1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định tỉ lệ của thân cây bắp và ngọn mía thích hợp để ủ chua tại tỉnh trà vinh

54 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phần dinh dưỡng và chất lượng của phụ phẩm thay đổi theo giống, đất đai, hình thức canh tác, thời gian thu hoạch, cách bảo quản,…Vì vậy, việc nghiên cứu để gia tăng khả năng sử dụn

Trang 1

QT6.2/KHCN1-BM2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

Đơn vị: Lớp Đại học Bác sĩ Thú y khóa 2010

ISO 9001 : 2008

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cám ơn!

Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Trà Vinh; Khoa Nông Nghiệp – Thuỷ sản,

Bộ môn chăn nuôi thú y, Trường Đại học Trà Vinh; Phòng Khoa học Công nghệ và Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Trà Vinh; Khoa hóa học ứng dụng, Trung tâm Phân tích và Kiểm nghiệm (CPE), Trường Đại Học Trà Vinh đã tạo điều kiện cho

em thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học của mình

Em xin chân thành cám ơn cô Lý Thị Thu Lan đã hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài Em cũng xin gửi lời cám ơn đến chị Lê Thị Đẹp công tác tại phòng Khoa học Công Nghệ và Đào tạo sau đại học; các anh chị, các bạn học đã hỗ trợ và giúp đỡ em rất nhiệt tình trong quá trình thực hiện đề tài Đồng thời em cũng xin gửi lời cám ơn đến cô Lê Thị Thu Hà, thầy Trần Thế Nam, thầy Cao Minh Trí công tác tại phòng Phân tích - Kiểm nghiệm (CPE) đã hỗ trợ em trong quá trình phân tích mẫu

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

Các nghiệm thức đều được bổ sung 3% rỉ mật đường và 0,5% NaCl để đánh giá màu sắc, mùi vị, độ mốc, đánh giá tính ngon miệng thông qua khả năng tiếp nhận thức ăn ủ chua của bò và phân tích: pH, VCK, protein thô, xơ thô, khoáng tổng số ở 4 giai đoạn 0, 14, 21, 28 ngày

Kết quả cho thấy TCB và NLM sau khi ủ có màu vàng lục và không mốc Khả năng tiếp nhận thức ăn của bò tốt ở NT1, NT2, NT3, NT4 pH thay đổi đến giai đoạn 28 ngày trong khoảng 4,0 – 4,2 Vật chất khô, protein thô, xơ thô và tro ở nghiệm thức 100% TCB là cao nhất và giảm dần khi tỉ lệ bắp giảm dần Các nghiệm thức có sự phối trộn giữa TCB và NLM cho thấy khi ủ 30 % NLM và 70% TCB có VCK, protein thô, xơ thô, khoáng tổng số cao nhất Tỉ lệ 30% NLM và 70% TCB là thích hợp nhất để ứng dụng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

TÓM LƯỢC ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vii

BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2

NỘI DUNG THỰC HIỆN 2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Đặc điểm và thành phần hóa học của ngọn lá mía và thân cây bắp 5

1.1.1 Ngọn lá mía 5

1.1.2 Thân cây bắp 6

1.2 Ủ Chua Thức Ăn Xanh 7

1.2.1 Nguyên lý ủ chua thức ăn xanh 7

1.2.2 Kỹ thuật ủ chua thức ăn 10

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thức ăn ủ chua 11

1.2.4 Hệ vi sinh vật trong thức ăn ủ chua 12

1.2.5 Quá trình lên men vi sinh vật trong khối ủ chua 14

1.2.6 Sự biến đổi protein trong khối ủ 15

1.2.7 Sự tạo thành các acid hữu cơ 15

Trang 5

1.3 Đặc điểm tiêu hóa của gia súc nhai lại 16

1.3.1 Cấu tạo dạ dày của gia súc nhai lại 17

1.3.2 Hệ vi sinh vật dạ cỏ 18

1.3.3 Tương tác vi sinh vật trong dạ cỏ 20

1.3.4 Quá trình tiêu hóa thức ăn trong dạ cỏ 22

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Mục đích nghiên cứu 27

2.2 Phương tiện nghiên cứu 27

2.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27

2.2.2 Đối tượng nghiên cứu 27

2.2.3 Dụng cụ thí nghiệm 27

2.3 Phương pháp nghiên cứu 28

2.3.1 Bố trí thí nghiệm 28

2.3.2 Cách lấy mẫu 29

2.3.3 Phương pháp đánh giá bằng cảm quan 29

2.3.4 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 30

2.3.5 Phương pháp xử lí số liệu 30

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 31

3.1 Kết quả đánh giá cảm quan 31

3.1.1 Hiện tượng sinh hơi 31

3.1.2 Sự thay đổi màu sắc, mùi vị và độ mốc trong quá trình ủ chua 32

3.1.3 Khả năng tiếp nhận thức ăn ủ chua của bò 33

3.2 Kết quả phân tích dinh dưỡng trong phòng thí nghiệm 34

3.2.1 Sự thay đổi của pH trong quá trình ủ 34

3.2.2 Sự thay đổi của VCK trong quá trình ủ 36

3.2.3 Sự thay đổi của Protein thô trong quá trình ủ 37

Trang 6

3.2.4 Sự thay đổi của xơ thô trong quá trình ủ 39

3.2.5 Sự thay đổi của Khoáng tổng số (tro) trong quá trình ủ 40

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

PHỤ LỤC 46

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Thành phần hóa học các phần của ngọn mía (%) 6

Bảng 2: Ghi nhận hiện tượng sinh hơi ở ngày ủ thứ 7 của các túi 31

Bảng 3: Sự thay đổi màu sắc, mùi và mốc của các nghiệm thức sau khi ủ được 21 ngày 33

Bảng 4: Độ pH của các nghiệm thức qua các giai đoạn 34

Bảng 5 Sự thay đổi giá trị VCK của các nghiệm thức trong quá trình ủ 36

Bảng 6: Sự thay đổi protein thô của các NT trong quá trình ủ chua 38

Bảng 7 Sự thay đổi xơ thô của các NT trong quá trình ủ 39

Bảng 8: Sự thay đổi của khoáng tổng số trong quá trình ủ 40

Trang 8

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Hình 1: Ngọn mía và thân cây bắp cắt thành những đoạn ngắn 28

Hình 2: Bố trí thí nghiệm 29

Hình 3: NT1 có màu vàng lục tươi 32

Hình 4: NT2 có màu vàng lục 32

Hình 5: NT3 có màu vàng lục 32

Hình 6: NT4 có màu vàng lục 32

Hình 7: NT5 có màu vàng lục sậm 32

Hình 8: Sản phẩm ủ chua trước và sau khi cho bò ăn 34

Biểu đồ 1: Sự thay đổi của độ pH qua các giai đoạn 35

Biểu đồ 2: Sự thay đổi giá trị VCK trong quá trình ủ 37

Biểu đồ 3: Sự thay đổi của protein thô qua các giai đoạn 39

Biểu đồ 4: Sự thay đổi của xơ thô qua các giai đoạn 40

Biểu đồ 5: Sự thay đổi của khoáng tổng số qua các giai đoạn 41

Sơ đồ 1: Con đường tiêu hóa Protein và Cacbohydrate trong dạ cỏ 22

Sơ đồ 2: Tiêu hóa cacbohydrat ở bò 24

Trang 10

MỞ ĐẦU

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Việt Nam là một nước phát triển mạnh về nông nghiệp, ngoài lượng nông sản thu về thì lượng phụ phẩm từ ngành nông nghiệp mang lại là một vấn đề cần quan tâm và khai thác Thành phần dinh dưỡng và chất lượng của phụ phẩm thay đổi theo giống, đất đai, hình thức canh tác, thời gian thu hoạch, cách bảo quản,…Vì vậy, việc nghiên cứu để gia tăng khả năng sử dụng các nguồn thức ăn này một cách hợp

lý là một nhu cầu cần thiết trong lĩnh vực chăn nuôi của nước Việt Nam nói chung

và tỉnh Trà Vinh nói riêng

Từ khi chính sách Sind hóa đàn bò được thực hiện, năng suất cũng như chất lượng đàn bò tại tỉnh đã được cải thiện nhiều Tuy nhiên, thức ăn dùng để nuôi bò hiện nay đang bị giới hạn, các đồng cỏ chăn thả cũng như diện tích đất trồng cỏ làm thức ăn chăn nuôi không đáp ứng đủ lượng thức ăn đặc biệt vào mùa khô Người chăn nuôi thường cho bò ăn rơm nhiều hơn lượng cỏ xanh sẽ không đảm bảo cho đàn bò sinh trưởng và phát triển tốt Trong khi giá cả của thức ăn tinh lại khá cao thì việc ủ chua thức ăn xanh là giải pháp có thể giữ ổn định nguồn thức ăn vào mùa khô

và dự trữ lượng thức ăn xanh ở mùa mưa, hạn chế thất thoát chất dinh dưỡng góp phần khai thác bền vững nguồn phụ phẩm tại địa phương để phát triển chăn nuôi và bảo vệ môi trường

Ở Trà Vinh hiện nay, diện tích bắp trồng được là 1.705 ha, mía là 1.017 ha (Cục Thống kê tỉnh Trà Vinh, 2013) Sau khi thu hoạch thì phần còn lại là thân cây bắp và ngọn mía phần lớn sẽ bị bỏ lại, phần ngọn lá còn xanh chiếm từ 10-12% tổng sinh khối cây mía (Nguyễn Xuân Trạch, 2003), đây là nguồn phụ phẩm nông nghiệp dồi dào rất thích hợp để làm thức ăn cho bò Phương pháp ủ chua được sử dụng để ủ hai nguồn nguyên liệu này nhằm bảo quản và dự trữ thức ăn cho mùa khô vừa tiết kiệm được chi phí thức ăn vừa dễ dàng thực hiện

Thông thường việc ủ chua được thực hiện với từng loại nguyên liệu để đảm bảo tính đồng nhất trong quá trình lên men Tuy nhiên thân cây bắp và ngọn mía đều có hàm lượng xơ thô cao, trong khi hàm lượng đường của thân cây bắp thấp thì ngọn mía lại có hàm lượng đường tương đối cao Đặc biệt ở ngọn lá mía có chứa một lượng đáng kể dẫn xuất không đạm rất thích hợp cho quá trình lên men Thức

ăn đồng nhất thì tốt cho quá trình lên men ở dạ cỏ Việc phối trộn hai loại nguyên

Trang 11

liệu này là cần thiết vì vậy cần tiến hành thí nghiệm “Xác định tỉ lệ của thân cây

bắp và ngọn mía thích hợp để ủ chua tại tỉnh Trà Vinh”

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

Đánh giá các tiêu chí trực quan và thành phần hóa học của thực liệu sau khi ủ giữa các nghiệm thức

NỘI DUNG THỰC HIỆN

Thí nghiệm được triển khai với 2 nội dung:

1 Ủ chua

- Cắt ngọn mía và thân cây bắp thành những đoạn ngắn khoảng 5cm

- Chia tỉ lệ theo 5 nghiệm thức và đem ủ

2 Phân tích thành phần hóa học

- Lấy mẫu ban đầu đem phân tích vật chất khô, protein thô, xơ thô, khoáng tổng

số

- Kiểm tra mẫu sau khi ủ được 14 ngày với các chỉ tiêu: màu sắc, mùi, pH

- Phân tích mẫu sau khi ủ được 14 ngày: vật chất khô, protein thô, xơ thô, khoáng tổng số

- Kiểm tra mẫu sau khi ủ được 21 ngày với các chỉ tiêu: màu sắc, mùi, pH

- Phân tích mẫu sau khi ủ được 21 ngày: vật chất khô, protein thô, xơ thô, khoáng tổng số

- Kiểm tra mẫu sau khi ủ được 28 ngày với các chỉ tiêu: màu sắc, mùi, pH

- Phân tích mẫu sau khi ủ được 28 ngày: vật chất khô, protein thô, xơ thô, khoáng tổng số

- Cho ăn đánh giá khả năng tiếp nhận thức ăn ủ chua của bò

- Tổng hợp và xử lí các số liệu thu được

- Viết báo cáo

Trang 12

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp ủ chua thân cây bắp và ngọn mía:

Ủ chua thân cây bắp và ngọn mía trong túi nilon

Thân cây bắp và ngọn mía sau khi thu thoạch được cắt nhỏ thành những đoạn ngắn khoảng 5 cm, trộn đều và ủ trong túi nilon mỗi túi 10 kg nguyên liệu theo 5 tỉ

lệ (mỗi tỉ lệ là một nghiệm thức) sau:

Trang 13

2 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu:

