1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an

123 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 184,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. Mở đầu (13)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (13)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (14)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung (14)
      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (14)
    • 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (15)
      • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu (15)
      • 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu (15)
    • 1.4. Đóng góp mới của luận văn (15)
  • Phần 2. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn (16)
    • 2.1. Cơ sở lý luận (16)
      • 2.1.1. Một số khái niệm và vai trò của nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã (16)
      • 2.1.2. Chất lượng công chức xã và nâng cao chất lượng công chức cấp xã (21)
      • 2.1.3. Các tiêu chí đánh giá chất lượng công chức cấp xã (23)
      • 2.1.4. Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã (29)
      • 2.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã (36)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn (39)
      • 2.2.1. Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ở một số nước trên thế giới (39)
      • 2.2.2. Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức của thành phố Hà Nội 31 2.2.3. Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức của một số địa phương trong tỉnh (43)
  • Phần 3. Phương pháp nghiên cứu (49)
    • 3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (49)
      • 3.1.1. Điều kiện tự nhiên (49)
      • 3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (52)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu của đề tài (54)
      • 3.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu (54)
      • 3.2.2. Thu thập số liệu (54)
      • 3.2.3. Phương pháp xử lý thông tin và phân tích số liệu (56)
      • 3.2.4. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu (56)
  • Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận (58)
    • 4.1. Thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp xã huyện Nghi Lộc (58)
      • 4.1.1. Khái quát số lượng đội ngũ công chức cấp xã (58)
      • 4.1.2. Thực trạng chất lượng đội ngũ công chức theo trình độ (59)
      • 4.1.3. Thực trạng chất lượng đội ngũ công chức theo giới tính (65)
      • 4.1.4. Thực trạng chất lượng đội ngũ công chức theo độ tuổi (66)
    • 4.2. Đánh giá các hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã huyện Nghi Lộc 54 1. Đánh giá công tác quy hoạch cán bộ công chức (68)
      • 4.2.2. Đánh giá công tác tuyển dụng công chức (71)
      • 4.2.3. Đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức (77)
      • 4.2.4. Đánh giá công tác phân công bố trí công chức (84)
      • 4.2.5. Đánh giá công tác đánh giá công chức (85)
      • 4.2.6. Đánh giá công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, công chức (89)
    • 4.3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã huyện Nghi Lộc 69 1. Phân tích các yếu tố khách quan (90)
      • 4.3.2. Phân tích các yếu tố chủ quan (93)
    • 4.4. Định hướng và giải pháp (99)
      • 4.4.1. Định hướng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã (99)
      • 4.4.2. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã huyện Nghi Lộc (101)
  • Phần 5. Kết luận và kiến nghị (110)
    • 5.1. Kết luận (110)
    • 5.2. Kiến nghị (111)
  • Tài liệu tham khảo (113)
  • Phụ lục (116)

Nội dung

Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn

Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm và vai trò của nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã

2.1.1.1 Một số khái niệm a Khái niệm công chức

Công chức là thuật ngữ chỉ những người làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước, thực hiện công vụ và nhận lương từ ngân sách nhà nước Khái niệm này không đồng nhất giữa các quốc gia; một số nước chỉ xem công chức là những người quản lý nhà nước, trong khi những nước khác mở rộng khái niệm này cho cả những người làm việc trong các cơ quan công cộng Tại Việt Nam, khái niệm công chức được quy định lần đầu trong Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950, xác định công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng vào các cơ quan Chính phủ, với một số trường hợp ngoại lệ do Chính phủ quy định.

Trong quá trình phát triển của đất nước và nền hành chính, khái niệm công chức đã được điều chỉnh và bổ sung với các quy định cụ thể hơn Tuy nhiên, sự phân định giữa cán bộ và công chức vẫn chưa rõ ràng.

Năm 2008, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong cải cách chế độ công vụ Luật này thể chế hóa quan điểm của Đảng về công tác cán bộ, nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Điểm nổi bật của luật là sự phân định rõ ràng giữa công chức và cán bộ Cụ thể, Điều 4, Khoản 2 quy định công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm vào các vị trí trong cơ quan Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội, cũng như trong các đơn vị quân đội và công an, không bao gồm sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp Công chức làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo quy định của pháp luật.

Sau khi Luật cán bộ công chức được ban hành, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành các văn bản hướng dẫn như Nghị định số 06/2010/NĐ-CP, quy định rằng công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm vào các vị trí trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định pháp luật.

Công chức ở Việt Nam không chỉ là những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước mà còn bao gồm nhân viên tại các phòng ban của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, cùng với các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, và các cơ quan thuộc quân đội, công an, tòa án và viện kiểm sát từ cấp trung ương đến cấp huyện, xã.

Công chức cấp xã, theo Khoản 3, Điều 4 của Luật cán bộ, công chức năm 2008, là công dân Việt Nam được tuyển dụng vào các chức danh chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp xã, làm việc trong biên chế và nhận lương từ ngân sách nhà nước.

Công chức cấp xã bao gồm các chức danh như Trưởng công an, Chỉ huy trưởng quân sự, Văn phòng – Thống kê, Địa chính – Xây dựng – Đô thị và Môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính – Nông nghiệp – Xây dựng và Môi trường, Tài chính – Kế toán, Tư pháp – Hộ tịch, và Văn hoá – Xã hội.

Số lượng công chức cấp xã được quy định dựa trên xếp loại đơn vị hành chính cấp xã, căn cứ vào quy mô tổng diện tích và số lượng dân số của xã Cụ thể, thông tin này được nêu rõ tại Khoản 1, Điều 4 của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP.

Theo CP ngày 22/10/2009, số lượng cán bộ, công chức cấp xã được quy định theo loại đơn vị hành chính: cấp xã loại 1 tối đa 25 người, cấp xã loại 2 không quá 23 người, và cấp xã loại 3 không quá 21 người Số lượng này bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, và biệt phái về cấp xã (Quốc hội, 2008).

2.1.1.2 Vai trò của công chức cấp xã

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng mỗi cán bộ cần phải là người lãnh đạo, dẫn dắt quần chúng thực hiện lý tưởng của Đảng, đồng thời phải gần gũi với nhân dân để nắm bắt và phản ánh kịp thời tình hình đời sống và nguyện vọng của họ Ông khẳng định rằng sự lãnh đạo của Đảng phải xuất phát từ quần chúng và quay trở lại phục vụ họ, nhằm mang lại cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc cho nhân dân.

Như vậy, đội ngũ công chức cấp xã có một số vai trò cơ bản sau:

Đội ngũ công chức cấp xã đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai Nghị quyết và chủ trương của Đảng, cũng như các chính sách và pháp luật của Nhà nước Họ không chỉ thực hiện nhiệm vụ mà còn là cầu nối, tập hợp ý kiến và nguyện vọng của nhân dân, từ đó góp phần tích cực vào việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Đội ngũ công chức cấp xã đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, nhằm hiện thực hóa đường lối, chủ trương chính sách và nghị quyết phù hợp với điều kiện của từng xã, từ đó nâng cao hiệu quả thực hiện.

Đội ngũ công chức cấp xã đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng của huyện, tỉnh và cả nước (Nguyễn Văn Biên, 2016).

2.1.1.3 Đặc điểm của công chức xã

Công chức xã là những cá nhân tiêu biểu về thể chất và tinh thần, có trình độ chuyên môn cao, được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào các vị trí trong cơ quan Nhà nước Họ tham gia trực tiếp vào bộ máy quản lý hành chính quốc gia, tự chủ về hành vi và thái độ, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách công dân và công chức Với vị thế xã hội và các mối quan hệ xã hội được thiết lập, công chức giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện quyền lực của Nhà nước trong quản lý xã hội.

2.1.1.4 Yêu cầu của công chức cấp xã a Năng lực của công chức

Năng lực là khả năng của một cá nhân trong việc thực hiện nhiệm vụ cụ thể và xử lý tình huống trong một môi trường nhất định Nó bao gồm việc sử dụng tài sản và tiềm lực của con người, như kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất khác, để đạt được các mục tiêu cụ thể Theo Trần Mỹ Hạnh (2016), các thành tố chính của năng lực bao gồm kiến thức, kỹ năng và tinh thần trách nhiệm.

Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ở một số nước trên thế giới

2.2.1.1 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức của nước Nhật Bản a Chế độ công vụ

Nhật Bản áp dụng chế độ công vụ theo mô hình hỗn hợp, kết hợp giữa mô hình chức nghiệp và mô hình việc làm Thời gian bổ nhiệm và chế độ đãi ngộ cho công chức thể hiện rõ đặc điểm của mô hình chức nghiệp Cụ thể, sau khi được bổ nhiệm vào các vị trí trong bộ máy nhà nước, công chức Nhật Bản làm việc suốt đời cho đến khi nghỉ hưu, trừ trường hợp vi phạm kỷ luật dẫn đến thôi việc.

Việc tuyển dụng, bổ nhiệm, đánh giá và đào tạo công chức ở Nhật Bản gắn liền với mô hình việc làm đặc thù Công chức đảm nhận các vị trí công việc cụ thể, được nghiên cứu và mô tả chi tiết trong thời gian dài sau khi được bổ nhiệm Để thay đổi chuyên môn hoặc vị trí, công chức phải đáp ứng tất cả yêu cầu và vượt qua các kỳ thi chuyển đổi.

Nền công vụ Nhật Bản, chịu ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo và đặc điểm dân tộc phương Đông, có tính thứ bậc cao và chặt chẽ, điều này khuyến khích công chức phát triển để thăng tiến và lựa chọn những người ưu tú cho các vị trí lãnh đạo Tuy nhiên, điều này cũng tác động ngược lại đến những ưu điểm của mô hình việc làm.

Mặc dù có cấu trúc thứ bậc rõ ràng, nhiệm kỳ của các cán bộ lãnh đạo trong các bộ, ngành Nhật Bản thường chỉ kéo dài hai năm Điều này dẫn đến việc cơ cấu công chức nhà nước luôn được trẻ hóa, giúp giảm thiểu các tiêu cực liên quan đến đặc quyền và đặc lợi.

Phạm vi công chức Nhật Bản được quy định trong Luật Công chức, bao gồm tất cả những người làm việc cho cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công như bệnh viện và trường học công, do Ủy ban Nhân sự quốc gia quản lý Tuy nhiên, số lượng các đơn vị sự nghiệp công này tương đối ít do sự phát triển mạnh mẽ của khu vực tư nhân tại Nhật Bản (Nguyễn Văn Việt, 2016).

Kỳ thi tuyển dụng công chức quốc gia do Cơ quan Nhân sự quốc gia tổ chức, bao gồm hai vòng thi Vòng thi đầu tiên yêu cầu thí sinh thực hiện một bài thi trắc nghiệm và một bài thi luận Trong vòng thi thứ hai, thí sinh phải tham gia phỏng vấn trực tiếp Những thí sinh vượt qua cả hai vòng thi sẽ được Cơ quan Nhân sự quốc gia gửi danh sách đến các bộ, ngành cần tuyển dụng để tham gia phỏng vấn.

Kỳ thi tuyển dụng công chức quốc gia diễn ra trong một ngày tại 9 địa điểm khác nhau nhằm đảm bảo sự công bằng cho tất cả thí sinh, với sự giám sát của Cơ quan Nhân sự quốc gia Bộ đề thi do cơ quan này biên soạn, trong khi các địa phương tự tổ chức thi cho công chức địa phương Các địa phương có quyền tự chủ trong việc tổ chức thi, và bộ đề thi cho công chức địa phương được xây dựng bởi Trung tâm xây dựng đề thi độc lập, không thuộc Cơ quan Nhân sự quốc gia hay Chính phủ Lãnh đạo của trung tâm thường là cán bộ đã nghỉ hưu từ Cơ quan Nhân sự quốc gia Nhật Bản có 47 tỉnh, thành phố, trong đó Thủ đô Tokyo tự xây dựng bộ đề thi, còn 46 tỉnh còn lại thuê trung tâm để thực hiện Tất cả công chức địa phương sẽ thi cùng một ngày.

Luật công vụ 1947 quy định rõ về quy trình tuyển dụng công chức, bao gồm các điều kiện dự thi, nội dung và phương pháp tổ chức kỳ thi nhằm đảm bảo tính công bằng và trung thực trong việc tìm kiếm những người có tài năng phục vụ đất nước, đồng thời xóa bỏ tình trạng thiên vị trong tuyển dụng Kỳ thi tuyển không chỉ đánh giá năng lực trí tuệ mà còn khả năng thích ứng công việc của thí sinh Đội ngũ công chức Nhật Bản nổi bật với sự chuyên nghiệp và kỷ luật, phần lớn nhờ vào quy trình đào tạo ban đầu cho công chức mới Đào tạo tại chỗ và theo vị trí việc làm, kết hợp giữa học việc và giải quyết tình huống, giúp công chức trẻ Nhật Bản được phát triển với chi phí thấp và hiệu quả cao.

Các cơ sở đào tạo công chức trẻ tại Nhật Bản bao gồm Viện Đào tạo công chức quản lý đô thị, Viện Đào tạo kỹ năng và trao đổi văn hóa Nhật Bản, Cơ quan nhân lực quốc gia (NPA), cùng với các đơn vị đặc thù như tòa án, cảnh sát và thuế vụ Đội ngũ giảng viên là các chuyên gia và công chức giàu kinh nghiệm, trong khi học viên đến từ nhiều nền tảng học thuật khác nhau nhờ chính sách thi tuyển mở Công chức trúng tuyển là những người vượt qua kỳ thi tuyển dụng quốc gia hoặc địa phương, tạo nên sự đa dạng trong quá trình đào tạo Kinh phí đào tạo chủ yếu do Chính phủ hoặc chính quyền địa phương đảm bảo, nhằm tối ưu hóa hiệu quả và tiết kiệm.

Theo quy định của pháp luật Nhật Bản, việc nâng cao tinh thần phục vụ của công chức và quản lý hiệu quả đòi hỏi phải thúc đẩy quản lý nhân sự dựa trên năng lực làm việc và kết quả thực hiện nhiệm vụ Từ tháng 4/2009, một hệ thống đánh giá mới đã được áp dụng, thiết kế riêng cho từng vị trí công việc như Trưởng phòng, Trưởng nhóm Đánh giá năng lực công chức diễn ra từ tháng 10 năm trước đến tháng 09 năm sau, trong khi kết quả thực hiện nhiệm vụ được đánh giá từ tháng 10 đến tháng 3 và từ tháng 04 đến tháng 9 hàng năm.

Các tiêu chí đánh giá năng lực công chức được thiết kế khoa học nhằm phản ánh toàn diện phẩm chất cần thiết cho công việc hiện tại và tương lai Các yếu tố bao gồm đạo đức, khả năng giải thích, phối hợp, quản lý hoạt động, lãnh đạo tổ chức và phát triển nguồn nhân lực Thang đánh giá được xây dựng với 05 mức độ, giảm dần từ cao nhất.

S, A, B (Trung bình), C, D (không tốt) Ví dụ khi đánh giá năng lực lập kế hoạch của chức danh Trưởng phòng thì 02 tiêu chí bắt buộc đó là: Thứ nhất, về nắm bắt nhu cầu hành chính: yêu cầu hiểu đúng, đầy đủ về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn cũng như tính cấp thiết của việc hoạch định, xây dựng kế hoạch liên quan Thứ hai, về nhận thức kết quả kế hoạch: yêu cầu phải hình dung một cách rõ ràng về kết quả mong đợi; hoạch định được các phương án thực hiện và lựa chọn phương án tối ưu để thực hiện được kết quả một cách tốt nhất Việc đánh giá hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được áp dụng trên cơ sở hệ thống các mục tiêu, tương ứng với các giải pháp để đạt được sản phẩm đầu ra đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý (theo nghĩa hẹp - tức hoạt động hành chính) (Nguyễn Văn Việt, 2016).

Quy trình đánh giá nhân sự tại Nhật Bản bao gồm ba giai đoạn chính nhằm phát huy tính chủ động và sáng tạo của công chức Giai đoạn đầu, công chức tự đề xuất mục tiêu công việc và xác định độ khó, từ đó làm rõ các nội dung đánh giá và phẩm chất cần thiết Giai đoạn giữa, công chức thực hiện công việc đã đề ra, trong khi người có thẩm quyền theo dõi tiến độ và hướng dẫn thực hiện Cuối cùng, công chức tự viết báo cáo và đánh giá kết quả, sau đó người có thẩm quyền phỏng vấn để đưa ra lời khuyên và quyết định cuối cùng về kết quả đánh giá.

Kết quả đánh giá công chức là yếu tố quan trọng trong quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm và tăng lương, thưởng Để được bổ nhiệm vào các vị trí như Trưởng phòng, công chức cần có ít nhất một lần đánh giá cao (S hoặc A) và một lần đạt tốt (B) trong hai lần đánh giá gần nhất Đối với chức Trưởng phòng, yêu cầu là ba lần đánh giá, trong đó lần gần nhất phải đạt cao (S hoặc A) và các lần còn lại phải đạt tốt (B) Đối với các vị trí cao hơn như Thứ trưởng hay Cục trưởng, cần có sáu lần đánh giá, với yêu cầu tương tự về kết quả cao cho hai lần gần nhất Điều này cho thấy sự quan trọng của kết quả đánh giá trong việc tạo động lực cho công chức phấn đấu nâng cao năng lực Bên cạnh đó, đạo đức công vụ và chính sách đãi ngộ cũng đóng vai trò quan trọng, được xây dựng qua các cơ chế quản lý công bằng, giúp công chức cảm thấy tự hào và được xã hội tôn trọng.

Công chức nhà nước Nhật Bản không chỉ được đảm bảo về tiền lương mà còn có đời sống ổn định suốt đời nhờ vào các chế độ phúc lợi như nhà ở, lương bổng và hưu trí.

2.2.2 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức của thành phố Hà Nội

Phương pháp nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Ngày đăng: 10/07/2021, 08:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
24. UBND tỉnh Nghệ An (2011). Quyết định số 724/QĐ-UBND ngày 15/3/2012 của UBND tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt “Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã tỉnh Nghệ An giai đoạn 2012-2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức xã tỉnh Nghệ An giai đoạn 2012-2020
Tác giả: UBND tỉnh Nghệ An
Năm: 2011
10. Đặng Văn Võ (2018). Những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cấp xã trên địa bàn thành phố Hà Nội. Truy cập ngày 12/2/2019 tạihttp://tapchimattran.vn/nghien-cuu/nhung-giai-phap-nang-cao-chat-luong-doi-ngu-can-bo-cap-xa-tren-dia-ban-tp-ha-noi-11163.html Link
1. Bộ Chính trị (2010). Quyết định số 286-QĐ/TW ngày 08/02/2010 của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy chế đánh giá Công chức Khác
2. Bộ Nội vụ (2004). Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/1/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Khác
3. Bộ Nội vụ (2012). Thông tư số 06/TT-BNV của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn Khác
4. Chi cục thống kê huyện Nghi Lộc (2017). Niên giám thống kê huyện Nghi Lộc năm 2015, 2016, 2017 Khác
5. Chính phủ (2009). Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Khác
6. Chính phủ (2010). Nghị định số 06/2010/NĐ- CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định những người là công chức Khác
7. Chính phủ (2010). Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức Khác
9. Chính phủ (2017). Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/09/2017 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn Khác
11. Đỗ Quỳnh Liên (2019). Mấy khía cạnh lý luận về cán bộ, công chức cấp cơ sở. Báo Tuyên Quang Khác
12. Minh Châu (2018). Nguyên tắc về lựa chọn, bố trí, sử dụng cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh và việc vận dụng vào thực tiễn hiện nay. Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Quảng Trị Khác
13. Nguyễn Thị Thảo (2014). Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Luận văn thạc sỹ Quản trị nhân lực, trường đại học Lao động – Xã hội Khác
14. Nguyễn Văn Biên (2016) Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc - Tỉnh Nghệ An. Luận văn cao học, trường Đại học Hàng Hải Việt Nam Khác
15. Nguyễn Văn Việt (2016). Mô hình công vụ, công chức Nhật Bản và Giá trị tham chiếu đối với mô hình công vụ, công chức Việt Nam, báo trí thức và khoa học Khác
16. Phòng Nội vụ huyện Diễn Châu (2017). Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng Công chức cấp xã từ năm 2015 đến năm 2017 Khác
17. Phòng Nội vụ thành phố Vinh (2017). Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng Công chức cấp xã từ năm 2015 đến năm 2017 Khác
18. Phòng Tài nguyên và môi trường Nghi Lộc (2017). Báo cáo tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Nghi Lộc giai đoạn 2016-2021 Khác
19. Quốc hội (2008). Luật Cán bộ, công chức. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
21. Trần Mỹ Hạnh (2016). Nâng cao chất lượng công chức cấp xã tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Luận văn thạc sỹ, trường đại học Lao động – Xã hội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w