Cơ sở lý luận và thực tiễn về đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
Cơ sở lý luận về đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao công nghệ 6 1 Các khái niệm cơ bản, vai trò, phân loại
2.1.1 Các khái niệm cơ bản, vai trò, phân loại
2.1.1.1 Các khái niệm cơ bản
* Khái niệm về khoa học
Khoa học được định nghĩa là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá kiến thức và học thuyết mới về tự nhiên và xã hội, với mục tiêu thay thế dần những kiến thức cũ không còn phù hợp.
Khoa học là một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của nó, bao gồm các quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy Hệ thống tri thức này được hình thành qua lịch sử và liên tục phát triển dựa trên thực tiễn xã hội Có hai loại tri thức chính: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học.
Tri thức kinh nghiệm là những kiến thức được tích lũy qua quá trình sống của con người, bao gồm các nghiên cứu thực nghiệm trước đó Nó bắt nguồn từ việc tổng quát hóa các quan sát thực tế để hình thành nên các lý thuyết khoa học.
Tri thức lý luận là sự tích lũy kiến thức từ việc phân tích và tổng hợp các lý thuyết hiện có, được kiểm định qua quan sát thực tế và suy diễn.
* Khái niệm về nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học, theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, là quá trình thu nhận tri thức khoa học, bao gồm hai mức độ chính: kinh nghiệm và lý luận, luôn có sự tác động và tương tác lẫn nhau.
Theo Babbie (1986): Nghiên cứu khoa học là cách thức con người tìm hiểu các hiện tượng khoa học một cách có hệ thống
* Khái niệm về khoa học và công nghệ
Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, khoa học được định nghĩa là một hệ thống tri thức liên quan đến các hiện tượng, sự vật, và quy luật của tự nhiên, xã hội, cũng như tư duy.
Công nghệ được định nghĩa là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ và phương tiện nhằm biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
Khoa học tìm hiểu bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng để giải thích thế giới, đáp ứng nhu cầu nhận thức của con người Trong khi đó, hoạt động công nghệ chuyển đổi tri thức khoa học thành quy trình, giải pháp kỹ thuật và sản phẩm, sử dụng các nguồn lực như kỹ thuật, thông tin, tổ chức và con người.
* Khái niệm về công nghệ
Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
* Khái niệm về chuyển giao khoa học công nghệ
Chuyển giao công nghệ là quá trình chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên chuyển giao sang bên nhận.
Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ là quá trình mà chủ sở hữu công nghệ chuyển nhượng toàn bộ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt công nghệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác Nếu công nghệ được bảo hộ quyền sở hữu, việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ cần phải đi kèm với việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
+ Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ là tổ chức, cá nhân cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng công nghệ của mình
* Khái niệm về nhân lực khoa học và công nghệ (KHCN)
Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng với phần lớn các nhà nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay xác định rằng nhân lực khoa học và công nghệ của nước ta bao gồm năm thành phần chính.
1) Cán bộ nghiên cứu trong các Viện và các Trường Đại học;
2) Cán bộ kỹ thuật, công nghệ làm việc trong các doanh nghiệp;
3) Các cá nhân thuộc mọi tầng lớp xã hội yêu thích khoa học kỹ thuật, có sáng kiến cải tiến, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống;
4) Cán bộ quản lý các cấp tham gia hoặc chỉ đạo công việc nghiên cứu phục vụ việc hoạch định các quyết sách, quyết định quan trọng trong thẩm quyền của mình;
5) Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam
* Khái niệm về hoạt động khoa học và công nghệ
Nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm là những hoạt động quan trọng trong việc phát triển công nghệ Điều này bao gồm việc ứng dụng công nghệ, cung cấp dịch vụ khoa học và công nghệ, đồng thời khuyến khích sáng kiến và các hoạt động sáng tạo khác để thúc đẩy sự tiến bộ của lĩnh vực khoa học và công nghệ.
*Khái niệm về nghiên cứu khoa học
Hoạt động khám phá và phát hiện bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy là quá trình tìm hiểu sâu sắc Điều này không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thế giới xung quanh mà còn tạo ra các giải pháp sáng tạo, ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống.
* Khái niệm về tổ chức khoa học và công nghệ
Tổ chức này chuyên nghiên cứu khoa học, triển khai và phát triển công nghệ, đồng thời cung cấp dịch vụ khoa học và công nghệ Nó được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
2.1.1.2 Vai trò của việc thực hiện các giải pháp đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
Cơ sở thực tiễn về đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao công nghệ 20 1 Kinh nghiệm đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao công nghệ các nước trên thế giới
2.2.1 Kinh nghiệm đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao công nghệ các nước trên thế giới
* Tại châu Á và vành đai Thái Bình Dương
Trong những năm 90, các Chính phủ đã đặt khoa học và công nghệ vào trung tâm các chương trình phát triển kinh tế, hướng công khoa học tới thị trường để thúc đẩy tăng trưởng Mặc dù trình độ phát triển công nghiệp và nguồn nhân lực khác nhau giữa các nước, nhưng họ đều quan tâm đến việc xây dựng cấu trúc liên kết bền vững giữa sáng tạo và ứng dụng khoa học Nhiều quốc gia châu Á – Thái Bình Dương đã tăng ngân sách cho R&D, với Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Úc ghi nhận sự gia tăng đóng góp từ khu vực tư nhân vượt trội hơn so với châu Âu và Mỹ Một số nước đã triển khai chính sách kết nối doanh nghiệp vừa và nhỏ với năng lực khoa học và công nghệ, đồng thời áp dụng các bộ luật về sở hữu trí tuệ dựa trên các hiệp định quốc tế.
20 hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS) (Vũ Đình Cự, 2000)
Các nước trong khu vực châu Á – vành đai Thái Bình Dương có sự đa dạng về chính sách khoa học và phát triển khoa học và công nghệ:
Thái Lan đang đẩy mạnh hỗ trợ cho công nghệ vi điện tử, công nghệ thông tin và công nghệ sinh học Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) trong khu vực công cộng còn hạn chế, trong khi khu vực tư nhân cũng chỉ đầu tư rất ít cho R&D, dẫn đến tình trạng yếu kém về mặt kỹ thuật.
Trong giai đoạn 1996-2000, Chính phủ Malaysia đã chú trọng đầu tư vào công nghệ thông tin và liên lạc, vi điện tử, công nghệ sinh học, khoa học đời sống, công nghệ chế tạo tiên tiến, cùng với vật liệu và công nghệ năng lượng, môi trường Mục tiêu của Chính phủ là tạo điều kiện cho các tổ chức nghiên cứu công có tính tự chủ về tài chính và khuyến khích sự đóng góp từ khu vực tư nhân.
Xingapo chú trọng phát triển công nghệ cao với giá trị gia tăng, tập trung vào ba lĩnh vực chính: cải thiện năng lực công nghệ nội sinh, khuyến khích nghiên cứu và phát triển (R&D) trong khu vực tư nhân, và tăng cường số lượng nhà nghiên cứu tích cực Mục tiêu ngắn hạn là phát triển đội ngũ lãnh đạo trong các công nghệ chủ chốt, trong khi chiến lược dài hạn hướng đến việc bồi dưỡng năng lực đổi mới và kinh doanh công nghệ.
Chính phủ Liên bang Úc đã tăng cường hỗ trợ cho khoa học và đổi mới công nghệ thông qua việc thiết lập các khuyến khích cho ngành công nghiệp, nâng cao trang thiết bị nghiên cứu tại các trường đại học và các chương trình cấp tiền nghiên cứu cạnh tranh Úc đặc biệt chú trọng đến việc xác định ưu tiên quốc gia với sự xem xét từ trên xuống dưới ở mức tối thiểu.
Trung Quốc đã trải qua nhiều biến đổi lớn trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN) kể từ khi Chính phủ ban hành các luật và chương trình cải cách, mở cửa ra thế giới Chính phủ khẳng định KH&CN là lực lượng sản xuất số 1, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển kinh tế và xã hội Sự thúc đẩy KH&CN tại Trung Quốc tập trung vào việc tăng cường hỗ trợ nghiên cứu cơ bản và khuyến khích phát triển công nghệ mới.
Trong giai đoạn 1985-1995, các cải cách khoa học và công nghệ đã tạo ra những biến đổi lớn ở nông thôn Trung Quốc, nâng cao năng suất lao động nông nghiệp nhưng cũng đặt ra thách thức về ô nhiễm môi trường Mặc dù các viện nghiên cứu nông nghiệp gặp khó khăn trong việc tạo ra thị trường công nghệ hiệu quả do thiếu kinh nghiệm và sự chần chừ của nông dân trong việc chi trả cho công nghệ, nhưng khả năng chuyển giao công nghệ sẽ được cải thiện nhờ sự phát triển của doanh nghiệp nông thôn, mở ra thị trường mới cho khoa học và công nghệ Điều này yêu cầu sự thay đổi trong chương trình nghiên cứu và ưu tiên của các viện nghiên cứu khoa học nông nghiệp tại Trung Quốc.
Kinh nghiệm của Mỹ cho thấy rằng khoa học và công nghệ là yếu tố quyết định sự phát triển trong thế kỷ XXI Chính phủ Mỹ đã đặt ra mục tiêu "khoa học và lợi ích quốc gia" nhằm duy trì vị trí dẫn đầu về kiến thức khoa học, thúc đẩy mối liên hệ giữa nghiên cứu cơ bản và các mục tiêu lớn của quốc gia, và khuyến khích đầu tư cho khoa học cơ bản và công nghệ Họ cũng chú trọng đào tạo những nhà khoa học và kỹ sư tài năng, đồng thời nâng cao trình độ hiểu biết về khoa học và công nghệ cho người dân Về mặt công nghệ, chính sách của Chính phủ Mỹ nhấn mạnh cam kết lâu dài đối với nghiên cứu và đổi mới, tạo ra môi trường doanh nghiệp thuận lợi cho khu vực tư nhân phát triển, khuyến khích thương mại hóa công nghệ dân sự, và xây dựng hạ tầng cơ sở hiện đại để hỗ trợ nền công nghiệp trong thế kỷ XXI.
Mỹ cần mở rộng thương mại và phát triển một đội ngũ lao động có chất lượng toàn cầu để thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế tri thức.
2.2.2 Kinh nghiệm đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao công nghệ của một số tổ chức KHCN trong nước
* Kinh nghiệm của Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long
Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trung tâm nghiên cứu hàng đầu về cây lúa và các loại cây trồng khác trên nền đất lúa Trong những năm qua, Viện đã tích cực thực hiện nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, đặc biệt chú trọng vào việc phát triển giống lúa, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, và công tác đào tạo nhân lực.
Xây dựng chiến lược chọn tạo giống cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua hợp tác nghiên cứu với các tổ chức nông nghiệp quốc tế và tăng cường đào tạo với doanh nghiệp, viện và trường Tập trung vào việc đánh giá nguồn vật liệu lai tạo về kiểu hình và kiểu gen, đưa giống lúa chất lượng vào chương trình phục tráng tại các vùng ven biển nhằm phát triển thương hiệu gạo Việt Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học và nghiên cứu phát triển giống cây trồng mới phù hợp với cơ cấu luân canh, cùng với chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu bệnh và giải pháp kỹ thuật quản lý dinh dưỡng Ngoài ra, xây dựng gói kỹ thuật canh tác lúa và nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học là những bước quan trọng trong công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật.
Dịch vụ khoa học: Tăng cường dịch vụ khoa học với các đối tác là doanh nghiệp, công ty và địa phương
Chuyển giao công nghệ: Phối hợp với các doanh nghiệp chuyển giao các giống lúa mới của Viện phục vụ phát triển kinh tế vùng ĐBSCL
* Kinh nghiệm của Viện nghiên cứu Ngô
Các giống ngô do Viện nghiên cứu và lai tạo đang được áp dụng rộng rãi trong sản xuất tại các vùng trồng ngô trên toàn quốc, góp phần quan trọng vào việc tăng trưởng năng suất và sản lượng ngô của Việt Nam Để nâng cao hiệu quả, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế, huy động nguồn kinh phí cho nghiên cứu và đào tạo, đồng thời tăng cường trao đổi thông tin Việc kết hợp chặt chẽ với các trường đại học, cơ quan nghiên cứu và doanh nghiệp là cần thiết để thúc đẩy nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học kết hợp với các phương pháp truyền thống nhằm nghiên cứu và chọn tạo giống ngô lai phù hợp cho vùng thâm canh Cần phát triển quy trình thâm canh ngô bền vững trên đất dốc, đồng thời hoàn thiện quy trình thâm canh tổng hợp để tăng năng suất và hạ giá thành sản xuất.
* Kinh nghiệm của Viện nghiên cứu Rau quả
Các kết quả chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất cho thấy năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn so với phương pháp sản xuất tự phát và sản xuất đại trà của người dân.
Chọn tạo giống rau, hoa và cây ăn quả là một quy trình quan trọng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu Việc tập trung vào phát triển các giống cây trồng chất lượng sẽ góp phần thúc đẩy ngành nông nghiệp và gia tăng giá trị kinh tế cho người sản xuất.
Phương pháp nghiên cứu
Đặc điểm cơ bản của viện viện cây lương thực và cây thực phẩm 26 1 Đặc điểm tình hình chung
3.1.1 Đặc điểm tình hình chung a Giới thiệu chung:
Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (Viện CLT-CTP) được thành lập vào năm 1968 theo Nghị định số 24/CP của Chính phủ Đến năm 2005, Viện được tổ chức lại theo Quyết định số 220/2005/QĐ-TTg, trở thành một phần của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) Viện hoạt động theo quyết định số 73/2008/QĐ-BNN, quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Viện.
Lãnh đạo: Có 01 Viện trưởng và 04 Phó Viện trưởng
- Các phòng nghiệp vụ (3 phòng):
+ Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế
+ Phòng Tổ chức - Hành chính
+ Phòng Tài chính - Kế toán
- Các Bộ môn nghiên cứu (5 Bộ môn):
- Bộ môn Công nghệ sinh học
- Bộ môn Sinh lý sinh hóa và Chất lượng nông sản
- Bộ môn Bảo vệ thực vật
- Bộ môn Cây thực phẩm
- Các Trung tâm trực thuộc (6 Trung tâm):
+ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Lúa thuần
+ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Lúa lai
+ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ
+ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có củ
+ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Nông nghiệp
+ Trung tâm Thực nghiệm Cây lương thực và Cây thực phẩm
- Doanh nghiệp KHCN: Công ty Cổ phần Giống cây trồng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm
Viện hiện có 282 cán bộ công nhân viên, bao gồm 01 Phó Giáo sư, 20 Tiến sỹ, 129 Thạc sỹ, 75 cán bộ Đại học và 57 nhân viên, công nhân kỹ thuật Với đội ngũ nhân lực trình độ cao, Viện cam kết tận tụy trong công tác nghiên cứu, đáp ứng hiệu quả nhu cầu nghiên cứu khoa học và công nghệ trong thời đại mới.
Bảng 3.1 Cơ cấu nguồn nhân lực theo cơ cấu tổ chức
TT Đơn vị trực thuộc
2 Phòng Khoa học và HTQT
5 Bộ môn Công nghệ Sinh học
6 Bộ môn Sinh lý Sinh hóa
7 Bộ môn Bảo vệ thực vật
9 Bộ môn Cây thực phẩm
10 Trung tâm NC và PT Lúa thuần
11 Trung tâm NC và PT Lúa lai
12 Trung tâm NC và PT Đậu đỗ
13 Trung tâm NC và PT Cây có củ
14 Trung tâm NC và PT Hệ thống
Cây lương thực - CTP Tổng cộng:
Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính Viện CLT-CTP (2016)
Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm có trụ sở chính tại xã Liên Hồng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, và cơ sở 2 của viện tọa lạc tại Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì.
Viện hiện đang quản lý và sử dụng tổng diện tích đất hơn 223,59 ha, bao gồm khoảng 161,93 ha tại Gia Lộc - Hải Dương và hơn 61,66 ha tại Thanh Trì.
Viện nghiên cứu tại Hà Nội và Sapa - Lào Cai được trang bị đầy đủ các cơ sở vật chất hiện đại như nhà làm việc trung tâm, thư viện, phòng kiểm nghiệm giống cây trồng, kho lạnh, phytotron, nhà lưới cùng nhiều phòng thí nghiệm chuyên sâu về sinh lý - sinh hóa, bảo vệ thực vật, công nghệ sinh học và khu nghiên cứu ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, nhằm phục vụ hiệu quả cho nghiên cứu và thử nghiệm giống cây trồng.
Bảng 3.2 Diện tích đất được giao cho Viện CLT-CTP sử dụng
3 Đất giao thông thủy lợi
Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính Viện CLT-CTP (2016) Bảng 3.3 Diện tích nhà làm việc, các cơ sở sản xuất thực nghiệm và dịch vụ
Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính Viện CLT-CTP (2016) b Chức năng, nhiệm vụ
Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm là đơn vị sự nghiệp khoa học công
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam có 28 đơn vị trực thuộc, chuyên nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực cây lương thực và thực phẩm, tập trung vào cây lúa, cây đậu đỗ và cây có củ Đồng thời, Viện cũng thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ nông nghiệp cho vùng Đồng bằng sông Hồng.
Xây dựng và triển khai các chương trình, dự án, kế hoạch nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ theo định hướng dài hạn, năm năm và hàng năm trong các lĩnh vực được giao Các kế hoạch này cần được trình lên cấp có thẩm quyền phê duyệt và thực hiện sau khi được chấp thuận.
Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực cây lương thực và thực phẩm, đặc biệt là cây lúa, cây có củ và đậu đỗ, tập trung vào công nghệ sinh học, sinh lý, sinh hóa và di truyền chọn giống.
Chọn, tạo và nhân giống cây lương thực, cây thực phẩm;
Cơ cấu cây trồng, quy trình canh tác, phòng trừ sâu bệnh, dịch hại; Hệ thống nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng;
Kinh tế và thị trường cây lương thực, cây thực phẩm;
Kiểm định, kiểm nghiệm chất lượng hạt giống cây lương thực và cây thực phẩm
- Thực hiện nhiệm vụ khuyến nông cho vùng Đồng bằng sông Hồng
Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ là rất quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn Việc hợp tác với các tổ chức và cá nhân nước ngoài nhằm đào tạo nguồn nhân lực và chia sẻ chuyên môn sẽ được thực hiện theo quy định của Nhà nước.
Liên kết và hợp tác trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là cần thiết để thử nghiệm kỹ thuật mới và đào tạo nguồn nhân lực Việc thực hiện các hoạt động này phải tuân thủ các quy định của pháp luật và phối hợp với các tổ chức trong nước.
- Sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp theo đúng quy định của pháp luật
- Quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, kinh phí, tài sản được giao đúng quy định của pháp luật
29 c Hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực cây lương thực và cây thực phẩm bao gồm nhiều khía cạnh quan trọng như công nghệ sinh học, sinh lý, sinh hóa và di truyền chọn giống Việc chọn tạo và nhân giống cây lương thực, cây thực phẩm cũng như cơ cấu cây trồng và quy trình canh tác là rất cần thiết Bên cạnh đó, công tác phòng trừ sâu bệnh, dịch hại cùng với việc phát triển hệ thống nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Kinh tế và thị trường cây lương thực, cây thực phẩm cũng cần được chú trọng, cùng với kiểm nghiệm chất lượng hạt giống để đảm bảo nguồn giống tốt cho nông dân.
- Sản xuất - kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở các kết quả nghiên cứu
- Thực hiện nhiệm vụ khuyến nông vùng Đồng bằng sông Hồng
Liên kết và hợp tác trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là rất quan trọng Việc thử nghiệm kỹ thuật mới và đào tạo nguồn nhân lực trong các lĩnh vực nghiên cứu này sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc.
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ chuyên môn cho các chuyên gia nông nghiệp Các hoạt động tư vấn và đào tạo chuyên sâu không chỉ giúp cải thiện kỹ năng mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của nông thôn Kết quả từ các nghiên cứu và công nghệ được chuyển giao sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và cải thiện đời sống cộng đồng.
Viện CLT – CTP đã chủ trì và tham gia nhiều dự án KHCN quan trọng, trở thành một trong những viện hàng đầu trong Bộ Nông nghiệp và PTNT về nghiên cứu khoa học Những đóng góp của Viện cho ngành sản xuất nông nghiệp Việt Nam bao gồm hàng chục giống cây trồng mới như lúa, đậu tương, và khoai tây, có năng suất và hiệu quả kinh tế cao Bên cạnh đó, Viện cũng phát triển nhiều quy trình kỹ thuật sản xuất tiên tiến và công nghệ nông nghiệp bền vững như Vietgap Mặc dù vẫn còn một số hạn chế về công nghệ và tính ứng dụng, nhưng những kết quả nghiên cứu của Viện đã góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Nhà nước giao, Viện còn chủ động tìm kiếm nguồn kinh phí từ các Bộ, ngành để phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu
3.2.1.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu Để chọn điểm đảm bảo tính đại diện cho địa bàn nghiên cứu, tiêu chí lựa chọn đối tượng điều tra, phỏng vấn là các phòng quản lý, cán bộ nghiên cứu, chuyển giao của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm và các tổ chức kinh tế Các tổ chức kinh tế phải có điều kiện để phát triển các giống cây trồng mới đại diện cho các vùng, miền (Miền Bắc, miền Trung) Đại diện Miền Bắc: đề tài chọn Công ty cổ phần giống Nông nghiệp Việt Nam; Công ty cổ phần - Tổng công ty giống cây trồng con nuôi Ninh Bình; Công ty cổ phần giống cây trồng Trung ương, Viện nghiên cứu Ngô Đại điện Miền Trung: đề tài chọn Công ty giống cây trồng Quảng Bình, Công ty vật tư Nông nghiệp Nghệ An.
Trên cơ sở đó đề tài tiến hành điều tra phỏng vấn:
Bài viết này tập trung vào ba phòng quản lý chính: nhân lực, tài chính và khoa học Mục đích là để tìm hiểu về cơ cấu tổ chức nguồn nhân lực, kết quả nghiên cứu và chuyển giao, cũng như kinh phí dành cho các đề tài và dự án Do đó, việc lựa chọn ba phòng này là cần thiết để thu thập thông tin đầy đủ và chính xác.
Cán bộ nghiên cứu tại các đơn vị: Có 120 cán bộ, chọn 40 cán bộ đại diện cho các lĩnh vực nghiên cứu để phỏng vấn điều tra
Trong tổng số 84 cán bộ chuyển giao tại các phòng chuyển giao thuộc các Trung tâm và Bộ môn nghiên cứu, đã chọn 36 cán bộ đại diện cho các lĩnh vực chuyển giao để tiến hành phỏng vấn điều tra.
Có 16 tổ chức kinh tế liên kết với Viện, trong đó 06 đơn vị tiêu biểu nhất được chọn để đại diện cho các giống cây trồng mới của Viện Những giống cây này sẽ được mở rộng sản xuất tại các vùng như Quảng Bình, Nghệ An, Ninh Bình, Nam Định và Hà Nội Phương pháp lựa chọn này đảm bảo tính đại diện cho các vùng sản xuất và chuyển giao.
3.2.1.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu Để đảm bảo nguồn số liệu đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu, đề tài tiến hành khảo sát nhiều nguồn thông tin Trong đó các thông tin số liệu sơ cấp được thu thập thông qua quá trình điều tra, chọn mẫu với
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thực hiện 85 mẫu điều tra, bao gồm 3 mẫu từ các phòng quản lý, 36 mẫu từ cán bộ chuyển giao, 40 mẫu từ cán bộ nghiên cứu, và 6 mẫu từ các tổ chức kinh tế, là những đơn vị tiếp nhận chuyển giao công nghệ.
Trên cơ sở phân tích như trên, chúng tôi tiến hành chọn các đối tượng điều tra, số lượng mẫu điều tra (Bảng 3.4)
Bảng 3.4 Bảng phân bổ mẫu điều tra của đề tài
1 Các phòng quản lý của Viện
2 Cán bộ chuyển giao của Viện
3 Cán bộ nghiên cứu của Viện
4 Các tổ chức kinh tế (Công ty, Trung tâm…)
Tổng cộng 3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Các số liệu được công bố từ Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bao gồm thông tin từ sách, tạp chí và internet.
3.2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Thông tin sơ cấp là các số liệu mới chưa được công bố và chưa qua xử lý, phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu Những thông tin này được thu thập dựa trên các nội dung nghiên cứu liên quan, với phương pháp thu thập chủ yếu là thông qua phiếu điều tra.
* Phỏng vấn trực tiếp các phòng quản lý của Viện
Bài phỏng vấn nhằm điều tra cơ cấu nguồn nhân lực, các sản phẩm khoa học đã được công nhận, kết quả chuyển giao công nghệ, và kinh phí cho các đề tài, dự án của Viện.
Phỏng vấn trực tiếp cán bộ nghiên cứu và chuyển giao tại Viện nhằm thu thập thông tin về nguồn nhân lực, kinh phí, năng lực và trang thiết bị Đồng thời, đánh giá chất lượng sản phẩm khoa học công nghệ của Viện phục vụ cho việc chuyển giao.
* Phỏng vấn trực tiếp các đơn vị phát triển sản phẩm khoa học công nghệ; lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu.
Mục tiêu của khảo sát này là đánh giá chất lượng sản phẩm khoa học công nghệ tại các công ty, đồng thời xem xét kết quả phát triển sản phẩm của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm Từ đó, chúng tôi sẽ đưa ra các giải pháp và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm.
Phỏng vấn các chuyên gia, nhà khoa học và cán bộ nghiên cứu giúp xác thực các nhận định và đánh giá trong đề tài nghiên cứu.
Thông qua các tổ chức kinh tế (Công ty, Trung tâm…) để đánh giá ưu nhược điểm của quá trình chuyển giao công nghệ
Việc liên kết giữa các nhà khoa học, nhà kinh doanh và nông dân đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả cuối cùng của quá trình chuyển giao công nghệ Phương pháp xử lý số liệu được áp dụng sẽ giúp phân tích và tổng hợp thông tin một cách chính xác, từ đó đưa ra những nhận định và quyết định hợp lý trong quá trình này.
Chúng tôi đã thu thập và xử lý các thông tin, số liệu từ báo cáo và kết quả điều tra thông qua các phương pháp thống kê như phân tổ, số tuyệt đối, số tương đối và phương pháp bình quân, sử dụng phần mềm Excel để phân tích dữ liệu.
3.2.4.1 Phương pháp số liệu thống kê mô tả
Phương pháp này nhằm đánh giá hiệu quả của các giải pháp thúc đẩy nghiên cứu và chuyển giao công nghệ tại Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm Dựa trên các phân tích và đánh giá hiện có, bài viết sẽ đề xuất những giải pháp cụ thể để nâng cao hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ của Viện.
Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
* Chỉ tiêu phản ánh về nhu cầu nghiên cứu và chuyển giao công nghệ - Động lực để phát triển ngành trồng trọt
- Nội dung sản phẩm chủ lực trongg nghiên cứu - Nhu cầu nghiên cứu
* Chỉ tiêu phản ánh về nguồn lực và chuyển giao công nghệ
- Chỉ tiêu phản ánh nguồn kinh phí được giao
- Chỉ tiêu phản ánh nguồn kinh phí phối hợp, tự chủ
* Chỉ tiêu phản ánh về tổ chức, quản lý các hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
Chỉ tiêu phản ánh sự tổ chức của nhóm nghiên cứu chuyên sâu, đảm bảo quản lý hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ khoa học, đồng thời thể hiện khả năng quản lý và chuyển giao các kết quả nghiên cứu.
* Chỉ tiêu phản ánh kết quả nghiên cứu
- Chỉ tiêu phản ánh về kinh phí các đề tài
- Chỉ tiêu phản ánh về kết quả nghiên cứu cơ bản
- Chỉ tiêu phản ánh về kết quả nghiên ứng dụng * Chỉ tiêu phản ánh kết quả chuyển giao
- Chỉ tiêu phản ánh về chuyển nhượng bản quyền và ủy quyền kinh doanh.
- Chỉ tiêu phản ánh về phát triển các sản phẩm khoa học công nghệ tại một số công ty
- Chỉ tiêu phản ánh về như chất lượng và khả năng phát triển các sản phẩm khoa học của Viện