấu ấn nền văn hoá Việt Đình Trà cố được xây dựng từ thời Hậu Lê năm 1462 trên một vùng đất rộng nằm ở phía N am phường Trà c ổ , Đình có kiến trúc kiểu chữ Đinh (J), thờ sáu vị Thành hoàng đã có công lập lên xã Trà Cô (nay là phường Trà c ổ ) cách đây gần 600 năm
Đình được xây dựng trên một khu đất rộng, bằng phẳng phù hợp với sinh hoạt cộng đồng Đình nằm gần sát với đường lớn chạy từ huyện xuống bãi biển Công trình được dựng hướng Nam chếch Tây 10°, rất phù hợp với khí hậu m ùa hè nóng, hưởng gió.nồm nam và che bớt gió m ùa đông bắc
Kiến trúc: Gồm một tòa đại đình, được gắn thêm hậu cung kiểu chuôi vồ, tạo nên bố cục mặt bằng của toàn bộ công trình
theo kiểu hình chữ Đinh Với năm gian hai chái, đình có chiều
dài toàn bộ là 28,1 Om Các vì kèo được kết cấu bằng bốn hàng cột, tạồ nên chiều rộng của đình là 11,40m Đình Trà c ổ có 48 cột gỗ lim đặt trên đá, trong đó có những cột cao gần 5m chu
vi khoảng l,5m , các cột được giằng đan bởi những xà ngang dọc, ở các đầu xà gồ đều chạm đầu rồng Hai đầu hồi là hai bức hoành phi sơn son thiếp vàng đối diện nhau: “N am Sơn
Trang 9tịnh thọ; Địa cửu thiên trường" (Nước Nam bên vững; Đât
vững trời dài) Riêng hậu cung chuôi vồ có chiều dài 10.30m
và rộng 6,53m Tòa đại đình có bốn mái, hai chính hai phụ, các vì kèo đều có chiều cao là 5,53m c ấ u trúc cúa các vì kèo
đều theo thể thức thượng rừng hạ ke, nghĩa là nứa trên cấu
trúc đỡ hoành bằng các rường và đấu, còn nứa dưới thi là một đường kẻ chạy ra đến cột biên Tuy nhiên, vì kèo và toàn bộ nóc bị sửa chữa nhiều lần nên kết cấu và trang trí đon giản đi
nhiều Lối cấu trúc thượng rừng hạ kẻ là lối cấu trúc gặp khá
nhiều trong các đình có niên đại thế kỷ XVII(I) Kiến trúc sàn của đình hiện còn được giữ khá nguyên vẹn, đặc biệt được phân thành ba cấp cao thấp khác nhau Lớp thứ nhất là lóp sàn thuộc không gian được giới hạn bởi bốn cái cột cái cua hai gian kề gian giữa (gian lòng thuyền) chúng cao cách mặt nền đình 0,55m Lớp thứ hai thuộc không gian được giới hạn với bốn cột cái của hai gian kế tiếp hai gian trên kể từ giữa ra, cao 0,70m hon lớp sàn kia 0,15m Lớp sàn thứ ba là không gian được giới hạn bởi các cột cái và các cột quân Chúng bao quanh hai lóp sàn kia và cao 0,85m Việc sàn đình chia nhiều cấp đã từng gặp ở đình Chu Quyến(2)(có hai cấp) Việc phân chia thành nhiều cấp có thể cho thấy việc hội họp vào thế kỷ XVII vẫn có sự phân chia tôn ti, phân chia theo thế hệ
- Trang trí mỹ thuật: Các trang trí trên thành phần kiến trúc rất phong phú Đề tài trang trí hầu hết là hình Rồng, được các nghệ nhân thể hiện dưới nhiều hình mẫu, nhiều đồ án trang trí khác nhau Đó là những mảng Rồng ổ, cả họ nhà Rồng lớn bé, dài ngắn khác nhau quây quần trên những tấm cốn đình, mỗi con bố cục theo m ột kiểu dáng khác nhau trông rất sinh động
(1 ’ N guyễn Du Chi (2 0 0 1 ), Sđd, trang 261.
(2) Đình Chu Quyến thuộc xã Chu Minh, Ba Vì, Hà Tây Đình được xây dựng vàiocuối thế kỷ XVII.
Trang 10Khi thì là Rồng đôi, hai con được bố cục đăng đối chầu mặt trời với nhiều tia lửa rực rờ hoặc thay mặt trời bằng con hố hay người cưỡi hố, ra dáng trang nghiêm mà vẫn vui Có khi lại được thể hiện bằng cảnh tiên cưỡi Rồng Một đầu rồng to với nhiều đao lửa tua tủa trên đầu và trên sừng lấp ló một tiên
nữ đang ngồi Tuy bố cục khác nhau nhưng Rồng đều có chung một cách điêu khắc, là Rồng mồm rộng cằm bạnh, viền mép gập vuông, mắt tròn lồi to, mũi nở phồng và hai tai dài vểnh, thường được cách điệu thành đao lửa
Ngoài Rồng, còn có Phượng cũng được điêu khắc rất sinh động Hình Phượng đang xòe cánh, mồm ngậm cành hoa, cồ vươn dài Đặc biệt tóc trên đầu được các nghệ nhân biến thành một đao lửa dài, đuôi Phượng thường được nghệ nhân thể hiện dài đẹp thì ớ đây lại rất ngắn mặc dù vẫn uốn lượn mềm mại
Hình ảnh các tiên nữ, ngoài việc thể hiện trong đề tài cưỡi Rồng hay hổ, còn được tả như đang ngồi bên cửa sổ Nghệ nhân đã khéo chạm thành hai lớp, lớp ngoài là một ô cửa viền lá đề có trang trí hoa lá, phía trong hiện lên khuôn mặt tiên nừ trái xoan, lông mày cong, mũi thon, mồm nhỏ
Bên cạnh những đề tài trên, trong đình còn có hình một số con vật được chạm với bố cục lạ Đó là con thú bốn chân, có tai dài vểnh cao, mồm rộng nhiều răng, người tròn lẳn, đuôi ngắn Hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được nó là loài thú gì Hình ảnh loài thú này hay thấy trong các chạm khắc kiến trúc cuối thế kỷ XVII
Đề tài hoa lá như: Hoa sen, hoa mẫu đơn, trú c Xen kẽ là các ô chữ viết theo lối cách điệu như chữ Vạn, chữ Phúc, chữ Thọ nhằm thể hiện aò ước, niềm tin và cũng là lời cầu chúc cho tương lai tốt đẹp
Kỹ thuật chạm khắc hết sức hoàn hảo, nghệ nhân chạm lộng với nhiều lớp khác nhau, mỗi lớp đều thể hiện rất chi tiết, đầy đủ, trọn vẹn Hình khối mềm mại, uyển chuyển làm cho các hình mẫu thêm phần sinh động, mà vẫn không kém phần chắc nịch khỏe khoắn
Trang 11- Hiện vật: Ngai thờ Thành hoàng, sắc phong Ngoài ra là một số hiện vật được làm vào thế kỷ XIX Các sắc phong ở đình cũng
là những sắc phong của vua triều Nguyễn, sắc cố nhất có niên hiệu T ự Đức 33 (1880), tiếp đó là bổn sắc phong có niên hiệu Thành Thái 1 (1889) và một sắc phong có niên hiệu Duy tân 3 (1909) Các sắc phong đều ghi rõ tên vị thành hoàng làng:
Q uảng Trạch đại vương
Ngọc Son trấn hải đại vương
H uyền Quốc L ã thái úy
K hổng Lộ Giác H ải tự thần
Linh p hù bách điểm tước chi thần
■ Lễ hội đình Trà c ổ diễn ra từ ngày 30 tháng 5 đến 6 tháng 6
âm lịch hằng năm N gày 25 tháng 5 đoàn thuyền rước từ Trà
