2.6 Hệ số thành thục và sức sinh sản, chất lượng cá bố mẹ 2.6.1 Hệ số thành thục Khi nói đến quá trình phát triển của tuyến sinh dục, chúng ta không thể không đề cập hệ số thành thục H
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
THỰC NGHIỆM SẢN XUẤT GIỐNG CÁ LÓC
(Channa sp) TẠI TỈNH TRÀ VINH
Chủ nhiệm đề tài : ThS HUỲNH KIM HƯỜNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
THỰC NGHIỆM SẢN XUẤT GIỐNG CÁ LÓC
(Channa sp) TẠI TỈNH TRÀ VINH
Xác nhận của cơ quan chủ quản
(Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)
Chủ nhiệm đề tài
(Ký, ghi rõ họ tên)
Huỳnh Kim Hường
Trà Vinh, ngày tháng năm 2014
ISO 9001 : 2008
Trang 3LỜI CẢM ƠN
- Xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám Hiệu, Khoa Nông nghiệp - Thủy sản, Phòng Kế hoạch - Tài vụ, Phòng KHCN & ĐTSĐH Trường Đại học Trà Vinh đã hỗ trợ tác giả hoàn thành nghiên cứu này
- Đặc biệt xin cảm ơn các thành viên trong nhóm nghiên cứu: Ths Nguyễn Thanh Hiệu giảng viên Bộ môn Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt ĐHCT, Ks Phạm Văn Đầy,
Ks Hồ Khành Nam giáo viên Bộ môn thủy sản, em Nguyễn Minh Nhựt sinh viên lớp DA11TS đã tích cực tham gia nghiên cứu, chia sẻ kinh nghiệm quý báu giúp tác giả hoàn thành báo cáo
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Nghiên cứu kích thích cá lóc sinh sản trên bể composite bằng HCG ở các liều lượng cá cái 1000UI/kg, cá đực 2500UI/kg, 3000UI/kg và 3500UI/kg cho kết qủa tỷ lệ thụ tinh, tỉ lệ nở cao nhất ở liều lượng HCG 3000UI cho cá đực Thời gian hiệu ứng dao động từ 15,5 - 25 giờ Tỉ lệ thụ tinh từ 23,46 - 43,67%, tỉ lệ nở 19,35 - 50%
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ 1000 con/m3, 2000 con/m3 và 3000 con/m3lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá từ giai đoạn cá hương có khối lượng 0,13 g/con đến 45 ngày tuổi sử dụng cá biển xay cho cá ăn Kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng của cá cao nhất ở mật độ 1000 con/m3 Tuy nhiên tỉ lệ sống của cá ở nghiệm thức mật
độ 2000 con/m3 cao nhất khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại Qua kết quả thí nghiệm cho thấy mật độ nuôi có ảnh hưởng đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của
cá
Nghiên cứu ảnh hưởng của 3 loại thức ăn (TACN; TACN+CB và CB) lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá cá từ giai đoạn cá hương có khối lượng 0,12 g/con đến 45 ngày tuổi ở mật độ 2000 con/m3 Kết quả cho thấy cá tăng trưởng tốt ở nghiệm thức cho ăn TACN+CB (0,93g/con)và nghiệm thức cá biển (0,9g/con) Tỷ lệ sống của cá cao nhất ở nghiệm thức TACN+CB
Trang 5Các kết quả nghiên cứu cho thấy có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc TACN+CB hoặc CB để nuôi vỗ cá Có thể sử dụng HCG liều 1000UI/kg cá cái và 3000UI/kg cá đực để cho cá lóc sinh sản Cá lóc từ giai đoạn 0,12 - 0,13g/con đến 45 ngày tuổi có thể ương ở mật độ 2000 con/m3 sử dụng thức ăn công nghiệp (50%) + cá biến xay (50%) hoặc cá biển xay 100%
Trang 6MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG
CHƯƠNG I 1
GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG II 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Hệ thống phân loại 3
2.1 Phân bố 4
2.3 Tập tính dinh dưỡng 4
2.4 Tập tính sinh trưởng 5
2.5 Đặc điểm sinh sản 5
2.6 Hệ số thành thục và sức sinh sản 6
2.6.2 Sức sinh sản 7
2.6.3 Chất lượng cá bố 9
2.7 Ảnh hưởng của yếu tố môi trường đến sự thành thục của cá 10
2.7 Cơ sở khoa học của biện pháp kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ 11
2.8 Nguyên lý cơ bản về kích thích sinh sản các loài cá nuôi 12
2.9 Vấn đề sử dụng kích thích tố để kích thích cá sinh sản 12
2.10 Một số nghiên cứu sử dụng HCG kích thích sinh sản cá 13
2.11 Các phương pháp ương cá 13
2.11.1 Ương trong giai 14
2.11.2 Ương trong ao đất 14
2.11.3 Ương trong bể xi-măng 14
2.11.4 Ương trong bể lót bạt 14
2.12 Những nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn cho một số loài cá lóc 15
Trang 7PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17
3.2 Thí nghiệm 1: nuôi vỗ thành thục cá lóc 18
3.3 Thí nghiệm 2: Sản xuất giống cá lóc 19
3.3.1 Thí nghiệm cho cá lóc sinh sản trên bể composite bằng HCG 19
3.3.2 Thí nghiệm kiểm chứng cho cá sinh sản bằng HCG 19
3.3.2 Thí nghiệm cho cá sinh sản trong giai đặt trong ao 20
3.4 Thí nghiệm 3: ương cá bột lên cá giống 19
3.4.1 Thí nghiệm 1: ảnh hưởng của mật độ ương lên sự tăng trưởng, tỷ lệ sống của cá bột lên cá giống sau thời gian 45 ngày 21
3.4.2 Thí nghiệm 2: ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng, tỷ lệ sống của cá bột ương lên cá sống sau thời gian 45 ngày 23
CHƯƠNG IV 25
KẾT QUẢ THẢO LUẬN 25
4.1 Thí nghiệm nuôi vỗ thành thục cá lóc 25
4.1.1 Các yếu tố môi trường 25
4.1.2 Hệ số thành thục 25
4.1.3 Sức sinh sản 26
4.1.4 Thành thục của cá (Thêm đề thị) 27
4.1.3 Đường kính trứng 27
4.2 Thí nghiệm cho cá lóc sinh sản 28
4.2.1 Thí nghiệm cho cá lóc sinh sản trên bể bằng HCG ở các nồng độ khác nhau 28
Trang 84.3 Thí nghiệm cho cá lóc sinh sản trong giai đặt trong ao 29
4.4 Thí nghiệm ương cá lóc 30
4.3.1 Ảnh hưởng của mật độ ương lên sự tăng trưởng, tỷ lệ sống của cá hương lên cá giống sau thời gian 45 ngày 30
4.3.1.1 Các chỉ tiêu môi trường 30
4.3.1.2 Khối lượng cá sau thời gian ương 31
4.3.1.3 Tỉ lệ sống của cá 33
4.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng, tỷ lệ sống của cá hương ương lên cá sống sau thời gian 45 ngày 34
4.3.2.1 Các yếu tố môi trường 34
4.3.2.2 Khối lượng cá sau thời gian ương 35
4.3.2.3 Tỉ lệ sống của cá 37
KẾT LUẬN – ĐỀ XUẤT 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
NỘI DUNG TRANG
Bảng 2.1: Sức sinh sản của một số loài cá nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long 8
Bảng 2.2 Tiêu chuẩn cá bố mẹ ở Đồng bằng sông Cửu Long 10
Bảng 3.1 : Phương thức thay thế dần lượng moina bằng thức ăn chế biến (TACN, TACN+CB, CB)………22
Bảng 4 1: Các yếu tố môi trường nuôi vỗ cá lóc 24
Bảng 4.2: Hệ số thành thục qua của cá lóc qua các tháng nuôi 25
Bảng 4 3: Sức sinh sản của cá 25
Bảng 4.4: Tỉ lệ cá thành thục qua 3 tháng nuôi vỗ 26
Bảng 4.5: Đường kính trứng cá lóc 27
Bảng 4.6: Thời gian hiệu ứng, tỷ lệ cá rụng trứng, tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ nở 27
Bảng 4.7: Thời gian hiệu ứng, tỷ lệ cá rụng trứng, tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ nở 28
Bảng 4.8: Thời gian hiệu ứng, tỷ lệ cá rụng trứng, tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ nở 29
Bảng 4.9: Nhiệt độ, pH và Oxy trung bình của các nghiệm thức 29
Bảng 4.10: Hàm lượng TAN và N-NO2- trung bình của các nghiệm thức 30
Bảng 11: Khối lượng cá thí nghiệm ảnh hưởng mật độ 30
Bảng 12: Hàm lượng TAN N-NO2- và trung bình của các nghiệm thức 30
Bảng 13: Các yếu tố môi trường trong bể ương 11
Bảng 14: Khối lượng cá thí nghiệm ảnh hưởng……… 12
Trang 10CHƯƠNG I GIỚI THIỆU
Bên cạnh các loài cá nuôi truyền thống như cá tra, cá basa, cá rô đồng… cá lóc đang là đối tượng được nuôi nhiều ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) do cá lóc là đối tượng tương đối dễ nuôi và có thể nuôi với nhiều mô hình khác nhau như: nuôi trong ao đất, ao nổi (nuôi trong bể bạt hoặc bể xi măng), mùng vèo, lồng bè (Lê Xuân
Sinh và ctv., 2009)
Cá lóc là loài chất lượng thịt ngon, có kích thước lớn và tốc độ tăng trưởng nhanh Đây là một trong những loài cá nước ngọt nuôi có giá trị kinh tế cao góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống của nhiều người dân ở các tỉnh An Giang,
Đồng Tháp, Cần Thơ và Cà Mau (Loan et al., 2003 trích dẫn bởi Lam Mỹ Lan, 2009)
Riêng Trà Vinh, phong trào nuôi cá lóc phát triển rất mạnh mẽ từ năm 2010, việc nuôi cá lóc đã đem lại hiệu qủa kinh tế cho người dân Những năm gần đây, theo khuyến khích của ngành nông nghiệp tỉnh, nhiều nông dân ở các vùng nước ngọt, nước
lợ trong tỉnh Trà Vinh đã phát triển khá mạnh nghề nuôi cá lóc trong ao đất Hiện toàn tỉnh có hơn 1.629 hộ nông dân ở các huyện Trà Cú, Tiểu Cần, Châu Thành, Duyên Hải, Cầu Kè nuôi cá lóc trên diện tích trên 230 ha Trong số các huyện có nuôi cá lóc Trà
Cú là huyện có diện tích đất nuôi cá lóc nhiều nhất tỉnh Hầu hết nông dân nuôi cá lóc theo mô hình công nghiệp và đa số các hộ nuôi đạt mức lợi nhuận khá cao Sản lượng đạt bình quân sau 6 tháng nuôi 20 tấn/ha(Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Trà Vinh Báo cáo tổng kết nuôi trồng thủy sản (2014))
Việc phát triển nuôi cá lóc kéo theo nhu cầu rất lớn về con giống thả nuôi Người nuôi cá lóc ở tỉnh Trà Vinh thu mua cá giống từ nhiều nơi khác chuyển về dẫn đến chi phí tăng cao, chất lượng và số lượng con giống không được đảm bảo Bên cạnh
đó việc sản xuất giống cá lóc tại Trà Vinh vẫn chưa ổn định Vì vậy, nhu cầu sản xuất giống cá lóc tại địa phương Trà Vinh trong giai đoạn hiện nay là cần thiết Do đó đề
tài: “ Nghiên cứu sản xuất giống cá lóc Channa sp tại Trà Vinh” được thực hiện
Trang 11Mục tiêu của đề tài:
Nghiên cứu sản xuất giống cá lóc tại Trà Vinh
Nội dung triển khai nghiên cứu:
- So sánh nuôi vỗ cá thành thục cá lóc bằng các loại thức ăn khác nhau
- Thực hiện sinh sản nhân tạo cá lóc trong giai và trong bể composite
- Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá hương lên cá giống sau thời gian 45 ngày
Trang 12CHƯƠNG II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Hệ thống phân loại
Cá lóc thuộc họ Channidae hiện nay có 2 giống là Parachanna và Channa Giống Parachanna được tìm thấy ở Châu Phi còn giống Channa thì phân bố chủ yếu ở Châu Á (Nguyễn Văn Thường, 2004)
Ở Việt Nam có 4 loài cá lóc gồm: cá lóc (Channa striata), cá lóc bông (Channa
micropeltes), cá chành dục (Channa gachua), cá dày (Channa lucius) Theo Nguyễn
Văn Hoà (2008) vào thập niên 1990, ở ĐBSCL đã có thêm nhóm cá lóc Môi trề, cá lóc Đầu vuông và cá lóc đen hay cá lóc đầu nhím phân bố ở huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp Đây là nhóm cá lóc có kích cỡ lớn, giá trị kinh tế cao, được nuôi và mang lại hiệu qủa kinh tế cho nghề nuôi cá lóc
Theo hệ thống phân loại của Fishbase, cá lóc được phân loại như sau:
Bộ: Perciformes
Họ: Channidae
Giống: Channa
Loài: Channa striata Bloch, 1793
Cá có màu xanh đen, nâu đen đến đen ở mặt lưng và nhạt dần xuống bụng, bụng
cá có màu trắng sữa Ở cá nhỏ hai bên thân có từ 10 - 14 sọc đen lợt vắt xéo ngang thân, các sọc này nhạt dần và mất hẳn ở cá trưởng thành (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Thân dài hình trụ, tròn ở phần trước, dẹp bên ở phần sau Vẩy lược lớn phủ khắp khắp thân và đầu Đường bên hoàn toàn gãy khúc ở khoảng vẩy 15 - 20 và thụt xuống hai hàng vẩy, phần sau của đường bên chạy liên tục khoảng giữa thân Gốc vi lưng rất dài Vi hậu môn ngắn hơn vi lưng Vi đuôi tròn không chẽ hai (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Trang 132.1 Phân bố
Cá lóc có vùng phân bố rộng từ Trung Quốc đến Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanma, Ấn Độ, Philippin (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993) Ở Việt Nam cá phân bố chủ yếu ở ĐBSCL bao gồm các tỉnh An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Đồng Tháp, Cần Thơ, Kiên Giang, Tiền Giang, Long An, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long Cá sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh rạch, ao, hồ, đầm, sông, thích nghi được với môi trường nước đục, tù, nước lợ nồng độ muối nhỏ hơn 15‰ Đặc biệt, cá thích sống ven bờ nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh để rình và bắt mồi Các loài cá lóc có cơ quan hô hấp phụ nên có thể sống ở nơi có hàm lượng oxy hoàn tan thấp và
pH nước thấp (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Môi trường nuôi trong khoảng thích hợp càng ổn định cá sẽ tăng trưởng và phát triển càng tốt, sức đề kháng tốt, ký sinh trùng và mầm bệnh khó xâm nhập Các biến động gây sốc do môi trường nước rất dễ làm cá giảm sức đề kháng và yếu đi, cá dễ bị
ký sinh trùng xâm nhập, nhiễm bệnh và chết Thông thường, cá thích sống ở nơi nước tĩnh có mực nước trung bình khoảng từ 0,5 - 1 m Mùa hè cá thường hoạt động và bắt mồi ở tầng nước mặt Mùa đông cá thích hoạt động ở tầng nước sâu hơn trong thủy vực
2.3 Tập tính dinh dưỡng
Cá lóc cấu trúc ống tiêu hóa gồm mõm ngắn, răng bén nhọn, răng hàm dưới và vòm miệng có xen kẽ một số răng chó, cá không có răng hàm trên Thực quản ngắn, vách dầy, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn, dạ dày to hình chữ Y, đây là loài cá
dữ, ăn động vật điển hình (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993) Cá mới
nở sử dụng dinh dưỡng từ noãn hoàng Từ ngày thứ 4 - 5, khi noãn hoàng đã hết, cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài Lúc này cá bột ăn được các loài động vật phù du vừa cỡ
miệng chúng Luân trùng Brachionus plicatilis được xem là thức ăn đầu tiên tốt nhất
của cá bột Giai đoạn kế tiếp cho ăn trứng nước (Moina), Daphnia hay trùng chỉ, ấu trùng muỗi đỏ Giai đoạn cá giống, sâu gạo và dòi là thức ăn ưa thích của cá Trong 3
Trang 14tuần lễ đầu, Moina vẫn là thức ăn tốt nhất đối với cá Giai đoạn cá lớn thường cho ăn cá tạp, phụ phế phẩm từ các nhà máy chế biến đầu tép, tôm, ếch, cá hay thức ăn chế biến
và thức ăn viên (Dương Nhựt Long, 2004) Theo Nguyễn Văn Kiểm và Dương Nhựt Long (1999) khi cá dài cỡ 5 - 6 cm chúng đã có thể đuổi bắt các loài tép và cá có kích
cỡ nhỏ hơn chúng Khi cơ thể đạt chiều dài trên 10 cm, cá đã có tập tính ăn như cá trưởng thành (Phạm Văn Khánh, 2003) Cá lớn thường bắt mồi mạnh vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, khi nhiệt độ nước trên 25oC Chúng có thể chịu đựng nhiệt độ trong khoảng 12 - 40 oC Tuy nhiên, nếu nhiệt độ thấp hơn 12oC thì cá kém ăn và thường sống ở tầng đáy Cá lóc là loại cá dữ nên hiện tượng ăn lẫn nhau là khá phổ biến, đặc biệt là khi có sự khác nhau về kích cỡ thì tỉ lệ ăn nhau càng tăng Việc cho ăn cũng làm giảm hiện tượng ăn lẫn nhau; nếu không cho ăn thì hiện tượng này là 83% nhưng sẽ giảm đến 43% khi cho ăn với tỉ lệ 15% trọng lượng thân Có thể giảm bớt ăn lẫn nhau bằng nhiều cách như phân cỡ và cho ăn theo nhu cầu (Qin và Fast, 1996)
Cá lóc có sự ăn nhau khi có sự sai khác về kích cỡ Nghiên cứu của Qin et al., (1996b) trong ngày cho thấy kích cỡ cá nhỏ/ cá lớn = 0,64/L sẽ có hơn 40% cá nhỏ bị
cá lớn ăn thịt, tỉ lệ này gia tăng khi sự sai khác về kích cỡ càng lớn đến 100% cá nhỏ bị
ăn thịt khi tỉ lệ cá nhỏ/cá lớn = 0,35/L Tính ăn thịt lẫn nhau của cá lóc đen giống được dựa trên kích thước/ hình thái của độ rộng miệng, độ rộng đầu và chiều dài cơ thể đối với chiều dài con vật ăn thịt (Qin et al., 1996b) Theo Victor (1992) trích dẫn bởi Phan Hồng Cương (2009) cũng nhận thấy khi được nuôi đơn trong điều kiện dinh dưỡng thấp (tỉ lệ dạ dày rỗng cao 75%), thức ăn cho cá cung cấp không thích hợp, cá phụ thuộc vào thức ăn tự nhiên và lúc này chúng thể hiện tính ăn lẫn nhau rất lớn
2.4 Tập tính sinh trưởng
Cá lóc có cơ quan hô hấp phụ ở mang, ngoài việc sử dụng oxy có sẵn trong nước cá cũng có thể lấy oxy trực tiếp từ không khí, cho nên chúng có thể sống trong môi trường chật hẹp, trong điều kiện nước dơ, thiếu oxy Giai đoạn nhỏ, cá tăng chủ yếu về chiều dài Cá càng lớn thì sự tăng trọng cũng nhanh hơn Trong tự nhiên sức lớn
Trang 15của cá phụ thuộc vào thức ăn sẵn có trong thủy vực nước Do vậy, tỉ lệ sống của cá trong tự nhiên khá thấp Trong điều kiện nuôi có thức ăn và chăm sóc tốt cá có thể lớn
từ 0,8 - 1 kg/con sau 5 - 6 tháng nuôi (Dương Nhựt Long, 2004)
2.5 Đặc điểm sinh sản
Tương tự như hầu hết các loài cá ở ĐBSCL, mùa sinh sản tự nhiên của cá lóc trùng với mùa mưa Nhưng khi môi trường thích hợp chúng có thể đẻ quanh năm Cá cái đẻ một lượng nhỏ trứng, trứng nổi trên mặt nước trong tổ làm bằng thực vật Ở nước ta cá lóc thành thục sớm khoảng 8 - 12 tháng tuổi Cá có thể sinh sản quanh năm nhưng thường tập trung vào tháng 5 - 7 âm lịch, cá thường đẻ rộ sau những cơn mưa lớn Hệ số thành thục 0,5 - 1,5%, số trứng của buồng trứng cá cái có thể đạt 5.000 - 20.000 trứng Trứng cá lóc có màu vàng đậm có giọt dầu nên nổi trên mặt nước Cá lóc
là loài cá dữ, khi đẻ cá bố mẹ sẽ cùng nhau canh giữ tổ và cá con cho đến khi chúng có thể sống độc lập (Phạm Văn Khánh, 2005) Trong quá trình phát triển, ấu trùng cá lóc mới nở thường tập trung thành đàn với mật độ cao và bơi ở tầng mặt
Phân biệt cá đực cá cái:
* Cá đực: Phần ngực và bụng màu xám đen, đoạn từ vây ngực đến lỗ sinh dục
có các nốt vằn đen đậm, vây bụng đen, pha màu hồng nhạt, bụng nhỏ, lỗ sinh dục hẹp, nhỏ và hơi lõm vào
* Cá cái: Vây ngực trắng, hoặc hơi vàng; vây bụng màu xám trong hoặc vàng nhạt, bụng màu xám trắng hoặc nhạt, đoạn từ vây bụng đến lỗ sinh dục không có vằn đen hoặc vằn đen không rõ, lỗ sinh dục tròn hơi sưng đỏ
2.6 Hệ số thành thục và sức sinh sản, chất lượng cá bố mẹ
2.6.1 Hệ số thành thục
Khi nói đến quá trình phát triển của tuyến sinh dục, chúng ta không thể không
đề cập hệ số thành thục (HSTT) Khối lượng tuyến sinh dục là một trong những điều kiện thiết yếu để giải thích mức độ chín muồi của các sản phẩm sinh dục HSTT ngày càng được sử dụng nhiều trong các công trình nghiên cứu về sinh học sinh sản hiện
Trang 16nay Hệ số này là tỷ lệ phần trăm của khối lượng tuyến sinh dục trên khối lượng thân
cá Những cá thể đạt giai đoạn III trở lên mới được xem là sinh sản (Pravdin,1963) Hệ
số thành thục cho phép chúng ta theo dõi quá trình chín của sản phẩm sinh dục, sự sai
số của hệ số này là do khối lượng của thân cá (gồm cả ruột và các phần khác trong ruột) nên khi khối lượng này bị thay đổi theo độ no của ruột Ở những cá có dạ dày no thì hệ số thành thục giảm đi rất nhiều, hệ số thành thục tối đa có ý nghĩa đặc biệt, nó nói lên đặc tính của tuyến sinh dục ở giai đoạn phát triển mạnh nhất Xác định hệ số thành thục tối đa của buồng trứng nhằm đánh giá mức độ chuẩn bị đẻ trứng của buồng trứng, tính số lượng trứng đẻ ra, tính toán khả năng sinh sản và đánh giá so sánh với những loài cá khác nhau
2.6.2 Sức sinh sản
Cá hơn hẳn các động vật có xương sống khác là khả năng sinh sản rất cao Khả năng đó là số lượng trứng mà con cái đẻ ra trong suốt mùa sinh sản hay trong vòng đời
Có loài cá có khả năng đẻ hàng trăm triệu trứng trong mỗi lần đẻ như cá Mặt Trăng
(Lampris guttatus), Cá Tuyết (Gadus morhua) và cá Chình (Anguilla anguilla) đẻ hàng
triệu trứng Vì vậy việc nghiên cứu số lượng trứng đẻ ra là rất cần thiết cho công tác thực tiễn và công tác nghiên cứu khoa học Biết được khả năng sinh sản trung bình của
cá nuôi, người ta có thể lập lế hoạch cho các trại sản xuất giống, xác định số lượng cá
bố mẹ cần thiết để cho đẻ hay thụ tinh nhân tạo Trong nghiên cứu về sức sinh sản của
cá, việc hoàn thiện và làm chính xác hơn phương pháp nghiên cứu là rất cần thiết Sức sinh sản cá thể là số lượng trứng của một con cái đẻ ra trong một chu kỳ sinh sản Sức sinh sản tương đối là số lượng trứng đẻ ra trên một đơn vị khối lượng của một con cái
và sức sinh sản thực dụng là số lượng trứng đẻ để thụ tinh nhân tạo Để xác định sức sinh sản bình quân của một cá thể, người ta cần có nhiều số liệu và phương pháp đếm trứng phải chính xác Trứng phải được lấy vào trong giai đoạn phát triển nhất trước lúc
cá bắt đầu đẻ và lấy ở những con cái có tuổi khác nhau Các nhà nghiên cứu sinh học sinh sản đề xuất rằng phải đếm những trứng nhỏ chưa phát triển vì những trứng đó có
Trang 17thể không được đẻ ra Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sức sinh sản có mối quan hệ với tuổi, chiều dài và khối lượng cá Ở nhiều loài, buồng trứng phát triển không đều nhau Do đó cần phải lấy mẫu cân để đếm số lượng trứng từ những chỗ khác nhau và
cả hai nửa của tuyến sinh dục Sức sinh sản của cá tính bằng lượng trứng được đẻ ra của một cá thể (sức sinh sản tuyệt đối) So với động vật có xương sống khác thì cá có sức sinh sản cao nhất Do đặc tính sinh sản của cá là đẻ trứng, thụ tinh ở ngoài môi trường nước nên tỷ lệ thụ tinh thấp, mức độ hao hụt của phôi và của ấu trùng cao Vì vậy, sức sinh sản cao của cá là biểu hiện sự thích nghi cao với điều kiện môi trường sống Sức sinh sản của cá tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường sống (nhất là điều kiện dinh dưỡng và điều kiện nhiệt độ) và mang theo đặc tính loài rõ rệt Những loài cá đẻ trứng kích thước lớn hoặc có bảo vệ trứng và ấu trùng thì có sức sinh sản thấp Những loài cá có trứng nhỏ lượng noãn hoàng ít và những loài cá không bảo vệ trứng, không bảo vệ con thì sức sinh sản cao hơn Sức sinh sản của một số loài cá nuôi thể hiện ở Bảng 2.1
Bảng 2.1: Sức sinh sản của một số loài cá nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 182.6.3 Chất lượng cá bố mẹ
Chất lượng cá bố mẹ được đánh giá bằng các chỉ tiêu ngoại hình, tuổi cá, mức
độ đồng đều của đàn cá, tình trạng sức khoẻ, khối lượng, xuất xứ,…
Cá bố mẹ cần có sức khỏe tốt, không bệnh tật, ngoại hình cân đối, cơ thể nguyên vẹn có đầy đủ các tiêu chuẩn đặc trưng hình thái của loài Cá có tuổi, kích thước và khối lượng tương đối đồng đều Đồng đều theo giới tính (đồng đều giữa các cá thể đực, giữa các cá thể cái) và sự tương thích khối lượng giữa cá đực với cá cái Mỗi loài cá chỉ
có khả năng sinh sản tốt nhất ở lứa tuổi nhất định Từ giá trị thấp đến giá trị cao mà cá sinh sản tốt được gọi là “vùng tuổi thích hợp cho cá bố mẹ” Vùng đó thay đổi theo loài; những loài cá có kích thước lớn tuổi thành thục cao thì có vùng tuổi thích hợp lớn hơn những loài có kích thước nhỏ, tuổi thành thục thấp Giá trị thấp trong vùng tuổi thích hợp của cá bố mẹ là tuổi thành thục (đối với những loài có tuổi thành thục thấp),
là tuổi thành thục cộng thêm 1 (đối với những loài có tuổi thành thục cao); giá trị cao không gấp quá 3 lần tuổi thành thục của cá Tuổi tối thiểu của cá bố mẹ khi được thả nuôi, phải đạt là tuổi thành thục của loài, còn tuổi tối đa không phải là tuổi khi cá đã có dấu hiệu “già” Những cá thể được lựa chọn phải có sự tương thích giữa tuổi với khối lượng cơ thể Mức độ tương thích đó tùy thuộc đặc tính sinh trưởng và kích thước của loài cá làm bố mẹ (Nguyễn Văn Kiểm và Phạm Minh Thành, 2009)
Những cá được lựa chọn làm bố mẹ, có thể là những cá thể đã tham gia sinh sản
từ một vài năm trước mà kết quả thực tế cho thấy những cá thể này có chức năng sinh sản tốt Cũng có thể tuyển chọn từ những đàn cá hậu bị bố mẹ (đàn cá được nuôi từ những cá thể chưa tham gia sinh sản và đã đạt tuổi thành thục) Đối với những loài cá
có kích thước lớn tuổi thành thục cao (như cá tra, mè trắng, mè hoa,…) thì ưu tiên chọn
từ đàn cá hậu bị bố mẹ, những cá thể đã đạt tuổi thành thục từ năm trước làm tuổi tối thiểu vì chúng có khả năng sinh sản tốt hơn những cá thể mới đạt tuổi thành thục Trong trường hợp này, đưa đàn cá hậu bị làm đàn cá bố mẹ chính thức cần tuyển lựa từ nhiều đàn cá hậu bị xa nhau về quan hệ họ hàng (xuất xứ cha mẹ) để hạn chế hiện
Trang 19tượng suy thoái chất lượng cá con do cận huyết Biện pháp thường được áp dụng là tuyển lựa từ những đàn cá xa nhau về địa lý (địa phương) Có thể tham khảo tiêu chuẩn tuổi và khối lượng cá bố mẹ ở Bảng 2.2
Bảng 2.2 Tiêu chuẩn cá bố mẹ ở Đồng bằng sông Cửu Long
Nguồn: Nguyễn Văn Kiểm và Phạm Minh Thành (2009)
2.7 Ảnh hưởng của nhiệt độ và thức ăn đến sự thành thục của cá
Sự phát triển và thành thục sinh dục ở cá chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường nước Nhiệt độ, dinh dưỡng, chu kỳ quang, dòng chảy… có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển và thành thục của tuyến sinh dục Trong đó đáng chú ý là nhiệt độ và dinh dưỡng
Nhiệt độ: Nhiệt độ nước là yếu tố môi trường quan trọng đối với quá trình thành thục của động vật nói chung, đặc biệt đối với các loài biến nhiệt như cá Hiện tượng phát dục có tính mùa vụ của cá là do sự chi phối của nhiệt độ môi trường Toàn
bộ quá trình sinh lý, sinh hoá diễn ra trong cơ thể động vật chịu tác động mạnh mẽ của nhiệt độ môi trường nước Sự thay đổi của nhiệt độ làm biến đổi quá trình trao đổi chất, quá trình điều hoà nội tiết trong cơ thể ảnh hưởng đến quá trình thành thục của tế bào sinh dục Tuy nhiên, nhiệt độ không phải là yếu tố duy nhất chi phối quá trình thành thục ở cá mà còn có sự tương tác với các yếu tố môi trường khác Hiện nay chưa có
Trang 20nhiều công trình nghiên cứu về mối tương tác giữa nhiệt độ với từng giai đoạn phát triển và thành thục ở cá biển Hầu hết các nghiên cứu đều tập trung xác định biên độ nhiệt độ thích hợp cho từng loài và như vậy thông thường trong giới hạn cho phép, nếu nhiệt độ thấp thì quá trình thành thục chậm hơn so với nhiệt độ cao hơn (Nguyễn Tường Anh, 1999) Khi nhiệt độ quá cao hay quá thấp, cá sẽ không còn khả năng bắt mồi, nguồn mỡ dự trữ cạn kiệt, lúc ấy tuyến sinh dục sẽ là nguồn dinh dưỡng duy nhất
để duy trì sự sống của cá Ở miền Bắc nước ta, mùa đông có nhiều ngày ấm sẽ làm cho
cá thành thục sớm hơn Ngược lại nếu mùa rét kéo dài, sự thành thục của cá bố mẹ có thể sẽ chậm hơn (Nguyễn Tường Anh, 1999)
Dinh dưỡng: Sự thành thục của cá có quan hệ chặt chẽ với thức ăn, vì thức ăn không những là nguồn vật chất cho sự sinh trưởng, mà còn là nguồn năng lượng của trao đổi chất và còn là nguồn nguyên liệu cho quá trình tạo sản phẩm sinh dục Quá trình thành thục của cá đòi hỏi phải cung cấp một lượng thức ăn đủ lớn và đảm bảo các yêu cầu cung cấp năng lượng thường xuyên cho hoạt động sống, nhu cầu tích lũy vật chất dinh dưỡng, nhu cầu chuyển hoá thành những sản phẩm đặc trưng của tuyến sinh dục Mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của tuyến sinh dục đòi hỏi thành phần và chế
độ dinh dưỡng khác nhau Thức ăn cung cấp cho cá phải phù hợp với đặc tính dinh dưỡng của loài Ví dụ: khi nuôi vỗ cá Tra, hàm lượng protein tối thiểu phải 40%, nếu hàm lượng protein < 40% thì tỷ lệ thành thục của cá cái chỉ đạt 35%, nếu nuôi cá đực
mà hàm lượng đạm bằng 50 - 70% cá cái thì tỷ lệ thành thục của cá đực ít nhất 50% Trong thực tế nếu sử dụng 100% bột cá nhạt để nuôi vỗ cá cái thì tỷ lệ thành thục là 100% Như vậy, vấn đề quan trọng của nuôi vỗ cá bố mẹ là cung cấp thức ăn đủ thành phần, đúng tỷ lệ và đúng nhu cầu dinh dưỡng của cá (Nguyễn Văn Kiểm, 2002)
2.8 Cơ sở khoa học của biện pháp kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ
Trong quá trình phát triển buồng trứng của cá cần một lượng thức ăn rất lớn và các chất dinh dưỡng này được tích lũy trong gan, cơ Nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằng sự lớn lên của tuyến sinh dục được quyết định bởi sự chuyển hóa nội tại còn dinh
Trang 21dưỡng của thức ăn có tác dụng bổ sung cho phần năng lượng đã bị huy động tạo ra sản phẩm sinh dục và hoạt động sống hằng ngày (Nguyễn Văn Kiểm, 2004)
2.9 Nguyên lý cơ bản về kích thích sinh sản các loài cá nuôi
Theo Nguyễn Tường Anh (1999) khi điều kiện bên ngoài thích hợp tác động đồng thời đến các cơ quan cảm giác của cá (da, mang, cơ quan thị giác, thính giác, đường bên ) thì tại đây hình thành các xung động thần kinh truyền về não bộ Vùng dưới đồi (hypothalamus) nhận sự điều khiển của trung ương thần kinh phóng FSH, LH Các kích thích tố này thông qua thùy thần kinh kích thích tuyến yên tiết ra kích dục tố tương ứng là FSH và LH Kích dục tố này tác động vào tuyến sinh dục thúc đẩy nhanh quá trình chín và rụng trứng Tóm lại, sự tác động của kích thích tố đến quá trình rụng trứng và sinh sản trứng ở cá là một chuỗi phản xạ thần kinh phức tạp
đề kích thích cá sinh sản nhân tạo là phải sử dụng đúng chủng loại kích thích tố, đúng liều lượng và theo thứ tự tác dụng của kích thích tố Liều lượng kích thích tố và số lần tiêm tùy thuộc vào mức độ thành thục của cá, loài cá, điều kiện sinh sản và nhất là nhiệt độ
2.11 Một số nghiên cứu sử dụng HCG kích thích sinh sản cá
HCG (Human Chorionic Gonadotropin) có tên tiếng Việt là kích dục tố màng đệm hoặc kích dục tố nhau thai Hormon này được phát hiện năm 1927 trong nước tiểu phụ nữ mang thai 2 - 4 tháng, nó được chiết ra từ màng đệm của nhau thai vào đầu thai
kì (Nguyễn Tường Anh, 1999) Ngày nay, HCG là một trong những kích dục tố dùng
có hiệu quả cho nhiều loài cá Ngoài các loài cá như cá chép, cá Trê, HCG còn có tác
Trang 22dụng gây rụng trứng cho các loài cá khác ở nước ta như cá Tra, cá Ba sa, cá Bống, cá Vàng (Nguyễn Tường Anh, 1999) Theo Pillay (1990) khi cá lóc thành thục sinh dục,
có thể dùng não thùy thể cá chép kết hợp với HCG hay chỉ thuần HCG với liều lượng liên hệ mật thiết với chất lượng cá lóc bố mẹ nuôi vỗ thành thục sinh dục, nhằm kích thích cá sinh sản thành công
Nghiên cứu của Trần Thị Trang (2001) khi so sánh hiệu quả sử dụng 3 loại kích thích tố với các liều lượng khác nhau gồm HCG (1500, 2000, 2500, 3000 và 3500 UI/kg), LRH-A (40,50,50,70 và 80 mg/kg) và não thùy (8,9,10,11,12 mg/kg) để kích thích cá rô đồng sinh sản Kết quả thí nghiệm cho thấy HCG, LRH-A, não thùy với liều lượng tương ứng 3000 UI/kg, 70 mg/kg và 8 mg/kg có tác dụng tốt nhất khi cho cá
2000 UI/kg thì cá đực có khả năng thành thục và tham gia sinh sản
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Kiểm và Hồ Quốc Đạt (2008) cho thấy khi cho cá chạch sông sinh sản có thể dùng HCG để kích thích cá rụng trứng Sau khi tiêm HCG,
tỉ lệ cá rụng trứng là 100% ở cả 3 liều 1500 UI, 2000 UI và 2500 UI/kg
2.12 Các phương pháp ương cá
2.12.1 Ương trong giai
Theo nghiên cứu của Phạm Văn Khánh (2003) thì cá lóc thả ương với mật độ
1000 con/m2, cho ăn cá xay với khẩu phần 250 g/1000 con, thay nước định kỳ, 2 - 3
Trang 23ngày vệ sinh giai 1 lần, sau khi cá được 55 - 60 ngày tuổi thì chuyển sang ao nuôi cá thịt Nghiên cứu của Dương Nhựt Long (2004) khi ương cá trong giai rộng 4 x 2 x 2 m, mật độ thả 70 con/m2 Sử dụng thức ăn tự chế nấu cháo thật nhừ trộn một ít cá tươi xay nhuyễn và lòng đỏ trứng luộc chín cho cá ăn 3 - 4 lần/ngày Trước khi cho ăn phải kiểm tra thức ăn còn thừa hay thiếu để điều chỉnh cho phù hợp, 1 - 2 tuần phải vệ sinh giai ương Sau 2 tháng sẽ đạt khối lượng 20 g/con
2.12.2 Ương trong ao đất
Ao ương có diện tích: 300 - 500 m2 mực nước ao cao 0,8 m sau khi cải tạo ao thì bón lót bột cá 10 kg/100 m2 để gây thức ăn tự nhiên trước khi thả cá Trong 10 ngày đầu ngoài lượng thức ăn tự nhiên có sẵn thì cho ăn thêm lòng đỏ trứng (3 ngày), từ ngày thứ 10 cho ăn chủ yếu là cá xay nhuyễn, cá được 1 tháng tuổi tập dần cho cá ăn trên sàn ăn đặt cách mặt nước 0,1 - 0,2 m (Phạm Văn Khánh, 2003) Còn với diện tích ao: 100 - 300 m2, ao sâu 0,8 - 1 m Ao cần tẩy dọn sạch, bón phân gây màu nước trước khi ương để gây động vật phù du làm thức ăn ban đầu, mỗi tuần cần bón thúc 1 lần phân ủ mục Mật độ ương từ 30 - 40 con/m2 Từ ngày thứ 20 trở đi cho cá ăn chủ yếu bằng cá tạp, tép băm nhỏ Cần cho cá ăn đầy đủ tránh dư thừa, cứ 10 - 15 ngày san thưa
và lọc cá một lần (Dương Nhựt Long, 2004)
2.12.3 Ương trong bể xi-măng
Nghiên cứu của Bùi Minh Tâm và ctv., 2008 khi ương cá lóc trên bể xi-măng 1m2 ương trong 30 ngày với 3 mật độ 600 con/m2, 900 con/m2, và 1200 con/m2 Cá được cho ăn tối đa theo nhu cầu Moina ở tuần đầu tiên, trùn chỉ ở tuần thứ 2 và sau đó
là thức ăn chế biến Sau 8 - 10 ngày ương cá được tập cho ăn thức ăn chế biến
2.12.4 Ương trong bể lót bạt
Theo Phạm Văn Khánh (2003) cá lóc được ương với mật độ 1.000 – 1.500 con/m2, trong bể có diện tích 4 - 10 m2, sâu 0,5 - 0,6 m Cá được cho ăn theo Moina ở tuần đầu tiên, sau đó cho ăn trùng chỉ (0,5 – 1 kg/ 10.000 con/ngày), từ ngày thứ 10 chuyển sang cho ăn cá tạp xay Sau 15 ngày thì chuyển cá sang ương trong giai
Trang 242.13 Những nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn cho một số loài cá lóc
Dabrowski (1982) (Trích bởi Qin et al.,1997) cho thấy cá lóc bột (Channa
striata) được thử nghiệm cho ăn ấu trùng Artemia và thức ăn chế biến thì thấy cá chết
toàn bộ khi sử dụng thức ăn chế biến Đối với cá giống thì sau 30 ngày thí nghiệm là cá
có thể chấp nhận sử dụng thức ăn chế biến và tăng trưởng của chúng không khác biệt
so với sử dụng Artemia và thời gian trở về sau cá tăng trưởng tốt khi sử dụng thức ăn chế biến Nhóm tác giả này còn cho rằng cá chết khi sử dụng thức ăn chế biến có liên quan tới hệ enzyme trong ống tiêu hoá của cá và điều này đã được khẳng định ở nhiều loài cá bột nhỏ không có hệ thống enzyme cho tiêu hóa thức ăn chế biến
Mohanity and Samantaray (1996) nghiên cứu xây dựng công thức thức ăn cân bằng dinh dưỡng và hiệu qủa kinh tế dựa trên đặc tính nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc
bột (Channa striata) 0,552 g; sau 8 tuần kết quả của thí nghiệm, cá tăng trưởng tốt nhất
và hiệu quả sử dụng thức ăn cao nhất ở thức ăn có hàm lượng protein là 55% khi cá được cho ăn 10% khối lượng thân Theo Hashim (1994), ở cá lóc bột khi cho cá ăn luân phiên (1 ngày bằng thức ăn 30% protein và 2 ngày bằng thức ăn 35% protein) có hiệu quả hơn cả và tiết kiệm được 13,9% protein so với cho ăn hoàn toàn thức ăn 35% protein
Theo Wee (1986) (trích bởi Hashim, 1994), nhu cầu protein của cá lóc (Channa
striata) và cá lóc bông (Channa micropeltes) ở giai đoạn giống lần lượt là 45,8% và
60% Nguyen Van Trieu et al., (2001) nghiên cứu nhu cầu protein của cá lóc (Channa
striata) giống 1,43 g và 3,9 g; kết quả ở giai đoạn giống thì nhu cầu protein của cá lóc
là 50% cho tăng trưởng cũng như tỉ lệ sống cao nhất Trần Thị Thanh Hiền và
ctv.(2005) nghiên cứu nhu cầu protein của cá lóc bông (Channa micropeltes Cuvier,
1831) giai đoạn giống, kết quả cho thấy hàm lượng protein cho tăng trưởng tối đa ở cá
giống nhỏ là 50,8% và giống lớn là 46,5% Ở cá lóc Châu Phi (Parachanna obscura)
giai đoạn giống (4,08%); khi cá được cho ăn 5 loại thức ăn có hàm lượng protein từ 30% đến 60%; dựa vào kết quả tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá, nhóm
Trang 25tác giả kết luận nhu cầu protein của cá lóc Châu Phi dao động từ 42,5 - 63,5% (Kpogue
et al., 2013)
Theo Trần Thị Thanh Hiền và ctv (2010), khi ương cá lóc đen (Channa striata)
với mức thay thế 10% thức ăn chế biến/ngày ở cá 17 ngày tuổi có tỉ lệ sống và tỉ lệ tăng trưởng cao nhất (64,7% và 9,64%/ngày); dịch cá thủy phân là chất dẫn dụ kích thích bắt mồi hiệu quả nhất với tỉ lệ sống và tỉ lệ tăng trưởng cao nhất tương ứng 79,3% và 8,89%/ngày Ở giai đoạn cá hương, với thức ăn chế biến cho tăng trưởng và tỉ lệ sống cao hơn so với các loại thức ăn khác, đồng thời có hệ số thức ăn thấp nhất Cá lóc bông giống cỡ nhỏ (2,5 - 3 g) có tốc độ tăng trưởng cao hơn và tỉ lệ sống thấp hơn so với cá lớn (6 - 7 g) khi cho ăn cùng thức ăn cùng hàm lượng protein Mức protein cho tăng trưởng tối ưu và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt nhất của cá lóc bông giống cỡ nhỏ là 50,8% và cá lớn là 46,5%, phù hợp với nhu cầu protein của các loài cá ăn động vật khác
Trang 26CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: 4/2013 - 7/2014
- Địa điểm nghiên cứu: Trại Thực nghiệm Thủy sản Trường Đại học Trà Vinh
- Vật liệu thí nghiệm: Cá lóc bố mẹ, giai, bể composite, thau, xô, ca nhựa, cân, thức
ăn cho cá, test pH, NH4, O2, máy bơm nước, vợt các loại
3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Đối tượng nghiên cứu là cá lóc đầu nhím
Sơ đồ nghiên cứu:
Hình 3.1 Sơ đồ nghiên cứu của đề tài
Trang 273.2.1 Thí nghiệm 1: Nuôi vỗ thành thục cá lóc
- Cá lóc bố mẹ sử dụng trong thí nghiệm là cá lóc đầu nhím 8 tháng tuổi được tuyển chọn và thu mua từ các cơ sở nuôi cá thương phẩm có chất lượng tốt, cá có khối lượng dao động từ 700 - 900 g/con, cá khỏe mạnh, không bị dị hình, dị tật, màu sắc bóng sáng và không mang mầm bệnh Cá được vận chuyển và tiến hành nuôi vỗ thành thục trong các giai đặt trong ao có độ sâu từ 2 - 3 m Giai được thiết kế theo qui cách 2
m x 5 m x 2,5 m
Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần, mỗi nghiệm thức
15 cặp cá bố mẹ (mỗi vèo bố trí 5 cặp) Tổng cộng thí nghiệm có 9 vèo
Nghiệm thức 1: Thức ăn nuôi vỗ là cá biển
Nghiệm thức 2: 50% thức ăn cá biển + 50% thức ăn công nghiệp 40% đạm Nghiệm thức 3: Thức ăn công nghiệp (40% đạm)
Mật độ nuôi vỗ là 1 - 2 kg/m2 Tỉ lệ cá đực: cá cái là 1:1
Khẩu phần thức ăn dao động từ 1 - 3% khối lượng thân/ngày ở các nghiệm thức, cho cá ăn 1 lần/ngày vào buổi sáng hoặc buổi chiều Định kỳ bổ sung Vitamine C liều
50 mg/kg thức ăn, bổ sung 2 lần/tuần Sau thời gian 2 - 3 tháng nuôi vỗ thành thục
Các chỉ tiêu theo dõi
+ Thời gian thành thục
+ Tỉ lệ thành thục (%) = (Số cá thành thục/số cá theo dõi)*100
+ Hệ số thành thục (GSR) = Khối lượng tuyến sinh dục/khối lượng thân * 100
Hệ số thành thục và tỉ lệ cá thành thục sẽ được đánh giá sau 2 tháng nuôi vỗ bằng cách thu mẫu cá để cân khối lượng cá, khối lượng tuyến sinh dục
+ Đường kính trứng: Đo bằng thước chia vạch cm
Các chỉ tiêu môi trường theo dõi trong thí nghiệm
+ Nhiệt độ nước
+ pH
+ Oxy hoà tan (DO)
Trang 28Cá sử dụng cho sinh sản là cá được nuôi vỗ từ thí nghiệm 1
Nguồn nước sử dụng cho cá sinh sản là nước sông đã được xử lý thuốc tím 5 ppm và sục khí mạnh trong 24 giờ
Cá bố mẹ dùng trong thí nghiệm là cá nuôi vỗ từ thí nghiệm 1
Mục đích của thí nghiệm này là để xác định liều lượng hormone phù hợp khi tiêm cho cá lóc sinh sản
Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần, 3 cặp cá/nghiệm thức Bể composite dùng cho cá đẻ có thể tích 0,5 m3, mỗi bể bố trí 1 cặp cá
- Nghiệm thức 1: Liều lượng 1.000 UI/kg cá cái và 2.500 UI /kg đối với cá đực
- Nghiệm thức 2: Liều lượng 1.000 UI/kg cá cái và 3.000 UI /kg đối với cá đực
- Nghiệm thức 3: Liều lượng 1.000 UI/kg cá cái và 3.500 UI /kg đối với cá đực
- Nghiệm thức 4: (Nghiệm thức đối chứng): sinh sản nhân tạo cá lóc trong bể composit không sử dụng HCG
Tổng số bể thí nghiệm là 12 bể, mỗi bể bố trí 1 cặp cá, tổng số cặp cá trong thí nghiệm là 12 cặp
3.2.3 Thí nghiệm 3: Thí nghiệm kiểm chứng cho cá sinh sản cá lóc trên bể composite bằng HCG từ liều lượng HCG tốt nhất ở thí nghiệm 2 (1.000 UI/kg cá cái và 3.000 UI /kg đối với cá đực)
Nguồn nước sử dụng cho cá sinh sản là nước sông đã được xử lý thuốc tím 5ppm và sục khí mạnh trong 24 giờ
- Thí nghiệm gồm 9 bể composite được bố trí 9 cặp cá, mỗi cặp/1 bể Sử dụng HCG liều lượng 1.000 UI/kg cá cái và 3.000 UI /kg đối với cá đực
Trang 29- Các chỉ tiêu theo dõi: Thời gian hiệu ứng, tỷ lệ cá rụng trứng, tỷ lệ thụ tinh, tỷ
lệ nở
3.2.4 Thí nghiệm 4: cho cá sinh sản trong giai đặt trong ao
Thí nghiệm gồm 2 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần, 9 cặp cá/nghiệm thức Tổng cộng số giai cho cá đẻ là 18 giai
- Nghiệm thức 1: cho cá sinh sản từng cặp trong giai đặt trong ao, không sử dụng HCG
- Nghiệm thức 2: cho cá sinh sản từng cặp trong giai đặt trong ao bằng cách sử dụng hormone HCG kích thích một liều duy nhất Liều lượng 1.000 UI/kg cá cái và 3.000 UI /kg đối với cá đực
Ấp trứng: vớt trứng cá và ấp trong bể composite, mật độ 100.000 trứng/m2 sục khí nhẹ Thời gian ấp nở từ 2 - 3 ngày
Các chỉ tiêu theo dõi
+ Thời gian hiệu ứng: Là thời gian từ lúc tiêm liều quyết định đến lúc cá đẻ + Tỉ lệ cá tham gia sinh sản (%) = số cá đẻ/số cá cho đẻ * 100
+ Sức sinh sản tuyệt đối: Sức sinh sản tuyệt đối được xác định theo phương pháp lấy mẫu khối lượng như sau: Lấy mẫu buồng trứng và cân khối lượng từ các cá cái bằng đơn vị gram Lấy mẫu trứng đại diện từ mẫu buồng trứng, sau đó đem cân với đơn vị gram và đếm số lượng trứng có trong mẫu trứng đại diện
Công thức tính sức sinh sản tuyệt đối:
F = nG/g
G: Khối lượng buồng trứng (gram)
g: Khối lượng mẫu trứng lấy ra để đếm (gram)
n: Số trứng của mẫu được lấy ra để đếm
+ Sức sinh sản tương đối: FA = Số trứng có trong buồng trứng/khối lượng thân + Tỉ lệ thụ tinh (TLTT) = số trứng thụ tinh/số trứng quan sát*100
+ Tỉ lệ nở (TLN) = Số trứng nở/số trứng thụ tinh * 100
Trang 30Các chỉ tiêu theo dõi trong thí nghiệm
3.3 Thí nghiệm 5: Ương cá hương lên cá giống
Thí nghiệm ương cá lóc được bố trí trong trại cá của Trường Đại học Trà Vinh
3.3.1 Thí nghiệm 5.1: Ảnh hưởng của mật độ ương lên sự tăng trưởng, tỷ lệ sống của cá hương lên cá giống sau thời gian 45 ngày
- Nguồn nước sử dụng là nước máy đã xử lý Nước được bơm vào bể 24 khối,
xử lý thuốc tím 5 - 10 ppm, sục khí mạnh trong 1 tuần trước khi sử dụng
- Cá bột thu được từ các thí nghiệm cho sinh sản được bố trí vào bể và cho ăn bằng Moina (hay còn gọi là trứng nước) trong 2 tuần sau đó bố trí cá vào bể thí nghiệm Khối lượng cá lúc bố trí thí nghiệm trung bình 0,013 g/con
- Thí nghiệm được bố trí trong bể composit 0,5 m3, mức nước trong bể là 0,5 m Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần
- Thay nước mỗi ngày, mỗi lần thay 50% lượng nước trong bể, trước khi thay dùng ống nhựa siphone rút các chất cặn bã do thức ăn dư thừa và chất thải của cá
- Thời gian thí nghiệm trong 45 ngày
Trang 31Các chỉ tiêu theo dõi trong thí nghiệm
W1 là trọng lượng tại thời điểm t1 (g)
W2 là trọng lượng tại thời điểm t2 (g)
- Xác định tỷ lệ sống (%) được xác định sau khi kết thúc thí nghiệm ương thông qua công thức sau :
Số lượng cá thu hoạch
Tỷ lệ sống = - x 100
Số lượng cá thả nuôi
Trang 323.3.2 Thí nghiệm 5.2: Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng, tỷ lệ sống của cá hương lên cá sống sau thời gian 45 ngày
- Nguồn nước sử dụng là nước máy đã xử lý Nước được bơm vào bể 24 khối,
xử lý thuốc tím 5 - 10 ppm, sục khí mạnh trong 1 tuần trước khi sử dụng
- Thí nghiệm được bố trí trong bể composit 0,5 m3, mức nước trong bể là 0,5 m Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Mật độ ương 2000 con/m3
- Cá bột được cho ăn bằng Moina trong 10 ngày sau đó tập cho cá ăn các loại thức ăn như sau: 1 Thức ăn công nghiệp; 2 Thức ăn công nghiệp + cá biển; 3 Cá biển Khối lượng cá lúc bố trí thí nghiệm trung bình 0,012 g/con
Nghiệm thức 1: sử dụng 100% thức ăn là cá biển
Nghiệm thức 2: là 50% thức ăn cá biển + 50% thức ăn công nghiệp (40% đạm) Nghiệm thức 3: thức ăn công nghiệp loại 40% đạm
- Thức ăn công nghiệp sử dụng trong thí nghiệm có hàm lượng protein là 40%,
cỡ viên thức ăn là 2 mm và được xay nhuyễn ra để dùng trong thí nghiệm Đối với nghiệm thức 2: xay cá biển và thức ăn công nghiệp chung để cho cá ăn Thức ăn được cho vào sàn ăn và cho cá ăn theo nhu cầu Trộn thêm men tiêu hoá 5 g/kg thức ăn và vitamin C 5 g/kg vào trong thức ăn 1 - 2 lần/tuần
- Thay nước mỗi ngày, mỗi lần thay 50% lượng nước trong bể, trước khi thay dùng ống nhựa siphone rút các chất cặn bã do thức ăn dư thừa và chất thải của cá
- Thời gian thí nghiệm trong 45 ngày
- Phương thức tập ăn: Moina được rửa sạch trước khi cho cá ăn Thay thế dần lượng Moina bằng thức ăn công nghiệp như sau: