1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ kiểm soát chất lượng kiểm toán dự án đầu tư xây dựng cơ bản do kiểm toán nhà nước chuyên ngành IB thực hiện

143 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 225,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. Mở đầu (13)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (13)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cưu (15)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung (15)
      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (15)
    • 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (15)
      • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài (15)
      • 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài (15)
  • Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn (17)
    • 2.1. Cơ sơ lý luận (17)
      • 2.1.1. Khái quát chung về kiểm toán, chất lượng kiểm toán (17)
      • 2.1.2. Kiểm soát chất lượng Kiểm toán nhà nước (24)
      • 2.1.3. Kiểm soát chất lượng kiểm toán dự án đầu tư xây dựng cơ bản (44)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài (54)
      • 2.2.1. Kinh nghiệm về kiểm soát chất lượng kiểm toán trên thế giới (0)
      • 2.2.2. Bài học kinh nghiệm cho Kiểm toán nhà nước Việt Nam (0)
      • 2.2.3. Một số công trình nghiên cứu liên quan (61)
  • Phần 3. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu (63)
    • 3.1. Giới thiệu về kiểm toán nhà nước chuyên ngành Ib (63)
      • 3.1.1. Quá trình phát triển của Kiểm toán Nhà nước (63)
      • 3.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của Kiểm toán nhà nước chuyên ngành Ib (66)
      • 3.1.3. Cơ cấu tổ chức và nhân sự của Kiểm toán nhà nước chuyên ngành Ib (68)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (71)
      • 3.2.1. Phương pháp thu thập thông tin (71)
      • 3.2.2. Phương pháp phân tích tài liệu (72)
    • 4.1. Thực trạng kiểm soát chất lượng kiểm toán dự án đầu tư xây dựng cơ bản do kiểm toán nhà nước chuyên ngành Ib thực hiện (74)
      • 4.1.1. Tổ chức KSCL kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành Ib (74)
      • 4.1.2. Kiểm soát chất lượng kiểm toán dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại chuyên ngành Ib (79)
      • 4.1.3. Đánh giá của các đối tượng về kiểm soát chất lượng kiểm toán dự án tại chuyên ngành Ib (95)
      • 4.1.4. Đánh giá kết quả KSCL kiểm toán dự án đầu tư xây dựng cơ bản do Kiểm toán nhà nước chuyên ngành Ib thực hiện (100)
    • 4.2. Giải pháp hoàn thiện KSCL kiểm toán dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại kiểm toán nhà nước chuyên ngành Ib (107)
      • 4.2.1. Định hướng phát triển Kiểm toán nhà nước Việt Nam và sự cần thiết hoàn thiện (107)
      • 4.2.2. Giải pháp hoàn thiện KSCL kiểm toán dự án đầu tư xây dựng cơ bản do Kiểm toán nhà nước chuyên ngành Ib thực hiện (110)
  • Phần 5. Kết luận và kiến nghị (123)
    • 5.1. Kết luận (123)
    • 5.2. Kiến nghị (124)
  • Tài liệu tham khảo (125)
  • Phụ lục (128)

Nội dung

Cơ sở lý luận và thực tiễn

Cơ sơ lý luận

2.1.1 Khái quát chung về kiểm toán, chất lượng kiểm toán

2.1.1.1 Khái niệm về kiểm toán

Trong nền kinh tế, các tổ chức có mục tiêu hoạt động riêng nhưng lại có mối quan hệ lợi ích chặt chẽ với nhau Để kiểm soát hoạt động, Nhà nước yêu cầu các đơn vị tổ chức công tác kế toán hiệu quả và lập Báo cáo tài chính thường xuyên nhằm cung cấp thông tin kinh tế, tài chính cho các bên liên quan Tuy nhiên, để đạt được lợi ích cá nhân, các tổ chức có thể cung cấp thông tin sai lệch, không khách quan Điều này dẫn đến việc các đối tượng sử dụng thông tin cần thông tin chính xác nhưng thiếu nghiệp vụ, dễ dẫn đến quyết định sai lầm và rủi ro Do đó, cần có một cơ quan trung gian độc lập và chuyên nghiệp để đưa ra ý kiến khách quan về thông tin công bố, từ đó kiểm toán ra đời.

Kiểm toán là hoạt động của cơ quan kiểm toán nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý của thông tin, giúp người sử dụng yên tâm về chất lượng và tính chính xác của dữ liệu Qua đó, kiểm toán đảm bảo rằng thông tin được xác nhận là hợp pháp, đầy đủ và đáng tin cậy.

Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về thông tin định lượng liên quan đến một thực thể pháp lý, nhằm xác định và báo cáo mức độ phù hợp với các chuẩn mực đã thiết lập Hoạt động này được thực hiện bởi các chuyên gia hoặc tổ chức độc lập có đủ thẩm quyền và trình độ Kiểm toán có lịch sử phát triển lâu dài, gắn liền với sự tiến bộ kinh tế xã hội của con người Để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội, nhiều lĩnh vực và loại hình kiểm toán đã ra đời, bao gồm kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ.

Kiểm toán là quá trình do các kiểm toán viên độc lập và có năng lực thực hiện, nhằm thu thập chứng cứ về thông tin định lượng của tổ chức Mục tiêu của kiểm toán là đánh giá và báo cáo mức độ phù hợp của các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập.

Kiểm toán được định nghĩa là quá trình mà một cá nhân độc lập có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về thông tin số lượng liên quan đến một tổ chức kinh tế cụ thể Mục đích của kiểm toán là xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được xây dựng.

Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình là quá trình do các chuyên gia độc lập thực hiện, nhằm thu thập bằng chứng theo chuẩn mực của Nhà nước Quá trình này bao gồm việc đánh giá sự tuân thủ pháp luật và chế độ quản lý dự án, kiểm tra công tác quản lý chất lượng và tiến độ, cũng như xem xét báo cáo quyết toán dự án hoàn thành và báo cáo vốn đầu tư Ngoài ra, kiểm toán còn đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực của dự án đầu tư.

2.1.1.2 Bản chất, chức năng và phân loại Kiểm toán

Kiểm toán là quá trình kiểm tra độc lập từ bên ngoài, thực hiện bởi tổ chức có chuyên môn cao và chịu trách nhiệm về pháp lý, kinh tế đối với độ tin cậy của thông tin được thẩm định Hoạt động này yêu cầu người thực hiện phải có chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và tính độc lập Nhà nước và xã hội quản lý kiểm toán dựa trên ba nội dung: thông tin công bố phải tuân thủ nguyên tắc chung, hoạt động kiểm toán phải tuân thủ chuẩn mực, và các cá nhân, tổ chức liên quan đến sai sót, gian lận phải chịu trách nhiệm pháp lý và kinh tế.

Về chức năng, kiểm toán có hai chức năng cơ bản, đó là chức năng xác minh và chức năng bày tỏ ý kiến.

Chức năng xác minh trong kiểm toán khẳng định tính trung thực và pháp lý của tài liệu, đảm bảo thông tin số liệu chính xác và phản ánh đúng quy định Hệ thống kiểm tra ngoại và nội được áp dụng để thực hiện chức năng này, dựa trên các bằng chứng kiểm toán đã thu thập.

Chức năng bày tỏ ý kiến của kiểm toán viên (KTV) dựa trên các bằng chứng kiểm toán và phương pháp kiểm toán nhằm đánh giá tính trung thực và mức độ hợp lý của thông tin số liệu được công bố Ý kiến này không chỉ kết luận về chất lượng và tính pháp lý của thông tin mà còn cung cấp tư vấn cho đơn vị được kiểm toán, đơn vị sử dụng thông tin kiểm toán và các cơ quan quản lý.

Kiểm toán hiện đại nhấn mạnh vai trò tư vấn trong việc hỗ trợ cơ quan quản lý Nhà nước cải thiện những hạn chế của chế độ kế toán tài chính hiện tại Đồng thời, kiểm toán cũng cung cấp tư vấn cho đơn vị được kiểm toán, chỉ ra những điểm yếu trong hệ thống kiểm soát nội bộ và quản lý tài chính, từ đó đề xuất các chính sách điều chỉnh kịp thời.

Hoạt động kiểm toán được phân loại dựa theo chức năng và theo chủ thể kiểm toán.

Nếu phân loại theo chức năng, hoạt động kiểm toán gồm: Kiểm toán hoạt động; Kiểm toán tuân thủ và Kiểm toán Báo cáo tài chính.

Kiểm toán hoạt động là quy trình đánh giá và xác định tính hiệu quả của các hoạt động trong đơn vị được kiểm toán Qua đó, các kiểm toán viên sẽ đưa ra những đề xuất cải tiến nhằm đảm bảo các hoạt động đạt được mục tiêu và hiệu quả cao hơn.

Kiểm toán tuân thủ là quá trình đánh giá việc tuân thủ pháp luật, chính sách và quyết định của đơn vị được kiểm toán Kết quả của kiểm toán tuân thủ cung cấp thông tin quan trọng cho ban giám đốc và các cấp thẩm quyền, hỗ trợ trong việc điều hành các hoạt động của đơn vị.

Kiểm toán Báo cáo tài chính là quá trình đánh giá tính trung thực và sự tuân thủ các chuẩn mực của Báo cáo tài chính của đơn vị Kết quả kiểm toán cung cấp thông tin quan trọng cho nhiều bên liên quan, giúp bảo vệ lợi ích và giảm thiểu rủi ro.

Nếu phân loại theo chủ thể kiểm toán, kiểm toán phân thành: Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán độc lập và Kiểm toán nội bộ.

Kiểm toán nhà nước là hoạt động do các cơ quan kiểm toán nhà nước thực hiện, nhằm kiểm tra các cơ quan và tổ chức sử dụng tài sản công và ngân sách nhà nước Về cấu trúc, kiểm toán nhà nước đóng vai trò là một phần trong hệ thống quản lý của Nhà nước.

Kiểm toán độc lập là quá trình kiểm toán do các kiểm toán viên độc lập thực hiện, thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập Loại hình kiểm toán này không chỉ kiểm tra báo cáo tài chính mà còn thực hiện kiểm toán các hoạt động khác theo yêu cầu của khách hàng.

Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Kinh nghiệm về kiểm soát chất lượng kiểm toán dự án đầu tư xây dựng cơ bản trên thế giới

Trong thời gian qua, INTOSAI và ASOSAI đã phát triển nhiều tài liệu hướng dẫn nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát chất lượng kiểm toán (KSCL) cho các cơ quan kiểm toán tối cao trên toàn cầu, đặc biệt là ở châu Á Một số cơ quan kiểm toán nhà nước (KTNN) đã rút ra bài học từ thực tiễn hoạt động KSCL của họ, góp phần hoàn thiện quy trình kiểm toán, bao gồm cả kiểm toán dự án đầu tư Do đó, các chỉ dẫn về KSCL của INTOSAI và ASOSAI, cùng với kinh nghiệm của một số cơ quan KTNN toàn cầu, được xem là nền tảng thực tiễn quan trọng cho hoạt động KSCL kiểm toán.

Kinh nghiệm kiểm soát chất lượng kiểm toán dự án đầu tư xaayd ựng cơ bản của Trung Quốc

KTNN Trung Quốc quy định về kiểm soát chất lượng (KSCL) trong toàn bộ quy trình kiểm toán, bao gồm các giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán, cũng như kiểm tra việc thực hiện các kiến nghị từ kiểm toán.

Trong quy định "Biện pháp kiểm soát chất lượng kiểm toán của KTNN", nội dung công việc và trách nhiệm của từng đơn vị liên quan được trình bày rõ ràng theo từng giai đoạn Quy trình kiểm soát chất lượng kiểm toán, đặc biệt là kiểm toán dự án đầu tư của KTNN Trung Quốc, tuân thủ các giai đoạn của quy trình kiểm toán Tuy nhiên, do tính chất đặc thù, kiểm soát chất lượng kiểm toán dự án đầu tư có những đặc điểm riêng biệt và thường dựa trên quy trình kiểm toán dự án đầu tư.

Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán của KSCL bao gồm hai bước chính: khảo sát và thu thập thông tin về đơn vị được kiểm toán, cùng với việc lập kế hoạch kiểm toán Công tác này do các Vụ kiểm toán thực hiện và phải được xét duyệt trước khi trình lãnh đạo KTNN Kế hoạch kiểm toán cần được lãnh đạo KTNN ký duyệt, và đối với những cuộc kiểm toán quan trọng, kế hoạch phải được Hội nghị nghiệp vụ xem xét và thẩm định.

Trong giai đoạn này, nội dung kiểm soát chủ yếu tập trung vào việc xét duyệt kế hoạch kiểm toán, bao gồm tính khả thi của mục tiêu kiểm toán, xác định mức độ quan trọng và tính hợp lý của đánh giá rủi ro Bên cạnh đó, cần xem xét tính phù hợp của phạm vi, nội dung và trọng điểm kiểm toán, cũng như tính khả thi của các bước và phương pháp thực hiện Hơn nữa, việc bố trí thời gian và phân công công việc kiểm toán cũng cần được đánh giá một cách hợp lý, cùng với những công việc khác cần được xét duyệt.

Trong lĩnh vực kiểm toán dự án đầu tư, KTNN Trung Quốc tập trung vào việc thẩm định các mục tiêu kiểm toán quan trọng như kiểm tra quy trình và quản lý thực hiện các công trình nhằm nâng cao chất lượng và tiến độ xây dựng, đồng thời đáp ứng lợi ích xã hội Bên cạnh đó, việc giám sát sử dụng tài chính của các dự án cũng được chú trọng để giảm thiểu thất thoát và lãng phí Cuối cùng, KTNN còn thực hiện giám sát và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước và nhân dân.

Trách nhiệm kiểm soát của từng cấp đối với việc lập kế hoạch kiểm toán như sau:

+ Lãnh đạo KTNN phụ trách chịu trách nhiệm về tính phù hợp của mục tiêu kiểm toán.

+ Lãnh đạo Vụ kiểm toán chịu trách nhiệm về tính phù hợp của phạm vi và trọng điểm kiểm toán.

+ Trưởng nhóm kiểm toán chịu trách nhiệm về tính phù hợp của nội dung kiểm toán, tính khả thi của các bước và phương pháp kiểm toán.

+ Thành viên nhóm kiểm toán chịu trách nhiệm về tính xác thực và tính hoàn chỉnh của những ghi chép trong quá trình khảo sát, thu thập thông tin.

Các vi phạm nghiêm trọng liên quan đến việc xây dựng và điều chỉnh không hợp lý kế hoạch kiểm toán cần được điều tra Trong trường hợp chưa thể tiến hành điều tra ngay, các cá nhân liên quan phải chịu trách nhiệm liên đới.

Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, KSCL tập trung vào ba nội dung chính: kiểm soát việc thực hiện kế hoạch kiểm toán, đảm bảo chất lượng bằng chứng kiểm toán, và kiểm soát chất lượng nhật ký kiểm toán viên cùng với bản thảo gốc về kết quả kiểm toán.

Trong quá trình kiểm toán, nếu có sự thay đổi trong kế hoạch đã phê duyệt, nhóm kiểm toán cần báo cáo để lãnh đạo xem xét và phê duyệt Lãnh đạo Vụ kiểm toán có quyền điều chỉnh phạm vi, nội dung, trọng điểm, mức độ quan trọng và rủi ro, cũng như các bước và phương pháp kiểm toán Ngoài ra, lãnh đạo KTNN phụ trách Vụ kiểm toán cũng sẽ phê duyệt các thay đổi liên quan đến mục tiêu kiểm toán, trưởng nhóm, thời gian thực hiện và các vấn đề khác.

Vụ kiểm toán xin ý kiến phê duyệt.

Kết quả kiểm toán của KTV cần được phản ánh đầy đủ và trung thực trong bản thảo theo mẫu quy định, kèm theo các bằng chứng kiểm toán Trưởng nhóm kiểm toán hoặc KTV được uỷ quyền có trách nhiệm thẩm định các vấn đề trong bản thảo gốc, bao gồm việc thực hiện các nội dung, mục tiêu và phương pháp kiểm toán; tính rõ ràng và đầy đủ của bằng chứng; tính chính xác trong việc áp dụng văn bản pháp luật; và tính hợp lý của kết luận, kiến nghị kiểm toán Khi cần thiết, trưởng nhóm có thể kiểm tra nhật ký KTV và chỉ đạo sửa chữa các vấn đề tồn tại Trong lĩnh vực kiểm toán dự án đầu tư, quá trình kiểm soát cần bám sát quy trình kiểm toán với các bước như kiểm toán quyết định đầu tư, thiết kế, ước tính, hợp đồng, thanh toán và hoạt động.

Trong giai đoạn lập báo cáo kiểm toán của KSCL, báo cáo này sẽ được thẩm định và kiểm soát qua nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm Trưởng nhóm kiểm toán, Lãnh đạo Vụ kiểm toán, Vụ Pháp chế, và Lãnh đạo KTNN phụ trách.

Sau khi trưởng nhóm kiểm toán thẩm định, báo cáo kiểm toán sẽ được gửi đến đơn vị được kiểm toán để lấy ý kiến Nếu có ý kiến khác, nhóm kiểm toán cần kiểm tra và giải thích bằng văn bản Báo cáo này phải được lưu trữ và nhóm kiểm toán phải nộp toàn bộ tài liệu liên quan cho Vụ kiểm toán Lãnh đạo Vụ kiểm toán sẽ xét duyệt báo cáo dựa trên các tiêu chí như mục tiêu kiểm toán, tính rõ ràng, tính đầy đủ của bằng chứng và tính hợp lý của kết luận Sau khi được xét duyệt, báo cáo sẽ được chuyển cho Vụ Pháp chế để thẩm định tính rõ ràng, chính xác và tuân thủ quy trình kiểm toán.

Vụ kiểm toán cần gửi báo cáo kiểm toán và ý kiến thẩm định của Vụ Pháp chế cho lãnh đạo KTNN phụ trách Đối với các cuộc kiểm toán thông thường, lãnh đạo KTNN tổ chức Hội nghị nghiệp vụ hẹp để thảo luận và thẩm định, với sự tham gia của lãnh đạo KTNN, lãnh đạo Vụ kiểm toán, lãnh đạo Vụ Pháp chế, trưởng nhóm kiểm toán và các cá nhân liên quan Đối với các cuộc kiểm toán quan trọng, lãnh đạo KTNN đề nghị tổ chức Hội nghị nghiệp vụ rộng hơn, bao gồm lãnh đạo KTNN, lãnh đạo Vụ kiểm toán, lãnh đạo Vụ Pháp chế, trưởng nhóm kiểm toán, các chuyên gia và cá nhân liên quan Hội nghị sẽ đưa ra kết luận cuối cùng, và Vụ kiểm toán sẽ ghi biên bản để chỉnh sửa báo cáo kiểm toán dựa trên kết luận đó.

KSCL giai đoạn kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm toán: KTNN Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tiến hành kiểm tra các đơn vị được kiểm toán để đánh giá việc thực hiện các kiến nghị qua các cuộc kiểm toán tiếp theo Do đó, công tác kiểm soát được thực hiện đồng thời với kế hoạch kiểm tra việc thực hiện các kiến nghị của các đơn vị này.

Kiểm toán nhà nước Cộng hoà Liên bang Đức

Nguyên tắc quyết định tập thể là cơ sở quan trọng trong hoạt động kiểm toán, đặc biệt là trong kiểm soát chất lượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước Cộng hòa Liên bang Đức.

Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

Ngày đăng: 10/07/2021, 08:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2003). Chuẩn mực kiểm toán số 220 “Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán”. Quyết định số 28/2003/QĐ-BTC ngày 14/3/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát chấtlượng hoạt động kiểm toán
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2003
8. Kiểm toán nhà nước (2013). “Kế hoạch chiến lược2013-2017” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch chiến lược2013-2017
Tác giả: Kiểm toán nhà nước
Năm: 2013
10. Kiểm toán nhà nước (2016) “Nghị quyết 32-NQ/ĐU về 4 đề án chương trình 1” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 32-NQ/ĐU về 4 đề án chương trình 1
11. Kiểm toán nhà nước (2016). “Ban hành hệ thống mẫu biểu hồ sơ kiểm toán” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban hành hệ thống mẫu biểu hồ sơ kiểm toán
Tác giả: Kiểm toán nhà nước
Năm: 2016
12. Kiểm toán nhà nước (2016). “Quy chế kiểm soát chất lượng kiểm toán” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế kiểm soát chất lượng kiểm toán
Tác giả: Kiểm toán nhà nước
Năm: 2016
2. Bộ Tài chính (2014) Theo Thông tư số 157/2014/TT-BTC ngày 23/10/2014 – Quy định về Kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán Khác
3. Nguyễn Đình Hựu (2004). Kiểm toán căn bản. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
4. Kiểm toán nhà nước (2014) Quyết định số 03/2014/QĐ-KTNN ngày 15/7/2014, Ban hành chuẩn mực kiểm toan nhà nước số 40 kiểm soát chất lượng kiểm toán Khác
5. Kiểm toán nhà nước (2007). Quy trình kiểm toán của KTNN, Hà Nội Khác
6. Kiểm toán nhà nước (2010). Chiến lược phát triển Kiểm toán nhà nước đến năm 2020 Khác
7. Kiểm toán nhà nước (2012). Quy trình kiểm toán dự án đầu tư của KTNN, Hà Nội Khác
9. Kiểm toán nhà nước (2013, 2014). Báo kiểm toán, Hà Nội Khác
13. Kiểm toán nhà nước (2016). Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán, Hà Nội Khác
14. Kiểm toán nhà nước (2016), hệ thống chuẩn mực Khác
15. Lê Minh Khái (2010). Các giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước chuyên ngành. Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội Khác
16. Luật Kiểm toán nhà nước (2005). Luật Kiểm toán nhà nước (2015) Khác
17. Nguyễn Viết Lợi, Đậu Ngọc Châu (2009), Giáo trình lý thuyết kiêm toán, Học viện Tài chính, NXB Tài chính Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w