CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUÂN THỦ THUẾ
LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ
2.1.1 Định nghĩa tuân thủ thuế
Tuân thủ thuế được hiểu là sự sẵn lòng của người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật, nhằm đạt được sự ổn định kinh tế cho quốc gia, như được nêu bởi Andreoni & Ctg (1998).
Theo Jackson & Milliron (1986) và Alm (1991), tuân thủ thuế được định nghĩa là việc báo cáo đầy đủ thu nhập và thanh toán toàn bộ nghĩa vụ thuế theo các quy định của pháp luật James & Alley (1999) cũng nhấn mạnh rằng tuân thủ thuế đơn giản có thể hiểu là mức độ người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của luật thuế.
Kirchler (2007) định nghĩa tuân thủ thuế một cách đơn giản, coi đây là thuật ngữ trung lập nhất để mô tả sự sẵn lòng của người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế.
Theo Song & Yarbrough (1978), tuân thủ thuế ở Hoa Kỳ phụ thuộc vào khả năng và sự sẵn lòng của người nộp thuế, được xác định bởi yếu tố đạo đức, môi trường pháp lý và các tình huống cụ thể Một số cơ quan thuế định nghĩa tuân thủ là việc người nộp thuế kê khai chính xác thu nhập và thanh toán đúng hạn Singh và cộng sự (2003) nhấn mạnh rằng tuân thủ thuế là hành động công khai chính xác tất cả thu nhập chịu thuế và thanh toán đầy đủ trong thời hạn mà không cần chờ đợi cơ quan thuế Tuân thủ thuế được chia thành hai khía cạnh: quản lý hành chính và hoàn thành tờ khai thuế chính xác Điều này yêu cầu người nộp thuế phải có kiến thức thuế đầy đủ và khả năng áp dụng kiến thức đó để hoàn thành tờ khai một cách kịp thời và chính xác Tuân thủ thuế là vấn đề quan trọng trong hệ thống tự khai thuế, vì số tiền thuế phải nộp phụ thuộc vào mức độ tuân thủ của người nộp thuế, mặc dù cơ quan thuế có thể tìm kiếm thông tin từ các nguồn khác để giảm thiểu rủi ro không tuân thủ.
Một số tác giả đã xem xét tuân thủ thuế từ nhiều góc độ khác nhau Allingham & Sandmo (1972) mô tả tuân thủ thuế như một vấn đề liên quan đến việc "báo cáo thu nhập thực tế" và cho rằng hành vi này của người nộp thuế bị ảnh hưởng bởi các tình huống không chắc chắn, dẫn đến việc họ có thể khai báo thu nhập thấp hơn để tiết kiệm thuế hoặc bị phạt nặng hơn cho các khoản thu nhập không khai báo McBarnet (2001) đề xuất rằng tuân thủ thuế có thể được nhìn nhận qua ba cách: cam kết tuân thủ, tuân thủ có điều kiện và tuân thủ sáng tạo nhằm giảm thiểu nghĩa vụ thuế Spice & Lundstedt (1976) nhận thức rằng mức độ tuân thủ thuế là một hình thức may rủi liên quan đến khả năng phát hiện và xử phạt, yêu cầu cơ quan thuế phải hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tuân thủ của người nộp thuế.
Tuân thủ thuế không phải là một quá trình tự thân mà chịu tác động từ nhiều yếu tố bên ngoài Nghiên cứu của Allingham & Sandmo (1972), Spicer & Lundstedt (1976), Lewis (1982) và Andreoni & Ctg (1998) chỉ ra rằng tuân thủ thuế là kết quả của mối tương quan giữa nhận thức về sự công bằng, hiệu quả và sự tương tác giữa chúng Ngoài ra, các yếu tố như hình phạt và khả năng phát hiện cũng có ảnh hưởng đến tuân thủ thuế, trong khi hành vi thị trường lao động như tiền lương và biểu thuế cũng góp phần vào vấn đề này Hệ thống thuế hiệu quả thường ít công bằng hơn khi những người giàu có khả năng trốn thuế lớn hơn so với người nghèo.
