1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xử lý vi khuẩn lao trong nước sử dụng hạt nano gắn enzyme

40 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vi khuẩn lao có thể tồn tại trong đất ẩm hoặc khô trong 4 tuần, và nếu được bảo vệ khỏi tiếp xúc với ánh sáng, có thể duy trì sự sống tới 74 ngày và lâu hơn nữa trong chất thải động vật.

Trang 1

-

Nguyễn Quang Đạo

XỬ LÝ VI KHUẨN LAO TRONG NƯỚC SỬ DỤNG

HẠT NANO GẮN ENZYME

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Quang Đạo

XỬ LÝ VI KHUẨN LAO TRONG NƯỚC SỬ DỤNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Phạm Bảo Yên, cán bộ phòng Enzyme học và phân tích hoạt tính sinh học – Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ Enzyme - Protein Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và chỉnh sửa luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm Khoa học Vật liệu, khoa Vật lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội; Bệnh viện Phổi Hà Nội; đã giúp

đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu

Tôi xin gửi làm cảm ơn chân thành đến cán bộ và nghiên cứu sinh tại phòng thí nghiệm Enzyme học và phân tích hoạt tính sinh học, những người luôn luôn bên cạnh giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi học tập và làm việc

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới bố mẹ và gia đình vì đã luôn ở bên con động viên, ủng hộ, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành tốt khóa luận này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn tất cả bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Hà Nội, 25 tháng 11 năm 2016

Nguyễn Quang Đạo

Trang 4

Mục lục

MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG I TỔNG QUAN 8

1.1 Nước thải và các phương pháp xử lý nước thải 8

1.1.1 Khái niệm và phân loại nước thải 8

1.1.2 Thực trạng xử lý nước thải ở các bệnh viện và trung tâm thu nhận bệnh nhân hiện nay 9 1.1.3 Các phương pháp xử lý vi sinh vật trong nước thải 10

1.1.3.1 Phương pháp vật lý 11

1.1.3.2 Phương pháp hóa học 12

1.1.3.3 Phương pháp sinh học 13

1.2 Bệnh lao 15

1.2.1 Bệnh lý học 15

1.2.2 Dịch tễ học 16

1.3 Vi khuẩn lao 18

1.3.1 Đặc điểm của vi khuẩn lao 18

1.3.2 Hệ gen vi khuẩn lao 20

1.4 Hạt nano và ứng dụng 21

1.4.1 Các tính chất của hạt nano 21

1.4.2 Hạt nano từ tính 23

1.4.3 Phức hệ và phương pháp tạo phức hệ với hạt nano 24

1.4.4 Ứng dụng của hạt nano 26

1.5 Enzyme và ứng dụng trong xử lý nước thải 28

1.5.1 Ứng dụng của enzyme trong xử lý nước thải 28

1.5.2 Lysozyme 29

1.5.3 Lipase 29

CHƯƠNG 2 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Nguyên liệu 32

2.1.1 Vắc xin BCG và mẫu nước thải bổ sung vắc xin 32

2.1.2 Hạt từ nano amino (NP-NH 2 ) và chất xúc tác tạo phức hệ EDC 33

2.1.3 Cặp mồi đặc hiệu nhân đoạn chèn 6110 33

2.1.4 Enzyme lipase, lysozyme và kháng thể kháng lao 35

Trang 5

2.1.5 Các dung dịch đệm và hóa chất khác 36

2.2 Phương pháp 36

2.2.1 Tạo phức hệ hạt nano từ amino-kháng thể/enzyme 36

2.2.2 Thử độ bền vững của phức hệ 37

2.2.3 Làm giàu và ly giải vi khuẩn lao 37

2.2.4 Phân tích kết quả điện di bằng phần mềm Image J 38

2.2.5 Xây dựng mô hình nước thải chứa vắc xin BCG thử nghiệm phức hệ 38

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Tối ưu điều kiện phản ứng gắn 39

3.1.1 Tối ưu nồng độ hạt từ nano amino 39

3.1.2 Tối ưu nồng độ EDC và thời gian phản ứng 41

3.1.3 Thử nghiệm độ bền phức hệ hạt từ - kháng thể 42

3.2 Hiệu quả của các phức hệ trong việc bắt giữ và ly giải tế bào vi khuẩn trong vắc xin BCG 44

3.2.1 Sử dụng phức hệ đơn 44

3.2.2 Sử dụng phức hệ kép từ phản ứng một bước 46

3.2.3 Sử dụng phức hệ kép từ phản ứng hai bước 48

3.3 Thử nghiệm các phức hệ trong mẫu nước thải bổ sung vắc xin BCG 51

3.3.1 Thử nghiệm phức hệ hạt từ kháng thể trong mẫu nước thải bổ sung vắc xin BCG 51

3.3.2 Sử dụng phức hệ đơn và phức hệ kép bắt giữ và ly giải tế bào vi khuẩn trong mẫu nước thải bổ sung vắc xin BCG 52

Kết luận 56

Trang 6

Bảng ký hiệu các chữ viết tắt

AP Alkaline Phosphatase

BCG Bacillus Calmette Guerin

EDC 1-ethyl-3-(3-dimethylaminopropyl) carbodiimide hydrochloride EDTA Ethylene Diamine Tetraacetic Acid

IS6110 Insert Sequence 6110

MTB Mycobacterium tuberculosis

NHS N-hydroxysuccinimide

NP-NH2 Nano amino Particles

PBS Phosphate buffered saline

PCR Polymerase Chain Reaction

SEM Scan Electron Microscope

SMCC Succinimidyl 4-(N-maleimidomethyl) cyclohexan – 1 –

carboxylate TAE Tris base-Acetic Acid-EDTA

TB Tuberculosis

TE Tris-HCl-EDTA

WHO World Health Organization

Trang 7

Danh mục bảng:

Bảng 1.1 Một số tác nhân gây bệnh truyền nhiễm có mặt trong nước thải 10

Danh mục hình:

Hình 1.1 Sử dụng màng lọc để bắt giữ vi khuẩn trong nước thải 11

Hình 1.2 Chu trình phát triển của Bdellovibrio bacteriovorus 14

Hình 1.9 Phản ứng tạo liên kết amide xúc tác bởi EDC 26

Hình 3.1 Tối ưu thể tích hạt nano từ tính trong phản ứng gắn 38

Hình 3.2 a Thời gian gắn kháng thể lên hạt nano từ tạo phức hệ bắt giữ 39

b Phân tích độ sáng băng ADN trong hình 3.2a bằng phần mềm

Hình 3.3 a Thử nghiệm độ bền phức hệ hạt từ - kháng thể 41

b Phân tích độ sáng băng ADN trong hình 3.3a bằng phần mềm

41

Trang 8

b Phân tích độ sáng băng ADN trong hình 3.5a bằng phần mềm

Hình 3.6 Phức hệ kép tạo thành qua 1 bước phản ứng 45

Hình 3.7 a Sử dụng phức hệ kép từ phản ứng một bước bắt giữ và ly giải vi

khuẩn trong mẫu vắc xin BCG 46

b Phân tích độ sáng băng ADN trong hình 3.7a bằng phần mềm

Hình 3.8 Phức hệ kép hình thành qua hai bước phản ứng 47

Hình 3.9 a Sử dụng phức hệ kép từ phản ứng hai bước so sánh với phức hệ kép

b Phân tích độ sáng băng ADN trong hình 3.9a bằng phần mềm

Hình 3.10 Kiểm tra khả năng bắt giữ vi khuẩn của phức hệ hạt từ kháng thể 50

Hình 3.11 a quả sử dụng phức hệ đơn, phức hệ kép bắt giữ và ly giải tế bào vi

khuẩn trong mẫu nước thải bổ sung vắc xin BCG 51

b Phân tích độ sáng băng tương ứng trên hình 3.11a bằng phần mềm

imageJ Các mẫu 1-6 tương ứng với mẫu từ 1-6 trên hình 3.11a 51

Hình 3.12 Kiểm tra khả năng bắt giữ và ly giải tế bào của phức hệ đơn 53

Trang 9

MỞ ĐẦU

Hiện nay, các cơ sở như bệnh viện, các trung tâm thu nhận người mắc bệnh truyền nhiễm là nơi tập trung lượng lớn vi sinh vật gây bệnh Nước thải từ các cơ sở này chứa nhiều các tác nhân vi khuẩn, virus có khả năng lây nhiễm, nếu không có phương pháp xử lý thích hợp sẽ trở thành nguy cơ lây lan các bệnh truyền nhiễm Các

vi sinh vật có trong nước thải bao gồm nhiều loài khác nhau, đề tài này tập trung vào

đối tượng nghiên cứu là vi khuẩn gây bệnh lao Mycobacterium tuberculosis (MTB)

Lao là bệnh truyền nhiễm có tỉ lệ bệnh nhân tử vong cao thứ hai hiện nay Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới WHO, đến năm 2015 khoảng một phần ba dân số toàn cầu đã nhiễm vi khuẩn lao dạng tiềm tàng, mỗi năm có khoảng 10 triệu ca nhiễm lao mới (10,4 triệu ca năm 2015), gây tử vong cho hơn 2 triệu người mỗi năm và hầu hết ở các nước đang phát triển [2][3] Ở Việt Nam, sự gia tăng nhanh chóng của các chủng lao đa kháng thuốc đã làm cho việc chữa trị lao trở nên phức tạp hơn, theo số liệu điều tra từ chương trình chống lao quốc gia Việt Nam, khoảng 40% số bệnh nhân

ở Việt Nam đã cho kết quả kháng thuốc với Rifampin, một loại thuốc kháng sinh hàng

1 quan trọng [4] Vi khuẩn lao là một chủng nguy hiểm không chỉ bởi khả năng gây bệnh mà còn bởi khả năng sống sót cao trong môi trường tự nhiên Vi khuẩn lao có thể tồn tại trong đất (ẩm hoặc khô) trong 4 tuần, và nếu được bảo vệ khỏi tiếp xúc với ánh sáng, có thể duy trì sự sống tới 74 ngày và lâu hơn nữa trong chất thải động vật.[5]

Hiện nay, để xử lý vi sinh vật trong nước thải các phương pháp thường được sử dụng có thể chia vào ba nhóm chính: các phương pháp vật lý, hóa học và sinh học, tuy nhiên, các phương pháp vật lý, hóa học khá tốn kém để lắp đặt hệ thống xử lý và duy trì trong thời gian dài, hơn nữa một số phương pháp có nguy cơ tái nhiễm vi khuẩn cao Từ những lí do nêu trên, để tiêu diệt vi khuẩn lao trong nước thải và góp phần ngăn chặn nguy cơ lây nhiễm (đặc biệt là những chủng lao kháng thuốc), tôi tiến hành

Trang 10

CHƯƠNG I TỔNG QUAN

1.1 Nước thải và các phương pháp xử lý nước thải

1.1.1 Khái niệm và phân loại nước thải

Nước là nguồn tài nguyên đặc biệt, không chất nào có thể thay thế được do vậy cần được sử dụng tiết kiệm, hợp lý Tổng trữ lượng nước trên trái đất vào khoảng 1.386 triệu km3 [6], nhưng nước ngọt và nước sạch dùng cho con người thì có hạn vì

sự tái tạo lại dường như phân bố không đều và không kịp cho nhu cầu sử dụng Nước ngọt chỉ chiếm khoảng 2,7% tổng lượng nước trên trái đất; trong đó nằm dạng băng 77,22%, nước ngầm 22,42%, hồ đầm 0,35%, sống suối 0,01% lượng nước ngọt Nguồn nước ngầm thường có xu hướng giảm do khai thác nhiều mà không được bổ sung kịp thời [7] Do vậy việc tái sử dụng nước thải sao cho an toàn là một vấn đề cấp thiết đang được quan tâm

Theo Tilley và các cộng sự nước thải được định nghĩa là nước mà chất lượng đã bị ảnh hưởng xấu bởi các tác động của con người Nước thải là bao gồm chất thải dạng lỏng từ các hoạt động sinh hoạt, công nghiệp, thương mại, nông nghiệp và cả nước mưa khi đổ vào hệ thống cống [8] Người ta còn định nghĩa nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh, đó cũng

là cơ sở trong việclựa chọn các biện pháp giải quyết hoặc công nghệ xử lý [9]

Hệ thống nước thải phổ biến nhất được chia làm năm loại Đầu tiên là nước thải sinh hoạt: bắt nguồn từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thươngmại, khu vực công

sở, trường học và các cơ sở tương tự khác Tiếp đó là nước thải công nghiệp (hay còn gọi là nước thải sản xuất): từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu Thứ ba là nước thấm qua: là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, các đường ống rò rỉ hoặc thành hố

ga Thứ tư là nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, được thu gom theo hệ thống riêng Cuối cùng là nước thải đô thị:

là một thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát của một thành phố, thị

Trang 11

xã; đó là hỗn hợp của các loại trên Nước thải bệnh viện được xếp loại vào nước thải sinh hoạt nhưng có sự khác biệt là có chứa các tác nhân gây bệnh ở nồng độ cao

1.1.2 Thực trạng xử lý nước thải ở các bệnh viện và trung tâm thu nhận bệnh nhân hiện nay

Nước thải sinh hoạt hàng ngày và nước thải y tế từ các bệnh viện, cơ sở tiếp nhận người mắc bệnh truyền nhiễm, thường chứa nhiều các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nguy hiểm với sức khỏe con người Các tác nhân này bao gồm các vi sinh vật gây bệnh khác nhau được thống kê trong Bảng 1 [10-13] Mỗi loại vi sinh vật khác nhau lại yêu cầu các phương pháp xử lý khác nhau Mặc dù ở nồng độ thấp hơn nhiều so với các chất hóa học, do khả năng lây lan các tác nhân sinh học có thể gây ra bệnh truyền nhiễm và tiềm tàng khả năng phát triển thành dịch Nhiều tác nhân sinh học không tồn tại được lâu trong môi trường và có thể bị tiêu diệt khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời Tuy nhiên, có một số vi khuẩn, virus vẫn có thể tồn tại trong điều kiện bất lợi và phát tán khi thải trực tiếp ra ngoài môi trường Thậm chí chúng có thể phát tán từ trong quá trình đi qua các hệ thống thu gom nước thải khi xảy ra hiện tượng tràn cống Do vậy việc xử lý nước thải y tế trước khi nhập vào hệ thống xử lý nước thải chung hoặc đưa

ra môi trường là bắt buộc Tuy nhiên theo một điều tra mới đây của Bộ Y tế chỉ 54%

số bệnh viện ở nước ta có hệ thống xử lý nước thải Trong số này lại có một số hệ thống đã sử dụng trong thời gian dài và hoạt động không còn hiệu quả, hoặc ở nhiều bệnh viện do chi phí duy trì vận hành cao nên hệ thống xử lý nước không hoạt động thường xuyên Chính điều này đã góp phần phát tán các chất độc hại sử dụng trong y

tế và các tác nhân gây bệnh ra ngoài môi trường Nghiên cứu này tập trung vào việc xử

lý tác nhân gây bệnh lao mà cụ thể là vi khuẩn lao có trong nước thải, nhằm ngăn chặn

sự lây lan bệnh

Trang 12

Bảng 1.1: Một số tác nhân gây bệnh truyền nhiễm có mặt trong nước thải

Tác nhân sinh học Bệnh gây ra Thời gian tồn tại

Có thể tồn tại lâu dài trong điều kiện thích hợp nhưng không phân chia

Salmonella Bệnh thương hàn

Nhiễm khuẩn đường ruột

56 ngày ở dạng tự do

và có thể tồn tại lâu dài khi hình thành biofilm

Shigella Kiết lỵ 56 ngày

Vibrio cholerae Bệnh tả 700 ngày

35 ngày tùy theo nhiệt

1.1.3 Các phương pháp xử lý vi sinh vật trong nước thải

Trên thế giới và ở Việt Nam có nhiều phương pháp được đưa ra nhằm xử lý tác nhân gây bệnh trong nước thải Các phương pháp này có thể được chia thành 3 nhóm: vật lý, hóa học và sinh học với những ưu nhược điểm riêng.Trong đó, nhóm các phương pháp vật lý và hóa học được sử dụng phổ biến nhất

Trang 13

1.1.3.1 Phương pháp vật lý

Phương pháp vật lý xử lý vi sinh vật hiệu quả nhất hiện nay là sử dụng hệ thống chiếu tia cực tím (UV) tác động tới vật liệu di truyền của sinh vật (ADN và ARN) Bức xạ UV khi thâm nhập vào các tế bào của một sinh vật, sẽ phá hủy khả năng tái tạo của tế bào Hiệu quả của một hệ thống khử trùng UV phụ thuộc vào các đặc tính của nước thải, cường độ bức xạ UV, lượng thời gian vi sinh vật tiếp xúc với bức xạ, và cấu trúc lò phản ứng

Sử dụng hệ thống khử trùng bằng tia cực tím có một số ưu điểm như có hiệu quả bất hoạt hầu hết các virus, bào tử, sau xử lý không sinh ra các hóa chất độc hại và quá trình này không gây ăn mòn hệ thống ống dẫn nước thải, đồng thời diễn ra trong thời gian ngắn (khoảng 20-30 giây với đèn áp thấp) Tuy vậy phương pháp này có một số nhược điểm như phụ thuộc độ đục và tổng chất rắn lơ lửng trong nước thải có thể làm giảm hiệu quả khử trùng Ngoài ra các sinh vật đôi khi có thể sửa chữa và đảo ngược lại những tác động của tia cực tím thông qua "cơ chế sửa chữa" Hệ thống phải được bảo trì thường xuyên để tránh tắc nghẽn ống dẫn đến chi phí lắp đặt và vận hành hệ thống tốn kém [14]

Hình 1.1: Sử dụng màng lọc để bắt giữ vi khuẩn trong nước thải

(Nguồn: eawag.ch)

Trang 14

Một phương pháp vật lý đang được áp dụng ở một số nước phát triển hiện nay là

sử dụng hệ thống các màng lọc vi khuẩn Tuy vậy việc liên tục thay, bỏ màng lọc cũng yêu cầu chi phí cao, đối với loại màng lọc có thể tái sử dụng lại yêu cầu được xử lý bởi các nhân viên có tay nghề cao để tránh tái nhiễm vi khuẩn vào nước

1.1.3.2 Phương pháp hóa học

Phương pháp xử lý vi sinh vật trong nước thải phổ biến nhất hiện này chính là sử dụng clo oxi hóa tế bào vi khuẩn Ở bất cứ dạng nào, nguyên chất hay hợp chất, khi clo tác dụng với nước đều sinh ra các phân tử axit hypoclorit (HClO), một hợp chất có khả năng khử trùng rất mạnh HClO không phân ly là thành phần khử trùng chính trong nước, thành phần này chỉ có giá trị cao ở pH thấp, điều đó cũng nói lên rằng quá trình dùng clo để khử trùng trong nước chỉ có được hiệu quả cao khi tiến hành ở pH thấp Tốc độ quá trình khử trùng còn phụ thuộc vào cả hàm lượng các chất hữu cơ, các cặn lơ lửng và các chất khử khác Khi trong nước có hàm lượng cao của các chất này thì tốc độ quá trình khử trùng sẽ giảm đi đáng kể

Phương pháp sử dụng clo khử trùng có một số ưu điểm như dễ sử dụng, có thể áp dụng ở nhiều nơi, độ tin cậy cao và có khả năng tiêu diệt một dải rộng các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm Tuy vậy phương pháp này còn tồn tại các nhược điểm sau Dư lượng clo trong nước ngay cả ở nồng độ thấp vẫn gây hại tới các sinh vật thủy sinh khi thải ra ngoài môi trường Clo là một chất ăn mòn mạnh và gây độc, do vậy trong quá trình bảo quản, vận chuyển và sử dụng đều đòi hỏi nhân viên có tay nghề cao thực hiện Clo còn có thể phản ứng với một số hợp chất hữu cơ trong nước sinh ra các chất độc hại (ví dụ: Trihalomethanes) [15]

Một phương pháp hóa học khác cũng được sử dụng phổ biến ở châu âu và ở một vài tiểu bang ở Mỹ là sử dụng khí ôzôn Khí ôzon được tạo ra bằng cách sử dụng nguồn điện cao thế tách ôxy phân tử (O2) thành ôxy nguyên tử (O), sau đó lại cho ôxy nguyên

tử tiếp xúc với oxi phân tử tạo thành ôzôn (O3) Khí ôzon phải được tạo ra ngay tại các điểm xử lý nước thải do tính chất không bền và nhanh chóng phân giải về dạng oxy phân tử Ôzôn là một chất oxy hóa mạnh, có khả năng khử trùng cao Ôzôn tác động trực tiếp, oxi hóa thành tế bào vi khuẩn, đồng thời gây thiệt hại lên các thành phần của

Trang 15

axit nucleic (purin và pyrimidin) Cơ chế chủ yếu của quá trình này xảy ra do khi ôzôn phân giải trong nước sẽ sinh ra các nhóm hydrogen peroxy (HO2) và hydroxyl (OH) Hiệu quả của quá trình khử trùng phụ thuộc vào các yếu tố như sự nhạy cảm của vi khuẩn, thời gian tiếp xúc và nồng độ ôzôn

Phương pháp sử dụng ôzôn có một số ưu điểm như sử dụng ôzon khử trùng cho hiệu quả tốt hơn clo, thời gian khử trùng ngắn (10-30 phút) đồng thời không tạo thành

dư lượng hóa chất độc hại sau khử trùng Mặc dù vậy phương pháp sử dụng ôzon vẫn không được sử dụng rộng rãi do việc lắp đặt hệ thống phức tạp Do đặc tính oxy hóa cao gây ăn mòn đường ống dẫn nên chi phí bảo trì hệ thống khử trùng ôzon thường cao [16]

1.1.3.3 Phương pháp sinh học

Các quá trình sinh học được ứng dụng trong xử lý nước thải hiện nay chủ yếu là để

xử lý các chất thải hữu cơ, các hợp chất của nitơ và phốt pho Sự tồn tại của các chất thải hữu cơ làm giảm độ hòa tan của oxi trong nước gây hại tới đời sống của các sinh vật thủy sinh do vậy cần phải được xử lý trước khi thải ra ngoài môi trường Phương pháp phổ biến và hiệu quả nhất hiện nay là sử dụng vi sinh vật hiếu khí để loại bỏ các tạp chất hữu cơ này trong nước thải Các vi sinh vật hiếu khí được nuôi và tạo thành màng trên các giá thể có trong các bồn sinh học hay các bể chứa nước thải Các vi sinh vật này sẽ phân hủy các tạp chất hữu cơ bằng cách tiết ra enzyme phân hủy giúp loại

bỏ các tạp chất này ra khỏi nước thải Một nghiên cứu gần đây nhất được thực hiện tại Việt Nam cho thấy sự hiệu quả của vi khuẩn khi tạo thành màng biofilm có khả năng phân hủy một phổ rộng các chất hữu cơ bao gồm L-arginine, gelatin, D-glucose, D-mannose v.v Nghiên cứu này mở ra một triển vọng ứng dụng các loại vi sinh vật sẵn

có trong tự nhiên trong quá trình xử lý nước thải [1]

Tuy được ứng dụng hết sức hiệu quả nhưng cho đến nay phương pháp sinh học vẫn chưa được sử dụng nhiều để tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh có trong nước thải.Một

Trang 16

khuẩn này bám vào màng tế bào của các vi khuẩn gram âm tiết ra enzyme phân hủy màng tế bào, đi qua màng plasma rồi sửa chữa lại màng tế bào của vật chủ Sau đó

Bdellovibrio bacteriovorus sẽ tiết ra các enzyme thủy phân vào trong tế bào chất của

vật chủ nhằm sản xuất các chất dinh dưỡng thiết yếu cho sự tăng trưởng Khi đã hấp thu đầy dủ dinh dưỡng từ tế bào chất, vi khuẩn bắt đầu tiến hành phân chia rồi cuối cùng phá vỡ tế bào vật chủ và thoát ra ngoài [18] Chu trình này được thể hiện như Hình 1.2

Hình 1.2: Chu trình phát triển của Bdellovibrio bacteriovorus

Phương pháp sinh học này có những ưu điểm như không phải xây dựng hệ thống xử

lý phức tạp, không sử dụng hóa chất độc hại Tuy vậy nhược điểm làm giảm tính ứng

dụng của phương pháp là Bdellovibrio bacteriovorus chỉ có khả năng tiêu diệt các vi

khuẩn gram âm.[19,20]

Nghiên cứu này nhằm mục đích phát triển xa hơn tiến tới tiêu diệt các tác nhân gây bệnh trước tiên là vi khuẩn lao sau khi bắt giữ bằng cách bổ sung các phức hệ ly giải

có gắn enzyme Đáng chú ý là trong năm 2015, nhóm nghiên cứu Chử Lương Luân và các cộng sự đã tạo được phức hệ hạt từ kháng thể kháng lao Như vậy theo nguyên lý này những phức hệ tương tự có thể được tổng hợp Đối tượng nghiên cứu là vi khuẩn

Trang 17

lao vì các lý do bệnh lý học và dịch tễ học của bệnh lao và bởi bản thân vi khuẩn lao là một vi khuẩn nguy hiểm có khả năng lây nhiễm và khả năng sống sót cao ngoài môi trường

1.2 Bệnh lao

Bệnh lao là bệnh truyền nhiễm chết người phổ biến gây ra bởi các chủng khác

nhau của mycobacteria, thường là Mycobacterium tuberculosis Bệnh lao đã có mặt

trong xã hội loài người từ thời cổ đại Trong suốt lịch sử, bệnh lao đã được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau như: bệnh ho lao, bệnh Pott, và bệnh dịch trắng Bệnh

lao đạt tỷ lệ dịch bệnh cao nhất ở châu Âu và Bắc Mỹ trong thế kỷ 18 và 19

1.2.1 Bệnh lý học

Bệnh lao phổ biến nhất là lao phổi, tuy nhiên trong 15-20% các trường hợp nhiễm lao, nhiễm trùng lây lan ra bên ngoài cơ quan hô hấp, gây ra bệnh lao trên các phần khác của cơ thể [21] Những trường hợp mắc bệnh như vậy được gọi chung là "bệnh lao ngoài phổi" Lao ngoài phổi xảy ra phổ biến hơn ở những người suy giảm miễn dịch và trẻ em Trong những người có HIV, điều này xảy ra trong hơn 50% các trường hợp Bệnh lao là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho các bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS, với 90% bệnh nhân HIV/AIDS sẽ tử vong trong vòng vài tháng bị đồng nhiễm lao nếu không được chữa trị kịp thời [22] Lao ngoài phổi bao gồm một số trường hợp như lao màng não, lao bạch huyết (trong bệnh tràng nhạc cổ ), lao niệu sinh dục, và lao xương và khớp (bệnh của cột sống của Pott)

Khi đã vào tới phổi, vi khuẩn bị đại thực bào tấn công, và các nốt nhỏ được hình thành thông qua phản ứng quá mẫn gọi là nốt sần Quá trình bệnh thường chỉ dừng lại ở giai đoạn này, nhưng vi khuẩn thường vẫn tồn tại trong các thể thực bào của đại thực bào (macrophage phagosome) Kháng lại quá trình oxy hóa, ức chế sự thực bào của lysosome, và ức chế sự khuếch tán của các enzyme trong lysosome là một số trong những cơ chế có thể giải thích sự tồn tại của vi khuẩn lao bên trong đại thực bào

Trang 18

Ghon, phức hệ này có thể quan sát được dễ dàng khi chụp x-quang phổi Thường thì các tổn thương chính được gọi là nốt sần Ghon hoặc điểm tập trung Ghon Các tổn thương chính thường nằm ở phần trên của thùy dưới hoặc phần dưới của thùy trên [23]

Những người tiếp xúc thường xuyên với bệnh nhân lao trong thời gian dài có khả năng lây nhiễm cao hơn 22% so với những người khác [24] Một người mắc lao đã phát triển thành bệnh nhưng không được điều trị có thể lây cho 10-15 người (có thể nhiều hơn) mỗi năm Sự lây nhiễm chỉ xảy ra ở những người bị nhiễm lao hoạt động

đã phát triển thành bệnh (không phải lao tiềm ẩn), phụ thuộc vào mức độ nhiễm lao, phơi nhiễm với môi trường, thời gian tiếp xúc, và độc lực của các chủng vi khuẩn Thông thường phải mất 3-4 tuần trước khi những người mới nhiễm lao có thể lây truyền bệnh cho người khác [25] Chuỗi lây truyền có thể được ngừng lại bằng cách cách ly các bệnh nhân trong giai đoạn hoạt động của bệnh và áp dụng điều trị hiệu quả

1.2.2 Dịch tễ học

Ngày nay, bệnh lao là bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất, ảnh hưởng đến khoảng

2-3 tỷ người (tức là 1/2-3 dân số thế giới trong năm 2015), với 10 triệu trường hợp mới được chẩn đoán mỗi năm Số lượng tuyệt đối của các trường hợp bệnh lao đã được giảm từ năm 2006, và các trường hợp mắc mới đã giảm kể từ năm 2002 Tuy nhiên sự phân bố của bệnh lao không thống nhất trên toàn cầu; khoảng 80% dân số ở nhiều nước châu Á và châu Phi xét nghiệm dương tính trong các xét nghiệm tuberculin trong khi đó chỉ có 5-10% dân số Hoa Kỳ cho kết quả tương tự [2] Lao là bệnh truyền nhiễm gây tử vong cao thứ hai trên thế giới gây ra 2 triệu ca tử vong trong năm 2010, chủ yếu ở các nước đang phát triển Theo báo cáo WHO năm 2015 Việt Nam xếp thứ

14 trong 22 nước có số bệnh nhân lao cao nhất trên thế giới, với khảng 104.000 ca mỗi năm và ước tính khoảng 56% dân số nước ta đã bị nhiễm vi khuẩn lao [4]

Vi khuẩn lao có thể nhập vào cơ thể nếu chúng ta ăn thực phẩm bị nhiễm vi khuẩn

Vi khuẩn cũng lây truyền qua các vết cắt hoặc vết trầy xước trên da hoặc niêm mạc mắt và cổ họng và từ mẹ sang thai nhi thông qua các tĩnh mạch rốn gây bệnh lao bẩm

Trang 19

sinh Tuy nhiên, thông thường, lao lây truyền qua đường hô hấp (hình 1.3) Khi những người mắc lao phổi hắt hơi, nói chuyện, hay khạc nhổ, họ phát tán ra các giọt đường kính 0,5-5,0 mm, và trong không khí bình thường chúng có thể được giữ trong khoảng thời gian kéo dài và lây lan cho những người khỏe mạnh trong cùng một phòng hoặc trong cùng tòa nhà Một cái hắt hơi duy nhất có thể giải phóng tới 40.000 giọt, mỗi giọt đều có thể lây truyền bệnh Người khỏe mạnh hít vào ít hơn 10 vi khuẩn cũng có khả năng bị nhiễm bệnh [26]

Hình 1.3: Con đường lây nhiễm chính bệnh lao

Nguồn http: //www.slideshare.net/Hamdi0Alturkey/pulmonary-tuberculosis-34642377

Khả năng tồn tại của vi khuẩn lao

Một yếu tố quan trọng góp phần trong sự lây lan của bệnh lao là khả năng tồn tại của vi khuẩn gây bệnh Vi khuẩn lao có thể chịu được các chất khử trùng yếu và có thể tồn tại trong trạng thái khô trong nhiều tuần Một nghiên cứu mới đây được thực hiện ở Michigan Hoa Kỳ cho thấy vi khuẩn lao có khả năng sống sót cao trong môi

Trang 20

vậy khả năng tồn tại của vi khuẩn lao trong môi trường ngắn hơn đáng kể trong mùa xuân / hè, bởi đây là thời gian có nhiệt độ trung bình hàng ngày cao nhất trong thời gian 12 tháng của năm Các nghiên cứu chứng minh rằng vi khuẩn lao tồn tại đủ lâu trong môi trường để lây nhiễm và truyền bệnh sang người và động vật

1.3 Vi khuẩn lao

1.3.1 Đặc điểm của vi khuẩn lao

Đã hơn 140 năm kể từ khi chủng Mycobacterium đầu tiên được phân lập bởi Hansen (1874) Đó là vi khuẩn bệnh phong, Mycobacterium leprae, cho đến tận ngày

nay vi khuẩn này vẫn còn chống lại tất cả nỗ lực để nuôi cấy trong phòng thí nghiệm

Các vi khuẩn lao, Mycobacterium tuberculosis (MTB) được phát hiện tám năm sau đó

vào năm 1882 bởi Robert Koch, người sau đó đã nhận được giải thưởng Nobel về sinh

lý học hay y học cho khám phá này vào năm 1905; để tưởng nhớ, vi khuẩn lao còn được gọi là "vi khuẩn Koch" [28] Phát hiện Kock đã được khẳng định bởi phương pháp nhuộm hiệu quả hơn của Ehrlich (1887) và Ziehl-Neelsen (1883)

Dưới kính hiển vi trường sáng, vi khuẩn lao thường xuất hiện có dạng que thẳng hoặc hơi cong Dựa theo các điều kiện tăng trưởng và thời gian nuôi cấy, vi khuẩn có thể thay đổi kích thước và hình dạng từ bầu dục đến dạng gậy dài Các kích thước của vi khuẩn đã được báo cáo là 1-10 µm chiều dài (thường là 3-5 µm), và 0,2-0,6 µm chiều rộng Khả năng biến đổi hình thái của vi khuẩn đã được đề xuất bởi một vài nghiên cứu như Malassez và Vignal (1883), Lubarsch (1899), Fischel (1893), và Vera và Rettger (1939) tuy nhiên vì những giới hạn về kỹ thuật khi đó vẫn diễn ra nhiều tranh cãi về hình dạng vi khuẩn Ngày nay với những tiến bộ trong kỹ thuật hiển

vi bao gồm kính hiển vi điện tử quét (SEM), kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) và kính hiển vi lực nguyên tử (AFM), phần lớn các nhà nghiên cứu đã đồng ý rằng vi khuẩn lao biểu hiện nhiều hình dạng trong điều kiện khác nhau [29] Vi khuẩn trở nên ngắn hơn ở các môi trường nuối cấy cũ lâu ngày, dạng sợi bên trong đại thực bào và có hình trứng trong điều kiện thiếu dinh dưỡng Tuy nhiên, hình dạng que vẫn là hình thái

cổ điển cơ bản của vi khuẩn lao (Hình 1.4)

Ngày đăng: 10/07/2021, 09:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Quang Huy, Ngô Thị Kim Toán. “Khả năng tích lũy photpho và tạo biofilm của chủng Bacillus licheniformis A4.2 phân lập tại Việt Nam” tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 30, Số 1 (2014) 43-50 43Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng tích lũy photpho và tạo biofilm của chủng "Bacillus licheniformis" A4.2 phân lập tại Việt Nam” "tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
[4] “Viet Nam: Optimism for Multidrug-Resistant TB Patients”. WHO, 2013. Available from: http://www.who.int/features/2013/viet_nam_tuberculosis/en/. January 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viet Nam: Optimism for Multidrug-Resistant TB Patients
[5] Duffield, B. J., & Young, D. A. (1985). “Survival of Mycobacterium bovis in defined environmental conditions”. Veterinary Microbiology, 10(2), 193-197 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Survival of "Mycobacterium bovis" in defined environmental conditions”. "Veterinary Microbiology
Tác giả: Duffield, B. J., & Young, D. A
Năm: 1985
[6] I.A. Shiklomanov, John C.Rodda. “World water resource at the beginning of 21 century” International hydrology series. ISBN 0-521-82085-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: World water resource at the beginning of 21 century” "International hydrology series
[7] Peter Gleick; Heather Cooley; David Katz (2006). “The world's water, 2006–2007: the biennial report on freshwater resources”. Island Press. pp. 29–31. ISBN 1-59726- 106-8. Retrieved 12 September 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The world's water, 2006–2007: the biennial report on freshwater resources”. "Island Press
Tác giả: Peter Gleick; Heather Cooley; David Katz
Năm: 2006
[8] Tilley, E., Ulrich, L., Lüthi, C., Reymond, Ph., Zurbrügg, C. “Compendium of Sanitation Systems and Technologies – (2nd Revised Edition)”. Swiss Federal Institute of Aquatic Science and Technology (Eawag), Duebendorf, Switzerland. p.175. ISBN 978-3-906484-57-0 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Compendium of Sanitation Systems and Technologies – (2nd Revised Edition)”. "Swiss Federal Institute of Aquatic Science and Technology
[9] Nena NwachukuCharles P. Gerba. “Occurrence and persistence of Escherichia coli O157:H7 in water Reviews” in Environmental Science and Bio/Technolog. September 2008, 7:267. DOI: 10.1007/s11157-008-9132-0 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Occurrence and persistence of "Escherichia coli" O157:H7 in water Reviews” in "Environmental Science and Bio/Technolog
[10] Guy Kisluk and Sima Yaroncorresponding. “Presence and Persistence of Salmonella enterica Serotype Typhimurium in the Phyllosphere and Rhizosphere of Spray-Irrigated Parsley”. Appl Environ Microbiol. 2012 Jun; 78(11): 4030–4036. doi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Presence and Persistence of Salmonella enterica Serotype Typhimurium in the Phyllosphere and Rhizosphere of Spray-Irrigated Parsley”. "Appl Environ Microbiol
[11] Adesioye Fiyinfoluwa A., Fiyinfoluwa A. Adesioye and Adeniyi A. Ogunjobi. “181 Comparative Study of Persistence of Escherichia coli, Salmonella Sp. And Shigella Sp. In Different Water Samples Stored under Various Storage Conditions”.Nov 12, 2013; ISSN 1818-4952 IDOSI Publications, 2013 DOI Sách, tạp chí
Tiêu đề: 181 Comparative Study of Persistence of "Escherichia coli, Salmonella Sp". And Shigella Sp. In Different Water Samples Stored under Various Storage Conditions
[12] Jubair M., Morris J. G., Jr., Ali A. (2012). “Survival of Vibrio cholerae in nutrient-poor environments is associated with a novel “persister” phenotype”. PLoS ONE 7:e4518710.1371/journal.pone.0045187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Survival of Vibrio cholerae in nutrient-poor environments is associated with a novel “persister” phenotype”. "PLoS ONE
Tác giả: Jubair M., Morris J. G., Jr., Ali A
Năm: 2012
[13] Mark D. Sobsey and John Scott Meschke. “Virus survival in the environment with special attention to survival in sewage droplets and other environmental media of fecal or respiratory” august 21, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Virus survival in the environment with special attention to survival in sewage droplets and other environmental media of fecal or respiratory
[14] U.S. Environmental Protection Agency (EPA) Wastewater technology fact sheet Ultraviolet disinfection, EPA 832-F-99-064 September 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wastewater technology fact sheet Ultraviolet disinfection
[15] U.S. EPA. Wastewater technology fact sheet Chlorine disinfection,. EPA 832-F- 99-062 September 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wastewater technology fact sheet Chlorine disinfection
[16] U.S. EPA. Wastewater technology fact sheet Ozone disinfection,. EPA 832-F-99- 063 September 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wastewater technology fact sheet Ozone disinfection
[17] Madigan, Michael T. (2011-01-07). Brock Biology of Microorganisms,: Global Edition. Pearson Education. ISBN 9780321735515 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biology of Microorganisms
[18] Strauch, E.; Beck, S.; Appel, B. (2007). "Bdellovibrio and Like Organisms: Potential Sources for New Biochemicals and Therapeutic Agents". Predatory Prokaryotes. Microbiology Monographs. 4. p. 131. doi:10.1007/7171_2006_055.ISBN 978-3-540-38577-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bdellovibrio and Like Organisms: Potential Sources for New Biochemicals and Therapeutic Agents
Tác giả: Strauch, E.; Beck, S.; Appel, B
Năm: 2007
[19] Schwudke, M; Linscheid, M; Strauch, E; Appel, B; Zọhringer,U; Moll, H; Mỹller, M; Brecker, L; Gronow, S; and Lindner, B. “The Obligate Predatory Bdellovibrio bacteriovorus Possesses a Neutral Lipid A Containing -D-Mannoses That Replace Phosphate Residues”. J. Biol. Chem. 2003. Volume 278. Issue 30. 27502-27512.] Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Obligate Predatory Bdellovibrio bacteriovorus Possesses a Neutral Lipid A Containing -D-Mannoses That Replace Phosphate Residues”. "J. Biol. Chem
[20] J C Fry and D G Staples. “Distribution of Bdellovibrio bacteriovorus in sewage works, river water, and sediments”. Applied and Environmental Microbiology,. 1976.Volume 31. No. 4. Pages 469–474 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Distribution of "Bdellovibrio bacteriovorus" in sewage works, river water, and sediments”. "Applied and Environmental Microbiology
[21] Jindal, editor-in-chief SK. Textbook of pulmonary and critical care medicine,. New Delhi: Jaypee Brothers Medical Publishers. pp. 549. ISBN 978-93-5025-073-0 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Textbook of pulmonary and critical care medicine
[22] ACTION. 2009. Living with HIV, Dying of TB: A Critique of the Response of Global AIDS Donors to the Co-epidemic,. Washington, DC: RESULTS Educational Fund Sách, tạp chí
Tiêu đề: Living with HIV, Dying of TB: A Critique of the Response of Global AIDS Donors to the Co-epidemic

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm