1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận tốt nghiệp Đại học: Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

64 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Hiện Quy Trình Chăm Sóc Nuôi Dưỡng Và Phòng Trị Bệnh Cho Lợn NáI Sinh Sản Tại Trại Bùi Huy Hạnh, Xã Tái Sơn, Huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương
Tác giả Đỗ Thị Hải
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Bích Đào
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Thú Y
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. MỞ ĐẦU (8)
    • 1.1. Đặt vấn đề (8)
    • 1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề (9)
      • 1.2.1. Mục đích của chuyên đề (9)
      • 1.2.2. Yêu cầu của chuyên đề (9)
  • Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (10)
    • 2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập (10)
      • 2.1.1. Vị trí địa lý (10)
      • 2.1.2. Đặc điểm khí hậu (10)
      • 2.1.3. Cơ cấu tổ chức của trại (11)
      • 2.1.4. Cơ sở vật chất của trại (11)
      • 2.1.5. Thuận lợi và khó khăn của trại (13)
    • 2.2. Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề (13)
      • 2.2.1. Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con (13)
      • 2.2.2. Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi (25)
      • 2.2.3. Những hiểu biết về một số bệnh thường mắc tại cơ sở (29)
      • 2.2.4. Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài (38)
    • 2.3. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước (41)
      • 2.3.1. Một số nghiên cứu trong nước (41)
      • 2.3.2. Một số nghiên cứu ở nước ngoài (42)
  • Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH (44)
    • 3.1. Đối tượng (44)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành (44)
    • 3.3. Nội dung thực hiện (44)
    • 3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện (44)
      • 3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi (44)
      • 3.4.2. Phương pháp thực hiện (44)
  • Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN (46)
    • 4.1. Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Bùi Huy Hạnh qua 3 năm 2017- (46)
    • 4.2. Tình hình sinh sản của lợn nái (47)
      • 4.2.1. Thời gian chửa trung bình của đàn lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng (47)
      • 4.2.2. Tình hình lợn nái trực tiếp đỡ đẻ (48)
    • 4.2. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái (50)
      • 4.2.1. Tình hình một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái trực tiếp chăm sóc và kết quả điều trị (51)
      • 4.2.2. Tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn con theo mẹ và kết quả điều trị (54)
  • Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (56)
    • 5.1. Kết luận (56)
    • 5.2. Đề nghị (56)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (58)

Nội dung

Mục đích của Khoá luận nhằm biết được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, chế độ ăn và cách cho ăn cho lợn nái qua từng giai đoạn mang thai. Chuẩn đoán và đưa ra được biện pháp phòng và trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản. Mời các bạn cùng tham khảo!

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Điều kiện cơ sở nơi thực tập

Trang trại chăn nuôi của ông Bùi Huy Hạnh là một đơn vị gia công thuộc công ty cổ phần chăn nuôi CP (Charoen Pokphand Việt Nam) Được thành lập vào năm 2007, trang trại chuyên sản xuất lợn giống theo hướng chăn nuôi công nghiệp, tọa lạc tại xã Tái Sơn, huyện Tứ.

Tứ Kỳ là huyện thuộc tỉnh Hải Dương, nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, hoàn toàn nằm trong vùng hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình Huyện này giáp huyện Thanh Hà ở phía Đông Bắc (ranh giới là sông Thái Bình), thành phố Hải Dương ở phía Tây Bắc, huyện Gia Lộc ở phía Tây, và huyện Ninh Giang ở phía Tây Nam, tất cả đều thuộc tỉnh Hải Dương Phía Đông Nam, Tứ Kỳ giáp huyện Vĩnh Bảo (ranh giới là sông Luộc) và phía Đông giáp huyện Tiên Lãng (ranh giới là một đoạn sông Thái Bình), thuộc thành phố Hải Phòng.

Về điều kiện tự nhiên và các yếu tố khí hậu của xã Tái Sơn có thể khái quát như sau:

Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2.157 mm, thấp nhất là 1.060 mm, trung bình là 1.567 mm, lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 7 trong năm

Huyện Tứ Kỳ có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm Độ ẩm không khí trung bình hàng năm đạt 82%, trong đó độ ẩm cao nhất là 88% và thấp nhất là 67%.

Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 21°C đến 23°C, với mùa nóng chủ yếu diễn ra từ tháng 6 đến tháng 7 Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa được gây ra bởi ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam.

Về chế độ gió: Gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 12

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại

Trại gồm có 20 người trong đó có:

+ 2 kỹ sư chính của công ty

+ 2 tổ trưởng (1chuồng lợn chửa, 1chuồng lợn đẻ)

2.1.4 Cơ sở vật chất của trại

Trang trại Bùi Huy Hạnh được Công ty CP lựa chọn làm địa điểm đào tạo cho các kỹ sư mới tuyển dụng, với cơ sở vật chất được đầu tư đầy đủ và đúng quy trình Tại đây, trang trại có hai dãy nhà dành riêng cho chỗ ở và phòng học tập, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên trong quá trình thực tập.

- Về cơ sở vật chất:

Trại có tổng diện tích là 3ha

Trang trại được trang bị đầy đủ thiết bị và máy móc hiện đại, phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của công nhân và sinh viên, bao gồm máy giặt, hệ thống tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh và quạt.

Trại còn đầu tư mua bàn chơi bi a, sân cầu lông để công nhân giải trí sau giờ làm việc

Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư theo đúng yêu cầu của công ty CP

Trại lợn được xây dựng trên diện tích khoảng 1 ha, bao gồm nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các công trình phục vụ nhu cầu sinh hoạt của công nhân cũng như các hoạt động khác của trại.

Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng lợn chửa) và giường nằm (đối với chuồng lợn đẻ) được lắp đặt theo dãy

Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, núm uống nước cho lợn tự động

Có hệ thống bóng điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông

Trại được trang bị một máy phát điện công suất lớn, đảm bảo cung cấp điện cho cả khu sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi trong những trường hợp mất điện.

- Về cơ sở hạ tầng:

Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: Khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân, sinh viên và khu chuồng nuôi

Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh

Khu nhà ăn cũng được tách biệt có nhà ăn ca (buổi trưa) và nhà ăn chung (buổi tối)

Khu nhà bếp rộng rãi và sạch sẽ

Trại có một nhà kho để lưu trữ thức ăn cho lợn và một kho thuốc nhằm bảo quản các loại thuốc, vắc xin, cùng với dụng cụ kỹ thuật phục vụ cho việc chăm sóc và điều trị đàn lợn.

Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một vị trí cao, thuận lợi cho việc thoát nước và tách biệt với khu sinh hoạt của công nhân Trại gồm 6 chuồng lợn đẻ, 2 chuồng lợn chửa, và chuồng lợn đực nằm trong chuồng lợn chửa 1, cùng với 3 chuồng cách ly, trong đó có một chuồng cách ly dành cho lợn con Đặc biệt, có 3 dãy chuồng lợn đẻ, mỗi dãy được chia thành 2 chuồng nhỏ với tổng cộng 56 ô chuồng.

Chuồng lợn bầu được thiết kế với 2 chuồng sử dụng kiểu chuồng cũi sắt, đảm bảo không gian thoải mái cho vật nuôi Mỗi chuồng đều được trang bị hệ thống điện chiếu sáng và vòi uống nước tự động, giúp duy trì điều kiện sống tốt nhất cho lợn Vào mùa hè, chuồng được trang bị hệ thống làm mát bao gồm quạt thông gió và dàn mát, tạo môi trường mát mẻ cho lợn phát triển.

2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại

Trại được xây dựng ở vị trí xa khu dân cư, giúp không ảnh hưởng đến người xung quanh và đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn dịch bệnh Đội ngũ quản lý và công nhân tại trại có năng lực, nhiệt tình và trách nhiệm trong công việc.

Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn

Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng, chữa bệnh cao

Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao gây ảnh hưởng tới chăn nuôi của trang trại

Cơ sở vật chất xuống cấp gây ảnh hưởng tới chăn nuôi.

Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề

2.2.1 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con

2.2.1.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ

Chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo an toàn cho quá trình sinh sản, nâng cao tỷ lệ sống cho lợn con, đồng thời duy trì sức khỏe tốt cho lợn mẹ, giúp lợn mẹ có khả năng tiết sữa đầy đủ để nuôi dưỡng con.

Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của lợn mẹ và lợn con

Theo Trần Văn Phùng và cộng sự (2004), thức ăn cho lợn nái đẻ cần có giá trị dinh dưỡng cao và dễ tiêu hóa, tránh cho lợn ăn thức ăn có hệ số choán cao để không gây chèn ép thai, dẫn đến đẻ non hoặc chết ngạt Một tuần trước khi đẻ, cần giảm dần lượng thức ăn dựa trên tình trạng sức khỏe của lợn nái, với lợn khỏe mạnh giảm 1/3 lượng thức ăn và lợn yếu không giảm lượng mà chỉ giảm dung tích bằng cách tăng cường thức ăn dễ tiêu Vào ngày lợn cắn ổ, nên cho ăn ít thức ăn tinh hoặc không cho, chỉ cho uống nước tự do; trong ngày đẻ, có thể không cho ăn mà chỉ cho uống nước ấm pha muối hoặc cháo loãng Sau khi đẻ, cần tăng lượng thức ăn từ từ đến ngày thứ 4-5, đảm bảo thức ăn được chế biến tốt, có mùi vị hấp dẫn để kích thích sự thèm ăn của lợn nái.

Chăm sóc lợn nái mẹ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo nghiên cứu của Trần Văn Phùng và cộng sự (2004), việc theo dõi sức khỏe lợn mẹ là cần thiết, đặc biệt là trong 3 ngày đầu sau khi đẻ, để phát hiện sớm các bất thường như tình trạng bầu vú và thân nhiệt Điều này giúp có biện pháp xử lý kịp thời, đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh cho lợn con.

15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô

Chuồng cho lợn con và lợn mẹ cần đảm bảo khô ráo, ấm áp, sạch sẽ và có đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh và tiêu độc, nên để chuồng trống từ 3 đến 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Việc chuẩn bị chuồng kỹ lưỡng sẽ giúp bảo vệ sức khỏe cho lợn mẹ và lợn con.

Mỗi tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ bằng cách lau rửa đất hoặc phân bám trên cơ thể, sử dụng khăn thấm nước xà phòng để làm sạch bầu vú và âm hộ Việc này giúp giảm nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh xong, nhẹ nhàng chuyển lợn nái từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với môi trường mới.

2.2.1.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004), thức ăn cho lợn nái nuôi con cần có ảnh hưởng tích cực đến sản lượng và chất lượng sữa Các loại thức ăn xanh như rau xanh, bí đỏ, cà rốt và đu đủ là rất quan trọng Ngoài ra, thức ăn tinh như gạo tấm, cám gạo, bột mì, cùng với các nguồn đạm động và thực vật, khoáng chất và vitamin cũng cần được bổ sung Cần tránh cho lợn nái ăn thức ăn thối, mốc hay hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo tiêu chuẩn quy định, cụ thể là năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, canxi từ 0,9 - 1,0% và phospho 0,7%.

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ Do đó, cần xây dựng khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Theo Trần Văn Phùng và cộng sự (2004), trong quá trình nuôi con, lợn nái cần được cho ăn theo một chế độ cụ thể.

- Đối với lợn nái ngoại:

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ 1 - 2 – 3kg tương ứng

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức: Lượng thức ăn/nái/ngày = 2kg + (số con x 0,35kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi

+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004), tắm nắng là điều kiện tốt giúp lợn nái phục hồi sức khỏe nhanh chóng và nâng cao sản lượng sữa Sau khi lợn đẻ từ 3 - 7 ngày, nếu có sân vận động và thời tiết thuận lợi, nên cho lợn nái vận động khoảng 30 phút mỗi ngày, sau đó tăng dần thời gian Trong chăn nuôi công nghiệp, lợn nái thường bị nhốt trong cũi đẻ và không được vận động, vì vậy cần chú ý đến thành phần dinh dưỡng, đặc biệt là khoáng chất và vitamin trong thức ăn.

Chuồng trại của lợn nái nuôi con cần phải luôn khô ráo và sạch sẽ, không được ẩm ướt Do đó, việc vệ sinh hàng ngày là rất quan trọng để đảm bảo môi trường sống tốt cho lợn nái và con của chúng.

10 chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004)

[16] chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 28 – 30 o C, độ ẩm 70 - 75%

2.2.1.3 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng

* Quy trình chăm sóc nái chửa

Lợn nái chửa cần được nuôi trong chuồng riêng biệt và được kiểm tra hàng ngày để phát hiện các vấn đề như lợn phối không đạt, sảy thai hoặc mang thai giả Việc vệ sinh chuồng trại là rất quan trọng, bao gồm dọn phân, đảm bảo lợn không nằm trên phân, rửa máng ăn và phun thuốc sát trùng hàng ngày Cuối ngày, cần vận chuyển phân ra khu xử lý Để đảm bảo sức khỏe, lợn nái chửa nên được cho ăn loại thức ăn chuyên biệt như 566F cho lợn hậu bị và 567SF cho lợn nái.

CP ) với chế độ ăn phân theo tuần chửa, thể trạng, lứa đẻ

Trại hiện nay sử dụng 3 loại cám:

 Cám hỗn hợp 566F sử dụng cho nái chửa kỳ 1

 Cám hỗn hợp 567SF được sử dụng cho lợn đực giống, lợn hậu bị, nái chửa kỳ 2, nái nuôi con và nái chờ phối

 Cám 550P dạng viên và 550PF dạng bột sử dụng cho lợn con theo mẹ, lợn tập ăn và lợn cai sữa

Bảng 2.1.Thành phần và giá trị dinh dưỡng của 3 loại thức ăn hỗn hợp

STT Thành phần dinh dưỡng

Loại thức ăn Lợn con tập ăn (550P)

Lợn nái nuôi con (567SF)

8 Methyonin + Cystine tổng số (min) (%) 0,7 0,5 0,4

Bảng trên cho thấy rằng thành phần dinh dưỡng của ba loại cám được thiết kế phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của từng loại lợn ở các giai đoạn phát triển khác nhau, giúp lợn sinh trưởng và phát triển tốt, từ đó mang lại sản phẩm với năng suất cao.

Bảng2.2 Khẩu phần ăn của nái mang thai Thời kỳ chửa

Lượng thức ăn/con/ngày(kg) Quy trình cho ăn

(bữa/ngày) Gầy Bình thường Béo

Tuần 17 (lên chuồng đẻ) 3 2,8 2,5 2 bữa

Trước ngày đẻ dự kiến

Từ tuần 1 đến tuần 4, cần cho nái ăn thức ăn hỗn hợp 566F với lượng từ 2,0 đến 2,5 kg cám/ngày, tùy thuộc vào thể trọng của từng con Đối với nái gầy, nên cho ăn 2,5 kg cám/ngày, trong khi nái béo chỉ cần 2 đến 2,2 kg cám/ngày.

 Từ tuần phối thứ5 đến tuần phối thức 11: cho ăn thức ăn hỗn hợp 566S với mức ăn 2,5 – 3kg cám/ ngày đêm

Từ tuần phối 12-16, nên cho nái ăn thức ăn hợp 567SF với lượng 2,5 – 3kg cám/ngày đêm Giai đoạn này giúp nái làm quen với cám mới trước khi chuyển sang chuồng đẻ.

Từ tuần thứ 17, nái sẽ được chuyển sang chuồng đẻ để giúp chúng thích nghi với môi trường mới Trong chuồng đẻ, nái được cho ăn 3 lần mỗi ngày với thức ăn hỗn hợp 567SF, mức ăn dao động từ 2,5 đến 3 kg cám mỗi ngày đêm.

Trước đẻ 3 ngày cho ăn 2-2,5kg TĂ/con

Trước đẻ 2 ngày cho ăn 1,5-2kg TĂ/con

Trước đẻ cho ăn 1,5kg TĂ/con

Ngày đẻ cho ăn 1,5kg TĂ/con

Bảng 2.3 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ

Trước khi đẻ Dấu hiệu

0 - 10 ngày Bầu vú căng lên và cứng, âm hộ sung huyết

2 ngày Bầu vú cương cứng hơn và tiết ra chất lỏng trong

12 - 14 giờ Nái bồn chồn, tuyến vú bắt đầu tiết sữa

6 giờ Sữa tiết ra nhiều hơn qua 2 lỗ tia sữa

2 - 4 giờ Các vú đều có sữa non vọt thành tia dài

30 phút - 2 giờ Tăng nhịp thở

15 - 30 phút Âm hộ tiết ra dịch nhờn màu hồng có lẫn phân su

15 giây - 5 phút Nái nằm nghiêng 1 bên, hơi thở đứt quãng, ép bụng, ép đùi, quẩy đuôi rặn đẻ

* Quy trình chăm sóc nái đẻ (nái nuôi con)

Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng nái đẻ trước ngày đẻ dự kiến từ

Trước khi chuyển lợn lên chuồng nái đẻ, cần dọn dẹp, rửa sạch và sát trùng chuồng trong khoảng 7 - 10 ngày Thông tin đầy đủ về lợn phải được ghi trên bảng ở đầu mỗi ô chuồng Lợn chờ đẻ cần được cho ăn với tiêu chuẩn 3 kg/ngày, chia thành 2 bữa vào buổi sáng và chiều.

Bảng 2.4 Chế độ ăn của lợn nái nuôi con

Ngày đẻ Lượng thức ăn (kg/ngày)

Ngày thứ 6 đến cai nữa 6,5

Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Một số nghiên cứu trong nước

Lê Văn Năm và cs (1999) cho rằng có nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh ở phụ nữ, bao gồm chế độ dinh dưỡng kém, can thiệp đỡ đẻ không đúng kỹ thuật, và chăm sóc nuôi dưỡng không hợp lý Những yếu tố này có thể dẫn đến sự phá hủy hoặc kết tủa chất nhầy ở cơ quan sinh dục, làm chậm quá trình teo sinh lý của dạ con, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào tử cung Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn có thể xảy ra trong thời gian động đực khi cổ tử cung mở, cũng như do thụ tinh nhân tạo không đúng cách hoặc do dụng cụ dẫn tinh gây tổn thương niêm mạc tử cung.

Theo nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng và cộng sự (2002), tinh dịch nhiễm khuẩn và dụng cụ dẫn tinh không vô trùng đã làm lây nhiễm vi khuẩn vào bộ phận sinh dục của lợn nái Khi lợn đực giao phối với lợn nái, nếu niệu quản và dương vật của lợn đực bị viêm, vi khuẩn sẽ được truyền sang cơ quan sinh dục của lợn nái.

Lê Xuân Cường (1986) cho rằng lợn nái chậm sinh sản do nhiều nguyên nhân, trong đó tổn thương bệnh lý đường sinh dục chiếm tỷ lệ đáng kể Tương tự, Lê Minh Chí và cộng sự (1985) nhận định rằng khi lợn nái gặp khó khăn trong quá trình đẻ, cần áp dụng các thủ thuật ngoại khoa, nhưng điều này có thể dẫn đến tổn thương niêm mạc đường sinh dục và gây viêm.

Nguyễn Hữu Ninh và cộng sự (1986) đã nghiên cứu và đề xuất phương pháp điều trị viêm tử cung do liên cầu khuẩn ở lợn nái Theo tác giả, việc kết hợp kháng sinh với hormone thùy sau tuyến yên có thể mang lại hiệu quả điều trị tốt.

+ Sử dụng một trong hai phác đồ sau để chống nhiễm trùng:

Penicillin 3-5 triệu UI + Streptomycin 3 - 5g/ngày, liệu trình 3 ngày

Spiramycin 3-5 g + Streptomycin 3-5 g/ngày, liệu trình 3 ngày

Tiêm dung dịch glucoza và canxi nhằm tăng sức đề kháng cho vật nuôi

Sử dụng oxytocin với liều 15-20 triệu UI qua tiêm bắp hoặc tĩnh mạch có tác dụng kích thích tiết sữa và co bóp tử cung Theo nghiên cứu của Đoàn Kim Dung và cộng sự (2002), vi khuẩn là nguyên nhân chính gây viêm vú, vì vậy biện pháp điều trị hiệu quả nhất là kết hợp kháng sinh với vitamin và thuốc trợ sức Một số loại kháng sinh có thể được sử dụng trong quá trình điều trị viêm vú.

+ Penicillin hoặc ampicillin: 10.000-20.000 đơn vị/kg TT, tiêm bắp trong ngày

+ Streptomycin hoặc kanamycin: 10-20 mg/kg TT tiêm bắp/ngày + Sulfamethazone hoặc sulfamenazin: 40 mg/kg TT chia làm 2 lần, tiêm bắp/ngày

+ Vitamin B.complex: 4 ml/con/ngày

2.3.2 Một số nghiên cứu ở nước ngoài

Popkov (1999) [23] đã sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái viêm tử cung đạt kết quả điều trị khỏi cao

Dung dịch MgSO4 1% 40 ml + VTM C

Khi lợn bị viêm âm đạo, âm hộ, dùng rửa không sâu (qua ống thông) trong âm đạo bằng dung dịch nước etacridin 1/1.000 và 1/5.000, furazolidon 1/1.000

Theo Smith và cộng sự (1995) đã nghiên cứu và áp dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái để điều trị viêm tử cung Kết quả cho thấy phương pháp này đạt hiệu quả cao với liều lượng sử dụng là Streptomycin 0,25g và penicillin 500.000.

UI, dung dịch KMnO4 1% 40 ml + VTM C

Nghiên cứu của Trekaxova (1983) về điều trị viêm vú ở lợn nái đã chỉ ra rằng phương pháp kết hợp giữa phong bế novocain và điều trị bằng kháng sinh mang lại hiệu quả cao Cụ thể, tác giả sử dụng dung dịch novocain 0,5% với liều lượng 30 - 40 ml cho mỗi túi vú, tiêm sâu từ 8,8 - 10 cm vào từng thùy vú bị bệnh Ngoài ra, dung dịch novocain còn được pha trộn với 100 - 200 ngàn đơn vị penicillin hoặc kháng sinh khác Đồng thời, lợn nái cũng được tiêm bắp cùng loại kháng sinh trong dung dịch novocain với liều 400 - 600 đơn vị, thực hiện 2 - 3 lần mỗi ngày.

Theo nghiên cứu của Andrew Gresham (2003), bệnh sinh sản ở lợn tại Vương Quốc Anh thường không liên quan đến nhiễm trùng, mà chủ yếu do yếu tố quản lý dinh dưỡng và môi trường Tuy nhiên, bệnh sinh sản kéo dài có thể gây thiệt hại nghiêm trọng Các bệnh truyền nhiễm gây viêm tử cung ở lợn thường do vi khuẩn, virus, thỉnh thoảng là nấm và động vật nguyên sinh Ngoài ra, một số bệnh sinh sản cũng có thể do nhiễm các mầm bệnh như hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS).

Parvovirus và Leptospirosis (đặc biệt là Leptospira interrogans serovar Bratislava)

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

Ngày đăng: 10/07/2021, 09:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Trúc Anh (2010), Giáo trình Dược lý thú y, Trường Trung cấp Nông Lâm Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dược lý thú y
Tác giả: Nguyễn Trúc Anh
Năm: 2010
2. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thịt, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 29 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
3. Trần Minh Châu (1996), Một trăm câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một trăm câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm
Tác giả: Trần Minh Châu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
4. Lê Xuân Cường (1986),Năng suất sinh sản của lợn nái, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái
Tác giả: Lê Xuân Cường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1986
5. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nông nghiệp Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2004
6. Lê Minh Chí, Nguyễn Như Pho (1985), "Hội chứng MMA ở heo nái sinh sản", Kết quả nghiên cứu khoa học 1981 - 1985, Trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh, tr. 48 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng MMA ở heo nái sinh sản
Tác giả: Lê Minh Chí, Nguyễn Như Pho
Năm: 1985
7. Phạm Tiến Dân (1998), Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm vú đàn lợn nái nuôi tại Hưng Yên, Luận vãn Thạc sĩ chăn nuôi, Ðại học Nông Nghiệp I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm vú đàn lợn nái nuôi tại Hưng Yên
Tác giả: Phạm Tiến Dân
Năm: 1998
8. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Sinhsản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinhsản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
9. Đoàn Kim Dung, Lê Thị Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái để sảnxuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái để sảnxuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Kim Dung, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
10. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012), Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y, Nhà xuất bản Đại học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Nông nghiệp
Năm: 2012
11. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, tập II, Nxb Nông nghiệp, trang 44 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
12. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Công ty cổ phần dược và vật tư thú y Hanvet, tr. 157 - 172 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Năm: 2004
13. Lê Hồng Mận (2002), Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
14. Lê Văn Năm (1999), Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
15. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (1986), Thuốc thú y tập II, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc thú y tập II
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1986
16. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
17. Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm (1993), “Nghiên cứu chế tạo vacxin E. coli uống phòng bệnh phân trắng lợn con”, Tạp chí Nông nghiệp Thực phẩm, số 9, tr. 324 - 325 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế tạo vacxin "E. coli" uống phòng bệnh phân trắng lợn con”, "Tạp chí Nông nghiệp Thực phẩm
Tác giả: Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm
Năm: 1993
18. Trekaxova A.V, Daninko L.M, Ponomareva M.I, Gladon N.P (1983), Bệnh của lợn đực và lợn nái sinh sản (người dịch Nguyễn Đình Chi), Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh của lợn đực và lợn nái sinh sản (người dịch Nguyễn Đình Chi
Tác giả: Trekaxova A.V, Daninko L.M, Ponomareva M.I, Gladon N.P
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1983
19. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006), Giáo trình sinh lý học vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học vật nuôi
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
20. Ngô Nhật Thắng (2006), Hướng dẫn chăn nuôi và phòng trị bệnh cho lợn, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chăn nuôi và phòng trị bệnh cho lợn
Tác giả: Ngô Nhật Thắng
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm