( Như chúng ta đã biết: Dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN): Mọi HĐ học tập của HS là tự HS phải làm việc theo nhóm lớn hoặc nhóm đôi hoặc HĐcá nhân để chiếm lĩnh các kiến thức [r]
Trang 1MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN TRONG VIỆC DẠY- HỌC TNXH 3 THEO CHƯƠNG TRÌNH MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN)
I ĐẶT VẤN ĐỀ:
Tự nhiên xã hội là một môn học mà nội dung kiến thức trong toàn bộ chương trình
được phát triển theo nguyên tắc từ gần đến xa dẫn dắt HS mở rộng vốn hiểu biết từ bản thân đến gia đình, trường học; từ cuộc sống xung quanh đến thiên nhiên rộng lớn; từ những cây cối con vật thường gặp đến Mặt Trời, Trái Đất và Mặt Trăng
Nội dung chương trình được lựa chọn rất thiết thực, gần gũi với HS, giúp các em
dễ dàng thích ứng với cuộc sống xung quanh
Nội dung kiến thức trong mỗi chủ đề đều được tích hợp nội dung giáo dục sức khỏe một cách nhuần nhuyễn; đi từ sức khỏe cá nhân trong chủ đề Con người và sức khỏe đến sức khỏe cộng đồng trong chủ đề Xã hội và sức khỏe môi trường trong chủ đề
Tự nhiên
- Sách không chỉ nêu lên các kiến thức có sẵn mà trở thành tài liệu định hướng và hỗ trợ cho việc tự học , tự phát hiện, tự chiếm lĩnh tri thức mới và thực hành theo năng lực của người học
Những hình ảnh trong sách giáo khoa đóng vai trò kép, vừa làm nhiệm vụ cung cấp thông tin, vừa làm nhiệm vụ cung cấp hoạt động học tập trong đó bao gồm cả những kí hiệu chỉ dẫn các HĐ học tập cho HS và cách tổ chức dạy học cho GV qua các lôgo Lôgo 1 em bé ý chỉ HĐ cá nhân; Lôgo 2 em bé ý chỉ HĐ nhóm đôi; Lôgo
3 em bé ý chỉ HĐ nhóm lớn; Lôgo cô giáo và các em nhỏ ý chỉ HĐ chung cả lớp; Lôgo 1người lớn và 1em bé ý chỉ HĐ với cộng đồng
- Để chuyển tải được nội dung của từng tiết, từng bài học đến với mỗi học sinh cũng là việc giúp học sinh tiếp cận tốt những nội dung môn TNXH dẫn dắt HS mở rộng vốn hiểu biết từ bản thân đến gia đình, trường học; từ cuộc sống xung quanh đến thiên nhiên rộng lớn Tạo cơ hội cho tất cả cả các đối tượng học sinh (G , K, TB,Y ) trong lớp đều tích cực tham gia vào việc xây dựng bài
- Với quan điểm “ Lấy học sinh làm trung tâm ”, “ Trò chủ động -Thầy chủ đạo”; Đặc biệt là dạy theo chương trình mô hình trường học mới đã đáp ứng được quan điểm trên
Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy theo mô hình trường học mới ở tiết TNXH lớp
3 nói riêng; dạy TNXH lớp 2,3 nói chung còn gặp nhiều vấn đề khó khăn Chính vì vậy mà nhà trường cũng đã đặt ra vấn đề cần xây dựng một chuyên đề về dạy TNXH
2, 3; Và bản thân tôi và tổ 3 được phân công xây dựng chuyên đề và minh họa cho chuyên đề là một tiết dạy TNXH 3 trong thời gian này Tôi cùng tập thể tổ 3 đã bàn
bạc và chọn đề tài: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN TRONG VIỆC DẠY HỌC TNXH 3 THEO CHƯƠNG TRÌNH MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
A Thực trang:
1`Đối với GV:
a Thuận lợi :
- Có đầy đủ SGK
- Trong sách đã thể hiện rõ:
+ Các hình thức dạy học qua các lôgo cụ thể
Trang 2+ Kênh hình và kênh chữ đẹp và rõ ràng.
+ Mỗi bài học được xác đinh mục tiêu cụ thể
- Thời gian dạy không nhất thiết phải đúng như qui định mà GV có thể linh động tùy theo tình hình lớp và bài học
- Giáo viên được học tập chuyên sâu dạy theo mô hình VNEN, được tham gia dự các chuyên đề VNEN của cụm trường
b Khó khăn:
- GV mới làm quen với mô hình dạy học mới nên bước đầu cũng còn nhiều lúng
túng
- GV dạy TNXH đang băn khoăn trăn trở khi áp dụng dạy học theo phương pháp VNEN
( Như chúng ta đã biết: Dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN): Mọi HĐ học tập của HS là tự HS phải làm việc theo nhóm lớn hoặc nhóm đôi hoặc HĐcá nhân để chiếm lĩnh các kiến thức trong mỗi tiết học GV chỉ đến từng nhóm để HD cho các em khi các em cần “ cứu trợ ”và theo dõi hướng dẫn cho từng cá nhân Nếu chỉ dạy như vậy bản thân GV sẽ không thể biết được hết các HS trong lớp đã lĩnh hội được kiến thức như thế nào và cũng không biết hết các em có xác định đúng kiến thức hay không Đây chính là điều GV băn khoăn nhất khi dạy theo mô hình
VNEN Mỗi người luôn tự đặt ra câu hỏi: Như vậy ta có nên dạy y như tinh thần của
bộ ban hành hay nên thay đổi Đây cũng là vấn đề gây tranh cãi giữa các trường cùng dạy VNEN trong huyện )
- Hiện tại chưa có sách hướng dẫn nên giáo viên cũng khó khăn trong vieerc xác định một số hình ảnh, hoặc một số đáp án đúng
VD: bài “lá cây có đặc điểm gì?”
ở bài tập 1: Chúng em tìm hiểu về lá cây
quan sát các lá cây trong hình 1, giáo viên khó xác định đó là lá gì đối với lá thứ 3 trong hình 1 trang 20
- Do đặc thù dạy theo mô hình trường học mới “dạy theo nhóm”, khi phân chia nhóm GV phải chia đều các đối tượng HS chậm tiếp thu chậm nhớ vào đều các
nhóm Vì thế trong một tiết dạy GV phải đi lại thường xuyên và giảng giải nhiều cho từng cá nhân HS nên rất vất vả trong cả buổi dạy.
- Số HS có đủ năng lực để làm nhóm trưởng, làm nhóm phó trong HĐTQ của 1 lớp học thường không có nhiều
2 Đối với HS
a Thuận lợi :
- HS có đủ SGK, hình ảnh trong sách rất đẹp, hấp dẫn, HS thích học hỏi, tìm tòi, thích tìm hiểu về thế giới tự nhiên, xã hội, thế giới con người xung quanh, các em thường đặt ra các câu hỏi : tại sao lại thế? Đó là ai? như thế nào? Vì sao? Từ những ham muốn, thích thú học TNXH các em say mê, tìm tòi để trả lời cho được các câu hỏi đó
- HS có sách đầy đủ Trong sách hướng dẫn cụ thể dễ hiểu Ở nhà bố mẹ có thể nhìn sách HD thêm cho các em được
b Khó khăn:
- HS mới làm quen với hình thức học tập theo mô hình VNEN, nên còn lúng túng
Trang 3- Đối với HS được phân công làm nhóm trưởng nhiều em năng lực còn hạn chế nên nhiều lúc không biết bạn mình làm như vậy, trả lời như vậy là đúng hay sai
- Trong mỗi nhóm vẫn còn một vài em nhút nhát, thụ động mỗi lớp vẫn còn vài em lười học
- Vẫn còn nhiều phụ huynh chưa quan tâm thường xuyên đến việc học của con em mình, vì thế nhiều em đến lớp vẫn chưa hoàn thành hoạt động ứng dụng
B Một số giải pháp để khắc phục
Từ những khó khăn phát sinh trong quá trình dạy môn TNXH lớp 3, tổ chúng tôi
đã bàn bạc và nêu ra một số giải pháp khắc phục như sau:
1 Đối với GV:
* Bản thân GV phải tăng cường học hỏi kinh nghiệm ở đồng nghiệp Khi xem bài chuẩn bị dạy, thấy có những KT hoặc tranh ảnh nào chưa chắc chắn đúng cần trao đổi ngay với đồng nghiệp, gặp điều gì còn lúng túng thì mạnh dạn trao đổi với tổ chuyên môn
VD: bài “lá cây có đặc điểm gì?”
ở bài tập 1: Chúng em tìm hiểu về lá cây
Khi quan sát các lá cây, với lá thứ 3 trong hình 1/ 20, giáo viên khó xác định đó là lá
gì, thì trao đổi ngay với đồng nghiệp hoặc TTCM
* Khi dạy học GV phải biết vân dụng các hình thức dạy học một cách linh hoạt
* Sau mỗi lần HĐ nhóm lớn, GV cho HS hoạt động tập thể, trình bày trên bảng để cả lớp nghe, nhận xét và rút ra kiến thức đúng để khắc sâu kiến thức
VD: Một số động vật sống trên can T1
+ Câu 1/44 và 45: Quan sát và trả lời
- Mục tiêu: Giúp HS quan sát, chỉ trên hình và nêu được 3 bộ phân chính của con chim
- Như vậy sau khi tổ chức cho các em thảo luận theo nhóm VNEN GV mời đại diện HS lên bảng trình bày: Chỉ trên hình, nêu 3 bộ phận chính của con chim Sau đó GV mời lớp nhận xét, nêu lại ý đúng đó và GV kết luận đó chính là những đặc điểm cơ bản của loài chim
+ Câu 2 và câu 3 cũng thực hiện tương tự
Tuy nhiên ở câu hỏi số 3 có một ý hỏi “ Đặc điểm bên ngoài của chim và thú có
gì giống nhau?” Đây là dạng câu hỏi nâng cao nhằm mục đích phát huy trí lực và tư duy sáng tạo của HS GV nên tạo không khí thoải mái cho HS học, bằng cách có thể : GV đố HS
VD: Đố em biết bên ngoài của chim và thú có gì giống nhau ?
+ HS : nhiều em trả lời mỗi em một ý
- Em thấy chim và thú giống nhau đều là động vật sống trên cạn
- Em thấy cơ thể chim và thú đều có ba bộ phận chính……
- Em thấy bên ngoài cơ thể chim và thú đều có lông bao phủ
- Em còn biết chim và thú đều có xương sống
+ GV: Vậy đố em biết chim và thú có những đặc điểm gì khác nhau ?
+ Cho HS nêu trước: (nêu được hay không cũng tốt, sau đó GV đưa hình ảnh ra để
HS so sánh nêu những điểm khác nhau.)
- Chim có lông vũ, thú có lông mao bao phủ trên cơ thể
- Chim đẻ trứng, ấp trứng để nở thành con; Thú đẻ con và cho con bú
Trang 4- Cơ quan di chuyển của chim là hai chân và cánh còn cơ quan di chuyển của thú là chân ( Kiến thức này có thể đặt câu hỏi: chim và thú di chuyển từ nơi này đến nơi khác bằng cách nào ? Từ đó cho HS hiểu cụm từ “cơ quan di chuyển”…)
* Bên cạnh đó GV nhắc nhỏ HĐTQ tăng cường kiểm tra việc làm bài ứng dụng ở nhà vào đầu tiết học
* GV thường xuyên điện thoại liên lạc với phụ huynh để trao đổi kịp thời tình hình học tập của các em GV dạy TNXH cần liên hệ ngay với cô giáo chủ nhiệm lớp khi
có vấn đề có liên quan đến việc học tập của các em
* GV thường xuyên bồi dưỡng năng lực quản lý cho các em trong HĐTQ bằng cách: dặn dò các em về nhà xem trước các bài tập của tiết học hôm sau Nếu không hiểu có thể hỏi bố mẹ hoặc trước khi học trực tiếp hỏi GV, GV hướng dẫn trước cho các em hiểu Khi các em hiểu các em mới điều hành nhóm tốt và tự tin hơn
* GV mời HS thay phiên nhau lên trình bày trước lớp, không chỉ gọi vài HS giỏi để nhiều em có cơ hội trình bày, GV khen ngợi động viên để nhiều em mạnh dạn tự tin yêu thích và hứng thú học tập
2 Đối với HS:
- Trong các hoạt động học tập đặc biệt là HĐ thảo luận theo nhóm lớn, nhóm “đôi bạn cùng học”, mạnh dạn thay đổi dần dần nhóm trưởng
- Những HS đã hoàn thành công việc rồi có thể cùng cô giúp những bạn chưa hoàn thành trong nhóm học tập
- Xây dựng nề nếp sử dụng phiếu đánh giá nhóm theo kiểu đánh dấu A+, A xác nhận các bạn trong nhóm hoàn thành tốt, hoàn thành; cũng là động lực cho các em trong nhóm thi đua với nhau cùng cố gắng hoàn các câu hỏi trong bài
- Thường xuyên tăng cường bồi dưỡng năng lực quản lý cho các em nhóm trưởng
III KẾT QUẢ :
Sau một thời gian áp dụng những giải pháp trên, các tiết dạy TNXH lớp 3 đã đạt được một số kết quả như sau:
+ Dạy xong một tiết dạy GV đã biết được tình hình HS hiểu bài đến đâu, biết được những đối tượng nào hiểu chưa kĩ hoặc hiểu sai lệch kiến thức cơ bản và kịp thời sửa chữa cho các em
+ Nhiều HS đã mạnh dạn tự tin hơn
+ Không khí học tập sôi nổi hơn, các em thi đua thảo luận để được ghi nhận xét theo mức độ vào Phiếu đánh giá của nhóm
+ Đánh giá khá chính xác lực học của các em
+ Những em học chậm học yếu hơn những em khác dần dần cũng đã mạnh dạn bày
tỏ ý kiến mạnh dạn hỏi bài khi không hiểu bài
TỒN TẠI:
Trong thực tế vẫn còn một số vấn đề tồn tại như sau:
1 Đối với GV
+ Một số GV dạy TNXH, áp dụng dạy phương pháp VNEN quá máy móc rập khuôn không dám linh hoạt vận dụng hài hòa giữa PP VNEN và PP truyền thống
để dạy Chúng ta đang thử nghiệm cần phải thử nhiều hình thức dạy để chọn ra hình thức dạy đạt kết quả cao nhất nên GV dạy TNXH cần phải lưu ý điều này
Trang 5+ Một số GV dạy TNXH không đủ hiểu biết về kiến thức xã hội nên không xử lí được các tình huống xảy ra liên quan đến kiến thức xã hội trong tiết dạy
+ Một số GV tuy dạy lâu năm nhưng còn mất bình tĩnh trong tiết dạy
+ Một số GV ít quan tâm đến việc tự học tự rèn; sử dụng CNTT chưa tốt dẫn đến
sự cố về điện tử khi dạy
2 Đối với HS
+ Không cho mang sách về nhà thì sẽ không đúng với tinh thần của sách “ ba trong một” HS sẽ không nhận được sự hỗ trợ học tập của cộng đồng
+ Cho HS đem sách về thì các em hay quên ở nhà làm cho việc học trên lớp gặp khó khăn Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập môn TNXH của các em
Trên đây là những trải nghiệm thực tế của tổ về việc dạy học môn TNXH lớp3 VNEN Tổ rất mong nhận được sự đóng góp của hội đông Xin chân thành cảm ơn.!
Đại Hiệp ngày 16/4/2013
Người thực hiện: Trần Thị Thái Thanh.