Cổ về quê tổ Đồ Sơn N gày 30 tháng 5 đoàn thuyền từ Đồ Sơn quay về đến T rà c ổ Ngày 1 tháng 6, bắt đầu vào hội rước V ua ra bể (còn gọi là rước vua ra m iếu), với những nghi thức rất trang trọng: một đội quân cầm vũ khí, cờ thần, phường bát âm, bát bửu, tiếp đến là người cầm cờ vía (phải
là người cường tráng trẻ đẹp và có đạo đức được làng bầu chọn từ cuối hội năm trước) cùng mọi người khiêng kiệu Sau lễ rước là cuộc thi các sản phẩm chăn nuôi trồng trọt
mà biểu thị chủ yếu là thi các chú lợn mà người ta gọi là các Ông V oi Các Ô ng Voi được các cai đám và dân làng chăm sóc chu đáo từ nhiều tháng trước khi vào Hội N ét độc đáo của Lễ hội đình T rà c ổ là hội thi làm cồ, thi nấu ăn, ai nấu
ăn giỏi đều được cả làng biết đến N gày mồng 6, Lễ hội kết thúc với phần biểu diễn m úa bông, Trong ngày m úa bông, người ta cầu m ong trời đất thần linh phù trợ cho đánh bắt được nhiều cá tôm , buôn bán phát đạt, chăn nuôi, trồng cây tươi tốt, cuộc sống ấm no
Trang 12- Đình Trà cổ được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia
do Ban quản lý di tích thuộc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Ninh quản lý Qua vài lần tu sửa vào các thời sau nhưng đến nay đình Trà c ổ vẫn được gìn giữ nhiều nét kiến trúc xưa và được đánh giá là một trong không nhiều ngôi đình
có tuổi thọ cao Vị trí của đình lại nằm ngay ở địa đầu biên giới tổ quốc, hơn 300 năm qua nhưng vẫn giữ được những nét văn hóa thuần Việt, không bị ảnh hưởng văn hóa ngoại biên
3.2.1.3 Quần thể di tích kiến trúc văn hóa
* Q uần thể di tích kiến trúc văn hóa gồm:
- Thành lũy: Trong các thời kỳ lịch sử ở nước có nhiều tòa thành lũy cổ đã được xây dựng làm nơi đóng trụ sở hành chính, hoặc có chức năng phòng thủ Hiện còn nhiều tòa thành vẫn giữ được các dấu tích kiến trúc, các công trình kiến trúc
có ý nghĩa về lịch sử, kiến trúc, mỹ thuật đã và có thể khai thác phục vụ mục đích tham quan, nghiên cứu, giáo d ụ c như: Tòa thành Luy Lâu trụ sở hành chính của các quan cai trị Trung Quốc ở và làm việc thời Bắc thuộc, hiện vẫn còn dấu tích tường thành ở xã Trí Quả (Thuận Thành - Bắc Ninh); Thành nhà Mạc được xây dựng năm 1552, nằm bên bờ sông
Lô (Trung tâm thị xã Tuyên Quang); Khu di tích và tòa thành Lam Kinh được xây dựng khá quy mô vào năm 1428 thuộc xã Xuân Lam (Thọ Xuân - Thanh H ó a)
- K in h đô cổ: Các triều đại phong kiến nước ta, các vị vua đã cho xây dựng kinh đô ở nhiều nơi Chỉ cỏ cố đô Huế hiện còn bảo tồn được hơn 100 công trình kiến trúc có giá trị, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới Các kinh đô khác như c ổ Loa, Hoa Lư, Thăng Long, Tây Đô, T rà Kiệu, Đông Dương, Trà Bàn phần lớn chỉ còn lại dấu tích kiến trúc
- C ác đô thị và nhà cổ: Ở nước ta hiện nay còn bảo tồn hàng
nghìn ngôi nhà cổ Những ngôi nhà cổ được bảo tồn ngày nay chủ yếu tập trung ở khu phố cồ Hà Nội, khu phố cổ Hội An và
Trang 13một số vùng nông thôn Việt Nam Theo thống kê cúa Sớ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội năm 2004, phố cổ Hà Nội có
859 di tích kiến trúc nhà ở, trong đó có 245 ngôi nhà cố và
614 ngôi nhà cũ có giá trị cần bảo tồn Phố cố Hội An có tới trên 1.000 ngôi nhà cổ cần bảo tồn, trong đó có 82 ngôi nhà được xếp hạng di tích lịch sử đặc biệt và bảo vệ tuyệt đối Nước ta cũng có nhiều đô thị cổ đã được xây dựng, nhưng đến nay chỉ còn 3 đô thị cổ có giá trị về kiến trúc, lịch sư - văn hóa, là những điểm du lịch hấp dẫn khách du lịch là phố cố Hà Nội, phố cổ Hội An và phố Hiến
* C ác bước mô tả quần thể di tích kiến trúc văn hóa:
- Vị trí, tên gọi, cảnh quan
+ Xác định vị trí, diện tích lãnh thổ, tên gọi di tích
+ Giá trị về phong cảnh
- Lịch sử hình thành và phát triển
- Quy mô, kiểu, giá trị kiến trúc mỹ thuật, niên đại kiến trúc mỹ thuật
- Giá trị cổ vật (cả về số lượng và chất lượng), vật ký niệm
• Nhân vật được tôn thờ và những người có công xây dựng trùng tu
- Những di sản phi vật thể gắn với di tích: các phong tục tập quán, các lễ hội, các giá trị văn học
- Thực trạng tổ chức quản lý bảo vệ, tôn tạo và phát triển di tích
- Thực trạng chất lượng môi trường ở khu vực di tích
- Giá trị được xếp hạng: quốc tế, quốc gia, địa phương, thời gian được xếp hạng
3.2.1.4 Hệ thống các bảo tàng, nhà lim niệm
“Bảo tàng, nhà truyền thống, lưu niệm làm nhiệm vụ nghiên (CỨU, sưu tầm, kiện toàn, bảo quản, trưng bày và phổ biến các báu
Trang 14vật của sưu tập hiện vật gôc vê lịch sử tự nhiên và văn hóa vật chât
và tinh thần - là những sử liệu gốc đầu tiên của kiến thức - nhằm tài liệu hóa khoa học và các quá trình phát triển của thiên nhiên và xã hội loài người” (1)
Hiện nay, nước ta có khoảng 115 bảo tàng quốc gia, bảo tàng các chuyên ngành và nhà truyền thống, lưu niệm trong cá nước, là nơi sưu tập, lưu giữ những giá trị văn hóa của quá khứ mà còn là cầu nối quá khứ với hiện tại và tương lai Tiêu biểu như: Bảo tàng Lịch
sử Việt Nam, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, đó là những bảo tàng hạt nhân của hệ thống bảo tàng Việt Nam, có quy mô, vị trí xứng đáng trong khu vực, quốc tế Tuy nhiên, các thiết chế văn hóa này hiện đang ở trong trạng thái tương đối tĩnh trước thách thức lớn lao của thời đại bùng nổ thông tin
* C ác bước m ô tả m ột bảo tàng, nhà lưu niệm:
- Vị trí, tên gọi, cảnh quan
- Nhân vật được tôn thờ và những người có công xây dựng
trùng tu
- Những di sản văn hóa phi vật thể gắn với bảo tàng, nhà lưu
niệm: các phong tục tập quán, các lễ hội, các giá trị văn học
(l) Phan Khanh (1 9 9 2 ), Bảo tàng - di tích - lễ hội, vấn đề bào vệ di sàn văn hóa dân tộc, N xb Văn hóa - Thông tin, Hà N ội, tr 66.
Trang 15- Khoảng cách giữa vị trí của bảo tàng, nhà lưu niệm với thị trường cung cấp khách hàng, cũng như chủng loại và chất lượng đường giao thông các phương tiện giao thông có thể hoạt động.
- Khoảng cách tới các di sản văn hóa và tự nhiên du lịch khác
- Thực trạng tổ chức quản lý báo vệ tôn tạo và phái triến di sán
- Giá trị được xếp hạng: quốc tế, quốc gia, địa phương, thời gian được xếp hạng
3.2.1.5 Chợ phiên các vùng
Bây giờ, khi những trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng có mặt ở khắp nơi thì vẫn có nhiều người nhớ và muốn tìm lại cảm giác thú vị khi đi chợ phiên Những phiên chợ chỉ họp vào một vài ngày cố định trong tháng với những sản phấm đặc trưng Chợ phiên chứa đựng một nét văn hóa xưa không dễ gì quên được, là nơi gặp
gỡ tâm tình, trao duyên, là nơi sinh hoạt văn hóa dân gian, cầu chúc những điều m ay mắn tốt lành đến trong năm mới
Sản phẩm thường do mọi người trực tiếp làm rồi đem ra chợ bán Hàng hóa lại rất phong phú Bây giờ, phiên chợ không còn rõ nét như trước nữa nhưng dù sao nó vẫn giữ được một số nét độc đáo riêng
Chợ phiên thường họp rất sớm, từ lúc trời còn tờ mờ sáng cho đến quá trưa mới kết thúc Mỗi chợ phiên đều có những sản phẩm ' đặc trưng N hư chợ phiên Văn Giang có con giống Người từ khắp nơi đổ về đây và chở theo nhiều con giống, từ lợn, gà, vịt, chó, mèo Tiếng gọi nhau í ới, tiếng mặc cả, tiếng cãi cọ tất cả những
âm thanh đặc trưng đó làm nên một phong cách rất riêng của chợ quê Việt Nam
Chợ phiên mặc dù bây giờ không còn giữ được nhiều nét đặc trung như trước nhưng vẫn có sự khác biệt để tạo nên sức hấp dẫn riêng của nó Ngay cả phiên chính hay phiên xép cũng khác nhau
Trang 16Tuy nhiên, vần còn những phiên chợ giữ được đặc trung truyền thống của mình như chợ Cán c ấ u (Lào Cai), chợ cách huyện Bắc
Hà chừng 18km, họp trên một ngọn đồi thoai thoải Chợ Cán c ấ u trước kia gần trong thị trấn Bắc Hà, nhưng cứ mồi lần nhà nước xây cất chợ thành khang trang thì bà con lại chuyển đi nơi khác Đó là
do tập tục từ bao đời nay, bởi với họ, chợ phiên là nơi có thể mang bán hay mua đủ các thứ mà không cần phải xếp loại hay theo khuôn mẫu nào, người đi chợ muốn tùy nghi bày biện hàng hóa của minh
Chợ Cán Cấu mỗi tuần họp một lần vào ngày thứ bảy Một bãi chợ hoàn toàn của người dân tộc, M ông Đen, Mông Đỏ, M ông Hoa, Giao, Tày Từ trên cao nhìn xuống bãi chợ, khói bếp tỏa lên giữa những lều tranh lụp xụp, với cơ man nào là người với các sắc áo xanh đỏ, xa xa là núi đồi phủ sương lam, lác đác vài ba nhà sàn Phong cảnh thanh bình và hoang sơ
Ai đã từng đến SaPa chắc không thể quên hình ảnh sáng thứ Bảy người đàn ông H ’Mông dắt vợ cưỡi ngựa m ang cái gì đó đến chợ để bán Chiều chủ nhật thì ngược lại, người vợ dắt con ngựa trở
về trên lưng ngựa ông chồng say rượu nằm vắt ngang Với người Mông đi chợ là phải say rượu, nếu chưa say thì chưa vui
Hầu như ở mỗi địa phương trên m ảnh đất Việt Nam này đều có những phiên chợ họp vào một thời điểm nhất định nào đó trong tháng Bắc Ninh nổi tiếng với phiên chợ Nón, Vĩnh Phúc có phiên chợ Lồ, rồi chợ Săn ở Hà Tây (cũ), chợ Non ở Hà Nam hoặc như phiên chợ nổi tiếng cả nước mà mồi năm chí họp có một lần như chợ Viềng ở Nam Định mỗi phiên chợ đều chứa đựng m ột đặc trưng riêng, thể hiện văn hóa của từng địa phương
Nhiều người coi đi chợ phiên là đi chơi, đi thưởng thức chợ chứ không nhất thiết phải mua sắm gì Đi chợ như một nhu càu không thể thiếu trong đời sống của mỗi người Không hẹn m à nên hàng năm, vào những ngày áp Tết các chợ phiên thường tổ chức buổi chợ cuối cùng để mọi người có thể đi sắm hàng Tết, từ m ớ lạt
Trang 17ống giang, bó lá dong cho đến quần áo tranh dân gian Tất cả đều mang đậm mùi vị của hương đồng gió nội được kết tinh từ hồn quê, hồn đất.
Với mỗi người dân Việt Nam, chợ phiên mãi là nét văn hóa cua một thời để nhớ, nơi chất chứa chút tâm hồn dân tộc
* C ác bước m ô tả m ột chợ phiên:
- Vị trí, tên gọi, cảnh quan
+ Xác định vị trí, tên gọi phiên chợ,
+ Giá trị về phong cảnh
- Lịch sử hình thành và phát triển
- Những di sản văn hóa phi vật thể gắn với chợ phiên: cácphong tục tập quán, các lễ hội, các giá trị văn h ọ c
- Khoảng cách tới các di sản văn hóa và tự nhiên du lịch khác
* Ví dụ: M ô tả phiên C H Ợ VIÈNG - Tỉnh Nam Định
Đây là phiên chợ truyền thống độc đáo nằm trong khu di tích
v à không gian văn hóa Phủ Dầy thờ thánh mẫu Liễu Hạnh - một trong Tứ Bất Tử của V iệt Nam
Chợ Viềng (Nam Định) mỗi năm chỉ họp đúng một phiên, kéo dài từ nửa đêm m ùng 7 đến sáng mùng 8 Tết Lỡ một phiên chợ
V iềng là lỡ cả một năm Vì vậy, từ nửa đêm đến tờ mờ sáng, dân
N am Định, Thanh Hóa, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương, Quảng Ninh,
H ải Phòng đổ về chợ Viềng như mắc cửi để mong có lộc cho cả măm Thật ra Viềng không phải là tên riêng một chợ mà có tới 4,5 lkhu chợ thuộc hai chợ cùng tên Viềng của Nam Định, cùng họp một phiên vào đêm m ùng 7 rạng sáng mùng 8 tháng giêng Đó là hội
V iếng Phủ ở Kim Thái, huyện Vụ Bản (là chợ đã nổi tiếng trong sứ sách, thi ca) và hội Viềng Chùa tại xã Nam Giang, huyện Nam
T rực Người dân thường quen gọi thành chợ Viềng “2 chợ, 1 phiên”
Trang 18cho cả năm Theo lời người già giải thích, chợ Viềng Phủ có ý nghĩa như chợ thần tiên trên trời (còn gọi là chợ âm phủ) Đi chợ kết hợp với cúng bái, cầu may ở các đền, phủ.
Tầm độ 6 giờ sáng, theo cổ lệ, người dân sở tại mới mang đồ truyền thống của phiên chợ Viềng ra bán: liềm, hái, quang, gánh, thúng, mủng, cuốc, xẻng Đây là những vật dụng cần thiết cho người nông dân cầy bừa, cấy hái và chăm sóc cây trồng vật nuôi từ bao đời nay M ua một món lấy may và để vững tin rằng mình có đủ sức khoẻ và sẽ chăm chỉ cầy sâu cuốc bầm làm giàu suốt cả năm
Từ Viềng Phủ đến Viềng Chùa hết gần một tiếng đi xe máy, phải vượt qua hai quãng đồng rộng mênh mông Trước đây, Viềng Phủ nổi tiếng là nơi hội tụ những sản phẩm thủ công nổi tiếng của từng địa phương trong tỉnh Nam Định như đúc Tống Xá, sơn mài Cát Đằng, hàng chạm, mộc La Xuyên, cuốc, xẻng Vân Tràng, giống cây Mỹ Lộc, cây cảnh Nam Điền Tuy nhiên, gần đây, các sản phẩm này lại tập trung về Viềng Chùa
Viềng Chùa cũng có cây cảnh, có thịt bò (hai sản phẩm không thể thiếu ở chợ Viềng), nhưng đây lại là chợ có đông người Hà Nội, Hải Phòng về dự, vì chợ này trội hơn Viềng Phủ ở các loại hàng hóa, nhất là đồ cổ và cây cảnh đẹp, từ những chiếc đồng hồ báo thức Made in France được nhập vào Việt Nam cuối thế kỷ XIX, chiếc đèn Hoa Kỳ nhập từ Hồng Kông những năm 20, phích Trung Quốc những năm 50, nồi nhôm Liên Xô những năm 60 - 70 đến kiềng bếp gang Thái Nguyên, liềm, hái, lưỡi cày công - nông không thiếu một thứ gì và giá rất rẻ
Đi chợ xong, khách viếng thăm thường đi thắp hương làm lễ tại Phủ Dầy và các chùa lân cận, trung tâm đạo Mầu lớn nhất Việt Nam, với hom 20 đền và phủ
Thú mua sắm đồ cổ ở chợ Viềng nay đã giảm nhiều Do kinh tế ngày một khấm khá và do tốc độ mua sắm thời hiện đại nên người
Trang 19ta chí đô tiên ra mua những cặp lộc bình gôm, đỉnh đông như một món đồ chơi sang trong ngôi nhà tiện nghi chứ không đổ công sức truy tìm những món đồ cổ chính hiệu như chĩnh, vại, chum, lọ, đồ uống trà, chén, bát, ông bình v ô i như trước đây nữa.
Tuy nhiên, với tinh thần “bán được là quí, mua được càng may”, phần lớn những người đi chợ Viềng đều tìm thấy những thứ mình cần, gắn bó với công việc, sở nguyện cúa mình Cả hai chợ mang đậm tính cầu lộc, cầu may này chỉ họp một phiên duy nhất một ngày trong năm nhưng số lượt người đến chợ Viềng, theo ước tính cùa Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Nam Định, bằng trên một nửa tổng số người đến chùa Hương trong 3 tháng lễ hội
3.2.2 M ô tả di sản văn hóa p h i vật thể
Các di sản văn hóa phi vật thể gồm: Lễ hội dân gian; Các phong tục, nghi lễ liên quan đến vòng đời (cưới xin, ma chay ); Các phong tục, nghi lễ của cộng đồng (Tết Nguyên Đán, Rằm tháng Giêng, Trung T h u ); Văn hóa làng bản (nghề và làng nghề thủ công truyền th ố n g ); Sinh hoạt nghệ thuật (Nhã nhạc, rối n ư ớ c
V ăn hóa ẩm thực;
Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu cụ thể các bước mô tả một
số di sản văn hóa phi vật thể
3.2.2.1 L ễ hội dân gian
Một trong những dấu ấn tạo nên sự độc đáo và đặc sắc của mỗi vùng văn hóa là lễ hội dân gian - môi trường diễn xướng, bảo lưu và pihát triển nhiều yếu tố văn hóa truyền thống Trong quá trình hình tlhành và phát triển, lễ hội dân gian đã chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi nỉhững điều kiện tự nhiên, xã hội và lịch sử của từng mảnh đất
Lễ hội dân gian chủ yếu là hội làng Bởi, nói đến sản xuất nông ntghiệp là nói đến nông dân và làng xóm, một tổ chức hoàn thiện và pihổ biến nhất trong mô hình sản xuất nông nghiệp ở nước ta từ trrước đến nay
Trang 20Trong tự nhiên, xuân - thu chỉ là hai mùa chuyến tiếp tương đối ngắn ngủi giữa đông và hạ, giữa hai thời của chu kỳ khí hậu nóng -
lạnh, thì “xuân thu nhị kỳ” trong nông lịch cổ truyền, cũng là thời
buổi nông nhàn ngắn ngủi của những người nông dân quanh năm
ubán mặt cho đất, bán lưng cho trời” Trong chu kỳ ấy, những mốc
đánh dấu các thời đoạn sản xuất là những lễ thức, nghi lễ, những hoạt động tâm linh của con người gắn với các hoạt động trong chu trình canh tác nông nghiệp, là lễ hội dân gian diễn ra Tố chức lễ hội
là một cách sử dụng thời gian nông nhàn theo mùa, theo vụ của người dân châu thổ Bắc Bộ
Bởi nông nghiệp là nguồn sống chính của cộng đồng thì mọi hoạt động của con người trên mảnh đất này tất sẽ bị nghề nông chi phối sâu sắc Tín ngưỡng, tôn giáo chính của họ phải là những lễ thức nông nghiệp và hình thái sinh hoạt văn hóa cộng đồng cơ bản của họ phải là những hội mùa
Tuy lễ hội liên quan đến canh tác nông nghiệp rất phổ biến, nhưng đến nay thật khó cho ai muốn tìm một lễ hội nông nghiệp thuần túy, bởi các lễ hội này đã được đan xen, hòa trộn với loại hình
lễ hội khác, mà có lẽ sâu đậm hon cả là lễ hội phản ánh lịch sử Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa, nhưng điều kiện
xã hội và lịch sử cũng là những yếu tố quyết định, chi phối không nhỏ đến các đặc điểm tâm lý và tính cách của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ Thực tế ấy đã để lại dấu ấn đậm nét trong văn hó a của người dân Do vậy, họ tổ chức lễ hội vốn để phản ánh hiện thực cuộc sống, phản ánh những ước mơ và quan điểm của con người, nên sự đan xen, hòa quyện những yếu tổ lịch sử vào lễ hội nông nghiệp là tất yếu Có thể kể tới những lễ hội như: hội Đền Hùng, hội Hoa Lư, hội G ióng, mà nhân dân cả nước biết đển, đều gắn với những nhân vật lịch sử, với thần tích, truyền thuyết, lai lịch, công trạng của các anh hùng
Lễ hội dân gian được diễn ra hàng năm trong hầu hết các làng
xã và có những lễ hội lớn không chỉ thu hút người dân trong làng,
Trang 21mà là dân trong vùng, liên vùng, cả nước Theo các nhà nghiên cứu,
ở m iền Bắc có 72% lễ hội trong năm diễn ra từ tháng 12 đến tháng
3 âm lịch hàng năm Điều này rất có ý nghĩa đối với hoạt động du lịch của nước ta, vì thời điểm này là thời điểm du lịch biền vắng khách và du lịch lề hội cũng làm hạn chế tính mùa vụ cúa du lịch biển, góp phần đa dạng sản phấm du lịch
Để mô tả một lễ hội dân gian, ta có thế thực hiện theo các bước sau:
- Xác định tên gọi của lễ hội
- Không gian diễn ra lễ hội
- Thời gian diễn ra lễ hội
Lịch sử phát triển của lễ hội, các nhân vật được tôn thờ, các sự kiện văn hóa lịch sử gắn với lễ hội
Quy mô của lễ hội m ang tính quốc gia hay địa phương
Các giá trị văn hóa, phong tục tập quán diễn ra trong lễ hội, các trò chơi dân gian, các hoạt động văn hóa nghệ thuật được tổ chức
- Giá trị với hoạt động du lịch
Thực trạng của việc tổ chức và khai thác lễ hội phục vụ nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa, phát triển du lịch
* V í dụ: M ô tả lễ hội đền Xà (làng Xà N gọt, xã Tam G iang,
h u y ện Y ên P hong, tỉnh B ắc Ninh).
Ở vùng ven sông c ầ u , tỉnh Bắc Ninh với mật độ dày đặc các làng thờ thánh Tam Giang thì gần như mọi lễ hội nơi đây đều liên qiuan đến hai nhân vật huyền sử này Đền Xà thuộc làng Xà Ngọt,
x ã Tam Giang, huyện Y ên Phong, tỉnh Bắc Ninh cũng là một trong nlhững trung tâm thờ thánh Tam Giang Theo truyền thống trước đây, lễ hội được tổ chức từ ngày mồng 10 tháng Tư đến ngày 15 tháng Tư (Âm lịch) hàng năm Kỷ niệm ngày hóa cua nhị vị thánh
T am Giang: Trương Hống, Trương Hát
Trang 22Lễ hội Đền Xà được hai làng Xà Đông và Xà Đoài cùng lo liệu Ngay từ đầu tháng dân làng đã họp để bầu ra những vị cai đám chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức lễ hội Cũng giống như nghi lễ
mở đầu hầu hết các lễ hội thuộc vùng châu thổ Bắc Bộ, lễ rước nước
từ sông Cầu đến đền Xà để làm lễ mộc dục và lễ gia quan diễn ra long trọng Sau đó là lễ rước nhị vị thành hoàng tò đền Xà về đình làng Đi đầu đám rước là đoàn cầm cờ ngũ sắc, tiếp theo là đội kéo xe song mã (gồm một ngựa hồng, một ngựa bạch) theo quan niệm của dân thì xe song mã tượng trưng cho ngựa chiến của nhị vị thánh Tam Giang Theo sau là kiệu bát cống Trên kiệu có đặt hòm sắc phong của các triều đại phong kiến ban cho nhị vị Đức thánh Tam Giang Kế đến là phường bát âm, rồi các quan viên áo mũ chỉnh tề Cuối cùng là dân làng và khách thập phương tới tham dự lễ hội
Sau khi rước bài vị thánh vào ngự trong đình, các nghi lễ được tiến hành đầy đủ và trang nghiêm trong hai giờ Nhưng nhắc tới lễ hội đền Xà còn phải nhắc đến trò Bơi chải Chải được làm bàng gồ Chò dài khoảng 30m, bề ngang từ 80cm đến lm Đ ầu và đuôi chải được uốn theo hình đầu rồng và đuôi rồng Các chàng trai tham gia thi bơi chải phải qua một cuộc tuyển chọn kỹ lưỡng Họ phải là trai tân, khoẻ mạnh, biết bơi lội và đặc biệt bơi chải giỏi, gia đình phải hòa thuận êm ấm, làm ăn phát đạt và chàng trai đó không mắc lỗi gì với làng trong năm Điểm xuất phát của cuộc thi bơi chải được bắt đầu ở cửa đền Xà và đích đến là đầu bến đò N hư Nguyệt Chải nào thắng sẽ được làng trọng thưởng Chải muốn bơi nhanh phái cần sự hòa nhịp của toàn đội Ngoài những tay bơi, mồi chải còn phải kén hai người (thường là bậc đàn anh, có kinh nghiệm): M ột người cầm trống khẩu đứng ở giữa chải để giữ nhịp sao cho đều để khỏi lạc tay chèo và một người cầm lái đứng ở cuối chải Người này cầm cả vận mệnh của chiếc chải trong tay, chải đi nhanh hay chậm là do nhiệm
vụ của người lái, phải giữ lái cho chải đi thẳng, phải lựa tránh những chải khác m à vẫn vượt lên đầu, lại có lúc quay, khi lượn, phải lựa cho chải theo lái Với từng ấy khó khăn người cầm lái phải đứng cho vững và luôn chú ý tới hiệu lệnh của người cầm trịch Các
Trang 23tay chái thì hết sức chú ý vào cuộc hơi tay phải hơi cho đêu và tai phai nghe tiếng trống.
Lễ hội Bơi chải ở đền Xà cũng giống như nhiều lỗ hội Bơi chải khác ở vùng châu thổ Bắc Bộ thường được tổ chức trong khoảng thời gian từ tháng Ba đến tháng Năm (Ảm lịch) như: hội bơi chai ư đình Đăm, (xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội) mở từ mồng 9 đến ngày 12 tháng Ba, hội Bạch Hạc (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) đua thuyền trên sông Lô ngày mồng 10 đến ngày 13 tháng Ba, trùng hợp với đầu mùa mưa ở miền Bắc đầu mùa làm
ăn ở vùng đồng mùa thuộc châu thổ Bắc Bộ ngày xưa Hình ảnh những tay chèo nhịp nhàng bơi trong tiếng trống, tiếng chiêng vừa mang ý nghTa biểu trưng sức mạnh thi tài thượng võ, vừa thav thế cho lời cầu nguyện cúa người dân về những cơn mưa dông đầu mùa đến đúng lúc để cây lúa có thế "phất cờ mà lên”
3.2.1.2 Nghê và làng nghê thu công truy én thông
Việt Nam là nước có nhiều làng nghề và làng nghề thu công truyền thống nổi tiếng Nghệ thuật sán xuất các sản phâm những giá trị văn hóa, lịch sử của các làng nghề thủ công truyền thống có sức hấp dẫn lớn, góp phần tạo ra sự đa dạng, đặc sắc, khả năng cạnh tranh của sản phẩm du lịch nước ta
Theo tiêu chí làng nghề nông thôn Việt Nam: '‘Làng nghề là làng có trên 30% tổng số dân tham gia sản xuất các sán phấm phi nông nghiệp, tổng doanh thu do hoạt động sản xuất chiếm trên 50% tổng doanh thu của cả làng"
Hiện nay cả nước có 1450 làng nghề, châu thố Bắc Bộ chiếm 67,3% , miền Trung chiếm 20.5% và miền Nam chiếm 12,2% Gồm
6 loại hình chủ yếu: Chế biến thực phẩm và dược liệu có 197 làng (13,59% ); Ươm tơ dệt vải, đồ da có 173 làng (11.93%); Thủ công, nnỹ nghệ, thêu ren có 618 làng (62.1%); Các nghề khác có 341 làng (2 3 ,5 2 % )(l)
(l) Đ ặng Kim Chi, Sđd, tr 21.
Trang 24- Nghề chạm khắc đá: Từ thời đồ đá cũ, cách ngày nay khoảng
30 vạn năm, những người cổ đại trên thế giới cũng như ở Việt Nam
đã bắt đầu chế tác những công cụ bằng đá thô sơ Trái qua thời kỳ đồ
đá nhiều công cụ bằng đá cuội đã được ghè đẽo, những bức tranh chạm khắc đá đã được tìm thấy ở các di chi thuộc nền văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn Đến thời kỳ đồ đá mới và sơ kỳ kim khí, người Việt
đã chế tác được nhiều công cụ sản xuất, đồ trang sức bàng đá tinh xảo như rìu lưỡi xéo (Hoa Lộc - Thanh Hóa), rìu bôn, các bàn mái, chày nghiền, vòng tay, khuyên tai, tượng bằng đ á
Vì vậy, đến nay nghề chạm khắc đá và các làng chạm khẳc đá vẫn được bảo tồn, phát triển tại nhiều làng ở nước ta, tiêu biểu như: Kim Chủ (Kim M ôn - Hải Dương); làng Nhồi (tức An Hoàng - Thanh Hóa); làng Quan Khái (Hòa Hải - Đà Nằng) và rải rác ở địa phương N inh Bình, Thừa Thiên Huế, Biên H ò a
- N ghề và làng nghề đúc đồng: N ghề đúc đồng xuất hiện ở
nước ta rất sớm Các sản phẩm đồ đồng như: công cụ sản xuất,
vũ khí, đồ dùng, đồ trang sức, tượng đồng, tiêu biếu là trống đồng Đông Son được tìm thấy trong thời đại đồng thau cúa nền văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh đã chứng tỏ trình độ kỹ thuật đúng đồng tiên tiến, tinh xảo, tư duy triết học và óc thấm
mỹ tinh tế của các nghệ nhân nước ta
N gày nay, nghề đúc đồng vẫn được phát triển tại nhiều địa phương ở nước ta như: làng Ngũ X á (H à Nội); Phường Đúc (Huế); làng Phương Điện (Điện Bàn - Quáng N am ); làng Trà Đúc (Thanh H ó a )
- N ghề và làng nghề sản xuất gốm: Việt Nam là nước có nghề
sản xuất gốm phát triển rực rỡ và lâu đời Mồi thời kỳ, ở nước
ta lại có những loại men gốm, đồ vật gốm mới được chế tác Đến nay nhiều địa phương vẫn còn bảo tồn khôi phục được nghề thuật sản xuất gốm truyền thống, với nhiều mầu mã độc đáo, chất lượng, hấp dần khách du lịch như: Bát Tràng (Hà
Trang 25Nội); Hương Canh (Vĩnh Phúc); Đông Triều (Quáng Ninh); Thổ Hà (Bắc Giang); Biên Hòa (Đồng Nai): Thanh Hà (Hội An); Lò Chum (Thanh H óa)
- Nghề chạm k h ắc gỗ: Là đất nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, vật liệu tre gỗ sẵn có, do vậy người dân đã sáng tạo, chế tác và không ngừng phát triển nghề và làng nghề chạm khẳc
gồ Xây dựng và điêu khắc đinh, đền, chùa, miếu, nhà ở Trong đó có thể kể đến các làng: Đồng Kỵ (Bắc Ninh); Đông Minh (Vĩnh Bảo - Hà Nội); La Xuyên, Yên Ninh (Nam Định); Kim Bồng (Quảng Nam); Nhị Khê (Thường T ín)
- Nghề chế tác vàng bạc: Nghề chế tác vàng bạc còn được gọi là nghề kim hoàn Cái tên “kim hoàn" mãi đến thế kỷ VI mới xuất hiện, do 3 anh em họ Trần đều là thợ giỏi: Trần Hoa, Trần Điện, Trần Điều (Tổ nghề làng kim hoàn Định Công (Hà Nội)
và Sài Gòn - Chợ Lớn)1 mở cửa hiệu lấy tên là "kim hoàn", về sau các thợ vàng bạc đều gọi cứa hàng mình là "kim hoàn, sau gọi chung cho nghề chạm vàng bạc Nghề chạm vàng bạc ở nước ta xuất hiện và phát triển sớm, nhưng phải từ thế kỷ VII trở đi mới phát triển nhiều Hiện nay, nước ta vẫn còn một số làng nghề bảo tồn được nghệ thuật chế tác vàng bạc với nhiều loại sản phẩm đồ trang sức, trang trí đạt trình độ nghệ thuật tinh xảo, hấp dẫn du khách, có thể phát triển thành các điếm du lịch làng nghề, phố nghề
- Nghề dệt và thêu ren: Theo truyền thuyết thì nghề dệt ở nước ta
đã phát triển khá sớm, có nhiều vị công chúa, nguyên phi ở nước
ta có công trong việc phát triển, trấn hưng nghề này Có thể kế đến một số làng dệt như: Vạn Phúc (Hà Đông - Hà Nội); La Khê (Hà Đông - Hà Nội); c ẩ m Kim (HỘI An - Đa N ằng) Cùng với nghề dệt lụa, nghề thêu ở nước ta cũng có từ thời kỳ đầu Công
(l) Bùi Văn V ượ ng, Sđd, trang 4 1 5 - 4 1 8
Trang 26nguyên và khá phát triển vào thời kỳ Lý - Trần và đến thời Lê có nhiều cải tiến về kỹ nghệ và mẫu mã Hiện nay, có nhiều làng bản và trung tâm phát triển nghề thêu và bán các sản phẩm thể, hấp dẫn du khách như: xã Quất Động (Hoa Lư - Ninh Bình); xưởng thêu XQ (Đà L ạt)
- N ghề, làng nghề sơn mài và khảm: Nghệ thuật “sơn son thếp
vàng” đã góp phần làm nên vẻ đẹp lộng lẫy trong các di tích lịch sử kiến trúc đình, chùa, đền, miếu, cung điện Tố nghề của nghề sơn là Trần Lư tướng công, người làng Bình Vọng, tên nôm là làng Bằng (Thường Tín - Hà N ộ i)(1) Sơn ta thường
có 3 màu là màu then (màu đen), sơn cánh gián (màu nâu), màu son (màu đỏ), có thể dùng cả kỳ nghệ dát (thiếp) vàng bạc, nhưng chưa đạt đến kỹ nghệ, trình độ sơn mài Đến năm 1925, trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương được thành lập và nhà trường có lập xưởng và mời các nghệ nhân nghề sơn giúp Một
số sinh viên đã học nghề này, trong đó có họa sĩ Trần Văn c ẩ n là sinh viên đầu tiên làm tranh sơn mài với việc phú lớp son có nhựa thông thay cho dầu trầu, m à vẫn giữ được sơn và mảng màu Từ đây mở ra một trường phái tranh mới và bí quyết của nghệ thuật sơn mài Nghề khảm trai, khảm xà cừ ở nước ta cũng
có xuất hiện khá sớm khoảng thời Lý - Trần, nhưng từ thòi Nguyễn nghề này phát triển rực rỡ, bới có sự sáng tạo về phong cách trang trí mỹ thuật “nhất thi, nhì họa" Làng nghề nổi tiếng nhất là làng Chuôm (Chuyên Mỹ - Phú Xuyên - Hà Nội)
- N gh ề và làng nghề làm tranh dân gian: Theo các nhà nghiên cứu, nghề làm tranh dân gian ở nước ta có từ thời Lý - Trần -
Hồ, với việc phát hành tiền giấy N hưng phải đến thời Hậu Lê mới phát triển rực rỡ Có thể kể đến một số làng nghề, phố nghề làm tranh dân gian như: làng Đ ông Hồ (Thuận Thành - Bắc Ninh), Hàng Trống (Hà Nội), Kim Hoàng (xã Vân Canh - Hoài Đức - Hà N ộ i)
(l) Bùi Văn Virợng, Sđd, tr 388 - 390.
Trang 27Ngoài những nghề, làng nghề thu công truyền thống ké trên, hiện nước ta còn nhiều làng nghề khác vẫn đang được bảo tồn, phát huy được các giá trị lịch sử, văn hóa, kinh tế, hấp dẫn du khách tham quan, nghiên cứu và mua các sản phâm.
C ác bước mô tả về m ột nghề và làng nghề thủ công truyền
số người, số hộ dân tham gia tố chức sản x u ấ t
- Nghệ thuật đặc sắc của nghề và làng nghề: nghệ thuật trong sản xuất, lựa chọn nguyên vật liệu, cơ cấu chứng loại số lượng
và chất lượng, giá trị thấm mỹ và sử dụng của sản ph ẩm ,
- Việc tiêu thụ sản phẩm: giá cả của sản phẩm, mức thu nhập và đời sống của người thợ thú công từ sản xuất
- Môi trường làng nghề
- Những giá trị văn hóa gắn với nghề và làng nghề thủ công truyền thống
* V í dụ: M ô tả làng lụa Vạn P h ú c (Hà Đ ông - Hà Nội)
Lịch s ử làng nghề: N ghề dệt lụa truyền thống của làng Vạn
Phúc đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm Tương truyền rằng, Tổ raghề dệt của làng Vạn Phúc là một người con gái họ Lã - người có công đem những bí quyết dệt lụa của Trung Quốc về truyền dạy raghề cho những người dân ở quê Chính vì vậy, lụa Vạn Phúc
Trang 28không giống bất kỳ một loại lụa nào được dệt ở các làng khác, bởi chất liệu mềm mại và độ tinh xảo trong từng đường tơ, từng họa tiết trang trí Lụa Vạn Phúc không chỉ là sản vật quý của làng Vạn Phúc, m à còn là mặt hàng truyền thống của người Việt Nam.
S ả n p h ẩ m làng nghề' Chỉ riêng làng dệt Vạn Phúc đã có tới 70
thứ hàng the, lụa, đũi, gấm, lĩnh, vải Tùy theo yêu cầu cửa thị trường, m à người thợ ở đây dệt thứ hàng phù hợp Có thể giới thiệu một số mặt hàng tiêu biểu như:
Gấm: Là loại hàng dệt dày (nền dày), có nhiều màu sắc khác
nhau tạo nên gấm các loại, như: gấm lam, gấm hồng cánh chấu, gấm đỏ, gấm vàng Hoa trên gấm thường có màu tươi rực rở được cài dệt nổi, lụa như thêu chi các màu rất khéo trên nền sa tanh Một tẩm gấm có nhiều màu, phổ biến là 5 hay 7 m àu - gọi là gấm ngũ thể hay gấm thất thể
Sợi ngang, sợi dọc mỗi tấm gấm đều nhuộm màu, theo đúng
gam màu định trước Sợi dọc tạo nền chìm ở dưới Sợi ngang tạo hoa
nổi lên trên - mặt phải tẩm gấm Khi ánh sáng dọi vào, tùy độ sáng trời hay sáng ánh đèn, nến thì ở mỗi góc nhìn, mặt hoa gấm phản chiếu màu và do đó tạo nên các sắc độ khác nhau, trông lóng lánh, sinh động Gấm là mặt hàng quý nhất và khó làm nhất trong tất cả các mặt hàng tơ lụa, người dệt phải có tay nghề rất cao, kỳ thuật điêu luyện, tinh xảo, có óc thẩm mỹ tuyệt vời Theo truyền tụng dưới thời
Lê, chỉ có làng Vạn Phúc là nơi duy nhất dệt được gấm
Vân: Là mặt hàng lụa mỏng có hoa nổi, hoa chìm Hoa nổi trên
mặt lụa bóng mịn Cong hoa chìm phải soi lên ánh sáng mới thấy được Thợ Vạn Phúc dệt vân cũng giỏi nhất, ca dao xưa có cầu:
“The La, lụa Vạn, vải Canh
lụ a : Gồm các loại lụa tron, lụa hoa Đấy là kiểu đan lóng mốt
nhưng mặt lụa rất mịn màng, óng ả Khố tấm lụa vừa phải, nên việc cắt may khá thuận lợi
Trang 29The, sa, xuyến, băng, q u ế: Các loại sản phấm này đều dệt thung
(trên mặt các sản phẩm này có những lỗ thủng nhỏ rất đẹp), nhưng kích thước và độ dày thưa khác nhau và cách bố trí sợi dọc, sợi ngang khác nhau
Lĩnh, đoạn, vóc, sa ta n h: Là loại hàng dệt dày số lượng sợi
dày của mỗi loại hàng này đều nhiều hơn lụa quãng độ 8.000 sợi trong khi đó lụa chỉ có 3.000 sợi dọc mồi tấm
Nghệ thuật trang trí: Hoa văn trên lụa được xem như mẫu mực
của phong cách tạo hình trên chất liệu mỏng, bằng tơ sợi cua các nghệ nhân làng Vạn Phúc Các nghệ nhân sử dụng những đề tài trang trí từ kho tàng nghệ thuật truyền thống, nhưng sáng tạo chứ không rập khuôn, nhằm thích ứng với chất liệu dệt Đấy là các đề tài hoa lá
và các sự vật quen thuộc, rút ra từ trong nghệ thuật trang trí, tạo hình,
đồ án của người Việt và một số dân tộc thiểu số Đề tài thường gặp là
ngũ phúc (năm con dơi quanh chữ Thọ)\ Long Vân (Rồng mây); Nguyên hoa (hoa chanh, cúc, hồng ); Hoa lộc (bông hoa trên trồi
biếc); Thọ đỉnh (Lư hương và chữ Thọ)\ Quần ngiĩ vọng nguyệt (đàn
cá trông trăng); Sóng nước Nhìn chung, hoa văn dệt truyền thống
thường được bố trí đối xứng Đường nét trang trí không rườm rà, phức tạp, mà luôn mềm mại, phóng khoáng, dứt khoát
Kỹ thuật dệt lụa Để tạo nên những sản phẩm tơ lụa tuyệt hảo nói
Itrên, những nghệ nhân làng Vạn Phúc đã trải qua một quy trình kỹ
Ithuật phức tạp, gồm nhiều công đoạn: tơ, hồ sợi, dệt, nhuộm Mỗi công
đoạn này đều tiến hành theo những quy định khá nghiêm ngặt
Tơ: Người thợ không chỉ quấn sợi vào ống đơn thuần như quay
sợi để dệt vải (sợi bông, sợi gai )- Tơ lụa đòi hỏi phải chọn sợi,
đ ẽo sợi, mắc sợi để lựa chọn riêng sợi dọc, sợi ngang.
Hồ sợ i: Việc này chỉ thực hiện với sợi dọc Kỹ thuật hồ sợi đòi
íhỏi rất công phu, cả vùng Hà Tây xưa, không làng nào hồ sợi giỏi bàng làng Vạn Phúc Nghệ nhân cua lầng pha sáp ong đế hồ sợi, đồng thời sử dụng bí quyết kỹ thuật riêng, làm cho sợi bóng, dẻo dai
Trang 30D ệt: v ề cơ bản khung cửi hiện nay không khác xưa nhiều Đê
dệt lụa trơn, người thợ dùng hai loại go - go thăng và go vỏng (go
thẳng để dệt lụa mỏng, mịn và go tròn để dệt lụa có chấm thủng) Dệt lụa hoa thao tác như dệt trơn, nhưng người nghệ thợ cần vẽ hoa
trước và đặt mẫu lên bàn khâu hoa Một thợ dệt và một người cài
hoa (hay kéo hoa).
Với các mặt hàng nổi tiếng của mình, lụa Vạn Phúc đã có mặt rộng rãi trong cả nước và vươn ra thị trường các quốc gia châu Âu châu Á, Mỹ, Nhật Bàn và nhiều nước khác trên thế giới
Làng Vạn Phúc hiện có hơn 1.276 hộ dân sinh sống, thì có hơn 1.092 hộ sản xuất và kinh doanh các mặt hàng dệt lụa tơ tàm, thu hút hơn 1.400 lao động trên tổng số hơn 2.700 lao động trên địa bàn Trong làng nghề, đã hình thành nhiều doanh nghiệp kinh doanh hàng dệt lụa với vốn đầu tư lớn; nhiều công nghệ và máy móc tiên tiến đã được ứng dụng đế đa dạng hóa mầu mã, chủng loại
Với đặc thù nằm gần quốc lộ 6 và gần trung tâm Hà Nội, thuận tiện trong việc giao thông, đi lại, việc sản xuất ở Vạn Phúc rất có điều kiện để phát triển gắn với du lịch làng nghề, góp phần đáng kể cho việc phát triển kinh tế của địa phương Tuy nhiên, để góp phần thúc đẩy phát triển ỉàng nghề bền vững, làng lụa Vạn Phúc rất cần
sự quan tâm, đầu tư hơn nữa của chính quyền địa phương Cụ thế là
(l) Văn Bàn, Sđd, số 1 - 2007, tr 1.