Bất kỳ nỗ lực nào không tuân thủ thuế đều tác động tiêu cực đến hiệu quả thuế và làm tăng chi phí tuân thủ Việc không báo cáo thu nhập sẽ dẫn đến sự sai lệch trong số thu thuế.
Tuân thủ thuế là một khái niệm đa chiều, có thể được phân tích từ nhiều góc độ khác nhau như tài chính công, kinh tế học, pháp lý và tâm lý học.
Bảng 2.1 Mô tả các cách tiếp cận khác nhau về tuân thủ thuế
Tuân thủ thuế Cách tiếp cận kinh tế Cách tiếp cận hành vi
Tuân thủ 100% quy định về thuế so với thực tế, xét trên góc độ hẹp
Tự nguyện, sẵn sàng hành động theo tinh thần và từng quy định của luật thuế, xét trên góc độ rộng hơn
Quyết định tuân thủ Dựa trên sự hợp lý về lợi ích kinh tế Dựa trên hành vi hợp tác giữa người nộp thuế và cơ quan thuế
(1) Lợi ích mong đợi từ việc trốn thuế
(2) Rủi ro bị phát hiện và mức bị phạt
(3) Tối đa hóa thu nhập và của cải cá nhân
Mỗi cá nhân không chỉ là một cá thể độc lập mà còn tương tác với nhau thông qua thái độ, niềm tin, tiêu chuẩn và vai trò khác nhau Thành công trong cuộc sống và công việc phụ thuộc vào sự hợp tác giữa các cá nhân.
Tuân thủ thuế Hiệu quả trong việc phân phối nguồn lực Hợp lý, công bằng và phạm vi tác động tích cực
Hình ảnh người nộp thuế Ích kỷ tính toán lợi ích và thiệt hại bằng tiền “Công dân tốt”
Bài viết này tập trung vào việc khai thác cách tiếp cận thứ hai, nhấn mạnh khía cạnh hành vi trong tuân thủ thuế, khác với cách tiếp cận hợp lý về kinh tế Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã nỗ lực định nghĩa tuân thủ thuế, phù hợp với định nghĩa của IRS (2009), ATO (2009) và IRB.
Khái niệm tuân thủ thuế được đo lường qua sự sẵn lòng của người nộp thuế trong việc tuân thủ luật thuế, bao gồm khai báo chính xác thu nhập, xác nhận các khoản khấu trừ và thanh toán thuế đúng hạn Đánh giá hành vi tuân thuế cần xem xét cả tuân thủ quy định pháp luật và chuẩn mực đạo đức của người nộp thuế.
2.1.2 Các nhân tố liên quan đến hành vi tuân thủ thuế
Hành vi tuân thủ thuế đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, với hai cách tiếp cận chính Thứ nhất, phân tích quyết định tuân thủ dựa trên khía cạnh kinh tế, so sánh lợi ích và chi phí giữa việc tuân thủ và không tuân thủ, cũng như các phần thưởng khích lệ từ việc tuân thủ Thứ hai, nghiên cứu các nhân tố tác động đến quyết định tuân thủ liên quan đến hành vi của người nộp thuế và cơ quan thuế, thiên về khoa học hành vi Hầu hết các nghiên cứu gần đây về tuân thủ thuế đều áp dụng cách tiếp cận hành vi này.
2.1.2.1 Các nhân tố liên quan đến chính sách thuế
Nhiều nghiên cứu đã xác nhận tác động của thuế suất đến hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế, nhưng mức độ và hướng tác động không hoàn toàn giống nhau Bằng chứng thực nghiệm cho thấy thuế suất lũy tiến có ảnh hưởng đáng kể hơn so với thuế suất cố định đối với hành vi tuân thủ thuế.
Clotfelter (1983) cho rằng cắt giảm thuế suất không phải là biện pháp duy nhất để hạn chế trốn thuế, nhưng thuế suất đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi tuân thủ thuế, mặc dù mối quan hệ này vẫn còn gây tranh cãi Ông khẳng định rằng giữa thuế suất và trốn thuế có mối liên hệ đáng kể, vì thuế suất có thể được điều chỉnh cho các mục tiêu chính sách Vấn đề này đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, bao gồm cả Tanzi (1980), người đã sử dụng mô hình kinh tế lượng để phân tích mối quan hệ giữa mức thuế suất và trốn thuế Nghiên cứu của ông cho thấy có mối tương quan dương giữa thuế suất và trốn thuế, với việc người nộp thuế có thuế suất biên cao có xu hướng gian lận nhiều hơn Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng người nộp thuế có thu nhập thấp hơn có thể gian lận nhiều hơn do mỗi đô-la thuế có giá trị cao hơn đối với họ.
Nghiên cứu cho thấy thuế suất tăng có thể dẫn đến trốn thuế, nhưng Allingham & Sandmo (1972) lại cho rằng thuế suất không ảnh hưởng đáng kể đến hành vi này Họ đã sử dụng mô hình thống kê để phân tích mối quan hệ giữa thu nhập thực tế, thuế suất, hình phạt và điều tra trốn thuế, kết luận rằng người nộp thuế có thể chọn báo cáo đầy đủ hoặc báo cáo thu nhập thấp hơn thực tế, bất kể thuế suất Porcano (1988) cũng đồng ý rằng thuế suất không tác động đến việc tuân thủ thuế Vấn đề tác động của thuế suất đến tuân thủ thuế vẫn còn gây tranh cãi, với Kirchler & Ctg (2008) và McKerchar & Evans (2009) nhấn mạnh rằng mức độ tin tưởng của người nộp thuế vào chính phủ có vai trò quan trọng Khi niềm tin thấp, thuế suất cao có thể bị coi là không công bằng, trong khi khi niềm tin cao, nó có thể được xem như một đóng góp cho cộng đồng.
Thay đổi chính sách hiện hành của chính phủ
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
2.2.1 Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế đang ngày càng được chú trọng Một nghiên cứu quan trọng là luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Lệ Thúy vào năm 2009, với đề tài “Hoàn thiện quản lý thu thuế của nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp” tập trung vào phân tích thực trạng quản lý thu thuế tại Hà Nội Nghiên cứu này đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp, tuy nhiên, phương pháp thực hiện chủ yếu là phân tích thống kê mô tả mà chưa áp dụng các phương pháp định lượng như phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy hay phân tích ANOVA.
Nghiên cứu của Võ Đức Chính (2011) về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại tỉnh Bình Dương đã xác định được 6 nhân tố chính, bao gồm hệ thống thuế, yếu tố kinh tế, đặc điểm doanh nghiệp, yếu tố xã hội, ngành kinh doanh và yếu tố tâm lý Kết quả cho thấy tất cả các nhân tố này đều có tác động đáng kể đến tính tuân thủ thuế, tuy nhiên, các phát hiện chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp trong khu vực Bình Dương.
Nghiên cứu của Đặng Thị Bạch Vân (2012) tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế của người nộp thuế tại TP.Hồ Chí Minh Tác giả đã áp dụng phương pháp định lượng để phân tích các yếu tố tác động đến sự tuân thủ thuế.
Gồm 11 nhân tố đó bao gồm: thuế suất, kiểm tra thuế, xác suất phát hiện, nhận thức về chi tiêu chính phủ, tính đơn giản của việc kê khai thuế, hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế, nhận thức về công bằng thuế, thay đổi chính sách của chính phủ hiện hành, tình trạng tài chính, hình phạt và kiến thức thuế Sau khi phân tích hồi quy, chỉ còn 5 nhân tố tác động tới tính tuân thủ thuế của người nộp thuế gồm: nhận thức về tính công bằng của người nộp thuế, các nhân tố về thể chế, hình phạt, tình trạng tài chính, kiểm tra thuế, nhận thức về chi tiêu chính phủ và thuế suất
Nghiên cứu của Jackson và Million (1986) đã tổng hợp 14 nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế Fischer và cộng sự đã phân loại các nhân tố này thành 4 nhóm chính trong mô hình mở rộng, bao gồm: nhân tố tác động đến cơ hội không tuân thủ, quan điểm và nhận thức của người nộp thuế, các yếu tố liên quan đến hệ thống thuế, và các nhân tố nhân khẩu học.
Nghiên cứu của James Alm và Betty R Jackson (2004) về hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá nhân sử dụng dữ liệu thứ cấp từ thông tin người nộp thuế và báo cáo của các công ty kiểm toán Kết quả cho thấy có mối quan hệ giữa hành vi tuân thủ thuế với thu nhập cá nhân, tài sản sở hữu, quy trình kiểm toán và thông tin cá nhân của người nộp thuế.
TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ SỰ TUÂN THỦ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP
Theo Thông tư số 204/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính, có hiệu lực từ ngày 04/02/2016, quy định về việc áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế.
Thông tư này quy định về việc áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế của cơ quan thuế các cấp, nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế Các nghiệp vụ quản lý thuế bao gồm đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, quản lý nợ thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế Ngoài ra, Thông tư cũng đề cập đến hoàn thuế, kiểm tra, thanh tra thuế, cũng như việc tạo, in, phát hành, quản lý và sử dụng ấn chỉ thuế và các nghiệp vụ quản lý thuế khác.
Hệ thống thông tin nghiệp vụ của cơ quan Thuế sẽ tự động phân loại người nộp thuế thành ba loại dựa trên kết quả đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật về thuế.
Người nộp thuế có thể được phân loại theo mức độ tuân thủ pháp luật thuế: (1) mức độ cao, thể hiện sự tuân thủ tốt các quy định thuế; (2) mức độ trung bình, cho thấy sự tuân thủ ở mức chấp nhận được; và (3) mức độ thấp, phản ánh sự không tuân thủ các quy định thuế.
Theo đó, một số tiêu chí để doanh nghiệp được xếp:
Loại 1 là: nộp thuế đầy đủ, đúng hạn theo quy định; tỷ trọng nộp các loại thuế liên quan đến sản xuất kinh doanh trên doanh số đạt trên mức trung bình của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cùng lĩnh vực, ngành nghề; trong thời gian 02 năm liên tục tính đến ngày đánh giá không bị một trong các hình thức xử lý vi phạm hành chính như trốn thuế, gian lận thuế, không chấp hành quy định về kiểm tra, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
Loại 3 nếu thuộc một số trường hợp như: chưa kê khai, nộp hồ sơ khai thuế và nộp thuế đầy đủ, đúng hạn ít nhất 1/3 (một phần ba) số tờ khai theo quy định trong vòng 12 tháng; có số lỗ lũy kế vượt quá 50% vốn chủ sở hữu tính đến thời điểm đánh giá; trong thời gian 02 năm liên tục trở về trước tính đến ngày đánh giá bị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành hính về các hành vi trốn thuế, gian lận thuế
Loại 2 là những doanh nghiệp không thuộc các trường hợp quy định đối với doanh nghiệp Loại 1 và Loại 3
Cơ quan Thuế đánh giá và xếp hạng mức độ rủi ro của doanh nghiệp dựa trên việc tuân thủ pháp luật về thuế và các nguồn thông tin khác, với 6 hạng từ rất thấp đến rất cao, đặc biệt chú ý đến những doanh nghiệp có thời gian hoạt động dưới 12 tháng Kết quả này sẽ làm cơ sở cho việc quyết định áp dụng các biện pháp kiểm tra, thanh tra và giám sát, bao gồm việc phân luồng và quản lý danh sách người nộp thuế rủi ro theo từng nghiệp vụ quản lý thuế Các danh sách này sẽ bao gồm trường hợp kiểm tra về đăng ký thuế và hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế, đồng thời giám sát trọng điểm đối với doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế.