Giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch: Phần 1 cung cấp cho người học những kiến thức như: Sản phẩm du lịch nhìn từ góc độ văn hóa lí luận chung; Nguyên tắc và nội dung quản lí di sản văn hóa với phát triển du lịch. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 2(Giáo trình dành cho sinh viên đại học và cao đẳng
các trường văn hóa - nghệ thuật)
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI■ t •
Trang 31.2 Những vấn đề cấp bách đối vói du lịch hiện nay và
quan điểm của Nhà nước về phát triển du lịch 23
2.1 Những vấn đề chung về quản lí di sản văn hóa với phát
2.1.1 Quàn lí văn hóa và quản lí di sản văn hóa 542.1.2 Mối quan hệ giữa quán lí di sản văn hóa với phát triến
2.1.3 Tác động tương hỗ giữa hoạt động du lịch và hệ thống di
2.1.4 Những yêu cầu cần đạt được trong công tác quản lí di sàn
văn hóa với phát triển du lịch 66
2.2 Nguyên tắc của quản lí di sản văn hóa vói phát triển
2.2.1 Một sô quan điêm có liên quan đên di sán văn hóa và
2.2.2 Những nguyên tắc cơ bàn của quá trình quản lý di sán
văn hóa với phát triến đu lịch 72
Trang 42.3 Nội dung CO’ bản của công tác quản lí di sản văn hóa vói
2.3.1 Quản lí về đương lối chính sách phát triến 77
3.2.2 Mô tả di sản văn hóa phi vật thể 109
3.3.1 Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch tại khu vực di sản văn hóa 129
3.3.2- Đánh giá đường lối, chính sách thuận lợi cho phát triến du lịch
3.3.3 Đánh giá khả năng đầu tư, hợp tác phát triển du lịch tại khu
3.3.4 Đánh giá hoạt động xúc tiến và quảng bá du lịch tại khu vực
3.4 Hoạch định chính sách, biện pháp quản lý 134
3.4.1 Quản lí việc sử dụng và bảo vệ khu vực di sản văn hóa 1363.4.2 Quản lí quy hoạch phát triển du lịch 1373.4.3 Quản lí kinh doanh dịch vụ du lịch 1393.4.4 Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế 1403.4.5 Khuyến khích cộng đồng tham gia bảo tồn di sản văn hóa đế
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Trong một thời gian dài ở nước ta, di san văn hóa luôn được Nhà nước chú trọng báo tồn, gìn giữ với vai trò là những giá trị văn hóa tịch sử cùa cha ông đê lại Chúng ta trân trọng và yêu quý những di sản đó, nhưng chú yếu vẫn là gìn giữ như gìn giữ một bao vật, một kỉ niệm về quá khứ Trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, vai trò của di sản có những đóng góp nhất định vào công cuộc bảo vệ đất nước, chẳng hạn như các di tích lịch sử cùng với những giai thoại, truyền thuyết hay những cứ liệu lịch sử có thật của các di tích và sự kiện như đền Hùng, đền Kiếp Bạc, thành c ổ Loa, sông Như Nguyệt, Vân Đồn thành Nhà Hồ, Bình Ngô Đại Cáo hội nghị Diên Hồng, là những bài học lịch sử hun đúc nên lòng yêu nước,
ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm của toàn dân tộc Trong các cuộc chiến đấu đó, những người ra trận hay những người ở hậu phương đều m ang trong minh chiều sâu văn hiến mấy ngàn năm dựng và giữ nước cúa dân tộc Chính từ đó mà người Việt Nam đã làm nên những chiến thắng oanh liệt trong tất cả các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Vai trò của các di sản văn hóa đã làm tròn bổn phận của m ình trong quá khứ lịch sử
Bên cạnh các di sản vật thể là một khối lượng vô cùng phong phú các di sản phi vật thể Đó là các truyền thuyết, giai thoại lịch
sử, câu chuyện dân gian và đặc biệt là lễ hội liên quan đển các di
tích như đền Hùng, đền Kiếp Bạc, đền Đinh Lê, đền Hai Bà Trưng Tản Viên Sơn với nhiều đền miếu liên quan - những lễ hội mà khi
nhắc đến, mọi người dân Việt Nam đều thấy đó là những di sán độc đáo của cha ông mình đế lại cho muôn đời sau Những làng nghề
thủ công truyền thống với nhiều sản phấm như gốm Bát Tràng, Phù
Trang 6Lãng, Chu Đậu; nghề sơn mài, nghề tiện khắc gồ : những làng hát Quan họ, hát Dô, hát Chèo Tàu, hát Xoan cùng nhiều giá trị văn hóa phi vật thể khác như tri thức dân gian, phong tục tập quán cua các làng cổ, văn hóa ẩm thực đều là những giá trị văn hóa có thế khai thác du lịch, phục vụ sự phát ữiển kinh tế của đất nước.
Khi đất nước trở lại thanh bình, di sản văn hóa trước đây đã khích lệ lòng yêu nước, từ chồ là một trong các động lực đê chiến thắng kẻ thù, nay phải làm sao để trở thành sức mạnh trong việc phát triển kinh tế, xây dựng đời sống của nhân dân? Đó là vấn đề đặt ra với các di sản văn hóa của chúng ta Đây cũng chính là yêu cầu mà
các Nghị quyết của Đảng luôn đề ra nhằm biến ''Văn hóa là mục tiêu, nền tảng, động lực của sự phát triển xã hội" Nhất là khi đời sống
kinh tế được nâng cao như hiện nay, vai trò của những giá trị văn hóa càng được coi trọng và vai trò ấy được khai thác tốt nhất là trong các hoạt động du lịch, một trong những ngành kinh tế phát triển nhất trong các xã hội hiện đại c ỏ thể nói, du lịch chính là nơi mà các di sản văn hóa được khai thác triệt để nhất và cũng hiệu quả nhất
Du lịch là một ngành kinh tế tổng họp, trong quá trình phát triển, du lịch khai thác các giá trị cúa kho tàng di sản văn hóa dân tộc để đem lại lợi ích kinh tế, văn hóa - xã hội to lớn Tuy nhiên, trong quá trình khai thác kho tàng di sản văn hóa, du lịch sẽ tác động và làm biến đổi mạnh mẽ kho tàng ấy của cha ông ta Điều đó luôn khiến cho vấn đề quản lí, khai thác, bảo tồn, chấn hưng và phát triển kho tàng di sản văn hóa của dân tộc có một vai trò đặc biệt quan trọng Vì thế, chúng tôi thấy, trang bị cho sinh viên những
kiến thức về uQuản lí di sản văn hóa với phát triên du lịch" là việc
làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay
2 Môn học này cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bán
về một số vấn đề liên quan đến văn hóa, di sản văn hóa, du lịch, du lịch văn hóa và những sản phẩm du lịch văn hóa - những quan điếm về quản lí và khai thác những di sản văn hóa ấy cho phát triền du lịch ớ
Trang 7nước ta Từ đó chỉ ra nhữne nội dung và nguyên tắc quán lí các di sán văn hóa nhằm phục vụ việc phát triên du lịch Đồng thời, môn học cũng trình bày quy trình tổ chức và quản lí di san đế phát triển du lịch Bằng cách đó sinh viên sẽ được rèn luyện các kĩ năng lí thuyết và thực hành đế họ có thể làm tốt công việc này khi được giao.
3 Giáo trình này được chia thành ha chương dưới sự chu biên của PGS TS Lê Mồng Lý với sự phân công như sau:
- Chương I do PGS.TS Lê Hồns Lý biên soạn
- Chương II do TS Dương Văn Sáu biên soạn
- Chương III do TS Đặng Hoài Thu biên soạn
Ngoài ra trong quá trình biên soạn còn có sự đóng góp của Hoàng Thị Phương trong việc biên tập và hoàn chỉnh ban thảo cuối cùng.Chương 1: San phẩm du lịch nhìn lừ góc độ văn hóa lí luận chung.Trong chương này chúng tôi bàn đến những vấn đề liên quan đến văn hóa và những khái niệm, những vấn đề liên quan đến di sản
và những khái niệm công cụ trong lĩnh vực này một số vấn đề về
du lịch và du lịch văn hóa Người đọc sẽ có một sự hiếu biết tống quan về các vấn đề văn hóa, di sản văn hóa, du lịch và du lịch văn hóa Đồng thời chúng tôi cũng giới thiệu những quan điểm chính thống của Nhà nước trong việc quản lí di sản văn hóa và phát triển
Chương III: Ọuy trình tổ chức và quản lí di sán văn hóa với phát triến du lịch
Trang 8Đây là chương đề cập đến những vấn đề cụ thể những kĩ năng thực hiện việc quan !í di sản văn hóa nhàm phái trién du lịch Những quy trình quản lí và tổ chức sẽ dược trình bày tại chưưng này giúp cho người đọc thấy được những mô hình, cũng như phương pháp thực hiện việc quán lí và tố chức tại các di sán văn hóa để phát triển du lịch.
Đó cũng là mục tiêu mà giáo trình muốn đạt tới Ngoài ra giáo trình cũng sẽ xem xét việc quản lí các di sản văn hóa như thế nào đế
tồ chức và phát huy những giá trị của nỏ vào việc phát triên du lịch, tạo ra nguồn lợi kinh tế cho đất nước, đồng thời qua đó giữ gìn các
di sản văn hóa cúa tất cả các dân tộc đang cùng nhau sinh sống trên đất nước ta
4 Trong quá trình biên soạn giáo trình, chúng tôi đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình cứa Quỳ Ford, Trung tâm A & c Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, cùng các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và các bạn đồng nghiệp Chúng tôi vô cùng biết ơn và xin có lời cam tạ chân thành đến tất cả Quý vị
5 Đây là lần đầu tiên chúng tôi thực hiện giáo trình nên chắc chắn không tránh khỏi những sai sót Vì vậy, chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các nhà nghiên cứu, các đồng nghiệp và các bạn sinh viên đế chúng tôi có thế hoàn thiện giáo trình trong những lần xuất bản tiếp theo
N hóm biên soạn
Trang 9ChươNq I
SẢN PHẨM DU LỊCH NHÌN TỪ CÓ C ĐỘ
VÃN HÓA LÍ LUẬN CHUNG
1.1 Một số khái niệm và quan điếm về văn hóa và di sản văn hóa
Chúng ta đều biết, không phải bất kể một sản phẩm văn hóanào cũng có thể khai thác như một sản phẩm du lịch, song không cómột sản phẩm du lịch chính đáng nào lại không mang những giá trịvăn hóa Dù người ta đi thăm một danh lam thắng cảnh hay một ditích lịch sử hoặc di tích văn hóa thì bên cạnh cái đẹp cái hoànhtráng hay sự hấp dẫn bề ngoài hoặc sự cố kính của nó đều chứađựng trong đó những giá trị văn hóa nhất định Giá trị văn hóa nhưcái hồn của nhừng di tích ấy nó làm tăng thêm vé đẹp và sự hấpdẫn bởi chiều sâu lịch sử hay bề dày văn hóa của di tích, v ấ n đề ơchồ, người khai thác có biết khai thác triệt đế những giá trị của nỏhay không mà thôi Vì vậy, việc xác định cho hết các giá trị văn hóacủa mỗi di tích là điều cần thiết, cần có sự tham gia của rất nhiềungười trong lĩnh vực này, mà trước hết là việc xác định cho đầy đủ
về khái niệm văn hóa
ỉ*
Cho đến nay, số lượng các định nghĩa về văn hóa đã không ngừng tăng lên tới con số hàng trăm Qua nội dung các định nghĩa cho thấy, hầu hết không phải các nhà khoa học có sự khác nhau hay
m âu thuẫn trong việc xác định khái niệm, mà chỉ do mục đích và góc nhìn khác nhau của họ trong từng công việc nghiên cứu Đây cũng là việc bình thường, bởi vỉ ở mồi vị trí, người nghiên cứu đều muốn nhấn mạnh những công việc mình làm Chắng hạn, nhà
Trang 10nghiên cứu triết học nhìn văn hóa dưới góc độ tồng hợp với những quy luật chung của triết học, còn nhà nghiên cứu nghệ thuật lại nhấn mạnh góc độ m ĩ học và nghệ thuật của văn hóa, các nhà dân tộc học lại nhìn văn hóa trong nghĩa rộng cả về vật chất và tinh thần Tuy nhiên, dù ở góc độ nào thì các nội dung của định nghĩa văn hóa cũng dần dần được bao quát đầy đú ở mội khía cạnh của
nó Sự phong phủ của các định nghTa cho thấy đối tượng văn hóa luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu đế ý và quan tâm Đồng thời, nó cho thấy văn hóa cũng thay đồi theo thời gian và theo sự phát triển của xã hội, phù họp với những điều kiện mà nó tồn tại ở trong đó
Trong một giai đoạn lịch sứ nhất định, chúng ta đã có những quan niệm không đúng về văn hóa dẫn đến sự ứng xử máy móc và thô thiển Chẳng hạn, có một thời gian chúng ta quan niệm ngành
vãn hóa là’ “cờ, đèn, kèn, trố n g ” với nghĩa chỉ là việc tuyên truyền
cổ động cho những chủ trương hay chính sách chính trị của Nhà nước Khi một chính sách nào đó ra đời, ngành văn hóa có nhiệm
vụ tuyên truyền bàng các hoạt động thông tin, cổ động, sáng tác thơ
ca, hò vè, phụ họa, phục vụ cho việc giải thích các chính sách đó đến đông đảo bà con, sao cho nhanh nhất, dề hiểu nhất Ngoài ra ngành văn hóa phải phục vụ những cuộc hội nghị, hội tháo bàng việc kẻ vẽ những băng rôn, khấu hiệu, treo đèn, kết hoa, phát loa truyền thanh, thông tin cổ động đế người dân biết đến sự kiện này
Có thời kì, người ta đánh đồng văn hóa với trình độ học vấn, vì thế, một thời gian dài, khi chúng ta khai lí lịch đều ghi ở mục trình
độ văn hóa là: H ết p hổ thông (hoặc lớp 10) hay Đại học Việc này
kéo dài khá lâu và phần nào đó ăn sâu vào kí ức của một bộ phận nhân dân, mãi đến những năm gần đây mới được sửa chữa
Thời gian diễn ra cuộc Cách mạng tháng Tám và sau đó là chiến thắng Điện Biên Phủ kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trước những cơ hội vươn lên xây dựng một xã hội mới
Trang 11chủng ta vì quá háo hức với cái mới nên đã có những sai lầm trong việc ứne, xử với các giá trị văn hóa cũ như các di tích văn hóa, các phong tục tập quán, hội hè đinh đám, tín ngưỡng dân gian, khi cho
đó là những tàn tích của chế độ phong kiến, thực dân Hàng loạt đình chùa bị phá huỷ, nhiều hội hè và hoạt động tín ngưỡng bị cấm Điều này, ớ một chừng mực nào đó đã kìm hãm sự phát triên của văn hóa và phá huỷ không ít những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
Những ấu trĩ trong quan niệm văn hóa, xem nhẹ các yếu tố tâm linh, chưa coi trọng vai trò giáo dục trong gia đình, phó thác cho nhà trường và xã hội đã phần nào dẫn đến sự thái quá, sa đà, sinh tâm lí dân chú quá trớn, gây ra những hậu qua lâu dài về sau này Một trong những bất cập kể trên thế hiện trong quan hệ gia đình, nhất là việc giáo dục đối với con cái Nhiều gia phong bị mất giá trị tốt đẹp mối quan hệ cha con, anh em họ hàng bị coi nhẹ dẫn đến không ít những hậu quả trong quan hệ ứng xứ sau này như mất đoàn kết trong gia đình, dòng họ, anh em tranh chấp đất đai, của thừa kế, mâu thuẫn kéo dài
Một thời gian dài, văn hóa chủ yếu được xem xét dưới góc độ các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật như ca, múa, nhạc, sân khấu và các sinh hoạt văn nghệ khác Nó thể hiện chỉ trên bề nổi cúa cuộc sống và phục vụ kịp thời cho những mục đích chính trị trong từng giai đoạn Tuy nhiên, bề chìm của văn hóa như phong cách sống, mối quan hệ, cách ứng xử của con người trong các trường hợp khác nhau, lối sống văn minh, có kỉ luật, bảo vệ môi trường, cánh quan,
sự tôn trọng con người và tôn trọng bản thân trong mồi con người, các hành vi, lối sống đạo đức nhằm hình thành.nên một con người văn hóa thì chưa được chú trọng, mặc dù về mặt lí thuyết, chúng ta luôn nói đến điều đó - cái mà ngày nay ta gọi văn hóa là động lực
củ a sự phát triển Chẳng hạn, trở lại ví dụ về gia đình, nếu người con trong gia đình được giáo dục theo gia phong truyền thống kính
Trang 12trên, nhường dưới, yêu quý cha mẹ, ông bà, tổ tiên Nếu đứa trẻ được giáo dục tốt trong một gia đình có văn hóa, thì nó sẽ biết điều chinh mình trước những việc sai trái, biết sợ trước khi định làm một việc xấu, bởi nó nghĩ nếu minh gây ra chuyện không tốt thì không phải bản thân, mà cả gia đình họ hàng sẽ gánh chịu hậu quả, mang tiếng với dân làng, với hàng phố, thần linh sẽ trừng phạt Ngược lại, nếu không có những lực cản vô hình bằng sự giáo dục văn hóa trong gia đình như vậy thì nó sẵn sàng làm mọi việc, bất chấp sợ hãi
và hậu quả, có thể tội ác sẽ nguy hiếm hơn nhiều Nhờ vào động lực của văn hóa, những động cơ không lành mạnh trong một con người
đã được ngăn chặn, hoặc những thói quen do một nếp sổng thiếu văn hóa của chúng ta vốn đã được thể hiện từ bao đời mà không có
sự điều chỉnh dù chỉ là những hành vi rất nhỏ như xả rác trên đường phố, nói to ồn ào nơi công cộng, nhổ bậy bừa bãi hay chen lấn xô đẩy nhau khi tắc đường trong lúc xếp hàng mua bán hay làm bất cứ một việc gì Ngoài ra, trong suổt thời gian dài, chúng ta chỉ chú ý nhiều đến các hoạt động giải trí m ang tính giáo dục mà chưa chú ý đến các hoạt động giải trí nhằm hướng tới sự giải tỏa những căng thẳng, giảm áp lực trong công việc và làm cho tâm hồn con người thư thái, thăng hoa để sáng tạo
Do vậy, hiểu cho hết những giá trị và vai trò của văn hóa là một sự cần thiết đối với tất cả mọi người, đặc biệt là nhừng người
có liên quan và trực tiếp hoạt động trong ngành văn hóa
1.1.1 K hải niệm văn hóa
Trong một thời gian dài từ cuối thế kỉ XIX đến nay, các nhà nghiên cứu ở nhiều nước đã quan tâm đến việc tìm hiểu văn hóa trên thế giới và đã có những định nghĩa về nó Tương tự như vậy ở nước ta, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra không ít các định nghĩa về văn hóa Cuộc bàn luận sôi nổi nhất có lẽ phái kế đến những cuộc trao đổi, hội thảo do Viện Văn hóa nghệ thuật thuộc Bộ Văn hóa khi đó tổ chức trong thời gian những năm 80 cua thế kỉ trước Kết quâ của những trao đổi ấy được tập hợp trong một cuốn ki yếu
Trang 13mang tên “M ột vài suy n g h ĩ về một quan niệm vãn h ỏ à '{ 1 Dưới đảy
chúng tôi xin lược trích một số ý kiến trong đó:
"Văn hóa là những quá trình hoạt động sáng tạo của con neười theo hướng chân thiện mỳ và các sản phẩm của các hoạt động đó được lưu truyền từ đời này sang đời khác Những cái đó có tác dụng phát triển các lực lượng bản chất của con người bao gồm cả lực lượng thể chất và lực lượng tinh thần (ý thức, khả năng sáng tạo) do
đó làm cho xã hội tiến bộ"<2)
"Văn hóa là một hiện tượne xã hội biêu hiện những năng lực của con người vươn tới sự hoàn thiện trong quá trình cái tạo tự nhiên, xã hội và làm chủ bán thân Những năng lực ấy được khách quan hóa và đối tượng hóa trong hoạt động và trong sản phẩm cứa hoạt động người"<3)
Ba vấn đề cơ bản mà các khái niệm văn hóa hướng tới giái quyết là:
Thứ nhất: Quan hệ giữa con người và tự nhiên
Thứ hai: Quan hệ giữa văn hóa và xã hội
Thứ ba: Quan hệ giữa văn hóa và con người
Các quan điểm về văn hóa:
• Văn hóa là một tống thể giá trị vật chất và tinh thần
• Quan điểm lấy hoạt động của con người làm tiêu chuấn đế định nghĩa văn hóa
• Xem văn hóa như là một hệ thống dấu hiệu - thông tin
• Xem văn hóa như là một thuộc tính nhân cách
(l),(2) Viện Văn hóa nghệ thuật (1984), M ột vài su v n g h ĩ về m ột quan niệm văn
h ó a , Ki yếu (tài liệu lưu hành nội bộ), Hà Nội.
(3' Tài liệu đã dẫn, tr 28.
Trang 14• Xem văn hóa như là thuộc tính xã hội.
• Quan điểm xã hội chức năng về văn hóa nó xem văn hóa như
là một hệ thống nằm trong hệ thống xà hội nói chung ‘1 ’
"Với tính chất là một hiện tượng xã hội, văn hóa là sự phát triển những lực lượng bản chất của con người nhàm vươn lên làm chủ thiên nhiên, xã hội và bản thân, thể hiện ra trong hoạt động sáng tạo của con người và trong những kết quả của hoạt động đó, thúc đẩy sự phát triển của nhân cách và của xã hội theo hướng đạt tới cái đúng, cái tốt và cái đ ẹ p " (2)
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí M inh đã có một quan niệm hết sức tổng quát về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngừ chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sứ dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức
là văn hóa”(3)
Thời gian cuối thế kỉ XX một số nhà nghiên cứu khác cũng đề cập đến khái niệm văn hoá trong những công trình nghiên cứu cua mình, nhất là khi vấn đề văn hóa trở nên cấp thiết đối với đất nước trong những thập niên cuối thế kỉ XX
Theo Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với mòi trường tự nhiên và xã hội của m m h,,<4)
(l) Tài liệu đã dẫn, tr 35, 6 1.
<2) Viện Văn hóa N ghệ thuật (1984), MỘI vùi su y n g h ĩ về m ột quan niệm vãn
hóa, Ki yểu (Tài liệu lưu hành nội bộ), Hà Nội tr 85.
<3) Hồ Chi Minh (1985) Toàn lập, Nxb Chính trị Ọuổc gia, Hà Nội tập 3, tr 4 3 1.
Trần Ngọc Thêm (1995), C ơ s ơ văn hóa Việt N am , Trường Đại học Tồng
hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 20.
Trang 15“Trong vô vàn cách hiểu, cách định nghĩa về văn hóa ta có thể tạm quy về hai loại Văn hóa hiếu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp như văn học nghệ thuật, học vấn và tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà cỏ nhừng dịnh nghĩa khác nhau”(l).
Tác giả Chu Xuân Diên xác định: bốn nét nghĩa chú yếu rút ra
từ các định nghĩa khác nhau về văn hóa:
1 Văn hóa là một hoạt động sáng tạo chỉ riêng con người mới có
2 Hoạt động sáng tạo đó bao trùm lên mọi lĩnh vực cứa đời sống con người: đời sống vật chất, đời sống xã hội đời sống tinh thần
3 Thành tựu của những hoạt động sáng tạo đó là các giá trị văn hóa, các giá trị văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng con đường giáo dục (hiếu theo nghĩa rộng)
4 Văn hóa của mồi cộng đồng người có những đặc tính riêng hình thành trong lịch sử, phân biệt cộng đồng người này với cộng đồng người khác|2)
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về văn hóa nhưng có lẽ định
nghĩa của tác giá Văn hóa nguyên thuỷ (1871) là được trích dẫn
nhiều nhất Theo E B Taylor: văn hóa là chỉnh thê phức hợp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những năng lực, cũng như những thói quen mà con người nẳm bắt được khi là thành viên cúa cộng đồng
Nhà nhân học du lịch Anh p Bums, đã đánh giá cao từ “nắm bắt■*’ của Taylor, theo ông: “nắm bắt” nó tạo ra sự khác biệt giữa
những đặc tính mà được thừa kế theo con đường sinh học với những thuộc tính thu nhận được bằng cách học tập rèn luyện'31
"'Trần Quốc Vượng (Chủ biên), C ơ sơ văn hóa Việt Num, Nxb Giáo dục, Sđd tr 23.
(2) Chu Xuân Diên (1999), C ơ s ớ văn hóa Việt Num (bài g ia n ẹ), Thành phố
Hồ Chi Minh, Sđd tr 9.
|3) P.M Burns (1999), An introduction to tourism an d A nlhropolog}1, Nxb,
Routtlege, London và N e w York, Sđd, tr 56.
Trang 16Theo U N ESCO năm 1982 thì văn hóa theo nghĩa rộng nhất
“Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một
xã hội hay của m ột nhóm người trong xã hội V ăn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bán của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân, có lý tính, có óc phê phán và sống một cách đạo
lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thế hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết m ình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra
để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”(1)
Trong UNESCO’s Universal declaration on Cultural Diversity (2001) định nghĩa: “Văn hóa là tập hợp những đặc điểm tâm linh khác biệt, vật chất, trí thức và tình cảm của xã hội hay một nhóm xã hội Hơn nữa, nó (văn hóa) còn bao hàm nghệ thuật và văn học bên cạnh lối sống, cách cùng chung sống, với các hệ thống giá trị, truyền thống
và tínngưỡng”(2)
Hay như M Dudgeon và M Inhom (2004) định nghĩa: "Văn hóa
là một ma trận của những cơ hội và sự lựa chọn nhiều vô hạn Từ ngay nội trong một ma trận văn hóa, chúng ta cũng có thể trích ra được những luận điếm và những chiến lược làm xuống cấp và làm giảm giá trị của loài người chúng ta và cả những vấn đề phụ thuộc hay thoát khỏi cái văn hóa đó, cũng như sự kìm hãm cà cái tiềm năng tái tạo cúa văn hóa và sự đề cao văn hóa”(3)
(1) Tuyên bố về những chính sách văn hóa - Hội nghị quốc tế do UNESCO chù trì
từ 26 tháng 07 đến 06 tháng 08 năm 1982 tại Mêhicô Dần theo: Trần Quốc Vượng
(Chủ biên) (1998), C ơ s ở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, tr 24.
(2) UNFPA State o f world population 2008: U N E S C O ’s Universal declaratiion
on cultural diversity (2001), Sđd, tr 12.
(3) Sđd.
Trang 17Cũng trong báo cáo này, thì "văn hóa được hình thành bởi những kiểu/ nhũng mô hỉnh mang ý nghĩa mà mọi nsười cùng chia sé nội trong những khung cánh cụ thể”; nói cách khác là "dặt văn hóa vào trong khung cánh cua nó là điều quan trọng".
Do vậy "'văn hóa giúp hình thành cái cách con nẹicời song, anh hưởng đến sự nhận biết của hụ về phát triên và anh hướnẹ đến các cách tiếp cận phát triến"(])\à tất nhiên ánh hưởng đến du lịch.
Xem cách xác định như vậy, thì văn hóa luôn có tính chất hai mặt: vừa phổ quát, vừa đặc thù Đó là khái niệm bao trùm cua loài người, văn hóa được truyền từ đời này qua đời khác thông qua quá
trinh rèn luyện nhập tâm văn hóa (encultnration) A Haviland đã đưa
khái niệm này ra như là cái chìa khỏa cho sự phát triển cúa con người:
"Nhập tâm vãn hóa là một quá trình, mà qua đó vãn hóa được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác Quá trình này bắt đầu ngay từ sau khi chào đời được coi như quá trình tự nhận thức - đó là kha năng cảm nhận mình như là một vật thê trong thời gian và trong không gian,
và dần tự phán xét các hành dộng cúa chính mình - nghĩa là bắt đầu phát triển Để cho có thể tự nhận biết, cá nhân phái được cung cấp cả một môi trường hành vi Điều này bát đầu ngav từ khi cá nhân đó học hỏi về một thế giới vật thể nhiều hơn là về chính mình Và những vật thể này luôn được cảm nhận trong khuôn khổ mà chúng được cụ/thế hóa thông qua cái văn hóa mà ở đó cá nhân đó lớn lên Mỗi cá nhản cùng một lúc đều được trao cho những định hướng về không gian, trần tục/ thực tại và chuẩn tắc”(2)
Con đường phát triển cúa cá nhân nói riêng và con người nói chung, là cả chuồi thích nghi, như A Haviland định nghĩa:
“Thích nghi (Adaptation) là một quá trình mà qua đó các sinh vật sống dành được những sự điều chỉnh có lợi trong một mối trường có sẵn và dành được những kết quả từ quá trinh đó; đấy là
( l , Sđd.
(2) W.A H a v ila n d (1 9 9 6 ), Sđd, tr 121.
Trang 18những đặc tính của sinh vật sống, phù hợp chúng với một tập họp các điều kiện cụ thể của môi trường mà, nói chung, chủng thấy mình ở trong đó',(l).
“N hư vậy, điểm lại các định nghĩa về văn hóa cho ta thấy một cái nhìn tổng quát * ề những ý kiến của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Nó thể hiện sự phong phú của các góc nhìn khác nhau trong công việc của họ, song về cơ bản nó không đi chệch khỏi quan niệm tống quát nhất về văn hóa đó là: Văn hóa
là cái không phải tự nhiên được tác động bởi bàn tay của con người Trên cơ sở những khái niệm đó để có cái nhìn tổng thê, ta không thể không xem xét đến các yếu tố: văn hóa, du khách trong du lịch, quản lý di sản văn hỏa là cả vật chất và phi vật chất Văn hóa vật chất bao gồm các công cụ, sản phấm và các tài nguyên văn hóa Văn hóa tạo ra các phong cảnh tự nhiên, như các ruộng lúa bậc thang của vùng núi phía bắc Việt Nam Khi nhiều người nói đến gìn giữ văn hóa đó là văn hóa vật chất, cái m à họ quan tâm trước tiên Văn hóa phi vật chất phức tạp hơn ẩn chứa trong tiềm thức của các thành viên của một dân tộc trong các quy định chi phối sự ảnh hưởng lẫn nhau, trong những cách nhẹ nhàng tách chúng rời ra Văn hóa phi vật chất ấn trong ý nghĩa biểu tượng của các đồ tạo tác các mẫu thêu, màu sắc sử dụng trong một tác phẩm nghệ thuật, hav trong lời của bài hát’'
Tóm lại, từ nhiều góc độ khác nhau và do mục đích làm việc cua các nhà nghiên cứu ta thấy những cách nhìn văn hóa rất phong phú Tuy nhiên, những vấn đề cốt lõi của văn hóa như lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tri thức, nghệ thuật, những sáng tạo của con người trong việc ăn, mặc, ở và đi lại đều được họ thống nhất Chính
sự phong phú trong cách nhln nhận về văn hóa ẩy là tiền đề cho việc xây dựng những sản phẩm du lịch văn hỏa đa dạng, hấp dần du khách
<n Viện Văn hóa nghệ thuật (1984) Sđd Hà Nội tr 46.
(2) Annalisa Koeman, IUCN Việt Nam Michael di Gretiorio CRES/Truníỉ tâm
Đông Tây, Vàn hỏa vù Du Ị ịch: C ác quan hệ dan xen phứ c tạp.
Trang 191.1.2 Khái niệm di sản văn hóa
Di sản là nhũng giá trị văn hóa lịch sư của các thế hệ trước đế lại cho thế hệ sau Di sản gồm có các di sản vật thể và phi vật thể.Luật Di sản đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chú nghĩa Việt Nam khóa X, kì họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001:
ỉ 1.2.1 Di sán văn hóa phi vật thê
Là sán phâm tinh thần có giá trị lịch sư vãn hóa khoa học được lưu giữ bàng trí nhớ chữ viết, được lưu truyền bàng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chừ viết, tác phấm văn học nghệ thuật, khoa học, ngừ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội bí quyết về nghề thù công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
1.1.2.2 Dì sản văn hóa vật thể
Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thẳng cảnh, di vật cổ vật bảo vật quốc gia
1.1.2.3 Dì tích lịch sử - văn hóa
Là công trình xây dựng, địa điềm và các di vật cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trĩnh, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
1.1.2.4 Danh lam thắng cánh
Là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học
1.1.2.5 D i vật
Là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học
Trang 201.1.2.6 Cổ vật
Là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu hiểu về lịch sư.văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuôi trớ lên
1.1.2.7 Bảo vật quốc gia
Là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếmtiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học
1.1.2.8 Bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Là sản phẩm được làm giống như bản gốc về hình dáng, kíchthước, chất liệu, m ầu sắc, trang trí và những đặc điếm khác
1.1.2.9 Sưu tập
Là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu đê đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội
Theo Công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế
giới được Hội nghị toàn thể Tổ chức Liên hợp quốc về Giáo dục,
K hoa học và V ăn hóa thông qua tại kì họp thứ 17 họp tại Paris, với chữ kí của Chủ tịch Hội nghị toàn thể ngày 23 tháng 11 năm 1972 Theo đó, Đ iều 1, Di sản văn hóa là:
“D i tích: Các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa hoành trảng, các y ế u tố hav cẩu trúc có tính chất khao cố, các văn tự, các hang động và các công trình có sự kết hợp nhiều đặc điểm , có giá trị nổi bật toàn cầu, xét theo quan điếm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học (Luật D i sản, Điều 4).
Từ trước đến nay, khi nói đến di sản, chúng ta đều hiểu là tất cá những giá trị vật chất và tinh thần mà cha ông để lại cho chúng ta Tuy nhiên, bên cạnh những di sản tích cực còn có không ít những di sản tiêu cực tạo thành những thói quen, tập tục truyền thống mà
Trang 21không phái ngày một ngày hai có thể khắc phục được Điều này cũng cần phải biết để tránh trong quá trình phát triển đất nước.
Đứng ở góc độ khai thác du lịch thì chúng ta mới nhìn chu yêu
ỏ các di sản vật thể nhiều hưn phi vật thể
1.1.3 Quan điểm về di sản văn hóa
Trong từng giai đoạn của lịch sử việc nhìn nhận vấn đề di sán vãn hóa có khác nhau, tuy nhiên bằng cách này hav cách khác, di san văn hóa dân tộc vẫn được báo vệ Ke ca những lúc khó khăn nhất trong chiến tranh như khi giặc Minh sang xâm lược nước ta với chính sách huỷ diệt văn hóa phá sạch, đốt sạch thì người dân, bằng nhiều cách khác nhau vẫn cố gắng giữ gìn đến mức cao nhất các di sản văn hóa của cha ông như việc chôn giấu bia kí, tượng hay các tài liệu , sau chiến tranh lại tìm cách hồi phục lại cho các thế
hệ sau này Quan trọng hơn là cách giữ gìn di sản bàng con đường truvền khẩu qua những truyền thuyết, chuyện cổ tích, dã sử, hương ước, luật tục, lễ hội, tín ngưỡng, ca dao, tục ngừ, dân ca Chính vì giữ gìn được các di sản văn hóa mà nước Việt đã tồn tại vừng vàng trong các cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm Các nhà nghiên cứu đều cho ràng, trong thắng lợi của tất cả các cuộc chiến tranh ở Việt Nam trước sự xâm lược tàn khốc của các kẻ thù đều có sự• • • ~ • đóng góp của nền văn hóa dân tộc Nếu không có nền tảng văn hóa
ấy thì người Việt Nam khó có thể thắng được những ké thù mạnh
hơn mình gấp bội Nói như một nhà thơ thời chống Mỹ: “Bổn m ươi thế kỉ cùng ra trận'’ chính là ở ý nghĩa như vậy Đ ương nhiên, trong
quá trình phát triển, sự coi trọng mặt này hay mặt khác hoặc có những sai lầm, ấu trĩ trong việc ứng xử với các hiện tượng văn hóa khác nhau là chuyện không thể tránh khỏi Vì thế, vào những thời kì nhất định đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến sự giữ gìn và phát triến di sản văn hóa
Trong quá khử, nước ta phần lớn mới chỉ khai thác di sản văn hóa ở các giá trị lịch sử và truyền thống yêu nước của ngàn năm văn
Trang 22hiến để giáo dục, động viên, khích lệ toàn dân tộc vào công cuộc chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước, mà chưa có sự khai thác để phục vụ kinh tế Trong khi đó ở các nước trên thế giới, một mặt họ không bỏ qua việc khai thác các giá trị văn hóa và lịch sử của di tích, mặt khác, họ rất chú trọng đến việc khai thác các giá trị văn hóa để phục vụ kinh tế Đồng thời, họ cũng không bó qua việc khai thác các giá trị văn hóa và lịch sử của di tích.
Đẻ khắc phục những thiếu sót ấy, quan điếm cơ bản về di sản văn hóa của chúng ta được thể hiện rõ trong nghị quyết V của Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII:
- Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa
là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
- Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đâm đà bản sắc dân tôc.• •
- Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
- Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng
- Văn hóa là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng
Có thể nói, dưới ánh sáng của các quan điếm của Đảng và Nhà nước những năm gần đây chúng ta mới chú trọng đến việc khai thác các giá trị văn hóa nhằm mục đích kinh tế Quan điểm kinh tế trong văn hóa, dùng văn hóa làm kinh tế đang được tiến hành ngày càng mạnh mẽ trong xu thể hội nhập hiện nay Một trong những hướng
để thực hiện chiến lược ấy chính là khai thác các di sản văn hóa phục vụ cho việc phát triển du lịch, biến văn hóa thành những sản phẩm du lịch, góp phần vào sự phát triển của đất nước
Trang 231.2 Những vấn đề cấp bách đối vói du lịch hiện nay và quan
điểm của N hà nư óc về p h át triến du lịch
1.2.1 K hái niêm (ỉu lich m •
Những thống kê cho thấy ngành du lịch luôn là mội ngành kinh
tế phát triển trên thế giới Kết quá nghiên cứu cua Tố chức du lịch thế giới (UNW TO) cho thấy ngành du lịch đã không ngừng phát triển từ năm 1995, từ con số thu nhập 405 tỉ USD lên đến 633 tí năm 2004 Năm 2005 khách du lịch thế giới chi ra một sổ tiền là
678 tỉ USD, năm 2006 là 735 tỉ USD Còn năm 2007 ước tính 820 tỉ USD Ket quả của năm 2006 đã vượt ngoài mọi dự tính, ngành du lịch toàn cầu ghi nhận 842 triệu khách đến, tương ứng với một ti lệ tăng trướng là 4,5% cho dù dịch cúm gia cầm, vấn đề chống khủng
bố và giá xăng dầu tăna cao đã gây ít nhiều lo lắng trên thế giới1" Tình hình suy thoái kinh tế từ 2008 có tác động khá mạnh đến du lịch, tuy nhiên, so với một số ngành kinh tế khác thì mức độ chịu ảnh hưởng của du lịch tuỳ thuộc vào từng nơi Bới vì suy thoái kinh
tể làm cho giá ca dịch vụ và các tour giá rẻ tăng lên đối với một số người đây lại là cơ hội hiếm có để đi du lịch
uDu lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định” (Luật Du lịch, Điều 4)
Theo cách hiếu như vậy thì đây là một chuyến du hành đế tiêu khiển hay giải trí, nghĩa là thay dổi chồ ở của con người qua một chuyến đi từ nơi này đến nơi khác đế vui vẻ, thoải mái, đế thư giãn như một phương pháp trị liệu cho sảng khoái cơ thế và đầu óc
“ Du lịch là đi chơi và trải nghiệm Du lịch văn hóa là một loại hình chủ yếu hướng vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các tour
<n Phạm Dũng (2007), Du lịch - Sức mạnh kinh tế văn hóa và chinh trị, Hồ sơ
s ự kiện (chuyên san của Tạp chí Cộng sản), số 26, ngày 25 tháng 12.
Trang 24lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim Chẳng hạn, đi du lịch văn hóa Paris thì cần thăm nhà thờ Đức Bà (Notre Dame de Paris, Khải Hoàn Môn, tháp EíTel, điện Pantheon, báo tàng Louvre điện Versaille Đi du lịch văn hóa Hà Nội thì cần thăm Văn Miếu - Quốc Tử Giám, chùa Một Cột, đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Lăng và bảo tàng Hồ Chí Minh, bao tàng Lịch sử quân sự, Cột Cờ, Đoan Môn, Cửa Bắc, ,,(l).
Đối với các nhà nghiên cứu nước ngoài, việc thám hiêm các vùng đất lạ luôn là khao khát đã ăn sâu vào máu cúa người phương Tây Tuy nhiên, đó chỉ mới là những cuộc khám phá và tìm kiếm các vùng đất mới vì mục đích kinh tế và thực dân, mà chưa có mục đích
du lịch Với tư cách là một ngành và là đối tượng nghiên cứu thì du lịch được xác định đầu tiên vào năm 1941, Hunziker & K rapí cho rằng: “du lịch là sự tống hợp của các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh ra từ việc du hành và ở lại (qua đêm) ở một nơi nào đó cua những người không phái là cư dân của nơi đó; do vì sự việc này không dẫn đến việc ở định cư lâu dài, nên những người đó không tham gia vào bất kỳ hoạt động để kiếm thu nhập nào cho họ"
Trong khi đó p Bums thì lại “muốn gợi ý rằng có một cách tiếp cận du lịch đặc biệt hữu hiệu, đó là coi du lịch là một hệ thống hay tập hợp các tiểu hệ thống’* và ông đã trình bày cả một bang các định nghĩa của nhiều tác giả và ông cũng giải thích sự muôn màu muôn vẻ của các định nghĩa đó như sau:
“Chừng nào những giả thiết và mục đích hình thành nên định nghĩa còn có nghĩa, thì khi đó sự giải thích có thể đưa được vào khung cảnh thích hợp của nó”(2) Hơn nừa “du lịch là một tập hợp toàn cầu về các hoạt động xuyên nhiều nền vãn hóa,?(3)
(1) Trần Quốc Vượng (2004), Sđd.
(2) P.M Burns (1999), An introduclion tu tourism an d A nth ropology Nxb
Routlege, London và N e w York tr 29.
,3)Sđd tr 71.
Trang 25Với định nghĩa như vậy, thì du lịch là mộl cách chuyến tải và
do vậy cũng là cách thay đổi văn hóa; vì theo UNFPA (State o f world populatỉon 2008) “văn hóa không tĩnh” Theo A Haviland
văn hóa thay đổi thông qua bốn cách: đổi mới, phát tán văn hóa mai một văn hóa và tiếp biến văn hóa, “nguyên nhân của thay đồi là rất nhiều, bao gồm cả những hậu quả bất ngờ từ chính các hoạt động hiện tại"111
Đối tượng của du lịch là du khách cùng chính p Burns đã dẫn
định nghĩa về du khách cua Tổ chức Du lịch Thế giới ulà bao gồm tất cả, ít hay nhiều thì cũng tính đến tất cả những ai đi du hành (chỉ ngoại trừ những người làm công được tra lương, và những người di
c ư ) ”<2), để khái quát cho rất nhiều định nghTa về du khách.
1.2.2 N hững vấn đề cấp bách đối vói du lịch hiện nay
Sự phát triến của khoa học kĩ thuật càng ngày càng làm cho thế giới trở nên nhỏ bé Ngày nay, việc đi từ nơi này sang nơi khác trên thế giới không còn là một điều khó khăn như trước đây Điều mà Giuyn Vecnơ m ơ ước hai mươi ngày đi vòng quanh thế giới bây giờ
là việc bình thường và ngắn hơn nữa Với những phương tiện giao thông hiện đại, người từ khu vực này đi sang khu vực khác của thế giới đang diễn ra hàng ngày Vì thế, việc đi du lịch trở thành một hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục và ngày càng phát triến
Có thể nói, đi du lịch đã trở thành nhu cầu tiềm ấn trong mỗi người và nó dễ dàng được thỏa mân khi có cơ hội và điều kiện Chỉ một ví dụ sau đây đã cho thấy hoạt động di lịch ngày càng tăng Tính riêng trên thị trường du lịch MICE, “Tổ chức Du lịch Quốc tế
đã tính toán là thị trường hàng năm có giá trị sản phẩm khoảng 300
(1) W.A Haviland (1996), C ultural cinthropology, the 8'h edìtion, Harcourt
Brace College Publishers, tr 121.
(2) P.M Burns (1 9 9 9 ), An introduction to tourism a n d Anthropology, Nxb
R<outlege, London và Nevvyork, tr 42.
Trang 26tỉ USD, và tạo ra một guồng máy hoạt động kinh tế trị giá 5490 ti USD, chiếm khoảng 10,5% GDP thế giới, thu hút khoang 214 triệu việc làm”(1).
Bằng việc tham gia du lịch con người ớ tất cả các quốc gia trên thế giới đã có dịp để:
- Giao lưu, tiếp xúc giữa các dân tộc với nhau nhằm hiếu biết nhau hơn, sẻ chia và thông cảm với nhau Tạo ra sự gần gũi và thân thiện hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc
- Tìm hiểu và học hỏi những phong tục tập quán, truyền thống văn hóa của nhau, tìm hiểu những lối sống, phương thức sinh hoạt của mỗi cộng đồng địa phương
- Chiêm ngưỡng những vẻ đẹp khác nhau của các danh lam tháng cảnh, các di tích văn hóa, lịch sử, các kiến trúc tôn giáo
ở khắp nơi Từ đó, tạo ra sự sáng tạo và thoải mái trong tâm hồn con người, giúp cho họ vững vàng trước những thử thách của cuộc sống đầy cam go đang đợi ở phía trước
Vì thế, vấn đề đặt ra là phải đảm bảo cho du lịch bền vững, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
Nhưng du lịch cũng đặt ra không ít những vấn đề nan giải mà các nước phải giải quyết Chẳng hạn, trong nghiên cứu hiện đại, du lịch là một trong những vấn đề của nhân học du lịch, nghĩa là nó nằm trong cái nghiên cứu tổng thể giữa văn hóa và con người Theo
p Bums, ông đã đặt ra các câu hỏi sau:
1 Liệu du lịch có là hình thức tôn giáo hiện đại hay hình thức hành hương hiện đại? Vì “hành hương có thể được định nghĩa là sự
du hành đến những thánh địa để chứng minh lòng thành tâm linh hoặc việc hàn gắn hay là một hành động ăn năn hay đế tạ ơn”(2)
1 J Vũ Ọuang Mạnh (2007), Du lịch Việl Nam: một thương hiệu kinh té đ ầ y hứa
hẹn, Báo Lao Động, N gày 25 tháng 03 năm 2007.
(2) P.M Burns (1999), An introduction to tourism a n d A n th ropology, Nhà xuất
bản Routlege, London vã Nevvyork, tr 95.
Trang 272 Liệu du lịch có phá hủy văn hóa? Khi mà du lịch chắc chắn liên quan đến thay đổi Cái thể hiện đầu tiên là hiệu ứng thế hiện -
đó là quá trình mà các xã hội truyền thống, đặc biệt là thanh niên từ hoài nghi đến chấp nhận những ảnh hướng bên ngoài Do đặc điêm
"không tĩnh"’ của văn hóa nên du lịch làm văn hóa thay dôi cả "bẽn trong và bẽn ngoài” Tiếp đến, du lịch tạo ra sự “tiếp biến và trôi nôi văn hóa” , cái mà p Burns cho là "sự biến đôi tạm thời trong hành vi của chủ nhà, trong lúc tiếp xúc/ giao tiếp giữa chu và khách"0 ] Ket quả là đã ra đời "sự cộng sinh văn hóa và đồng hóa văn h ó a '.
3 Liệu du lịch có thể tạo ra được "Thiên đường” trên mặt đất?
p Bums đã trích dẫn rằng David Lodge đã gọi “ngắm cảnh là cái thay thế cho nghi thức tôn giáo Du lịch ngắm cảnh là sự hành hương trần tục”{2).
4 Liệu du lịch có đem lại sự phát triến? Chính “du lịch lại bao
vệ lợi ích cua người dân ban địa vò cua ca du khách, làm giam mật
độ người noi đô thị khuyến khích kiếm tìm những địa danh /MÓ7 ”(3) p Burns đã nêu lại khái niệm phát triển của Ađams "phát Iriên phải là cái mà các cộng đồng loài người làm cho chính mình,,<4); Hay trích dẫn định nghĩa phát triển của Balaam, đó là
“khả năng của một dân tộc có thể tạo ra được của cải kinh tế, điều
đó đến lượt, chuyển biến xã hội từ nền kinh tế tự cung tự cấp hay dựa trên nông nghiệp sang một cái xã hội mà ở đó phần lớn của cái
xã hội lại xuất phát từ sản xuất các hàng hóa và dịch vụ công nghiệp”(5)
(l) P.M Burns (1999), An introcluction to tourism a n d A níhropology, Nxb
Routlege, London và Newyork, tr 101.
(2,Sđd, tr 108.
í3) Sđd, tr 116.
<4>Sđd, tr 138.
151 Sđd, tr 142.
Trang 28Đối với nước ta, những nguồn lợi do du lịch đem lại đã rõ ràng, tuy nhiên những bất cập của nó cũng không phải là nhở Du lịch vào kéo theo những hoạt động mại dâm, ma tuý, tội phạm quốc tế, lối sống không phù hợp với đạo đức trũyền thống, phá vỡ cảnh quan, môi trường ô nhiễm Hiện tượng đua nhau làm du lịch như khách sạn trên đồi Vọng cảnh ở Huế, các khu du lịch ớ N ha Trang hay các sân golf, nhà hàng khách sạn mọc lên như nấm ở khắp mọi nơi thiếu
sự quy hoạch đã gây tác động không nhỏ đến đời sống văn hóa, xã hội của người dân địa phương Do vậy, trong quá trình phát triến
du lịch những vấn đề này phải luôn được chú ý
Hơn nữa, trong phát triển du lịch không thế thiếu phát triển du lịch bền vững Bởi vậy, du lịch bền vững ở mức cơ bản nhất, cần được thiết kế để:
- Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng sở tại;
- Cung cấp sự trải nghiệm chất lượng cao cho du khách;
- Duy trì chất lượng môi trường (thiên nhiên và văn hóa) ở cả cộng đồng sở tại và nơi du khách phụ thuộc (trải nghiệm du lịch)
Đồng thời, du lịch bền vững:
- Khuyến khích sự hiểu biết về những tác động của du lịch đến môi trường thiên nhiên, văn hóa và con người;
- Đảm bảo sự phân bổ công bằng giữa lợi ích và chi phí;
- Tìm kiếm việc ra quyết định giữa tẩt cả các thành phần của xã hội, để du lịch và những người sử dụng nguồn lực khác có thể cùng tồn tại;
- Kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch và phân vùng đảm bảo phát triển du lịch phù họp với khả năng hoạt động của hệ sinh thái;
- Trình diễn tầm quan trọng của các nguồn lực văn hóa và thiên nhiên đối với hiện trạng kinh tế - xã hội lành mạnh cua một cộng đồng và có thể giúp gìn giữ chúng;
Trang 29- Theo dõi giám sát, đánh giá và quản lí các tác động của du lịch, phát triển các phương pháp đáng tin cậy về việc chịu trách nhiệm đối với mỏi trường và phản đối bất kì tác động tiêu cực nào n
1.2.3 Quan điểm của N hà nuớc về ph át triển du lịch
Trong quá trình đổi mới cua đất nước, nhà nước Việt Nam càng ngày càng thấy vai trò của du lịch trong công cuộc xây dựne
và phát triển kinh tế - xã hội Phát triển du lịch không chỉ đem lại một nguồn lợi kinh tế to lớn như một ngành công nghiệp không khói, mặt khác lại còn giải quyết được công ăn việc làm cho hàng vạn lao động và nhiều dịch vụ kèm theo Hơn thế du lịch cũng là một cứa số nhìn ra thế giới và thế giới nhìn vào nước ta Qua con đường này, hình ảnh cúa đất nước được quáng bá sâu rộng đến toàn cầu, tạo ra hình ảnh một Việt Nam hòa bình, thân thiện và mến khách Nhất là trong điều kiện hiện nay, Việt Nam là điểm đến an toàn nhất của khách du lịch bốn phương, lại có những khu du lịch, danh lam thắng cảnh nổi tiếng, có nền văn hóa đa dạng và phontì, phú Vì thế, việc thu hút khách du lịch là một chiến lược cần thiết vì
sự phát triển của đất nước
Trước hết về mặt thể chế, từ một cơ quan du lịch không lớn lắm ở những năm 60 cùa thế kỉ trước, Tống cục Du lịch đã được thành lập trực thuộc Chính phủ, ngày nay, Tổng cục Du lịch là một tổng cục lớn trong Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch nhàm kết hợp chặt chẽ với ngành văn hóa trong việc phát triển du lịch, s ố lượng các công ti du lịch, các công ti lữ hành tăng nhanh trong thời gian qua Cho đến thời điểm khủng hoảng kinh tế thế giới vào giữa 2008 thì ngành du lịch của nước ta phát triển hết sức mạnh mẽ Những con số thống kê đã kể trên chứng tỏ điều đó
(l) Hội nghị toàn cầu “90 WTO” năm 1990.
Trang 30Cùng với một cơ quan quản lí nhà nước về du lịch, về phía các
cơ quan lập pháp cũng đóng góp những quyết định có tầm vĩ mô
“Một điểm nhấn quan trọng của du lịch Việt Nam là việc hoàn thiện
và thể chế hóa các văn bản pháp luật với sự ra đời của Luật Du lịch sau một quá trình dài soạn thảo, lấy ý kiến đóng góp và chinh lý nội dung Luật Du lịch được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ
7 ngày 14-6-2005, vượt trước kế hoạch 5 tháng Luật có nhiều diêm quy định mới và phạm vi điều chính rộng hơn so với Pháp lệnh Du lịch năm 1999, là nền tảng pháp lý cho việc thực hiện quán lý nhà nước và hoạt động du lịch trong giai đoạn mới Thể hiện quan điếm, chính sách của Đảng, Nhà nước phát triển du lịch trớ thành một ngành kinh tế mũi nhọn, kích thích đầu tư và chuyền dịch cơ cấu kinh tế, góp phần xoá đói giảm nghèo ”(1) Cũng ngay từ nãm 2005
“ngành Du lịch đã hoàn thành tờ trình Thủ tướng Chính phú phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 cùng một số du lịch vùng, miền Nhà nước đã hồ trợ vốn ngân sách 550 tỷ đồng đầu tư trong năm 2005 cho hạ tầng du lịch của
58 tỉnh thành phố với 200 dự án, trong đó 90% là các dự án chuyển tiếp Đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng, tính đến nay (2005),
cả nước có 190 dự án hoạt động với tống vốn đăng kí đầu tư là 4,64
tỷ USD,,(2) Lần đầu tiên trong lịch sử ngành du lịch, năm 2007 hình ảnh du lịch Việt Nam được quảng bá trên kênh truyền hình nổi tiếng CNN do chính ngành du lịch Việt Nam kết hợp đế đưa hình ảnh đất nước ra toàn thế giới Năm 2007, '"một số mô hình xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực du lịch tăng mạnh Có 47 dự
án FDI được cấp phép với số vốn đăng kí lên đến 1863 tỷ USD, tăng 195,7% so với năm 2006”t3\ Gần đây là việc thay đổi biểu trưng cua
Du lịch Việt Nam, khẩu hiệu: Việt Nam - vẻ đẹp tiềm ẩn, việc tham
gia vào Diễn đàn du lịch ASEAN-ATF 2009, xây dựng các sản phẩm
(1) Lương Xuân Đức, Nguyễn Tiến Cườna (2005), Vượt qua thư thách đ ê du
lịch Việt Nam phcìt triển , Báo Nhân dân ngày 27 tháng 12 năm 2005, tr 3.
(2) Sđd tr 3.
(3) Lương Xuân Đức Nguyền Tiến Cường (2008), Du lịch Việt Num hưởng íớ i
chuyên n ghiệp, Báo Nhân dân, ngày 05 thárm 01 nãm 2008, tr 5.
Trang 31du lịch mới các dịch vụ giải trí, gói kích cầu của Chính phu và sự thỏa thuận của các công ti du lịch và các ngành liên quan như khách sạn và hàng không đều giảm giá vé và giá phòng từ 30 đến 50% đều nhằm vào mục tiêu của sự phát triển ngành du lịch ở nước ta.Như vậy, do thấy rõ tầm quan trọng của ngành du lịch nên các
cơ quan lập pháp và hành pháp đều hết sức ủng hộ cho việc phát triển bền vững của nó Từ đó tạo mọi điều kiện đề ngành du lịch Việt Nam vươn lên tầm quốc tế và khu vực Bằng việc tham gia tích cực vào các tổ chức du lịch quốc tế, Việt Nam càng ngày càng thê hiện rõ vai trò của mình trong các tô chức này đồng thời các hoạt động trong nước cũng dần dần phù hợp với những thông lệ quốc tế.Liên quan đến du lịch văn hóa đã có những cơ sở pháp lí sau:
- Luật Di sản văn hóa được Quốc hội khóa X kì họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001 có hiệu lực từ ngày 01-01-2002 hiện nay đang được sưa đôi bổ sung
- Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11- 11 - 2002 của Thù tướng Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa
- Việt Nam tham gia Công ước về việc bảo vệ di sản vãn hóa tự nhiên thế giới
- Việt Nam tham gia Hiến chương quốc tế về du lịch văn hóa
Do đó, cần nhấn mạnh một lần nữa, với việc sát nhập Tổng cục
Du lịch vào Bộ Văn hóa thành Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là
m ột bằng chứng về mối liên kết chặt chẽ giữa du lịch và vai trò cúa văn hóa trong việc phát triến du lịch, một ngành kinh tế mũi nhọn
và nhiều tiềm năng của nước ta
1.2.4 M ôt số loai hình du lich• • •
1.2.4.1 Du lịch sinh thái
Đây là loại hình du lịch dựa vào việc thăm thú cảnh quan thiên nhiên, tận hưởng môi trường sinh thái Môi trường sinh thái này có
Trang 32thể do tự nhiên sẵn có, con người chi cần tác động một ít nữa vào
nó để có một khu du lịch lí tướng Tuy nhiên, cũng có khi môi trường sinh thái ấy hoàn toàn do bàn tay con người tạo dựng nên, một mặt tạo ra sự gần gũi giống với thiên nhiên, mặt khác đã có sự sáng tạo do bàn tay, trí óc và kĩ thuật của con người Trong thế giới hiện đại, đây là loại hình du lịch hấp dẫn và kiểm lợi nhuận to lớn, khi mà tốc độ đô thị hóa đang càng ngày càng tăng nhanh một cách chóng mặt trên toàn thế giới Con người hiện đại, với các phương tiện được trang bị đến “tận răng”, nhưng đồng thời cũng trở thành
nô lệ của các loại phương tiện hiện đại ấy Với tốc độ làm việc đến chóng mặt thỉ áp lực cuộc sống đang trở thành một vấn đề vô cùng nan giải Từ đây, hàng loạt bệnh của thời hiện đại như huyết áp cao, tim mạch, tiểu đường, stress lan tràn khắp mọi nơi Cuộc sống hiện đại kèm theo đủ các loại ô nhiễm như môi trường, rác thái, tiếng ồn, hóa chất độc h ại và làm cho con người sống trong tình trạng căng thẳng và bất an Vì thế, sau những ngày làm việc nặng nhọc ấy, có được một môi trường sinh thái ổn định, thoáng m át và không khí trong lành là một niềm mơ ước đối với tất cá những người dân thành phố Nó cũng tạo ra sự phát triến bền vũng cho ngành du lịch và giải quyết được nhiều vấn đề như công ăn việc làm, bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm không khí, khi mà các vùng ven đô mọc lên những khu du lịch sinh thái hấp dẫn
1.2.4.2 Du lịch M C E (Meetỉng, Incentives, Convention and Exhabitions)
Có người dịch “Mice” là du lịch điểm hẹn “Đây là loại hình du lịch kết hợp giữa làm việc, thương thảo với giái trí, nghỉ ngơi và khám phá MICE là bốn chữ cái đầu của bốn từ tiếng Anh: Meeting - Incentive - Convention - Exhabition Đó là những hoạt động giao lưu, gặp gỡ hay hội nhập (Meeting); là nơi vinh danh khen thưởng hay phát động (Incentive); là nơi hội thảo hội nghị hay hội họp (Convention/ Conference); và là nơi triển lâm, trình bày hay trình diễn (Exhibition)
Du khách MICE thường kết họp làm việc, hội họp và kinh doanh, với việc tham quan thắng cảnh, tìm hiếu về văn h ó a lịch sử và dân tộc"1"
(,) Vũ Quang Mạnh (2007), Sđd.
Trang 33Do quan hệ quốc tế ngày càng trở nên sôi động, việc giao lưu, trao đối buôn bán diễn ra vượt ngoài biên giới các quốc gia, cho nên hình thức
du lịch này rất phố biến Đây là hình thức du lịch mang tính cá nhân, người đi du lịch không phải bò tiền tàu xe từ nơi mình ở đến nơi tham quan, vì vé đi về đã có công ti hay viện nghiên cứu chi trá Vì vậy, số tiền họ phải bó ra chỉ là các dịch vụ tại chỗ, mà nhiều khi tiền đó họ cũng được chi trả hầu hết bởi cơ quan cử đi, cho nên điều kiện đế họ đi
du lịch tại chồ là vô cùng thuận lợi Đó là chưa kể tùy theo mối làm ăn
mà chủ nhà rất muốn mời hay giới thiệu về đất nước mình cho khách như một món quà đầy ý nghĩa Bới thế, đây là cơ hội hiếm có đối với các công ti du lịch nếu biết chóp thời cơ để quáng bá hình ảnh cúa mình và thu hút sự chủ ý của du khách Dễ dàng, nhận thấy là hiện nay, các đoàn ngoại giao, các hội nghị, hội thảo quốc tế, những cuộc đàm phán kinh tế, các cuộc trao đổi buôn bán, những hội chợ, triển lãm, các cuộc thi, liên hoan diễn ra thường xuyên, khách quốc tế và trong nước đi lại như “đi chợ” Vì vậy, du lịch MICE là một hướng du lịch đầy tiềm năng
1.2.4.3 Du lịch mạo hiểm
Loại hình du lịch này khá phố biến ở các nước phương Tây, tuy nhiên ở Việt Nam còn mới mẻ Du lịch mạo hiểm đòi hói người tham gia phải có sức khoẻ dẻo dai, phải có ý chí mạnh và lòng dũng cảm, đồng thời là sự ham mê khám phá thế giới Chính vì sự mạo hiểm mà loại hình du lịch này luôn kén chọn người tham gia Các chuyến du lịch của họ như khám phá rừng Amazôn, đỉnh Everest hay những thác nước, dòng sông nguy hiếm nhiều thác ghềnh, những cánh rừng nhiệt đới bí hiểm, luôn có sự rình rập bởi thú dữ hay những sa mạc không miột bóng người, những khu vực quanh năm tuyết phủ với nguy cơ lở tuiyết, sạt núi đầy những bất trắc Tất cả những thứ đó chỉ dành cho nlhững người có thần kinh vững vàng, có ý chí quyết liệt
Ở nước ta, loại hình du lịch này bắt đầu từ cuộc đua xe đạp và các phương tiện khác qua nhiều địa hình tại khu vực miền núi phía Bíắc nhân dịp 40 năm ngày Chiến thắng Điện Biên Phú Vài năm trớ lạii đây là các cuộc leo núi chinh phục nóc nhà Đông Dương, đinh
Trang 34Phanxipăng của dãy Hoàng Liên Sơn thường xuyên được các nhà leo núi và khách du lịch thực hiện, số lượng người tham gia tăng hàng năm, điều này cho thấy loại hình du lịch này bắt đầu được người Việt Nam quan tâm Với địa hình của nước ta, loại hình du lịch này có triển vọng tốt bởi điều kiện tự nhiên khá đa dạng Khí hậu khác nhau giữa miền Bắc và Nam, địa hình vùng núi phía Bắc hiểm trở với núi cao, rừng rậm, sông hẹp, dốc, nhiều thác ghềnh, biển rộng có nhiều đảo Tất cả những điều kiện đó thật lí tưởng cho loại hình du lịch mạo hiểm Vì vậy, nó có thế phát triển mạnh trong tương lai vừa cho du khách trong nước vừa thu hút khách du lịch ngoài nước.
1.2.4.4 Du lịch nghiên cứu
Dưới dạng đi du lịch, nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành các nghiên cứu khoa học của mình khá thành công Nhất là những khu vực nhạy cảm về tôn giáo hay chính trị mà nhà nghiên cứu không
có điều kiện điều tra thực địa một cách chi tiết Khi đó, nhà nghiên cứu có thể tiến hành nghiên cứu qua các tài liệu đã công bố từ nhiều nguồn khác nhau trong và ngoài nước, sau đó thực hiện chuyến du lịch chỉ như một sự kiểm chứng hay bổ sung các tư liệu đế khẳng định các phần viết trong công trình nghiên cứu của mình Thêm nữa, có thể cập nhật các tư liệu mới hay chụp mới một số hình ảnh làm tài liệu phong phú và mang tính thời sự hơn
Cũng có những trường họp một số nhà nghiên cứu thực hiện đề tài ở nơi khác có điều kiện tương tự với Việt Nam thì một chuyến
du lịch nghiên cứu sẽ là một cơ hội tốt để họ kiếm chứng và so sánh với những vấn đề mà họ đã nghiên cứu ở nơi khác Ví dụ, một nhỏm các nhà khoa học Nhật Bản nghiên cứu người Mông ở Trung Quốc sau đó sang Việt Nam, Lào so sánh với các nhóm Mông đang sinh sống tại Việt Nam
1.2.4.5 Du lịch chữa bệnh
Do điều kiện kinh tế và mức sống khác nhau ở các nước trên thế giới có sự chênh lệch cao, nên cùng một mặt hàng hay dịch vụ ớ
Trang 35nước này thì rẻ, nhưng sang nước khác lại rât đăt Mặt khác yêu tô lao động cũng có sự khác biệt đáng kế giữa các nước với nhau Đó
là chưa kế đến điều kiện tự nhiên, khí hậu và đất đai cua vùng này khác với vùng kia nên đã tạo ra những môi trường tốt cho việc chừa trị một số loại bệnh tật Thêm nữa, do trình độ phát triến khác nhau nên công nghệ y tế và các dịch vụ khám chừa bệnh của một số nước đạt đến trình độ cao Cộng vào đó là những phương thức chừa bệnh truyền thống cúa mồi nước, mỗi dân tộc đều có những ưu thế riêng với những phương thuốc và cách chữa bệnh rất độc đáo, như việc châm cứu của người Trung Quốc và Việt Nam Vì thế đã xuất hiện một ngành du lịch đó là du lịch chữa bệnh Người đi du lịch vừa có dịp chữa khỏi bệnh vừa một cuộc du ngoạn thay đổi không khí giúp cho sức khoẻ của họ được hồi phục Không chỉ chừa được bệnh họ còn biết thêm một vùng đất mới, hiểu thêm được phong tục tập quán, phong cảnh của một đất nước khác
Việt Nam là một nước có ưu thế về loại hình du lịch này do có các miền khí hậu khác nhau và đa dạng Chủng ta có nhiều khu nghi mát cả trên núi và dưới biển, điều này giúp cho việc du lịch, điều dưỡng, nghỉ ngơi, chữa bệnh rất tốt Những khu nước khoáng, suối nước nóng thiên nhiên phục vụ cho việc chữa một số bệnh rất hiệu quả Nền y học cổ truyền nước ta có nhiều cách chữa bệnh bằng bấm huyệt, châm cứu, vật lý trị liệu mang sắc thái riêng cua Việt Nam có thể khai thác tốt trong tương lai, giá nhân công lại rẻ nên du lịch chữa bệnh là loại hình có tiềm năng Một số phương thức chữa bệnh của các dân tộc thiểu sổ khá hiệu nghiệm nên có thể khai thác
và mở rộng ra nhiều nơi Loại hình du lịch này rất có cơ hội đế phát triển nhất là trong thời đại hiện nay, khi mà thuốc tây đang gây ra nhiều hiệu ứng phụ trong quá trình sử dụng, thì việc khai thác các nguồn sản vật từ núi rừng đang là một ngành phát triển
1.2.4.6 Du lịch chiến tranh
Loại hình du lịch này khá phổ biến ớ Tâv phưong sau Chiến tranh thể giới thứ hai Đó là những chuyến du lịch của các cựu
Trang 36chiến binh đi thăm lại chiến trường xưa, những người thân của họ tìm đến những địa điểm nơi mà cha anh họ đã từng tham gia vào cuộc chiến hay những người muốn tận mắt nhìn thấy những địa danh lịch sử của những cuộc chiến đã qua.
Ở Việt Nam, du lịch chiến tranh thật sự bắt đầu có lẽ phải kế đến sự kỉện kỉ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phú vào nãm
1994 Năm đó, Nhà nước ta đã tổ chức sự kiện này một cách trọng thể Cũng năm đó, tại Pháp cũng tổ chức nhiều sự kiện liên quan đến cuộc chiến này, nổi bật nhất phải kể đến hai bộ phim -‘Đông Dương” và “Người tình” cùng các chuyến du lịch của Pháp tố chức cho người Pháp đến Việt Nam và Điện Biên Phủ Nhiều cựu chiến binh Pháp và gia đình, con cháu họ đã đến Việt Nam đế thăm lại nơi mà cha ông họ đã từng sống những giờ phút rất đáng ghi nhớ
Từ năm 1981 bắt đầu có đoàn cựu chiến binh Mỹ đầu tiên đến Việt Nam vì những sứ mệnh nhân đạo Những chuyến đi đầy ý nghĩa không chỉ với người Mỹ đã tham chiến ở Việt Nam, mà còn với tất
cả những người Mỹ chưa biết Việt Nam bao giờ, nhưng cha anh họ
đã ngã xuống ở đây, đã từng sống ở đây Những tour du lịch chiến tranh sẽ là những chuyến du lịch có ý nghĩa hàn gắn lại những vết thương đau lòng của hai nước, đem lại một mối tình hữu hảo giữa con người với con người, chính phủ với chính phủ và xây đắp một nền hòa bình bền vững khi có sự hiếu biết và tôn trọng lẫn nhau
1.2.4.7 Các loại du lịch khác
Do điều kiện công việc và khả năng riêng của mỗi người cũng như truyền thống văn hóa mà họ mang theo, nên mục đích của mỗi người cùng ý thích của họ sẽ khác nhau chi phổi loại hình du lịch
mà họ muốn Ngoài những loại hình du lịch kể trên còn có một số loại khác như du lịch ba lô, du lịch hành hương, du lịch ba cùng Những loại hình này thường được gọi theo hình thức hay nội dung
mà người du lịch thế hiện, chẳng hạn như du lịch ba lô xuất hiện những năm gần đây ở Việt Nam đế nói đến những khách nước
Trang 37ngoài đi du lịch tự do, đồ đạc cúa họ gói gém trong chiếc ba lô và
họ có thể dừng ở bất cứ đâu họ muốn, mà không cần một công ty hay tour du lịch nào tổ chức
1.3 Du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là một trong các loại hình của du lịch như đ ã
kế trên Tuy nhiên, do tính đặc thù của loại hình này và do mục đích của giáo trình liên quan chủ yếu đến nó nên chúng tôi tách riêng thành một phần
Ngoài những điều đã trình bày ở trên, xét cho cùng thì du lịch bao giờ cũng là du lịch văn hóa Người đi du lịch không chí tham quan, chiêm ngưỡng những di sản văn hóa cụ thể như đền đài, miếu mạo hoặc những sinh hoạt văn hóa, mà còn quan tâm đến cách ứng
xử, thái độ, cách tố chức, phương thức thế hiện cúa người dân địa phương trong tất cả mọi vấn đề liên quan đến họ Vì thế du khách đến thăm một danh lam thắng cảnh không chi thuần túy xem nó đẹp thế nào, giá trị của nó ra sao.,., mà còn chiêm nghiệm, tìm hiếu tất
cả những gì liên quan đến nó và những con người làm ra và đang giữ gìn nó Để rồi, người đi du lịch sau một chuyến du hành không chỉ sảng khoái về tâm hồn, hiểu biết được một di sán, mà còn hiểu biết và học hỏi thêm được nhiều điều bổ sung cho kiến thức cuộc sống của mình
Theo điều tra, các khách du lịch các nước Âu, Mỹ đều coi
“giao lưu với người dân bản xứ, tìm hiểu văn hóa và phương thức sinh hoạt bản xứ” là một trong ba động cơ chính của xuất cảnh du lịch Trong số các khách du lịch đi các nước Âu, Mỹ,‘thì 65% là du lịch văn hóa, tình hình du khách đến Trung Quốc cũng giống như vậy Hơn 30 bang của nước Mỹ không hẹn mà gặp đều ra sức khai thác tiềm lực du lịch văn hóa Du lịch văn hóa là hạng mục du lịch
có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất nước Mỹ (l 1
Cao Lộ Gia (2004), Nhản loại học du lịch Trung Q uốc, Nxb Du lịch Ọuáng
Tây, Quảng Tây.
Trang 38Theo luật Du lịch, thì du lịch văn hóa được hiểu “là hình thức
du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhàm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống’’ (Luật Du lịch, Chương I, Điều 4, khoản 20)
Như vậy, du khách khi thực hiện chuyến du lịch văn hóa đến một di tích hay một sinh hoạt văn hóa là nhằm thoả mãn sự hiểu biết, tính tò mò và sự ham thích của họ về di tích hay sinh hoạt văn hóa
đó Người tham gia vào hoạt động du lịch này được hưởng thụ, trải nghiệm, được đắm mình trong các sinh hoạt văn hóa nơi mình đến để
từ đó hiểu biết sâu sắc về nó và đem lại cho mình những thỏa mãn về tinh thần, tâm linh và cả vật chất Giá trị của di tích hay một sinh hoạt văn hóa được phát huy khi nó đóng một vai trò nhất định tác động lên tâm lý, tình cảm và tri thức của người đi du lịch
Từ đây ta có thể thấy, một người du khách theo một tour du lịch đi thăm viếng một đền chùa nào đó, thay vì đi tắm biến hay nghỉ dưỡng là để được thoả mãn việc cầu nguyện đức Phật và các vị thần linh, mong m uốn sự phù hộ độ trì cho cuộc sống của bản thân
họ, gia đình và những người thân của họ Vì thế, nhìn bề ngoài thì hiện tượng này rất bình thường, song về mặt tâm lý thì đây là một tác động rất lớn đối với cá nhân họ H ơn thế nữa, khi lễ bái, xin lộc, đôi khi cả xin quẻ, xin xăm nếu gặp được quẻ hay thì tạo cho người
ấy một niềm tin m ãnh liệt vào những may mắn mà họ đang chờ đợi trong tương lai Ngược lại, nếu gặp phải quẻ xấu, thì tâm lý của người đó cũng là m ột vấn đề khá nan giải Điều đó cho thấy, sự tác động tâm linh không hề nhỏ trong việc đi lễ bái trong dân gian Bỏ qua những vấn đề về mê tín chúng ta sẽ thấy rõ sự tác động của tâm linh đến con người mạnh mẽ đến nhường nào
Ngoài việc cầu xin cho những người thân, người đi lễ còn đem
về những vật phẩm là lộc có thể để ăn (hoa, quả, bánh kẹo ), để thờ cúng trong năm (như vàng, tiền và các đồ mã khác), đế sứ dụng (như bùa hay vật thiêng) cho người lớn, người ốm hay trẻ nho
Trang 39Bên cạnh việc lễ bái thỏa mãn tâm linh là sự hưởng thụ về mặt tinh thần như tham gia vào lễ hội, lễ rước, nhảy, múa, trò chơi, trò diễn Tại những sinh hoạt này, người tham gia được đắm mình vào không khí hội hè: cẩn trọng, thiêng liêng, từ tốn trong đám rước hay
lễ bái vui hết mình trong những trò chơi, cuộc đua tranh giành, hò hét, hồi hộp và cay cú thực sự đến nồi phờ phạc, tá tơi như đi hội là vậy Cùng với những sinh hoạt tinh thần, người tham gia còn dự các cuộc ăn uống tập thể Ở đây sự ăn uống không mang tính thuần túy
mà nó “nhuốm màu thần thánh” Chỉ một “miếng lộc” thôi có ý nghĩa vô cùng to lớn đem lại cho họ niềm sung sướng vô tận về một
ỷ nghĩ: thần thánh đã ban phát lộc của trời cho họ và gia đình họ.Mặt khác, bằng việc tham gia vào những sinh hoạt văn hóa hay tìm hiểu nguồn gốc, lai lịch của các vị thần, các nhân vật lịch sứ được thờ cúng ở đây, du khách còn hiểu biết thêm về lịch sử địa phương họ đến, hiểu biết vai trò của di tích và nhân vật ấy trong bối cảnh chung của khu vực của đất nước Điều này làm cho sự hiểu biết của họ được tăng thêm, phong phú thêm và trong chừng mực nào đó lòng tự hào, tình yêu quê hương đất nước của họ càng được cúng cố hơn nữa sau một chuyến đi
Khi tham gia vào việc sống cùng nhân dân địa phương của một dân tộc nào đó, du khách sẽ hiểu biết nhiều hơn về phong tục tập quán, nếp sống, truyền thống văn hóa của các dân tộc ấy Một mặt để hiểu biết thêm, bổ sung vào kho tàng tri thức của mình, hiểu biết sự khác biệt của những cộng đồng khác nhau cùng chung sống trên một dải đất Mặt khác, qua sự hiểu biết ấy để thông cảm, sé chia và học tập những điều hay, nét đẹp của dân tộc mà mình được chung sống Ví như hiểu thêm về các tục lệ chăm sóc trẻ con của một số dân tộc thiểu số, tục yêu mến chăm sóc người già, tài năng dệi thổ cẩm của các nghệ nhân dân gian, sự khéo léo trong cách làm các món ăn của một số dân tộc , để làm giàu những kiến thức và lchà năng của mình, đồng thời để dạy dỗ các thế hệ con cháu của
Trang 40mình Đối với những du khách ngoại quốc, đây là dịp họ hiểu biết thêm về một dân tộc khác với họ, hiểu biết những tập tục, cách ăn mặc, lối sống có thể là hoàn toàn khác dân tộc họ, tạo cho họ sự khám phá thú vị, đồng thời cũng tạo ra sự đồng cảm giữa các dân tộc, tránh những va chạm có thể xảy ra nếu sự hiểu biết ấy không đến nơi đến chốn Không ít các cuộc chiến tranh xấy ra chỉ vì sự thiếu hiểu biết lẫn nhau.
N hư vậy, du lịch văn hóa là một hoạt động không chỉ mang tính giải trí thuần tuý mà còn chứa đựng trong nó trí tuệ và sự hiểu biết cho du khách Trí tuệ và sự hiểu biết ấy làm cho con người lớn hẳn lên, hiểu biết thêm lên và từ đó làm cho người ta có tính nhân văn ngày càng cao hơn, giúp cho việc đoàn kết các dân tộc và tăng cường tình hữu nghị ngay trong nội bộ một nước và trên toàn thế giới Đây thực sự là tính ưu việt của du lịch văn hóa, đương nhiên ớ tầm thấp nhất thì du lịch văn hóa cũng thoả mãn được trí tò m ò và
sự hiểu biết về văn hóa của một nhóm người này đối với một cộng đồng người khác
Có một quan niệm khác về du lịch văn hóa là:
“D u lịch văn hóa có thể chắc chắn là một thực thể riêng biệt
Nó có thể là một tổ chức, công việc kinh doanh tạo lợi nhuận khuyến khích sự liên hệ văn hóa gần gũi giữa du khách và các thành viên của nền văn hóa địa phương và nhằm mục đích tạo ra công bằng thu nhập từ đồng đô-la du lịch Trong trường hợp này “du lịch” có lẽ ít giống một sản phẩm đại trà m à chúng ta thấy (các công
ty du lịch) quảng bá và giống, trải nghiệm giáo dục hơn nơi khách
du lịch được đưa vào nhịp điệu sống “thông thường” ở nơi mọi việc đang diễn ra và những gia đình đang sổng ở đó”( 11
(l) Annalisa Koeman, IUCN Việt Nam, Michael di Gregorio, CRES/Trung tâm
Đông Tây, Văn h óa và Du lịch: C ác quan hệ đan xen ph ứ c tạp.