Cách lấy mẫu: lấy ngẫu nhiên và theo quy tắc đường chéo

Sau khi ủ ở các thời điểm 0, 14, 21, 28 ngày các mẫu ủ theo 5 tỉ lệ lần lượt được lấy để kiểm tra đánh giá các chỉ tiêu và phân tích thành phần dinh dưỡng như sau:

- Chỉ tiêu quan sát: màu sắc, mùi vị, độ mốc của mỗi túi ủ

- Đo nồng độ pH của mỗi túi ủ

- Phân tích thành phần dinh dưỡng ở các thời điểm 0, 14, 21 và 28 ngày:

+ Phân tích hàm lượng vật chất khô (VCK);

+ Phân tích hàm lượng xơ thô;

+ Phân tích hàm lượng protein thô;

+ Phân tích hàm lượng khoáng tổng số (tro)

- Đánh giá tính ngon miệng thông qua theo dõi khả năng chấp nhận thức ăn của bò đối với từng nghiệm thức

3 Xử lí số liệu: Sử dụng Minitab 13.2 để xử lí số liệu

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đặc điểm và thành phần hóa học của ngọn lá mía và thân cây bắp

Giá trị dinh dưỡng của ngọn lá mía thấp, thay đổi theo vùng địa lí, hình thức canh tác, đặc biệt là hàm lượng protein thấp (bảng 1) Tuy vậy, trâu bò vẫn duy trì được thể trạng và vẫn làm việc bình thường khi chỉ ăn ngọn lá mía Do trong ngọn lá mía có chứa một lượng dẫn xuất không đạm rất thích hợp cho quá trình lên men ở dạ cỏ và việc tiêu hóa ngọn lá mía trong dạ cỏ đã cung cấp đủ dinh dưỡng cho duy trì và hoạt động bình thường của gia súc nhai lại Tuy nhiên việc sử dụng khẩu phần chỉ có ngọn mía trong một thời gian dài và không được

bổ sung các loại thức ăn khác như rỉ mật, cám, urê , thì sức làm việc sẽ bị giảm sút, tình trạng này càng kéo dài sẽ làm cho con vật giảm thể trọng và năng xuất Khi sử dụng ngọn lá mía cho gia súc cần bổ sung một số loại thức ăn khác (cám, urê ) để nâng cao tỷ lệ tiêu hóa và tăng lượng ăn vào của gia súc và ngọn

lá nên được cắt ngắn trước khi cho ăn Ngọn mía có thể được ủ chua, bằng cách băm nhỏ ngọn mía 3-4 cm rồi ủ yếm khí với rỉ mật, hay cám và 1% amôn sulphat (Vũ Duy Giảng, 2008)

Trang 15

Khi ủ phụ phẩm nhiều xơ với urê hoặc bổ sung urê, một nguồn nitơ rẻ tiền vào khẩu phần, sẽ đảm bảo sự gia tăng tỷ lệ tiêu hoá và khả năng ăn vào của gia súc Tiêu hoá xơ cũng được cải thiện rõ nét khi bổ sung thêm một lượng nhỏ carbonhydrate dễ lên men như rỉ mật, xác mì, khoai lang, cám…Khi sử dụng nitơ phi protein, lưu huỳnh là yếu tố giới hạn chính đến hoạt động của hệ vi sinh vật dạ cỏ Một hỗn hợp gồm 90% urê và 10% sulphatnatri (Na2SO4) làm cho tỷ

lệ N/S được cân bằng Rơm rạ thường có hàm lượng canxi, phosphor và muối thấp Việc bổ sung coban (Co), đồng (Cu) sẽ cải thiện được khẩu phần dựa trên rơm rạ Tỷ lệ tiêu hóa của rơm sẽ được cải thiện một cách đáng kể nếu bổ sung 1,5-2% urê, 10% rỉ mật và 0,5% hỗn hợp khoáng (muối, P, Ca, S) (Đinh Văn Cải, 2002)

Bảng 1 Thành phần hóa học các phần của ngọn mía (%)

và lá bắp bỏ lại rất lớn, chủ yếu dùng phơi khô và đun nấu, rất lãng phí Tuy vậy, nếu cây bắp già thì giá trị dinh dưỡng, giá trị làm làm thức ăn thấp do cấu trúc màng tế bào thực vật của nó Vì vậy, việc xử lý để kéo dài thời gian bảo quản, tăng giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng thân cây bắp sau khi thu hoạch trái là rất cần thiết Cây bắp sau khi thu trái non (bắp bao tử hay bắp luộc) có thể

Trang 16

dùng làm nguồn thức ăn xanh rất tốt cho trâu bò Thành phần dinh dưỡng của cây bắp sau thu trái non rất phù hợp với sinh lý tiêu hoá của trâu bò Cây bắp có tính ngon miệng cao đối với gia súc cả ở dạng xanh, ủ chua và phơi khô Bắp ủ chua rất ngon miệng đối với gia súc kể cả khi không có thức ăn bổ sung (Đinh Văn Cải, 2002)

Thân cây bắp sau thu hoạch có gi á trị dinh dưỡng cao nhất trong tất cả các loại phụ phế phẩm từ ngũ cốc, và vì thế nó có tiềm năng lớn trong việc cải thiện dinh dưỡng cho gia súc Theo kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Cải và cộng tác (1999) thì thân cây bắp sau thu hoạch có 25-26% chất khô; 32% xơ thô; 68,7% NDF; Tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ: 53,3% và năng lượng trao đổi cho trâu bò: 7,46 MJ/kg chất khô Cản trở lớn nhất đối với việc sử dụng thân cây bắp sau thu hoạch là khô cứng vì vậy cần thiết bị cán dập, chặt ngắn, phơi khô trước khi cho ăn hoặc phơi khô dùng dần (Đinh Văn Cải, 2002)

Loại cây bắp chín sữa-chín sáp và đã thu hết trái (trong trường hợp trồng bắp lấy trái đem bán non) có thể ủ chua rất tốt Tiến hành cắt cây bắp vào chính ngày thu trái, phơi héo cho khô bớt nếu có thể Kỹ thuật ủ chua cũng tương tự như trường hợp cây bắp làm thức ăn gia súc Bình thường cây bắp sau thu trái non này

có thể ủ chua không cần bổ sung chất phụ gia Tuy nhiên, để đảm bảo lên men an toàn khi không biết chính xác tỷ lệ vật chất khô, tỷ lệ đường, không phơi tái được cây bắp nguyên liệu thì nên bổ sung một lượng rỉ mật đường khoảng 2-4 lít/m3 hố

ủ Cách làm như sau: hoà rỉ mật vào nước sạch theo tỷ lệ bằng nhau trong ô-doa rồi tưới đều cho mỗi lớp 15 cm cây bắp đã thái nhỏ và đã chất vào trong hố ủ trước khi nén chặt (Vũ Duy Giảng, 2008)

1.2 Ủ chua thức ăn xanh

1.2.1 Nguyên lý ủ chua thức ăn xanh

Ủ chua thức ăn xanh là một trong các hình thức bảo quản thức ăn cho gia súc

và đã có từ rất lâu, đặc biệt là các nước châu Âu và Mỹ, nhằm dự trữ thức ăn cho gia súc vào mùa đông Ngày nay, việc ủ chua thức ăn xanh đã được sử dụng rộng rãi ngay cả đối với các nước nhiệt đới, nhằm mục đích dự trữ thức ăn cho mùa khô, tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp, đảm bảo sự ổn định của nguồn thức ăn, cung cấp cho gia súc vitamin và chất khoáng

Thực chất của việc ủ chua thức ăn là nén chặt thức ăn thô xanh có khả năng lên men trong điều kiện không có không khí Trong quá trình ủ đó các vi khuẩn biến đổi các đường dễ hoà tan như fructan, sacaroza, glucoza, fructoza, pentoza

Trang 17

thành axit lactic, axit axetic, và các axit hữu cơ khác Chính các axit này làm hạ thấp độ pH của môi trường thức ăn ủ chua xuống ở mức 3,8 – 4,5 mà hầu hết các loại vi khuẩn và các enzim của thực vật đều bị ức chế Do vậy thức ăn ủ có thể bảo quản được trong một thời gian dài Khi ủ chua diễn ra các quá trình sau:

- Hô hấp hiếu khí

Quá trình đầu tiên của sự biến đổi khi ủ chua là hiện tượng nhiệt độ tăng lên

do các tế bào thực vật còn sống sử dụng oxy không khí trong hố ủ cho quá trình hô hấp tế bào Bình thường sự hô hấp hiếu khí chỉ bị dừng lại khi hố ủ bị sử dụng hết oxy Đường bị sử dụng làm giảm giá trị của thức ăn

C6H12O6 + 6O2 6CO2 + 6H2O + 674 Kcal Đây là quá trình hô hấp sinh nhiệt, nước và CO2 phân giải từ các chất hữu cơ đặc biệt các cacbonhydrat, do đó làm thức ăn tổn thất về giá trị dinh dưỡng và nhiệt

độ hố ủ tăng lên Vì vậy để giảm tổn thất trong giai đoạn này cần hạn chế tối đa sự

hô hấp của tế bào thực vật (Nguyễn Xuân Trạch và Trần Thị Uyên, 1997) Để thức

ăn ủ chua đạt kết quả tốt chúng ta cần loại trừ các nguyên nhân tạo điều kiện cho quá trình hô hấp hiếu khí bao gồm tỷ lệ nước trong thức ăn, độ nén chặt và tốc độ đưa thức ăn vào ủ

- Hô hấp yếm khí

Khi sử dụng hết oxy trong hố ủ, tế bào thực vật không bị chết ngay mà chúng vẫn tiếp tục sống thêm một thời gian nữa Trong quá trình này đường trong thức ăn tiếp tục bị phân giải cho ra rượu và axit hữu cơ

C6H12O6 3C2H5OH + 3CO2 + 25 Kcal

Trong quá trình này thức ăn đem ủ càng nhiều thì hô hấp yếm khí xảy ra càng lâu Nhưng số lượng các axit hữu cơ sản sinh trong quá trình này còn ít không đủ lớn để bảo quản thức ăn

- Phân giải protein

Trong thức ăn đem ủ 70 - 90% nitơ tổng số tồn tại ở dạng protein Sau khi thu hoạch, protein bị phân giải làm hàm lượng protein có thể bị giảm tới 50% sau vài ngày phơi Khi thức ăn đem ủ, quá trình phân giải protein vẫn tiếp tục xảy ra, sản

Trang 18

phẩm của quá trình này là các axit amin và peptit có độ dài ngắn khác nhau Quá trình biến đổi liên tục đối với axit amin tạo ra NH3 vì sự có mặt của vi sinh vật và

các enzym thực vật NH3 sinh ra làm tăng pH trong hố ủ, làm giảm chất lượng thức

ăn ủ chua

- Lên men vi sinh vật

Cùng với quá trình hô hấp tế bào là quá trình biến đổi do sự hoạt động của vi sinh vật trong hố ủ chủ yếu là vi khuẩn lactic, axetic, butyric và các loài vi khuẩn khác

Vi khuẩn lactic được chia làm hai nhóm là homolactic và heterolactic Nhóm homolactic hoạt động mạnh hơn và có thể biến đổi từ một phân tử hexo thành 2 phân tử lactic mà không sinh khí trong khi đó các vi khuẩn heterolactic ngoài tạo ra axit lactic còn giải phóng CO2 và NH3

Các loài vi khuẩn thuộc loại lên men đổng chất (homofermentative) như

Lactobacillus plantarium, Pediococcus pentosaceus, Enterococcus faecalis biến

đổi:

Glucoza -> 2 axit lactic Fructoza -> 2 axit lactic Pentoza -> axit lactic + axit axetic Các loài vi khuẩn thuộc loại lên men dị chất (heterofermentative) như

Lactobacillus brevis, Leuconostoc mesenteroides biến đổi:

Glucoza -> axit lactic + etanol + CO2

3 Fructoza -> a lactic + 2 manitol + a.axetic + CO2

Pentoza -> axit lactic + axit axetic

Vi khuẩn acetic không có vai trò gì lớn trong quá trình ủ, các vi khuẩn butyric sản xuất ra butyric và giải phóng CO2, NH3, một số các axit amin Nguyên liệu chủ yếu cho vi khuẩn lactic hoạt động là hydratcacbon, vi khuẩn acetic là hydratcacbon

và rượu, còn vi khuẩn lên men thối là hydratcacbon, axit lactic và protein

Như vậy, muốn ủ xanh tốt cần tạo điều kiện tốt cho vi khuẩn lactic hoạt động

vì chỉ có các loại vi khuẩn này mà độ pH mới hạ thấp nhanh và làm giảm tổn thất dinh dưỡng cho phụ phẩm đem ủ

Trang 19

1.2.2 Kỹ thuật ủ chua thức ăn

Hố ủ cần được đặt ở nơi cao ráo, tránh đọng nước vào mùa mưa, thuận tiện cho việc vận chuyển thức ăn Tùy vào điều kiện của hộ chăn nuôi có thể chọn một trong các hình thức hố ủ phù hợp

- Địa điểm

+ Hố đất: Loại hố này đơn giản, ít tốn kém, nhưng tỷ lê thức ăn hư hỏng ở quanh thành và đáy hố thường cao Hố đất thích hợp cho các cơ sở chăn nuôi nhỏ chưa có điều kiện đầu tư

+ Hố xây: Hố xây bằng gạch tuy có tốn kém về chi phí nhưng đảm bảo tốt được chất lượng thức ăn, hạn chế hư hao thức ăn xung quanh thành và đáy hố + Dùng túi chất dẻo: Nên chọn túi có màu sẫm, bền và có độ dầy lớn hơn hoặc bằng 0,2 mm Ưu điểm của chúng đơn giản, chi phí thấp, dễ làm, dễ buộc kín Nhưng chúng có nhược điểm dễ rách, khó nén chặt trong quá trình ủ nên thức ăn ủ chua thường không đạt được kết quả như mong muốn

+ Ngoài ra, còn có thể sử dụng các loại thùng, can nhựa

- Dung tích hố

+ Hố cần cân đối không được quá lớn gây giảm chất lượng thức ăn khi cho gia súc ăn trong một thời gian dài, nhưng cũng không được quá nhỏ gây lãng phí, tăng

tỷ lệ tiếp xúc giữa thức ăn và thành hố dễ gây hư hỏng

+ Vì vậy phải tính toán để hố có dung tích vừa phải để có thể ủ được lượng thức ăn đủ cho gia súc ăn trong vòng 10-15 ngày/hố, không nên kéo dài thời gian cho ăn thức ăn một hố đến hàng tháng

- Nguyên liệu ủ

Lượng nước thích hợp trong thức ăn nguyên liệu là 65-75% Trường hợp hàm nước nước quá 75% thì phải phơi héo hay cho thêm bột đường vào Nếu thức ăn có hàm lượng nước quá thấp thì cần phun thêm nước vào Việc điều chỉnh lượng nước trong thức ăn cần phải kinh qua kinh nghiệm thực tế mới có thể làm chính xác được Thức ăn đem ủ cần được chặt ngắn (5-10 cm) để có thể nén được tốt

Trang 20

Thân lá cây bắp

Thông thường thức ăn ủ chua được làm từ toàn bộ thân cây bắp, tức là gồm cả

lá, thân và trái Tuy nhiên có thể tận thu lá và thân cây bắp sau khi đã thu bắp để ủ chua Người ta có thể thu bắp lúc còn non (bắp bao tử), khi hạt chín sáp (bắp nếp để luộc) và sau khi hạt đã khô (bắp già) Các loại cây bắp này có thành phần hoá học rất khác nhau Kỹ thuật ủ chua vì thế mà thay đổi tuỳ theo loại cây bắp đem sử dụng

Đối với cây bắp còn non có hàm lượng vật chất khô thấp thì cần phơi tái khoảng 2 ngày trước khi ủ để tăng hàm lượng VCK lên trên 25%

Đối với cây bắp già thì không phơi mà ủ ngay vào chính ngày thu hoạch bắp Cần bổ sung thêm rỉ mật hoặc cám (để tăng bột đường) Thường dùng 10kg rỉ mật cho một hố ủ 1,5 khối (Nguyễn Xuân Trạch, 2005)

Ngọn lá mía

Ngọn lá mía khi thu hoạch cây hãy còn xanh được thái nhỏ từ 2-3 cm (phần cứng như búp ngọn cần đập dập trước khi thái nhỏ) Cứ 100kg ngọn lá mía cần bổ sung thêm 1,5 kg rỉ mật, 3 kg bột sắn và 0,5 kg muối ăn (Nguyễn Xuân Trạch, 2005)

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thức ăn ủ chua

- Thành phần nguyên liệu

+ Hàm lượng VCK: Để ủ chua tốt, các nguyên liêu đem ủ phải có độ ẩm

65-75% Giá trị pH của thức ăn ủ chua phụ thuộc vào VCK ban đầu, VCK càng thấp thì pH phải xuống càng thấp mới có tác dụng bảo quản

+ Hàm lượng đường: Nếu hàm lượng đường trong nguyên liêu quá thấp thì

quá trình lên men lactic không đủ để hạ pH xuống mức cần thiết để bảo quản được thức ăn Khi nguyên liêu ủ chua có hàm lượng nước cao, đường dễ tan thấp dẫn đến chất lượng thức ăn ủ chua kém và không còn đường dễ tan trong thức ăn ủ chua

+ Khả năng đệm: Nếu nguyên liệu có tính đệm cao thì việc giảm pH sẽ khó

khăn hơn Ngược lại khi khả năng đêm quá thấp, thức ăn dễ bị chua quá, làm giảm khả năng thu nhận thức ăn của gia súc

+ Khi chất lượng thức ăn nguyên liêu không đáp ứng được các yêu cầu cho

Trang 21

quá trình lên men lactic được tốt, một số biên pháp hỗ trợ sau đây có thể áp dụng:

tăng áp suất thẩm thấu để giảm được sự mất mát VCK

• Bổ sung acid hữu cơ để hạ nhanh pH

- Yếu tố kỹ thuật

+ Thời gian ủ: Nếu thao tác ủ quá lâu để thức ăn tiếp xúc nhiều với không khí

thì hiên tượng hô hấp vẫn tiếp tục, không những làm mất chất dinh dưỡng (năng lượng dễ tiêu) mà còn sinh nhiệt, nhiệt cao trong hố ủ sẽ làm thức ăn bị hỏng

+ Độ kín khí: Điều kiện không có không khí ở trong hố ủ là rất cần thiết để

thức ăn lúc đầu khỏi sinh nhiệt lượng cao và về sau vẫn giữ được phẩm chất tốt Muốn vậy, cần phải cho thức ăn vào hố theo từng lớp một, nén thật chặt, nhất là các góc, để giảm thiểu những kẻ hở, không cho không khí tồn tại trong hố ủ

+ Nhiệt độ: Nhiêt độ thích hợp trong hố ủ là 20-60oC Nếu ủ được vài ngày mà nhiệt độ trong hố ủ lên cao là do thức ăn ủ không được nén chặt, hoặc do nắp hố không kín để không khí lọt vào, hoặc do ánh nắng mặt trời trực tiếp chiếu vào vách

hố quá mạnh Nhiệt độ cao sẽ làm hỏng thức ăn, phản ứng Milliard sẽ xảy ra, thức

ăn bị đen

1.2.4 Hệ vi sinh vật trong thức ăn ủ chua

Vi sinh vật trong thức ăn ủ chua có nguồn gốc từ môi trường bên ngoài trước khi cho vào ủ, gồm rất nhiều loài có lợi lẫn có hại Mỗi loài vi sinh vật đều cần có các điều kiện đặc trưng để nhân lên và phát triển như nhiệt độ, ẩm độ, độ pH, các chất dinh dưỡng cần thiết…Thức ăn sau khi được đem ủ sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho một số nhóm vi sinh vật đặc thù phát triển mạnh, một số nhóm quan trọng trong quá trình ủ chua thức ăn có thể kể đến sau đây:

- Nhóm vi khuẩn lên men tạo axit lactic: Vi khuẩn lactic thường có trong cây

cỏ đang sinh trưởng với số lượng ít, nhưng chúng tăng nhanh sau khi thu hoạch, đặc

Trang 22

biệt là cây cỏ bị chặt nhỏ hay làm nát Khi ủ chua, vi khuẩn lactic tiếp tục tăng, chúng lên men phân giải cacbonhydrate dễ hoà tan trong cây cỏ để tạo thành các axit hữu cơ và chủ yếu là axit lactic, dẫn đến làm giảm độ pH của môi trường Trong quá trình ủ chua, quá trình thủy phân hemixenluloza cũng xảy ra, giải phóng đường pentoza và đường này cũng có thể được lên men để tạo ra axit lactic và axit

axetic Steptococcus lactis, Latobacterium lactis loại hình cầu có khả năng lên

men ở cả giai đoạn hiếu khí và yếm khí, nhiệt độ thích hợp 52 – 54oC Loại hình

này chỉ lên men trong điều kiện yếm khí với pH > 4,5 nhiệt độ 27 - 35°C Trong quá trình ủ chua có 3 yếu tố giúp cho vi khuẩn lactic phát triển nhanh là: môi trường yếm khí của hố ủ, lượng đường trong nguyên liệu ủ và số lượng vi khuẩn lactic trên bề mặt nguyên liệu ủ

- Nhóm vi khuẩn lên men tạo axit axetic: Trong thức ăn mới ủ chua, nhóm vi khuẩn Coli phát triển đầu tiên, chuyển đường của thực vật thành axit formic, axetic, alcohol, CO2, axit lactic và một lượng nhỏ axit butyric các vi khuẩn này thuộc họ

50°C trở lên) và cũng ảnh hưởng bởi độ pH môi trường (pH < 4,5 không phát triển)

Vì vậy, chúng thường hoạt động ở giai đoạn đầu của quá trình ủ chua, sau đó hoạt động yếu dần và bị ức chế khi pH đạt 4,5 - 3,8 Những vi khuẩn dạng Coli cũng có khả năng phân huỷ protein bằng các phản ứng khử amin và khử cacboxyl của các axit amin

Enterobacteria: Enterobacteria thường có số lượng rất ít trong cây cỏ Chúng

là những vi khuẩn yếm khí tuỳ tiện và có khả năng phân giải đường dễ tan để tạo ra axit axetic, ethanol và hydro:

Glucoza —> a axetic + ethanol + 2CO2 + 2H2

Ngoài ra, cũng giống như Clostridia, chúng có khả năng khử cacboxyl và khử

amin các axit amin, sản xuất ra một số lượng lớn amoniac pH thích hợp cho sự sinh

trưởng của enterobacteria là 7,0 và thường chỉ hoạt động mạnh ở các giai đoạn lên

men đầu tiên

Trang 23

Hoạt động trong môi trường hiếu khí, pH > 4,5 nhiệt độ 27 - 35°C Lên men

glucose tạo thành sản phẩm cuối cùng chủ yếu là axit lactic và axit axetic

- Nhóm vi khuẩn lên men sinh axit butyric: Chủ yếu là các nhóm vi khuẩn

clostridia Chúng phân giải axit lactic, chất bột đường, protein, các axit amin tạo

nên axit butyric và NH3 Vi khuẩn clostridia có mặt trong cây cỏ dưới dạng bào tử

và chỉ phát triển dưới điều kiện yếm khí Clostridia phân giải axit lactic tạo thành

axit butyric làm tăng giá trị pH, là do trong quá trình ủ chua protein bị phân huỷ thành amoniac tạo ra môi trường kiềm, do đó làm pH của môi trường tăng lên, thức ăn dễ bị thối hỏng làm giảm giá trị dinh dưỡng của thức ăn ủ chua, đồng thời

do hàm lượng axit butyric tăng lên làm giảm tính ngon miệng của gia súc

Clostridia rất nhạy cảm với nước và đòi hỏi thức ăn phải rất ẩm mới hoạt động tốt

- Nhóm vi khuẩn gây thối: Gồm trực khuẩn có nha bào, không có nha bào, chủ yếu sống trong điều kiện hiếu khí, nhiệt độ thích hợp trên 50°C Nhóm này tham gia phân giải protein, amin thành các chất độc, ngoài ra trong thức ăn xanh đem ủ còn

có một số loại nấm mốc và các vi sinh vật khác

1.2.5 Quá trình lên men vi sinh vật trong khối ủ chua

Quá trình lên men vi sinh vật trong khối ủ chua được chia thành 3 pha:

- Pha I: có sự lên men hỗn tạp và chỉ ngừng khi môi trường yếm khí được tạo

ra trong hố ủ Trong giai đoạn này được đặc trưng bằng sự phát triển tích cực của hỗn hợp hệ vi sinh vật Tế bào thực vật vẫn chưa chết ngay mà vẫn tiếp tục hô hấp cho đến khi hết oxy trong hố ủ Trong pha này cùng với sự phát triển của các vi khuẩn yếm khí (vi khuẩn lactic và nấm men) có khả năng có sự phát triển không có lợi của một số vi khuẩn hiếu khí (vi khuẩn gây thối và nấm mốc) Vi khuẩn lên men butyric phát triển trong môi trường yếm khí và sự phát triển của men axit butyric bị

ức chế trong điều kiện hiếu khí

- Khi thời gian ủ kéo dài và đầm nén thức ăn không chặt thì quá trình lên men của pha I bị kéo dài hơn, do đó thức ăn ủ mất nhiều chất dinh dưỡng và chất lượng thức ăn ủ chua sẽ giảm, thức ăn nén không chặt sẽ bị nóng lên nhanh Khi nhiệt độ hầm ủ thức ăn tăng lên trên 40°C thì protein và các axit amin sẽ tham gia vào phản ứng hóa học với đường, kết quả tạo ra melanoid - là một phức chất phức tạp và bền vững, làm giảm tiêu hoá protein trong thức ăn ủ chua Thức ăn ủ chua có nhiệt độ cao hơn 40oC thường có màu nâu vàng, có mùi thơm, gia súc nhai lại rất thích ăn

Trang 24

loại thức ăn này nhưng tỷ lệ tiêu hóa cũng như thành phần dưỡng chất giảm

Pha II: Tại pha này, môi trường yếm khí được tạo ra dẫn đến sự lên men

lactic diễn ra mạnh, sự phát triển của một số vi khuẩn có hại bị ức chế Trong giai đoạn này cũng có sự phát triển của nấm men, một phần đường được chuyển hoá thành rượu

Pha III: Lượng acid hữu cơ tạo ra với số lượng lớn làm giảm pH xuống 4-4.2

tại mức pH này chính nhóm vi khuẩn lên men lactic cũng bị ức chế Thức ăn ủ chua tốt thì tỷ lệ axit lactic/axit axetic nằm trong khoảng 3-4 Khi ủ chua thức ăn có độ

ẩm cao, giàu protein và nghèo đường, kết quả là quá trình axit hóa diễn ra chậm hoặc không đủ hàm lượng axit cần thiết đưa pH xuống 4,2 - 3,8 Đối với các khối ủ

có quá trình acid hóa diễn ra chậm, không đủ để đưa pH xuống mức cần thiết thường xảy ra quá trình lên men butyric không có lợi và làm giảm chất lượng thức

ăn ủ chua

1.2.6 Sự biến đổi protein trong khối ủ

Trong thực vật, phần lớn nitơ ở dạng phi protein nằm trong các acid amin tự

do, phần nitơ còn lại ở dạng protein thực vật chiếm hơn 75% nitơ tổng số Sau khi được cắt khỏi thân, tế bào thực vật dần chết đi, các men trong tế bào thực vật bắt đầu phân giải protein thành các acid amin tự do, đó chính là nguyên nhân làm cho lượng nitơ phi protein tăng lên, cung cấp cho sự phát triển của vi khuẩn lên men

lactic Trong quá trình ủ chua, các vi khuẩn Clostridia còn phân giải các acid amin

tạo ra amoniac, CO2, acid béo,… Các vi khuẩn Clostridia chỉ ngừng quá trình phân

giải khi pH của khối ủ đạt 4–3,8 và độ ẩm đạt dưới 80% Do đó, khi ủ chua thức ăn xanh cần tìm mọi cách hạ độ pH của khối ủ xuống nhanh nhất, tạo điều kiện cho vi khuẩn lên men lactic và acetic hoạt động mạnh, góp phần giảm tổn thất dinh dưỡng

và đạt hiệu quả bảo quản

1.2.7 Sự tạo thành các acid hữu cơ

- Lên men tạo acid acetic

Quá trình hô hấp ngoại bào làm tăng nhiệt độ của khối ủ, lúc này các vi sinh

vật có sẵn trong nguyên liệu hoạt động mạnh Đặc biệt là nhóm vi khuẩn E.Coli,

chúng hoạt động mạnh sinh ra acid acetic, nhóm vi khuẩn này còn góp phần kích thích nhóm vi khuẩn lên men lactic hoạt động mạnh nhờ việc sử dụng oxy góp phần

Trang 25

đẩy nhanh việc thành lập môi trường yếm khí Khi pH đạt 4,5 nhóm vi khuẩn E.Coli

lên men acetic bị ức chế

- Lên men tạo acid lactic

Acid lactic chính là sản phẩm chính từ quá trình lên men yếm khí các hydratcacbon dễ hòa tan Có 2 dạng lên men lactic là lên men lactic cùng loại và lên men lactic khác loại

Đối với quá trình lên men lactic cùng loại chỉ có một sản phẩm cuối cùng được tạo ra chính là acid lactic

Đối với quá trình lên men lactic khác loại sản phẩm được tạo ra ngoài acid lactic còn có các sản phẩm khác như: rượu, acid axetic, CO2

- Sự lên men lại

Ở giai đoạn này do độ pH giảm mạnh làm ức chế sự phát triển của hầu hết vi sinh vật, đa số các vi sinh vật đều chết Có thể xem đây chính là giai đoạn cuối của quá trình ủ chua thức ăn Nhưng sau vài ngày kể từ giai đoạn này, độ pH vẫn tiếp tục giảm do các enzim trong tế bào vi sinh vật vẫn còn hoạt động Nên khối ủ có thể bảo quản được trong một khoảng thời gian nhất định và có kéo dài hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan khác

1.3 Đặc điểm tiêu hóa của gia súc nhai lại

Sự tiêu hóa của gia súc nhai lại phụ thuộc vào quá trình lên men ở dạ cỏ Hoạt động của vi sinh vật dạ cỏ làm lên men thức ăn và các sản phẩm của quá trình lên men chính là nguồn dinh dưỡng chủ yếu cung cấp cho cơ thể gia súc Do đó, hiệu quả sử dụng thức ăn cũng như năng xuất của gia súc nhai lại chính là sự cân bằng của quá trình lên men ở dạ cỏ, các sản phẩm được hấp thu sau quá trình lên men và

sự phù hợp với nhu cầu, đặc điểm sinh lý của gia súc (Nguyễn Xuân Trạch, 2003)

Sự lên men có được là nhờ vào hoạt động của hệ vi sinh vật dạ cỏ Do đó, các nghiên cứu về khẩu phần, dinh dưỡng thức ăn cho gia súc nhai lại chính là nghiên cứu giúp quá trình lên men ở dạ cỏ đạt hiệu quả, tạo ra các sản phẩm đáp ứng đủ nhu cầu cho gia súc nhai lại (Nguyễn Xuân Trạch, 2003)

Trang 26

1.3.1 Cấu tạo dạ dày của gia súc nhai lại

Hệ tiêu hóa của gia súc nhai lại đặc trưng bởi dạ dày kép gồm 4 túi Dạ dày trước gồm 3 túi (dạ cỏ, dạ tổ ong và dạ lá sách) không có tuyến tiêu hóa riêng, dạ dày sau là dạ múi khế tương tự dạ dày của động vật dạ dày đơn, có hệ thống tuyến tiêu hóa phát triển mạnh Đối với gia súc non bú sữa dạ cỏ và dạ tổ ong kém phát triển, còn sữa sau khi uống được dẫn trực tiếp xuống dạ lá sách và dạ múi khế thông qua rãnh thực quản

- Dạ cỏ: là túi lớn nhất, chiếm hầu hết nửa trái của xoang bụng, từ bờ cơ hoành

đến xương chậu Dạ cỏ chiếm tới 85-90% dung tích dạ dày, 75% dung tích đường tiêu hoá, có tác dụng tích trữ, nhào trộn và lên men phân giải thức ăn Dạ cỏ không

có tuyến tiêu hóa mà niêm mạc có nhiều núm hình gai Thức ăn sau khi ăn được nuốt xuống dạ cỏ, phần lớn được lên men bởi hệ vi sinh vật cộng sinh ở đây Chất chứa trong dạ cỏ trung bình có khoảng 850-930 g nước/kg, nhưng tồn tại ở hai tầng: tầng lỏng ở phía dưới chứa nhiều tiểu phần thức ăn mịn lơ lửng trong đó và phần trên khô hơn chứa nhiều thức ăn kích thước lớn Ngoài chức năng lên men dạ cỏ còn có vai trò hấp thu Các axit béo bay hơi (AXBBH) sinh ra từ quá trình lên men

vi sinh vật được hấp thu qua vách dạ cỏ (cũng như dạ tổ ong và dạ lá sách) vào máu

và trở thành nguồn năng lượng cho vật chủ Sinh khối vi sinh vật cùng với những tiểu phần thức ăn có kích thước bé (<1mm) sẽ đi xuống dạ múi khế và ruột để được tiêu hoá tiếp bởi men của đường tiêu hoá (Nguyễn Xuân Trạch, 2003)

- Dạ tổ ong: là phần kéo dài của dạ cỏ có niêm mạc được cấu tạo trông giống

như tổ ong và có chức năng chính là đẩy các thức ăn rắn và các thức ăn chưa được nghiền nhỏ trở lại dạ cỏ, đồng thời đẩy các thức ăn dạng nước vào dạ lá sách Dạ tổ ong cũng giúp cho việc đẩy các miếng thức ăn ợ qua thực quản lên miệng để nhai lại Sự lên men trong dạ tổ ong tương tự như ở dạ cỏ (Vũ Duy Giảng, 2008)

- Dạ lá sách: có niêm mạc gấp nếp nhiều lần (tăng diện tích tiếp xúc), có

nhiệm vụ chính là nghiền nát các tiểu phần thức ăn, hấp thu nước, cùng các ion Na+, K+ , hấp thu các a-xit béo bay hơi trong dưỡng chất đi qua (Vũ Duy Giảng, 2008)

- Dạ múi khế: có hệ thống tuyến phát triển mạnh và có chức năng tương tự

như dạ dày đơn, tức là tiêu hoá thức ăn bằng dịch vị (chứa HCl và men pepsin) (Vũ Duy Giảng, 2008)

Trang 27

- Rãnh thực quản: là phần kéo dài của thực quản gồm có đáy và hai mép khi

khép lại sẽ tạo ra một cái ống để dẫn thức ăn lỏng Đối với gia súc non bú sữa dạ cỏ

và dạ tổ ong còn kém phát triển, sữa sau khi xuống qua thực quản được dẫn trực tiếp xuống dạ lá sách và dạ múi khế qua rãnh thực quản này Ở bò trưởng thành dạ

cỏ và dạ tổ ong đã phát triển, rãnh thực quản không hoạt động trong điều kiện nuôi dưỡng bình thường, nên cả thức ăn và nước đều được đổ vào tiền đình dạ cỏ (Vũ Duy Giảng, 2008)

1.3.2 Hệ vi sinh vật dạ cỏ

Thành phần của hệ vi sinh vật dạ cỏ rất phức tạp và tùy thuộc phần lớn vào khẩu phần thức ăn Có thể phân loại chúng thành các nhóm sau: Vi khuẩn, Nấm, Protozoa

Vi khuẩn

Vi khuẩn xuất hiện trong dạ cỏ động vật nhai lại ngay từ khi còn non Vi khuẩn chiếm số lượng lớn nhất trong tổng số vi sinh vật dạ cỏ và là tác nhân chính trong quá trình tiêu hóa chất xơ

Tổng số vi khuẩn dạ cỏ thường vào khoảng 109-1011 tế bào/g chất chứa dạ cỏ (Nguyễn Xuân Trạch, 2003) Vi khuẩn trong dạ cỏ có thể ở dạng tự do chiếm 30% hoặc bám vào mẫu thức ăn hoặc trú ngụ trong nếp gấp biểu mô và bám vào protozoa Dựa vào cơ chất và sản phẩm cuối cùng của chúng có thể xác định được khoảng 60 loài vi khuẩn Tuy nhiên, có thể xếp chúng vào các nhóm chính sau:

- Vi khuẩn phân giải xenluloza: Tất cả vi sinh vật tham gia vô cơ hóa cellulose

đều thuộc loại dị dưỡng hóa năng hữu cơ có enzyme cellulase xúc tác việc phân giải cellulose thành cellobiose và glucose Vi sinh vật dùng các hợp chất sinh ra này làm nguồn carbon và nguồn năng lượng Vi khuẩn phân giải xenluloza có số lượng lớn trong dạ cỏ, đặc biệt là đối với gia súc nhai lại sử dụng khẩu phần giàu xenluloza

Những loài vi khuẩn phân giải xenluloza quan trọng nhất là Bacteroides

succinogenes, Butyrivibrio fibrisolvens, Ruminoccocus flavefaciens, Ruminococcus albus, Cillobacterium cellulosolvens

- Vi khuẩn phân giải hemixenluloza: Những vi khuẩn có khả năng phân giải

xenluloza thì cũng có khả năng phân giải hemixenluloza Tuy nhiên, không phải tất

cả các loài sử dụng hemixenluloza đều có thể thủy phân xenluloza Một số loài vi

Ngày đăng: 10/07/2021, 10:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w