1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống đậu xanh và ảnh hưởng của phân bón qua lá đến cây đậu xanh giống đx trồng vụ đông

82 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 6,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: ĐỖ THỊ HẢI VÂNTên luận văn: Đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu xanh và ảnh hưởng của phân bón qua lá đến cây đậu xanh giống Đ

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐỖ THỊ HẢI VÂN

ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA

MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU XANH VÀ ẢNH HƯỞNG

CỦA PHÂN BÓN QUA LÁ ĐẾN CÂY ĐẬU XANH

Trang 2

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiêncứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 19 tháng 9 năm 2019

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Hải Vân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhậnđược sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên củalãnh đạo cơ quan, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Đến nay đã hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng vàbiết ơn sâu sắc đến TS Trần Anh Tuấn, TS Nguyễn Ngọc Quất đã tận tình hướngdẫn, chỉ dạy, dành nhiều thời gian, công sức, và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trongsuốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,

Bộ môn Sinh lý thực vật, Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Trungtâm nghiên cứu và phát triển Đậu đỗ - Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã tạomọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường THPT Ba Vì - Hà Nội, gia đình,người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt,động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 19 tháng 9 năm 2019

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Hải Vân

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục đồ thị và hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 2

1.2.1 Mục đích của đề tài 2

1.2.2 Phạm vi nghiên cứu 2

1.2.3 Yêu cầu của đề tài 2

1.2.4 Ý nghĩa của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Vai trò và tình hình sản xuất đậu xanh 4

2.1.1 Vai trò chung của cây đậu xanh 4

2.1.2 Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới 4

2.1.3 Tình hình sản xuất đậu xanh ở Việt Nam 6

2.2 Nghiên cứu về đậu xanh trên thế giới và ở Việt Nam 8

2.2.1 Nghiên cứu về đậu xanh trên thế giới 8

2.2.2 Nghiên cứu về đậu xanh ở Việt Nam 10

2.3 Nhu cầu dinh dưỡng của đậu xanh 13

2.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng của đậu xanh 13

2.4 Nghiên cứu về dinh dưỡng qua lá 16

2.4.1 Đặc điểm dinh dưỡng qua lá 16

2.4.2 Một số kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón lá trên thế giới và ở Việt Nam 19

2.5 Đặc điểm khí hậu khu vực Hà Nội 21

Trang 6

Phần 3 Vật liệu,và phương pháp nghiên cứu 24

3.1 Địa điểm nghiên cứu 24

3.2 Thời gian nghiên cứu 24

3.3 Đối tượng nghiên cứu 24

3.3.1 Gồm 9 giống đậu xanh triển vọng: 24

3.3.2 Các loại phân bón qua lá: 25

3.4 Nội dung nghiên cứu 25

3.5 Phương pháp nghiên cứu 25

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 25

3.4.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 27

3.4.3 Phương pháp phân tích số liệu 30

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 31

4.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất của một số giống đậu xanh tuyển chọn cho vụ đông tại Thanh Trì - Hà Nội 31 4.1.1 Đặc điểm hình thái của các giống đậu xanh tham gia thí nghiệm 31

4.1.2 Thời gian sinh trưởng phát triển của đậu xanh ở các giai đoạn 31

4.1.3 Một số đặc điểm sinh trưởng của đậu xanh trong vụ Đông 33

4.1.4 Khả năng chống đổ và mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính của các giống

đậu xanh triển vọng 36

4.1.5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống đậu xanh triển

vọng 37

4.2 Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến giống đậu xanh ĐX14

trồng vụ đông 40

4.2.1 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến đặc điểm sinh trưởng của giống đậu

xanh ĐX14 40

4.2.2 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến sự phát triển chiều cao giống đậu

xanh ĐX14 42

4.2.3 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến quá trình ra lá của giống đậu xanh

ĐX14 43

4.2.4 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến khả năng tích lũy chất khô của

giống đậu xanh ĐX14 45

4.2.5 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến diện tích lá, chỉ số diện tích lá và chỉ

số diệp lục của giống đậu xanh ĐX14 47

Trang 7

4.2.6 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến khả năng chống đổ và mức độ

nhiễm sâu bệnh hại của giống đậu xanh ĐX14.49

4.2.7 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến các yếu tố cấu thành năng suất và

năng suất của giống đậu xanh ĐX14 50

4.2.8 Hiệu quả kinh tế khi phun phân bón qua lá cho giống đậu xanh ĐX14

trong vụ đông 53

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 54

5.1 Kết luận 54

5.2 Kiến nghị 55

Phụ lục: 62

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất đậu xanh ở một số vùng của Việt Nam năm

2015 và 2016 6Bảng 4.1 Đặc điểm hình thái của các giống đậu xanh 31Bảng 4.3 Một số đặc điểm sinh trưởng của các giống đậu xanh 33Bảng 4.4 Khả năng chống đổ và mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính của các

giống đậu xanh37Bảng 4.5 Các yếu tố cấu thành năng và năng suất của các giống đậu xanh

triển vọng 39Bảng 4.6 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến đặc điểm sinh trưởng của

giống đậu xanh ĐX14 trong vụ đông 41Bảng 4.7 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến sự phát triển chiều cao (cm)

của giống đậu xanh ĐX14 trong vụ đông 43Bảng 4.8 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến quá trình ra lá của giống đậu

xanh ĐX14 trong vụ đông (lá/cây) 44Bảng 4.9 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến khả năng tích lũy chất khô

của giống đậu xanh ĐX14 49Bảng 4.10 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến diện tích lá (dm2) , chỉ số diện

tích lá (m2 lá/m2 đất) và chỉ số diệp lục (SPAD) của giống đậu

xanh ĐX14 47Bảng 4.11 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến khả năng chống đổ và mức độ

nhiễm sâu bệnh hại của giống đậu xanh ĐX14 trong vụ đông 49Bảng 4.12 Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến các yếu tố cấu thành năng

suất và năng suất của giống đậu xanh ĐX14 trong vụ đông 50Bảng 4.13 Hiệu quả kinh tế khi phun phân bón qua lá cho giống đậu xanh

ĐX14 trong vụ đông (Tính cho 1ha, đơn vị tính: 1000 đồng) 53

Trang 10

Ảnh 4.1.: Cây đậu xanh giống ĐX14 ở giai đoạn quả mẩy 54

Ảnh 4.2 Chiều dài quả đậu xanh ĐX14 ở các công thức thí nghiệm phân bón lá 55 Ảnh 4.3 : Kết quả cân khối lượng 1000 hạt của 3 CT nghiên cứu ở lần lặp lại thứ nhất 56

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: ĐỖ THỊ HẢI VÂN

Tên luận văn: Đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu xanh

và ảnh hưởng của phân bón qua lá đến cây đậu xanh giống ĐX14 trồng vụ đông

Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện trong vụ Đông 2018, gồm 2 thí nghiệm độc lập bố trí ngoài đồng ruộng theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần nhắc lại

+ Thí nghiệm 1 với 9 công thức về giống gồm: ĐXHL10; ĐX11; ĐX14; ĐX16; ĐX17; NTB02; ĐXVN5; ĐXVN7; và giống ĐXVN6 làm đối chứng

+ Thí nghiệm 2 với 3 công thức gồm: Phun nước lã (Đối chứng); phun Phân bón lá A2; phun Phân bón lá Bolas

Kết quả chính và kết luận

1 Các giống đậu xanh triển vọng có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, thời giansinh trưởng từ 68 - 75 ngày; khả năng chống đổ tốt; mức độ nhiễm bệnh đốm nâu, bệnh phấn trắngnhẹ; số quả trên cây biến động từ 15,0 - 19,67 quả, cao hơn giống đối chứng 3 - 4 quả/cây; cho năngsuất thực thu cao hơn so với giống đối chứng ĐXVN6, trong đó 2 giống ĐX14 và ĐX11 có tiềmnăng năng suất cao (đạt 1,75 và 1,70 tấn/ha; vượt đối chứng 0,54 - 0,59 tấn/ha)

2 Phân bón qua lá A2 và Bolas có ảnh hưởng tích cực tới các quá trình sinh trưởng, phát triển của cây đậu xanh ĐX14 (tăng số cành, đường kính thân, chiều cao, khả năng ra lá, diện tích lá ) nhưng không làm giảm khả năng chống đổ và chống chịu một số loại sâu bệnh chính; phân bón lá có ảnh hưởng tốt đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất thực thu và cho hiệu quả kinh tế cao hơn Trong đó phun phân bón lá A2 cho năng suất cao nhất, đạt 1,82 tấn/ha; đã cho hiệu quả kinh tế cao nhất với lãi thuần đạt 23.529.000 đồng/ha, cao hơn công thức đối chứng 3.164.000 đồng/ha.

ix

Trang 12

THESIS ABSTRACT Master candidate: Do Thi Hai Van

Thesis title: Agronomic characteristics of 9 mung bean varieties and effects of foliar

fertilizers on variety DX14 in winter crop

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research Objectives:

Evaluation of growth and development characteristics of 9 mung bean varieties and effects of foliar fertilizers on variety DX14 in winter crop; finding out the most apropriate variety and foliar fertilizer for promotion of mung bean production in winter-crop.

Material and Methods:

The research was conducted in winter crop 2018 including 2 open-fieldexperiments The experiments were arranged according to Complete randomizedDesign (CRD) with 3 replications of each variable

+ Experiment 1 including 9 variables of varieties: ĐXHL10; ĐX11; ĐX14; ĐX16; ĐX17; NTB02; ĐXVN5; ĐXVN7; and the control variety ĐXVN6

+ Experiment 2 including 3 treatment-levels: water-spraying, foliar fertilizer A2 and foliar fertilizer Bolas

Main findings and conclusions

1 Evaluation of growth and development characteristics of mung bean varieties inwinter - crop at Thanh Trì - Hà Nội showed that: 8 mungbean varieties had good growth, with growthperiods ranged from 68 - 75 days The results also showed that 8 mungbean varieties resistanced well

to lodging, Cercospora leaf spot and powdery mildew diseases and had the pod - numbers per plant at15.0 - 19.67 (higher than the control variety DXVN6 at 3 - 4 pods/plant) The promising mungbeanvarieties had the higher grain yield than the control variety DXVN6 Among them, varieties DX14and DX11 had the highest potential yield, which should be cultivated in winter crop in the Northern

of Vietnam

2 Foliar fertilizers A2 and Bolas enhanced growth of mung bean var ĐX14including plant height, leaf and branch-initation, main-shoot thickness, leaf - area, LAI, SPAD,matter accumulation and growth - duration 4 more-days How ever, use of the foliar fertilizers didnot change the resistances to lodging and the diseases

Trang 13

- Foliar fertilizer A2 and Bolas gave the good effects on yield-contributivecomponents and actual yield of mung bean var ĐX14 in winter crop Among them, A2 gave the bestenhancements on plant height, leaf and branch-initation, main-shoot thickness, leaf-area, LAI, SPAD,matter accumulation, number of pod/plant and seed/pod, pod length and 1000-seed weight Mungbean var ĐX14 treated with A2 had the best actual yield, attained 1.82 ton/ha and profited23.529.000 VND/ha.

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đậu xanh (Vigna radiate (L) wilczek) là cây thực phẩm ngắn ngày với

nhiều ưu điểm trong hệ thống nông nghiệp (Nusrat et al., 2014), cũng là cây có giátrị kinh tế cao được trồng ở nhiều nước trên thế giới và cả ở Việt Nam Hạt đậuxanh cung cấp nguồn thực phẩm giàu đạm, đáp ứng nhu cầu về dinh dưỡng củacon người, vật nuôi; là nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp chế biến và làcây cải tạo đất tốt Quả và lá non đậu xanh còn được dùng như một loại rau xanhcao cấp rất giàu khoáng chất và vitamin (Riaz Ullah et al., 2014) Với thời giansinh trưởng ngắn, đậu xanh là cây trồng có giá trị đặc biệt trong hệ thống canh tác,luân canh tăng vụ Ở Việt Nam, đậu xanh được trồng từ lâu đời trên hầu khắp cácvùng trong cả nước và có vai trò quan trọng chỉ sau sau lạc, đậu tương (Trần Đình

Long và Lê Khả Tường,1998).

Riêng miền Bắc, đậu xanh hiện được gieo trồng khá phổ biến nhưng vẫnchỉ được coi là loại cây trồng thứ yếu và chưa được gieo trồng nhiều trong vụĐông Trong khi đó sau hai vụ lúa diện tích đất trồng cây vụ Đông rất lớn nhưnghiện vẫn chưa được sử dụng hiệu quả Trước thực tế đó, phát triển cây đậu xanhbằng các giống có năng suất cao, thích hợp trồng vụ Đông sẽ làm đa dạng câytrồng, góp phần làm tăng thu nhập cho nông dân Mặt khác, mặc dù đậu xanh làđối tượng được các nhà nông học chú ý quan tâm, nhưng các nghiên cứu để pháttriển cây đậu xanh vụ Đông còn rất hạn chế Do đó, hiện vẫn còn rất thiếu cácgiống đậu xanh thích hợp cho trồng vụ Đông ở miền Bắc Để cây đậu xanh có thểtrở thành một trong những cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao thì việc đẩymạnh công tác nghiên cứu, tuyển chọn, đánh giá, sử dụng những giống đậu xanhtriển vọng là hết sức cần thiết

Giống đậu xanh ĐX14 được Hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và PTNTthông qua đề nghị công nhận sản xuất thử năm 2014 Theo Nguyễn Ngọc Quất và

cs (2013), giống đậu xanh ĐX14 luôn thể hiện những đặc tính ưu việt về sinhtrưởng phát triển, cho năng suất thực thu cao nhất đạt từ 2,0 - 2,1 tấn/ha Vì vậynếu đưa được giống đậu xanh ĐX14 vào trồng trong vụ Đông ở miền Bắc có thể sẽgiúp mở rộng diện tích và nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở vùng này Tuy nhiên đểmột giống có thể đạt được tiềm năng năng suất thì có rất nhiều biện pháp, trong đó

sử dụng phân bón là một trong những biện pháp quan trọng Xu

Trang 15

hướng sử dụng nhiều phân bón hóa học hiện nay đã làm thiếu hụt các nguyên tố

vi lượng trong đất, đây chính là một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng suất

và làm cho cây đậu xanh dễ bị nhiễm sâu bệnh Vì vậy, cần thiết phải bổ sung các nguyên tố vilượng cho cây đậu xanh, đặc biệt là bổ sung bằng con đường qua lá

Xuất phát từ những yêu cầu thực tế nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài:

“Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống đậu xanh và ảnh hưởng của phân bón qua lá đến cây đậu xanh giống ĐX14 trồng vụ Đông” nhằm tuyển

chọn những giống đậu xanh có năng suất cao, thích hợp trồng vụ Đông tại miềnBắc Việt Nam Đồng thời đánh giá ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đếnquá trình sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu xanh ĐX14 trong vụđông

1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của 09 giống đậu xanh và ảnhhưởng của 02 loại phân bón qua lá tới cây đậu xanh giống ĐX14 trồng vụ Đông,nhằm xác định được giống và phân bón qua lá thích hợp, phục vụ phát triển câyđậu xanh trồng vụ Đông

1.2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài tiến hành thí nghiệm trên 09 giống đậu xanh, với 2 loại phân bónqua lá;

- Thời gian thực hiện: vụ đông năm 2018;

- Địa điểm: Thanh Trì - Hà Nội

1.2.3 Yêu cầu của đề tài

- Tuyển chọn được giống đậu xanh triển vọng cho năng suất cao, chất lượng thích hợp để gieo trồng trong vụ Đông

- Xác định được ảnh hưởng của phân bón lá A2 và Bolas đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu xanh ĐX14 trồng trong vụ Đông

1.2.4 Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học mới về

các giống đậu xanh triển vọng cho năng suất, chất lượng cao thích hợp

Trang 16

trồng trong vụ Đông; ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu xanh ĐX14 trồng trong vụ Đông.

Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở để xây dựng quy trình kĩ thuật

gieo trồng một số giống đậu xanh trong vụ Đông nhằm tăng năng suất, chất lượng của cây đậuxanh, từ đó góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích, mở rộng diện tích gieotrồng và đa dạng cây trồng trong vụ đông

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 VAI TRÒ VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT ĐẬU XANH

2.1.1 Vai trò chung của cây đậu xanh

Cây đậu xanh đã được chú trọng phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới từnhiều năm nay, đặc biệt là ở châu Á Trồng đậu xanh chủ yếu để thu hoạch hạt.Hạt đậu xanh là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao do có chứa hàm lượngprotein phong phú và rất dễ tiêu hóa Protein trong hạt đậu xanh chứa đầy đủ cácloại axit amin không thay thế đặc biệt là lizin, vì vậy sử dụng bột đậu xanh kết hợpvới bột ngũ cốc để tạo ra thực phẩm giàu protein rất tốt (vì lizin là axit amin hạn

chế trong lúa gạo) (Zhang et al., 2003) Từ hạt đậu xanh có thể chế biến thành rất

nhiều sản phẩm khác nhau như làm bánh kẹo, đồ xôi, nấu chè, làm rau giá, chếbiến thành bột dinh dưỡng… Sử dụng sản phẩm đậu xanh giúp tăng cường sức

khỏe cho phụ nữ và trẻ em bị thiếu máu (Shanmugasundaram et al., 2009) Hạt đậu

xanh có chứa các hợp chất thúc đẩy quá trình trao đổi chất ở cơ thể Trong y học

cổ truyền Trung Quốc, các bộ phận của cây đậu xanh được sử dụng để điều trị cáccăn bệnh như viêm gan, viêm dạ dày, nhiễm độc, giải nhiệt hạ khí, giải độc tiêu

phù, tả, mờ đục giác mạc… (Zhang et al., 2003).

Ngoài giá trị dinh dưỡng, cây đậu xanh còn có khả năng cố định đạm sinh

học nhờ cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm Rhizobium SP (đáp ứng 60 - 70% nhu

cầu đạm của cây) Sau khi thu hoạch, thân lá đậu xanh để lại trên đồng ruộng lànguồn phân xanh có tác dụng làm tăng chất hữu cơ và dinh dưỡng cho đất Ở ViệtNam nhiều vùng đã lựa chọn cây đậu xanh trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng,luân canh, xen canh, gối vụ (Trần Đình Long và Lê Khả Tường, 1998;

Ngoài ra, hạt đậu xanh là mặt hàng xuất khẩu của nhiều quốc gia trên thế

giới như Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Quốc (Nair et al., 2013).

2.1.2 Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới

Đậu xanh là một trong những loại cây họ đậu đã được trồng phổ biến ởnhiều quốc gia trên thế giới Đặc biệt ở châu Á, đậu xanh chính là một trong nhữngcây họ đậu quan trọng nhất Từ năm 2010 - 2014, diện tích trồng đậu xanh trên thếgiới liên tục tăng đều qua các năm Năng suất đậu xanh cũng ngày càng tăng lên

do có nhiều giống mới được lai tạo và đưa vào sử dụng Đồng thời đã áp dụngrộng rãi các biện pháp kĩ thuật tiên tiến, đem lại những kết quả tích cực (năng suấttăng 1,11 tấn/ha)

Trang 18

Trong những năm gần đây, do nhu cầu của con người về nguồn dinh dưỡngprotein từ thực vật tăng nhanh nên sản xuất đậu xanh trên thế giới ngày càng pháttriển Năm 2003, trên thế giới diện tích trồng đậu xanh chỉ khoảng 5,5 triệu ha,

nhưng chỉ sau 10 năm diện tích trồng đã đạt khoảng trên 6 triệu ha (Nair et al., 2013); tốc độ tăng trung bình khoảng 2.5% /năm (Tomooka et al., 2005) Lượng

đậu xanh tiêu thụ trên thế giới từ năm 1984 đến 2006 tăng từ 22% lên 66% và sản

lượng hàng năm tăng đều (Shanmugasundaram et al., 2009b).

Theo kết quả điều tra của Trung tâm Nghiên cứu và phát triển rau màu châu

Á (AVRDC), hàng năm trên thế giới có khoảng 23 nước sản xuất đậu xanh, vớitổng diện tích trên 6 triệu ha; sản lượng hàng năm thu được khoảng 3 triệu tấn Ba

quốc gia sản xuất đậu xanh lớn nhất là Ấn Độ, Trung Quốc và Myanmar (Nair et al., 2014) Cây đậu xanh phân bố tại những nơi có nhiệt độ trung bình ban ngày

trên 20ºC, tập trung chủ yếu ở khu vực Nam và Đông Nam Á bao gồm các quốc

gia Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Việt Nam (Nair et al.,

2013)

Hiện nay tại Ấn Độ, diện tích trồng đậu xanh là 3,5 triệu ha; sản lượng hạt

đạt 1,2 triệu tấn (Nair et al., 2013) Trung Quốc có diện tích trồng đậu xanh trên 700.000 ha, sản lượng đạt 980.000 tấn (Nair et al., 2013).

Riêng ở khu vực châu Á, Pakistan là một trong những quốc gia sản xuất đậuxanh lớn với diện tích trồng năm 2009 là 231.100 ha và sản lượng thu được là157.400 tấn; năng suất trung bình là 0,72 tấn/ha Ngoài ra cây đậu xanh cũng làcây trồng quan trọng của một số quốc gia như Myanmar, Bangladesh, Sri Lanka.Đậu xanh có thể trồng ở điều kiện độ ẩm và mức phân bón thấp, là một trongnhững cây đậu đỗ lấy hạt trong hệ thống canh tác nhờ nước trời ở vùng đất khôhạn và bán khô hạn của Sri Lanka

Về hình thái, hạt đậu xanh có màu vàng hoặc màu xanh Vỏ hạt có dạngtrơn bóng hoặc xanh mốc Thị hiếu của người tiêu dùng về màu sắc hạt ở các quốcgia là khác nhau Ví dụ, vỏ hạt màu xanh trơn bóng được người dân Ấn Độ,Bangladesh, Pakistan và Úc ưa chuộng; trong khi đó người dân In-đô-nê-xia,Tanzania, Kenya, Việt Nam lại ưa chuộng hạt xanh Còn hạt màu vàng được người

dân Philippines và Sri Lanka ưa chuộng (Nair et al., 2013).

Nhiều năm qua để đáp ứng nhu cầu phát triển đậu xanh trên thế giới,AVRDC đã hợp tác với các quốc gia trong khu vực nghiên cứu và đã tạo ra đượccác giống đậu xanh mới có nhiều ưu điểm như thời gian sinh trưởng ngắn, năngsuất cao, chống chịu sâu bệnh tốt (đặc biệt là bệnh đốm nâu, phấn trắng) Nông

Trang 19

dân của nhiều quốc gia như Bangladesh, Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Myanmar,

Nepal, Pakistan, Sri Lanka và Thái Lan đã trồng các giống đậu xanh mới với

diện tích khoảng 2.932.000 ha; năng suất trung bình tăng khoảng 300 kg/ha; sản

lượng tăng từ 2,5 triệu tấn năm 1985 lên 3,1 triệu tấn năm 2006 Tại Pakistan, khi

sử dụng các giống đậu xanh mới đã làm tăng năng suất lên 55% so với sử dụng các

giống truyền thống Ngoài ra, cây đậu xanh khi luân canh với cây lúa mì đã tiết

kiệm được 23% chi phí sản xuất Tại Bangladesh khi sử dụng các giống đậu xanh

mới cũng đã làm tăng năng suất lên đến 40% Ở Trung Quốc khi ứng dụng các

giống đậu xanh mới, sản lượng đậu xanh đang ở mức chỉ đạt 500.000 tấn (năm

1986) đã tăng lên 891.000 tấn (năm 2000); năng suất đang ở mức chỉ đạt

0,91tấn/ha (năm 1986) đã tăng lên 1,15 tấn/ha (năm 2000) (Nair et al., 2013).

2.1.3 Tình hình sản xuất đậu xanh ở Việt Nam

Ở Việt Nam đậu xanh là một trong những loại cây trồng truyền thống, cũng là

một trong 3 cây đậu đỗ chính Cây đậu xanh được trồng từ Bắc vào Nam, từ các tỉnh đồng bằng

đến trung du và miền núi Đặc biệt tại các tỉnh Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và

đồng bằng sông Cửu Long Nước ta trồng đậu xanh với nhiều mục đích như lấy hạt, cải tạo đất,

chống xói mòn, làm cây phân xanh… Cây đậu xanh trồng trong vụ Hè Thu đã mang lại nguồn

thu nhập đáng kể cho người nông dân Và trong hệ thống sản xuất cây trồng hiện nay, đậu xanh

có vị trí quan trọng trong cơ cấu luân canh, xen canh và gối vụ Tuy nhiên mặc dù cây đậu xanh

chỉ đứng sau lạc và đậu tương, nhưng diện tích gieo trồng đậu xanh hiện nay vẫn còn manh mún,

chưa tập trung

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất đậu xanh ở một số vùng

của Việt Nam năm 2015 và 2016

Trang 20

Sản xuất đậu xanh của nước ta được phân bố chủ yếu ở 7 vùng sinh tháitrên cả nước, với tổng diện tích trồng năm 2015 và năm 2016 lần lượt là 90.189 và90.541 ha Như vậy diện tích trồng cây đậu xanh năm 2016 so với năm 2015 đãtăng 352 ha Năng suất đậu xanh bình quân ở nước ta năm 2015 và 2016 đều đạt1.100 kg/ha Hiện nay, sản lượng đậu xanh trong nước không đủ đáp ứng nhu cầutiêu dùng mà hàng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu thêm từ các nước khác nhưTrung Quốc, Campuchia Mặc dù đậu xanh chưa được đầu tư nghiên cứu nhiềunhư lạc và đậu tương, nhưng do nhu cầu tiêu dùng của thị trường lớn; xu hướng đadạng hoá cây trồng và sản phẩm; cùng chính sách chuyển dịch cơ cấu cây trồng ởcác địa phương nên cây đậu xanh ngày càng được quan tâm và gieo trồng nhiềuhơn từ Bắc vào Nam, nhất là vùng Đông Nam Bộ và duyên hải miền Trung Tuynhiên hiện nay việc sản xuất cây đậu xanh ở nước ta vẫn đang ở tình trạng quảngcanh, vì vậy vấn đề thâm canh tăng năng suất và mở rộng quy mô trồng đậu xanhđang ngày càng được quan tâm nghiên cứu Và mặc dù đã có một số nghiên cứu vềgiống và các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất đậu xanh, nhưng các nghiêncứu đa số còn đơn lẻ, chưa có sự đột phá để có được năng suất và sản lượng cao.

Cả nước ĐB sông ĐB sông Duyên hải Đông Nam Trung du Bắc Trung Tây

Cửu Long Hồng Miền Bộ và MN Bộ Nguyên

Đồ thị 2.1 Diễn biến năng suất đậu xanh ở các vùng sinh thái của Việt Nam

Nguồn: Viện Quy hoạch Thiết kế Nông nghiệp (2017)Theo kết quả thống kê của Viện Quy hoạch Thiết kế Nông nghiệp năm

2017 thì: năm 2015, 2016 vùng có diện tích sản xuất đậu xanh lớn nhất cả nước làvùng Tây Nguyên với 24.362 và 25.220 ha; vùng có diện tích sản xuất đậu

Trang 21

xanh nhỏ nhất là vùng đồng bằng sông Hồng Nhưng về năng suất đậu xanh trungbình toàn vùng đạt cao nhất là ở 2 vùng là vùng Đồng bằng sông Cửu Long vàvùng Đồng bằng sông Hồng Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, năng suất đậuxanh trung bình trong 2 năm 2015 và 2016 biến động từ 1,63 - 1,66 tấn/ha và vùngđồng bằng sông Hồng năm 2015 và 2016 năng suất biến động từ 1,51 - 1,55tấn/ha Vùng có năng suất đậu xanh trung bình thấp nhất là Tây Nguyên và BắcTrung bộ Năm 2016 năng suất đậu xanh trung bình vùng Tây Nguyên chỉ đạt 0,89tấn/ha, vùng Bắc Trung bộ đạt 0,92 tấn/ha, thấp hơn năng suất trung bình của cảnước là 0,21 tấn/ha và 0,18 tấn/ha Như vậy ở vùng Đồng bằng sông Hồng tuy cótổng diện tích trồng đậu xanh thấp nhất cả nước, nhưng năng suất trung bình thuđược lại xếp thứ hai cả nước.

Khi so sánh năng suất đậu xanh trung bình của nước ta với năng suất trungbình của châu Á và thế giới, người ta thấy rằng năng suất đậu xanh của nước ta đạtkhá cao, cao hơn so với năng suất đậu xanh của châu Á và thế giới Những nămgần đây đã có nhiều giống đậu xanh mới được đưa ra sản xuất, đồng thời nhu cầuthâm canh, cải tạo đất ngày càng cao Vì vậy cây đậu xanh đã và đang được thamgia ngày càng nhiều vào các cơ cấu cây trồng của nhiều tỉnh thành trên cả nước vàngày càng có những bước tiến đáng kể về năng suất và sản lượng Có được kết quả

đó chính là do ở các địa phương đã mạnh dạn đưa các giống đậu xanh mới vào sảnxuất như V123; ĐX208; NTB01; ĐXHL10 Đặc biệt trong sản xuất đậu xanhhiện nay người sản xuất đã quan tâm đến việc đổi mới và áp dụng các quy trình kĩthuật canh tác tiên tiến Đồng thời hiện nay đã có nhiều công ty, Viện, Trung tâmtích cực tham gia nghiên cứu và cung ứng các giống mới, đã góp phần làm phongphú thêm bộ giống đậu xanh và tác động tích cực đến việc tăng năng suất, sảnlượng đậu xanh ở tất cả các vùng trên cả nước

2.2 NGHIÊN CỨU VỀ ĐẬU XANH TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 2.2.1 Nghiên cứu về đậu xanh trên thế giới

2.2.1.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau màu châu Á (AVRDC, Đài Loan)

là nơi lưu giữ tập đoàn các giống đậu xanh phong phú nhất với 6.379 mẫu giống.Hàng năm tại đây có vài trăm tổ hợp lai được tạo ra, với hàng loạt giống đậu xanhmới được đưa vào sản xuất tại nhiều quốc gia trên thế giới Nguồn gen đậu xanhcủa AVRDC chủ yếu được thu thập từ 41 quốc gia, trong đó nơi có nguồn gen đậuxanh nhiều nhất là Ấn Độ Các nước như Indonesia, Trung Quốc,

Trang 22

Australia, Mỹ, Pakistan, Kenya cũng có những chương trình chọn tạo giống đậuxanh riêng và cũng đã đưa ra hàng loạt giống mới với nhiều đặc điểm quý, phùhợp với điều kiện sinh thái của đất nước (Poehlman,1991).

Công trình nghiên cứu và đánh giá nguồn gen đậu xanh đáng chú ý nhất đãđược thực hiện bởi sự hợp tác giữa các Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp nhiệtđới (Nhật Bản), Trung tâm Nghiên cứu Cây trồng Chinat (Thái Lan), Viện Tàinguyên cây trồng Quốc gia Nhật Bản và AVRDC Trong chương trình nghiên cứunày đã có 497 mẫu được sử dụng cho việc đánh giá kiểu sinh trưởng; 651 mẫuđược sử dụng cho việc đánh giá đặc điểm hạt; 590 mẫu được sử dụng cho việcđánh giá sự đa dạng protein Hầu hết các mẫu giống này đều được cung cấp bởicác ngân hàng gen của AVRDC, trường đại học Tokyo (Nhật Bản) và Viện Tài

nguyên Cây trồng Quốc gia Nhật Bản (Norihico Tomooka et al., 1991).

Ở châu Á, các giống đậu xanh truyền thống được trồng có đặc điểm cơ bản làthời gian sinh trưởng dài (90 - 110 ngày), nhạy cảm với sâu bệnh hại, thu hoạch rải rác, dễ bịrụng quả, năng suất thấp chỉ đạt 0,4 tấn/ha, kích thước hạt nhỏ, do đó việc cải tiến giống đậuxanh cũng đã và đang được chú trọng

Thái Lan là một trong những quốc có nhiều thành công trong công tác chọntạo giống đậu xanh Gần đây 2 giống mới là Chai Nat 60 và Chai Nat 36 được giớithiệu vào sản xuất Và các giống đậu xanh KPS1, KPS2, Chai Nat 60 và Chai Nat

36 đã gần như phủ kín 100% diện tích trồng đậu xanh tại Thái Lan

(Shanmugasundaram et al., 2010).

Trong những năm qua, AVRDC đã đạt được những tiến bộ đáng kể trongviệc phát triển các dòng giống đậu xanh mới Các dòng tốt nhất được chuyển giaocho các nhà chọn giống trên khắp thế giới Từ nguồn vật liệu của AVRDC, 112giống đậu xanh mới được phát triển mở rộng ở 27 nước trên thế giới (Norihico

Tomooka et al., 1991) Ở một số nước ước tính diện tích trồng đậu xanh giống mới

như sau: ở Trung Quốc là 600.000 ha, Pakistan là 200.000 ha, Ấn Độ là 500.000

ha, Băngladesh là 70.000 ha (Shanmugasundaram, 2007)

Trên thế giới cây đậu xanh đã được trồng khá phổ biến ở 5 châu lục, do vậyđến nay cây đậu xanh đã được quan tâm nghiên cứu ở nhiều quốc gia AVRD vàcác trung tâm vùng như Trung tâm vùng châu Á (Bangkok, Thái Lan), Trung tâmvùng châu Phi (Arusha, Tanzania), Trung tâm vùng Nam Á (Hyderabad, Ấn Độ)

có sự nghiên cứu khá toàn diện về cây đậu xanh

Trang 23

Hiện tại, đã có hơn 110 giống đậu xanh được đưa ra bởi AVRDC cho khuvực Nam và Đông Nam Á cũng như toàn thế giới Trung tâm AVRDC đã pháttriển một số dòng đậu xanh siêu trội cho vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Ưu điểmcủa các giống này là đều chín sớm và chín đồng đều (55 - 65 ngày), năng suất vàkhả năng chống chịu bệnh cao Các giống này bao gồm: Chainat 60 - Thailand,

BPI Mg7 - Philippines, and Merpati - Indonesia (Somta et al., 2009).

2.2.1.2 Nghiên cứu về thời vụ gieo trồng

Thời vụ gieo trồng đậu xanh phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như điều kiệnsinh thái, thổ nhưỡng, cơ cấu cây trồng, giống Thời vụ gieo trồng thích hợp làmột trong các nguyên nhân tạo điều kiện cho đậu xanh đạt được năng suất tối ưu.Nếu cây trồng không được gieo đúng thời vụ thì năng suất có thể giảm đáng kể dogiảm số quả, giảm khối lượng hạt và cũng có thể suy giảm mạnh năng suất do gặp

các điều kiện thời tiết bất thuận ở giai đoạn thu hoạch (Sekhon et al., 2007).

Kết quả nghiên cứu tại Punjab, Ấn độ năm 2003 và 2004 chỉ ra rằng: Thời

vụ tốt nhất để gieo trồng đậu xanh trong vụ hè là từ 20/03 - 10/04 và trong mùakhô từ 10 - 25/07, riêng với những giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày (70 -

75 ngày) có thể gieo đến 10/08 (Sekhon et al., 2005).

Một nghiên cứu khác về thời vụ gieo trồng đậu xanh ở Băngladesh chothấy: Để đậu xanh đạt năng suất cao nên gieo từ 15/02 (ở Barisal) và từ tháng 03đến tháng 04 (ở Jessore và Dinajpur) Nếu gieo muộn hơn thì năng suất đậu xanh

giảm đáng kể từ 18 - 64% ( Hamid et al., 2004).

2.2.2 Nghiên cứu về đậu xanh ở Việt Nam

2.2.2.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống

Mặc dù chưa được đầu tư nghiên cứu nhiều như lạc và đậu tương nhưngtrong những năm gần đây công tác thu thập, lưu giữ và nhập nội, lai tạo giống đậuxanh ở nước ta cũng đã được chú trọng nghiên cứu và phát triển

Công tác thu thập, nghiên cứu vật liệu khởi đầu trong chọn tạo giống đậuxanh thích hợp cho vụ Hè ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1983 - 1994 đã thuđược 480 mẫu giống đậu xanh trong nước và từ 27 quốc gia khác trên thế giới.Trong đó có 158 mẫu giống đậu xanh địa phương của 22 tỉnh, phục vụ cho côngtác nghiên cứu, chọn tạo Giai đoạn từ 1994 - 1996 đã tiến hành đánh giá tập đoàngiống đậu xanh trên với 26 chỉ tiêu về tính trạng hình thái, nông học, các yếu tốcấu thành năng suất và năng suất, khả năng chống chịu

Trang 24

sâu bệnh Kết quả, đã phân lập được một số mẫu giống có các đặc tính quý, thíchnghi với vụ Hè như VC1973A, V2272, VC1560D…, vừa có năng suất cao, thờigian sinh trưởng ngắn, kháng được bệnh đốm nâu So sánh và thử nghiệm một sốgiống đậu xanh trong vụ Hè ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam cho thấy giốngVC1973A, VC4152B, Chunnam 2 có thời gian sinh trưởng ngắn (65 - 75 ngày),năng suất cao và ổn định trên 1 tấn/ha, khối lượng 1000 hạt đạt 55 - 70 g, hạt màuxanh vàng và xanh mốc, thích hợp cho tiêu dùng và xuất khẩu (Tạ Kim Bính,2000).

Theo Lê Khả Tường (2000), khi khảo sát 108 mẫu giống đậu xanh đã phânlập được 20 dòng/ giống có tiềm năng năng suất cao, 30 dòng/ giống chịu sâu bệnhthích ứng với vụ Xuân và vụ Thu Đông ở miền Bắc Trong đó các giống T135,V123 có năng suất cao thích ứng với vụ Thu Đông ở miền Bắc nước ta

Riêng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn

2001 - 2005 đã đánh giá 2024 lượt mẫu giống, trong đó có 150 mẫu giống địaphương và đã xác định được các mẫu giống đạt năng suất từ 1,8 - 2,2 tấn/ha; thờigian sinh trưởng từ 70 - 75 ngày, gồm đậu xanh Quản Bạ, đậu xanh mỡ HảiDương, VC6193B, Chinat 72, Chianat 56, Chinat 36, SEL8, MN19, VC3890.Giống Chinat 72 và Chinat 36 có nguồn gốc từ Thái Lan là các giống triển vọngnhất cần nghiên cứu hoàn thiện quy trình canh tác để mở rộng sản xuất (Trần ĐìnhLong và Nguyễn Thị Chinh, 2005)

Tạ Minh Sơn và cs (2006) đã nghiên cứu chọn tạo thành công giống đậuxanh NTB01 Giống NTB01 trong vụ Đông Xuân có thời gian sinh trưởng 78 ngày

và trong vụ Hè Thu có thời gian sinh trưởng 72 ngày, hạt xanh mỡ Năng suất đạt

từ 1,7 - 2,4 tấn/ha

Giai đoạn 2006 - 2008 nghiên cứu chọn tạo giống đậu xanh và biện pháp kỹthuật trong hệ thống canh tác với cây ngô, đã tuyển chọn thành công hai giốngĐXVN4 và ĐXVN5 (Nguyễn Thị Thanh và cs., 2007) Các giống mới ngày càng

có nhiều ưu điểm hơn, đặc biệt là về tiềm năng suất và khả năng chống chịu

Giống đậu xanh ĐX11 được chọn lọc từ giống đậu xanh Chinat 36 cónguồn gốc từ Thái Lan Giống ĐX11 được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn cho phép sản xuất thử năm 2008 ĐX11 thích ứng rộng trong vụ Hè sau lạcxuân, ngô xuân và đậu tương xuân; trên nhiều loại đất khác nhau từ đất cát venbiển đến đất thịt nhẹ ở nhiều vùng sinh thái

Trang 25

Theo Nguyễn Ngọc Quất và cs (2013), nghiên cứu phát triển một số giốngđậu xanh triển vọng cho tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã xác định giống đậu xanhĐX14 luôn thể hiện những đặc tính ưu việt về sinh trưởng phát triển, cho năng suấtthực thu cao nhất đạt từ 2,0 - 2,1 tấn/ha.

Tính đến năm 2015, ở nước ta đã có 16 giống đậu xanh được công nhậngiống quốc gia Nhưng những nghiên cứu, đánh giá về các giống đậu xanh có thểtrồng và cho năng suất cao trong vụ đông lại chưa nhiều

Để xác định giống đậu xanh thích hợp trong vụ thu đông, tác giả Lê KhảTường đã khảo sát và đánh giá 108 mẫu giống đậu xanh về các đặc điểm hình tháicủa lá, quả, hạt, khả năng phân cành, khả năng chống chịu sâu bệnh hại, thời giansinh trưởng và tiềm năng năng suất Qua đó tác giả đã chọn tạo được 4 dòng lai cótriển vọng là T135, V123, T17, T18 (Lê Khả Tường, 2000)

Nguyễn Ngọc Quất và cs (2014) đã tuyển chọn và khảo nghiệm giống đậuxanh ĐX14 ở các tỉnh phía Bắc Giống đậu xanh ĐX14 có thời gian sinh trưởngtrong vụ hè từ 73 - 75 ngày, năng suất thực thu trung bình ở các điểm khảo nghiệmđạt 1,88 - 1,96 tấn/ha Đậu xanh ĐX14 chín tập trung rất thuận lợi cho thu hoạch,chống đổ tốt, nhiễm nhẹ bệnh đốm nâu

2.2.2.2 Nghiên cứu về thời vụ trồng đậu xanh ở Việt Nam

Thời vụ gieo trồng cây đậu xanh ở nước ta tuỳ thuộc vào vùng sinh thái.Các tỉnh miền Bắc trong vụ Xuân gieo trong tháng 3, từ phía nam Thanh Hoá trởvào ấm hơn nên có thể gieo từ cuối tháng 2 để tránh gió lào tháng 4 Vụ Hè nêngieo đậu xanh từ đầu đến giữa tháng 5, vụ Thu Đông tốt nhất là trong tháng 8(Đường Hồng Dật, 2006)

Tuy nhiên tác giả Trần Văn Lài và cs (1993) lại cho rằng thời vụ tốt nhấtđối với đậu xanh trong vụ Xuân ở khoảng thời gian hẹp hơn, từ 01 - 15/3 cho cáctỉnh miền Bắc, từ 15 - 25/2 cho các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh Thời vụgieo trong vụ Hè với khoảng thời gian rộng hơn từ 25/5 - 15/6 Vụ Thu Đông cũngnên kết thúc trong tháng 8, riêng một số tỉnh miền núi cần gieo sớm, từ 20 tháng 7đến 10/8

Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là vùng có diện tích trồngđậu xanh lớn và thu được sản lượng cao Đậu xanh được trồng 2 - 3 vụ trong năm,chủ yếu là trồng thuần Vụ Xuân có thể gieo từ cuối tháng 12 sang đầu tháng 1,hoặc cả tháng 1 năm sau nếu ở phía Nam Vụ Hè Thu gieo vào

Trang 26

tháng 4, một số nơi như Bình Thuận, Ninh Thuận gieo vào cuối tháng 6 đến đầutháng 7 Vụ Đông gieo từ cuối tháng 7 đến cuối tháng 8 Ở Bình Trị Thiên đậuxanh vụ Đông gieo vào cuối tháng 10 (Phạm Văn Thiều, 1999).

Thời vụ gieo trồng thích hợp với giống đậu xanh NTB02 ở vùng Duyên hảinam trung bộ từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm (Nguyễn Trung Bình và cs., 2014)

Vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên có 3 vụ một năm Vụ Đông Xuân gieo

từ tháng 11 đến cuối tháng 12 Vụ Hè Thu gieo từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 5

Vụ Thu Đông đậu xanh gieo từ giữa tháng 7 đến giữa tháng 8, hoặc đến cuối tháng

8 (Phạm Văn Thiều, 1999)

Vùng đồng bằng sông Cửu Long, vụ Đông Xuân đậu xanh gieo trong tháng

12 và tháng 1 Vụ Xuân Hè gieo từ đầu tháng 2 đến giữa tháng 3 Trên đất nươngrẫy như Rạch Giá, Cà Mau thì vụ Hè lại gieo vào đầu tháng 5, còn vụ Thu Đônggieo trong tháng 8 (Phạm Văn Thiều, 1999)

Nghiên cứu về thời vụ và cơ cấu luân canh của đậu xanh trong vụ Hè tácgiả Nguyễn Thế Côn cho rằng: Thời vụ gieo trồng đậu xanh trong vụ Hè ở đồngbằng và Trung du Bắc bộ thích hợp là từ trung tuần tháng 5 đến hạ tuần tháng 6,thời vụ tốt nhất là từ 20/5 đến 10/6 (Nguyễn Thế Côn, 1996)

Tác giả Nguyễn Ngọc Quất (2008) cho biết ở vùng Đồng bằng sông Hồng,đậu xanh trồng ở vụ Xuân luôn có thời gian sinh trưởng dài hơn so với vụ Hènhưng năng suất đậu xanh ở vụ Hè luôn cao hơn trong vụ Xuân

Nghiên cứu về kỹ thuật thâm canh đậu xanh cho các tỉnh Bắc Trung bộ, tácgiả Phan Thị Thanh đã kết luận: để thâm canh đậu xanh đạt năng suất cao trên 20tạ/ha cần gieo đậu xanh ở mật độ 20 - 30 cây/m2, thời vụ gieo trồng thích hợptrong vụ Hè từ 25/6 - 5/7 và sử dụng phân bón tổng hợp N, P, K 800 kg (tỷ lệ3:9:6) + 8 tấn phân hữu cơ + 400 kg vôi bột cho diện tích 1 ha (Phan Thị Thanh,2004)

2.3 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA ĐẬU XANH

2.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng của đậu xanh

Đã có nhiều nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng và liều lượng bón thích hợpcho cây đậu xanh trên thế giới và cả ở Việt Nam Khi nghiên cứu tổng hợp về nhucầu dinh dưỡng của cây đậu xanh, người ta ước tính rằng, để thu được 1 tấn hạt,cây đậu xanh đã lấy đi từ đất 40 - 42 kg N; 3 - 5 kg P; 12 -14 kg K; 1,5 kg S; 1,5

kg Mg; 1 - 1,5 kg Ca và nhiều nguyên tố vi lượng khác

Trang 27

Đậu xanh có khả năng cố định đạm sinh học với sự hoạt động của các visinh vật trong các nốt sần Đạm sinh học có thể bổ sung đến 70% nhu cầu đạm củacây, góp phần làm giảm chi phí, tăng năng suất đậu xanh và thân thiện với môitrường Nốt sần trên rễ cây đậu xanh hình thành khá sớm, nếu điều kiện thuận lợisau 1 tuần chúng có thể hình thành Do đó, ở giai đoạn đầu khi cây còn nhỏ cầnbón đạm cho cây (Trần Đình Long và cs., 1998).

Cây đậu xanh được bón đủ lượng phân đạm sẽ sinh trưởng phát triển thuậnlợi, phân cành nhiều, lá có màu xanh đậm, cho năng suất cao Ngược lại, nếu bịthiếu đạm cây sinh trưởng kém, cành nhỏ, lá màu vàng nhạt (Phạm Văn Thiều.,1999) Với cây đậu xanh, phân chuồng phát huy hiệu quả tốt, lượng bón thích hợp

là 6 - 8 tấn/ha (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs., 1996)

2.3.1.2 Nhu cầu lân

Một số cây đậu đỗ khả năng hút lân chậm và hiệu quả hút lân thấp nênngười sản xuất phải bón một lượng lân khá lớn, có thể bón tới 100 kg P2O5/ha (VũTiến Bình và cs., 2014) Đặc biệt những vùng chịu ảnh hưởng của phong hoá nhiệtđới, sự tiêu huỷ P xảy ra mạnh, việc cung cấp bổ sung P cho đất càng cấp thiết.Những nghiên cứu về bổ sung P đều cho thấy: Bón 40 kg P2O5/ha, năng suất đãtăng lên khá rõ rệt

Tuy nhiên tuỳ theo mức độ thiếu lân mà cây đậu xanh có những phản ứngkhác nhau Trong trường hợp thiếu lân nặng, lá có màu tím đỏ, cuống lá ngắn, các

lá chét thu nhỏ lại Khi gặp rét hoặc ngập úng rễ cây không lấy được lân, khi thờitiết ấm áp, đất tơi xốp cây có thể tự phục hồi nhanh chóng

Trang 28

2.3.1.3 Nhu cầu kali

Kali trong cây tồn tại dưới dạng muối vô cơ hoà tan và muối của axit hữu

cơ trong tế bào Bộ phận non hoạt động sinh lý mạnh thường chứa nhiều kali Kali

dễ dàng vận chuyển từ bộ phận già đến bộ phận non của cây

Kali tham gia vào các hoạt động của các enzim và là chất điều chỉnh xúctác, làm tăng tính chống đổ của cây Thiếu kali quá trình tổng hợp đường đơn vàtinh bột, vận chuyển gluxít, khử nitrat, tổng hợp protein và phân chia tế bào khôngthực hiện được Trong cây trồng kali được huy động nhiều vào thời kỳ bắt đầu rahoa, quả Thiếu kali ở giai đoạn này làm tăng tỷ lệ rụng hoa, quả, giảm số quả/cây

và khối lượng 1.000 hạt Khi bón kali với lượng 180 kg K2O/ha (cùng với 50 kg N+ 150 kg P2O5) có ý nghĩa giảm tác hại của khô hạn và cho năng suất tới 2,1 tấn/ha

(Fooladivanda et al., 2014).

2.3.1.4 Nhu cầu các nguyên tố trung và vi lượng

Canxi rất cần cho sự phát triển ban đầu của rễ Thiếu canxi rễ chuyển sangmàu nâu, khả năng hút chất dinh dưỡng giảm Trong đất trồng đậu xanh hàm lượngcanxi có thể lớn gấp 10 lần kali Vùng nhiệt đới ẩm thường có hàm lượng canxi dễtiêu thấp, do đó bón vôi đã trở thành tập quán từ lâu đời

Magiê là thành phần quan trọng của diệp lục và có vai trò rất quan trọngtrong việc tăng năng suất đậu xanh Thiếu Mg có thể làm giảm năng suất đậu xanhđến 14%

Lưu huỳnh là thành phần của nhiều loại axít amin quan trọng trong cây, lưuhuỳnh có mặt trong thành phần protein của đậu xanh Thiếu lưu huỳnh, sự sinhtrưởng của cây đậu xanh bị ảnh hưởng, lá có biểu hiện vàng nhạt, cây chậm pháttriển

Molipđen là thành phần rất cần thiết cho hoạt động cố định đạm của vikhuẩn nốt sần Thiếu Mo hoạt động cố định đạm bị giảm sút, cây có biểu hiệnthiếu đạm (Vũ Tiến Bình và cs., 2014)

Bo là một trong các nguyên tố vi lượng quan trọng nhất đối với thực vật.Hàm lượng Bo trung bình trong cơ thể thực vật khoảng 0.0001% hay 0.1mg/1kgchất khô Bo làm tăng sinh trưởng của ống phấn, kích thích hạt nẩy mầm, tăng sốlượng hoa quả Bo làm giảm hoạt tính của một số enzim hô hấp, gây ảnh hưởngđến sự trao đổi gluxit, protein và axit nucleic Thiếu Bo, quá trình tổng hợp,chuyển hóa, vận chuyển gluxit, sự hình thành các cơ quan sinh sản, thụ phấn và kếthạt bị phá hủy Bo cần cho cây trong suốt quá trình phát triển

Trang 29

Ngoài ra các nguyên tố vi lượng như Bo, Fe, Cu, Zn, Mn… còn có vai tròquan trọng đối với năng suất cây đậu xanh.

2.4 NGHIÊN CỨU VỀ DINH DƯỠNG QUA LÁ

2.4.1 Đặc điểm dinh dưỡng qua lá

*Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá.

Bình thường bộ lá của cây làm nhiệm vụ quang hợp và tổng hợp chất hữu

cơ để nuôi cây Các chất khí cũng dễ dàng được đồng hóa qua khí khổng của lá.Tuy nhiên lá cũng có thể hấp thu các nguyên tố khoáng dưới dạng ion trong dungdịch Việc hấp thu các ion vào lá dễ hay khó phụ thuộc vào tầng cutin ở lớp ngoàicùng của lá, vì tầng cutin có thể dày hay mỏng tùy loài thực vật và tuổi của cây,nhưng các chất khoáng xâm nhập qua các lỗ siêu nhỏ trên tầng cutin là chủ yếu.Đường kính các lỗ này lớn hơn 1nm và mật độ các lỗ rất cao, tới 1010 lỗ/dm2 lá.Với đường kính như vậy các chất có đường kính nhỏ hơn 1nm dễ dàng đi qua

Do độ dày mỏng của tầng cutin rất khác nhau giữa các loài cây, nên hiệuquả của dinh dưỡng qua lá là rất khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm giải phẫu lá vàmôi trường Để tăng hiệu quả hấp thu qua lá, khi phun phân bón lá người ta thườngkết hợp các chất bề mặt để tạo ra một lớp màng mỏng dinh dưỡng trên bề mặt của

lá và phun vào lúc trời râm mát, không mưa

Quá trình hấp thu dinh dưỡng bởi các tế bào lá cũng giống như hấp thu dinhdưỡng bởi rễ cây, bước quan trọng của quá trình này là sự vận chuyển các chấtkhoáng qua màng sinh học Về cơ bản đây là quá trình bị động, tỷ lệ hấp thu dinhdưỡng bị ảnh hưởng bởi tình trạng sinh lý của lá và dinh dưỡng của cây

Phương pháp dinh dưỡng qua lá có hiệu quả nhanh trong những điều kiệnđất nghèo dinh dưỡng và sự hấp thu dinh dưỡng của cây bị hạn chế Đây được coi

là phương pháp hỗ trợ để bổ sung dinh dưỡng vào những giai đoạn mất cân bằngdinh dưỡng khi cây chuyển từ giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởngsinh thực với các nguyên tố đa lượng Nhưng do các chất khoáng tập trung nhiềuvào việc hình thành cơ quan sinh sản, lúc này sự sinh trưởng của bộ rễ bị giảmmạnh làm khả năng hấp thu các chất khoáng bị suy yếu Vì thế việc bổ sung mộtphần các chất khoáng bằng biện pháp phun qua lá sẽ khắc phục được sự mất cânbằng về dinh dưỡng của cây ở giai đoạn đó, giúp cây sinh trưởng phát triển tốt hơn(Phu Nguyen Van, 2002)

Trang 30

Ngoài ra theo nhiều tác giả cho biết, ở các loại cây lấy hạt, việc cung cấpmột lượng nhỏ phân đạm bằng con đường qua lá cho giai đoạn vào chắc có thể làmtăng hàm lượng protein trong hạt, cải thiện được chất lượng nông sản và nâng caonăng suất cây trồng (Horst, 1992).

* Hiệu quả của phương pháp bón phân qua lá

Phân bón lá có tác dụng giúp cây sinh trưởng nhanh, đâm chồi đẻ nhánh,kích thích tăng trưởng phát triển, ra đọt, ra hoa kết trái Hạn chế tác động của sâubệnh, tăng sức đề kháng với nhiều loại sâu bệnh Cung cấp dinh dưỡng cho bộ rễphát triển mạnh, cây phân hóa nhiều cành, xanh tốt phát triển tự nhiên, tăng khảnăng ra hoa, tăng tỷ lệ đậu quả, giúp quả nhanh lớn, hạt to, chắc mẩy, tăng chấtlượng hạt Ngoài ra đối với cây họ đậu phân bón lá còn cung cấp vi lượng, chấtkhoáng giúp cho vi khuẩn nốt sần hoạt động Vì vậy sử dụng phân bón lá ngàycàng trở thành một trong những cách hiệu quả nhất để tăng khả năng sinh trưởngnăng suất và của cây trồng Các thí nghiệm khi so sánh với việc chỉ bón phân quađất thông thường đã chỉ ra rằng, hấp thụ phân bón qua lá có thể làm tăng năng suất

từ 12 đến 25% Phân bón lá được sử dụng rộng rãi cho các loại rau và củ quả, chứanhiều vi chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển và năng suất cây trồng Ứngdụng phân bón lá rất phù hợp cho việc kích thích lá non phát triển và dễ dàng hấpthụ các chất dinh dưỡng (Njogu, R.N.E., Kariuki, D.K., Kamau, D.M andWachira, F.N., 2014)

Do thành phần của phân bón lá ngoài các nguyên tố đa lượng, trung lượngnhư đạm, lân, kali, canxi, lưu huỳnh, còn có thêm các nguyên tố vi lượng được hòatan trong nước và phun lên cây Mặc dù được bổ sung với hàm lượng rất ít nhưngcác nguyên tố vi lượng có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến năng suất và chấtlượng nông sản Còn với các chất dinh dưỡng đa lượng, vì cây trồng cần mộtlượng lớn trong khi lá cây chỉ có thể đón nhận một lượng tương đối nhỏ so với nhucầu Do vậy việc áp dụng bón phân qua lá để cung cấp các chất dinh dưỡng đalượng trên thực tế không khả quan Vì vậy đối với cây trồng không phải chấtkhoáng nào cũng nên cung cấp bằng con đường qua lá

Khi phun phân bón lá trên những chân đất bị thiếu hụt hoặc không cónguyên tố vi lượng nào đó, hoặc khi bộ rễ bị tổn thương, khả năng hấp thụ dinhdưỡng kém… thì hiệu lực của phân bón lá cao hơn Phun phân bón lá chủ yếu là để

bổ sung dinh dưỡng chứ không thể cung cấp toàn bộ nhu cầu dinh dưỡng

Trang 31

trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng Chính vì vậy phân bón lákhông thể thay thế được phân bón qua rễ, chỉ nên phun phân bón lá ở những thờiđiểm cần thiết.

Hiệu quả của phương pháp bón phân qua lá ảnh hưởng bởi:

- Lí và hóa tính của loại phân bón sử dụng

Sự hấp thu các chất dinh dưỡng tùy thuộc vào các anion kết nối Ví dụ sựhấp thu Zn(NO3)2 cao hơn so với ZnSO4 có thể được giải thích bởi sự kết nối giữa

cation và anion Bunyamin Yildirim et al., 2008 đã thực nghiệm bằng cách nhúng

các lá Vicia faba vào dung dịch 1% Zn-nitrate và dung dịch 1% Zn-sulphate thìthấy rằng, Zn khi liên kết với gốc nitrat thì khả năng hấp thụ lớn hơn gấp 3,5 lần sovới gốc sulphate

- Khả năng xâm nhập của các chất dinh dưỡng vào bên trong tế bào chất ảnhhưởng bởi giống, loài và tuổi của lá cây; hóa tính của phân bón; các điều kiện của môi trườngnhư ẩm độ, nhiệt độ, ngày - đêm và phương pháp áp dụng

- Khả năng di động bên trong lá cây của các chất dinh dưỡng sử dụng được xácđịnh bởi khả năng cơ động của các mô libe, chủng tính và độ già của lá cây và sự bất động củacác phần tử hiện diện tại nơi áp dụng bón phân qua lá

* Ưu nhược điểm của phương pháp dinh dưỡng qua lá Ưu điểm

Theo Tlutos et al., 1999; Vũ Quang Sáng và cs., 2015 thì phương pháp dinh

dưỡng qua lá đặc biệt có hiệu quả trong các trường hợp sau:

- Tầng đất nghèo dinh dưỡng và khô hạn khả năng dinh dưỡng của cây bị

hạn chế

- Dinh dưỡng qua lá đặc biệt có hiệu quả và phổ biến đối với các nguyên tốtrung lượng như Mg, S và nhất là các nguyên tố vi lượng Các nguyên tố này dinh dưỡng qua láhoàn toàn có thể thay thế dinh dưỡng qua rễ

- Dinh dưỡng qua lá cho hiệu quả sử dụng cao đạt 95%, trong khi dinh dưỡng vào đất chỉ đạt 40 - 50% nên tiết kiệm phân bón và giảm ô nhiễm đất

- Điều chỉnh nhanh sự mất cân bằng của cây khi chuyển từ giai đoạn sinhtrưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực Vì lúc này bộ rễ không sinh trưởng thêm, thậmchí còn giảm đi làm cho quá trình hút khoáng giảm, dẫn đến mất cân bằng dinh dưỡng nên bổsung dinh dưỡng qua lá sẽ khắc phục được tình trạng này

Trang 32

- Dinh dưỡng qua lá rất có hiệu quả khi đất có hiện tượng đối kháng ion.

Theo Nguyễn Văn Phú (2003) trong điều kiện đất giàu K+ (lớn hơn 300 mg/kg đất)

và Mg2+ lớn hơn 160 mg/kg đất thì sự hấp thu Mg2+sẽ bị ngăn cản do hiện tượngđối kháng ion Cây có biểu hiện thiếu Mg2+, nhưng nếu bón Mg2+ vào đất sẽ làmcây mất cân bằng dinh dưỡng và chết do ngộ độc Mg2+ Trong khi đó nếu cung cấp

Mg2+ bằng con đường qua lá thì lại giúp cho cây sinh trưởng tốt Cây được bónphân qua lá sinh trưởng ổn định, ít sâu bệnh, chống chịu được các điều kiện bấtthuận (ngập, hạn, mặn, phèn,…)

- Bón phân qua lá ít bị lãng phí phân như bón qua rễ Do hàm lượng ít mà hiệuquả cao nên cuối cùng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích cao hơn bón vào đất hoặc khôngbón

- Bón phân qua lá tăng chất lượng sản phẩm như tăng lượng đường, tăng đậuquả, đậu hạt, chín sớm, trái đẹp mã, tăng giá trị thương phẩm, tăng hàm lượng các chất dinhdưỡng, nâng cao chất lượng nông sản

Nhược điểm

- Đối với các nguyên tố đa lượng (N, P, K) chỉ một lượng nhỏ chất khoáng(khoảng 10%) là được hút qua lá, cho nên phương pháp này không phổ biến với các nguyên tố đalượng Với các nguyên tố đa lượng, dinh dưỡng qua lá chỉ áp dụng bón bổ sung

- Bón phân qua lá rất dễ bị rửa trôi khỏi lá khi có mưa hoặc bị cháy lá khi phunvào lúc nhiệt độ cao Do đó khi sử dụng dinh dưỡng qua lá thường kết hợp với các chất làm tăngbám dính bề mặt lá và phun vào lúc trời râm mát không mưa Vào mùa hè, nhiệt độ cao nên phunvào lúc chiều mát sẽ đem lại hiệu quả cao

- Có thể gây cháy lá cục bộ do mất cân bằng dinh dưỡng, vì vậy nên sử dụng đúng nồng độ

- Dinh dưỡng qua lá không áp dụng với tất cả các loại cây trồng, những câytrồng bề mặt lá và các cơ quan có lớp sáp dày bao phủ và không thấm nước, bón qua lá sẽ khônghiệu quả (Phu Nguyen Van, 2002)

2.4.2 Một số kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón lá trên thế giới và ở Việt Nam

Sử dụng phân bón qua lá phát huy được hiệu lực nhanh, hiệu quả đến 90% chất dinh dưỡng, trong khi đó bón qua đất cây chỉ sử dụng được 40 - 45% Theo

Trang 33

Phu Nguyen Van (2001), khi phun phối hợp Mg và N đã làm tăng sản lượng chấtkhô và đặc biệt bón phối hợp N + Mg, N + Mg + Mn, N + Mg + Zn tăng năng suấtcủa lúa mỳ từ 30 - 30,9%.

Phu Nguyen Van (2002) cũng kết luận rằng, bón Mg, N + Mg làm tăng hàmlượng diệp lục trong lá, tăng sản lượng chất khô của lúa mỳ, tăng năng suất của rautrong hai điều kiện đất nghèo Mg++ và đất giàu Mg++ và K+

Hai nguyên tố Mg++ và K+ có mối quan hệ đối kháng nhau trong đất Nếuhàm lượng K+ và Mg++ đều cao, Mg++ có thể trở thành nguyên tố bị thiếu đối vớicây Nhưng khi bón Mg++ vào đất có thể gây mất cân bằng ion và gây ngộ độc đốivới cây, do đó việc bón Mg++ qua lá là phương pháp tốt nhất để điều chỉnh sự mấtcân bằng dinh dưỡng và cải thiện sự sinh trưởng của cây

Trên thị trường Việt Nam hiện nay có rất nhiều loại phân bón qua lá, trong

đó có những loại do các nhà máy trong nước sản xuất như: HVP301 N, Đầu trâu

502, Comix, HB101, Biofact, BK104, CSF002, HUMID Các loại phân bón lánhập từ nước ngoài có Rong biển 95%, Atomix, Lục thủy phần, Open all , đã vàđang được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp

Theo Hà Thị Thanh Bình và cs.(1998), khi phun vi lượng cho cây đậutương và lạc trên đất Mai Sơn - Hà Sơn Bình ở giai đoạn 3, 5, 7 lá đã ảnh hưởngtốt đến sinh trưởng và phát triển của cây và tăng năng suất từ 13,8% - 20,2%; chấtlượng cũng tăng

Phân bón lá phức hữu cơ Pomior đã được thử nghiệm ở nhiều địa phươngcho nhiều cây trồng khác nhau cho thấy: năng suất tăng nhanh, cây sinh trưởng tốt,

ít sâu bệnh, tiết kiệm phân bón và nhân lực, phẩm chất rau và quả đạt chất lượngcao (Hoàng Ngọc Thuận và cs., 2005)

Bùi Thị Hồng Vân (1996) đã sử dụng chế phẩm qua lá là phân Sài GònSafer (HQ và VA) được chiết xuất từ các hợp chất hữu cơ vi lượng và khuyếnnông 301 trên vụ lạc xuân giống Trạm Xuyên tại hợp tác xã Sa La - Hà Đông chothấy: bón phân qua lá đã có tác dụng rõ rệt, cây phát triển nhanh, thân cây to, ládày, màu xanh sáng, ít sâu bệnh hơn so với không phun Số quả chắc trên câychênh lệch không nhiều nhưng số quả hai hạt trên cây tăng rõ Mặt khác bón phânqua lá giúp cho cây trồng trong những điều kiện hạn hán, ngập lụt, trong thời kỳkhủng hoảng của cây trồng, cây suy kiệt có thể phục hồi nhanh

Trang 34

Sử dụng phân bón lá một tiến bộ kỹ thuật được áp dụng nhiều trong nhữngnăm gần đây nhưng không thể thay thế được 100% bón phân qua đất, phân bón lá

là một giải pháp chiến lược an toàn dinh dưỡng cho cây trồng (Vũ Cao Thái,1996) Khi sử dụng phân bón lá cho cây trồng tại đồng bằng sông Cửu Long chothấy: phân bón qua lá đáp ứng nhanh nhu cầu dinh dưỡng của cây, cây sinh trưởng

ổn định, khỏe, ít sâu bệnh và chống chịu tốt với các điều kiện bất thuận khác, tănggiá trị thương phẩm như cây mía, đậu (Nguyễn Văn Uyển, 1995)

Nguyễn Tấn Lê (1992) đã sử dụng Mo và Bo xử lý cho cây lạc trồng tạiQuảng Nam - Đà Nẵng, cho năng suất trung bình 3 vụ tăng 6,2 - 11,1% so với đốichứng Khi sử dụng Bo, Mo, Zn phun cho cây lạc tại Thừa Thiên Huế cho thấy: xử

lý phối hợp 2 nguyên tố, đặc biệt cả 3 nguyên tố cho kết quả tốt hơn so với xử lýriêng rẽ Xử lý phối hợp 0,03% Bo + 0,03% Mo + 0,03% Zn đã làm tăng năng suấtkinh tế lên 22,40% so với đối chứng không xử lý Đối với cây lạc, phun vi lượngkết hợp α.NAA làm tăng suất từ 15 - 17% Phun phân bón lá cho cây trồng làphương pháp bổ sung dinh dưỡng hiệu quả nhất, sản lượng tăng trung bình 20 %đối với cây lấy lá, 10 - 20 % đối với cây lấy quả, củ và 5 - 10 % đối với lúa (VũCao Thái, 1996)

Xét khía cạnh bền vững môi trường thì phân vi sinh, phân hữu cơ bón lá vàcác phân tương tự khác cần được khuyến khích nghiên cứu và đưa vào sản xuất sẽ

có ý nghĩa lớn trong việc phát triển nông nghiệp bền vững

2.5 ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU KHU VỰC HÀ NỘI

Thành phố Hà Nội có khí hậu tiêu biểu cho vùng Đồng bằng Sông Hồngvới đặc điểm đặc trưng của kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa Trong một năm khí hậuđược phân thành 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ không khí trung bình năm từ 230 C - 250 C,nhiệt độ không khí trung bình 10 năm từ 2006 - 2016 là 24,40 C

Nhìn chung, sự chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa và các tháng trong nămtương đối lớn, lượng bức xạ và tổng số giờ nắng trong năm tương đối cao; mưaphân bố không đều, lượng mưa tập trung vào mùa hạ, độ ẩm không khí trung bìnhcao là những đặc trưng chủ yếu về khí hậu Hà Nội Đặc trưng ấy đã và đang ảnhhưởng sâu sắc đến sự phát triển của sản xuất nông nghiệp ở Hà Nội

Trang 35

Hình 4.1 Diễn biến lượng mưa, nhiệt độ và số giờ nắng các tháng trong năm

tại trạm Láng (số liệu trung bình 10 năm, từ 2006 - 2015)

Mùa hè nóng ẩm, chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc và ĐôngNam, nhiệt độ bình quân 280 - 290 C, kéo dài từ cuối tháng 5 tới tháng 9 Mùađông lạnh nhiệt độ bình quân dưới 200 C, kéo dài từ cuối tháng 11 tới tháng 3 nămsau Đồng thời với hai giai đoạn giao mùa vào tháng 4 và tháng 10, Hà Nội có đủbốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông Và tổng số giờ nắng bình quân cả năm là 1.406 giờ(Hình 4.1)

Lượng mưa bình quân 10 năm gần đây (2006 - 2016) là 1.673 mm/năm, tuynhiên trong các năm có sự biến động về lượng mưa khá lớn Lượng mưa thấp nhất

là 1.240 mm năm 2006 và lớn nhất là 2.267 mm năm 2008 Trong năm lượng mưaphân bố không đều, tháng có lượng mưa cao nhất là các tháng 6, 7, 8 và 9 (chiếmkhoảng 65 - 70% tổng lượng mưa cả năm); các tháng mùa khô (tháng 7, 1 và 2) chỉchiếm 3 - 5% tổng lượng mưa cả năm, vì vậy trong những tháng này thường gây rakhô hạn, đặc biệt là vùng đất bãi, đồi gò

Diễn biến tổng lượng mưa trong các năm 2006 - 2016 từ tháng 9 đến tháng

12 tại Hà Nội cho thấy: Tổng lượng mưa trung qua các năm biến động từ 14,1 207,1 (mm) và lượng mưa lớn nhất rơi vào tháng 8, sang tháng 9 lượng mưa trungbình vẫn lớn, sau đó giảm dần từ tháng 10 đến tháng 12 Lượng mưa giảm mạnh ởtháng 11, 12 sẽ thuận lợi cho việc thu hái đậu xanh đông, tuy nhiên

Trang 36

-sẽ ảnh hưởng tới trọng lượng khô của hạt Nếu thời gian thu hái vào nửa cuốitháng 12 đến đầu tháng 1 năm sau thì sẽ gặp bất lợi, bởi nhiệt độ thấp và mưa phùnảnh hưởng đến năng suất và chất lượng hạt Vì vậy, lưa chọn giống đậu xanh phùhợp cho sản xuất phải là giống ngắn ngày gieo vào giữa tháng 9 và thu hoạch kếtthúc vào cuối tháng 11 hoặc đầu tháng 12.

Cây đậu xanh có thể sinh trưởng phát triển trong phạm vi từ 160 - 36ºC.Theo tác giả Trần Đình Long và cs (1998) nhiệt độ thích hợp cho cây đậu xanhsinh trưởng phát triển là từ 22 - 27ºC Theo Viện Khoa học Khí tượng thủy văn vàbiến đổi khí hậu, (2016) cho thấy: nhiệt độ trung bình tại Hà Nội qua các năm

2006 - 2016 vào tháng 9, 10, 11 biến động từ 22,60 - 28,0 C; và nhiệt độ này vẫnnằm trong ngưỡng sinh trưởng phát triển của cây đậu xanh Đồng thời, số giờ nắngtrung bình từ tháng 9 đến tháng 12 qua các năm vẫn ở mức khá cao, thuận lợi choquá trình tích ôn Vì vậy có thể thấy đặc điểm thời tiết vùng Hà Nội các tháng 9,

10, 11, 12 là khá thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển của cây đậu xanh

Riêng vùng núi Ba Vì và Sơn Tây, do ảnh hưởng của độ cao địa hình nênkhí hậu có sự khác biệt Nhìn chung thời tiết đẹp, ít mây và sương mù Đây là vùng

có điều kiện thuận lợi để phát triển một số loại cây trồng ôn đới và nhiệt đới (Việnquy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2012)

Nằm trong vùng Đồng bằng Sông Hồng nên Hà Nội cũng bị ảnh hưởngchung của biến đổi khí hậu trong vùng Dự báo đến năm 2030, theo kịch bản phátthải trung bình, biến động so với thời kỳ 1980 - 1999 như sau: Nhiệt độ trung bìnhcác mùa đều tăng khoảng 0,50 - 0,80 C; lượng mưa có diễn biến phức tạp hơn và

xu hướng giảm đi (từ 0,4 - 0,9%) ; các tháng mùa Đông, Hè và Thu có xu hướngtăng lên (từ 0,5 - 4,4 %), các tháng mùa Xuân thì ngược lại Do có sự biến đổi bấtthường về khí hậu sẽ tác động sâu sắc đến cơ cấu mùa vụ gieo trồng

Tìm hiểu đặc điểm khí hậu của Hà Nội trong mối liên hệ với thời vụ gieotrồng có thể thấy: các tháng đầu năm là đầu vụ gieo trồng đậu xanh Xuân thường

bị hạn, ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây đậu xanh, đặc biệt là tỷ lệ nảy mầm, do

đó ảnh hưởng tới mật độ cây sống và ảnh hưởng tới năng suất Đến cuối vụ Xuân,

vụ Hè, và Hè thu, khi quả chín hay gặp mưa bão gây thối quả hoặc nắng to gâytách quả làm giảm năng suất Như vậy Hà Nội và các vùng có điều kiện sinh tháitương tự có thể phù hợp để phát triển đậu xanh trồng vụ Đông

Trang 37

PHẦN 3.VẬT LIỆU,VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành trên khu thí nghiệm đồngruộng của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ, Thanh Trì - Hà Nội

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Thời gian nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 9/2018 đến tháng 1/2019

3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.3.1 Gồm 9 giống đậu xanh triển vọng:

ĐXHL10; ĐX11; ĐX14; ĐX16; ĐX17; NTB02; ĐXVN5; ĐXVN7; với giống ĐXVN6 làm đối chứng

Nguồn gốc các giống đậu xanh:

1 ĐXVN6 (Đ/c) Viện nghiên cứu Ngô

2 ĐXVN7 Trung tâm NC&PT Đậu đỗ và Viện nghiên cứu Ngô

3 ĐXHL10 Trung tâm NC&TN Hưng Lộc;

8 NTB02 Viện khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam

Trung bộ

9 ĐXVN5 Viện nghiên cứu Ngô

+ ĐXVN6 (Đ/c) là giống đậu xanh đã được hội đồng khoa học công nhận giống

và là giống đang được gieo trồng trong vụ đông ở một số tỉnh phía bắc (Cao Bằng; Thái Nguyên;

Hà Nội)

Trang 38

+ Các giống ĐX11; ĐX14; ĐX16; ĐX17 do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ chọn lọc, lai tạo.

+ Giống NTB02 do Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ chọn lọc

+ Giống ĐXVN5; ĐXVN6; ĐXVN7 do Viện nghiên cứu Ngô chọn tạo

+ Giống ĐXHL10 do Trung tâm NC&TN Hưng Lộc - Viện KHKTNN Miền Nam chọn tạo

3.3.2 Các loại phân bón qua lá:

+ Phân bón lá Bolas do Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ Long Phúsản xuất, có thành phần hóa học như sau: N = 13% ; P2O5 = 23% ; K2O = 11% ; Mn = 50ppm ;

Cu = 50ppm ; NAA = 500ppm ; B = 1000ppm

+ Phân bón lá A2 do Viện hóa học công nghiệp Việt Nam nghiên cứu và sảnxuất từ than bùn và vật liệu hữu cơ có thành phần như sau: N = 3%; P2O5 = 2%; K2O = 3%; Ca =0,3%; Mg = 0,2%; S = 0,2%; Axit amin 50g/l; B = 2000ppm; Zn = 2000ppm

Dụng cụ: Thước đo, cuốc, cân điện tử, máy đo diệp lục (SPAD 502)

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, sự hình thành năng suất và mức

độ nhiễm sâu/bệnh hại của một số giống đậu xanh trong vụ Đông

- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón qua lá A2 và Bolas đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu xanh ĐX14 trong vụ Đông

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

3.4.1.1.Thí nghiệm 1: Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, sự hình thành năng suất và mức độ nhiễm sâu/bệnh hại của một số giống đậu xanh trong vụ Đông

Bố trí thí nghiệm:

Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3lần nhắc lại Diện tích ô tích nghiệm là 6 m2 (5 m × 1,2 m); khoảng cách gieo hạt:hàng cách hàng 40 - 45 cm, hốc cách hốc 18 - 20 cm; gieo 2 - 3 hạt/hốc (sau khicây lên tỉa để 2 cây/hốc); mật độ 20 cây/m2

Trang 39

Cách gieo: Làm đất, lên luống theo ô thí nghiệmNgày gieo 21/9/2019, tại Thanh Trì - Hà Nội.

Phân bón cho 1 ha: 1 tấn phân hữu cơ vi sinh (HCVS) + 400 kg vôi bột +

N : P2O5 : K2O tỷ lệ 40 : 60 : 40 Cách bón: Bón lót toàn bộ phân HCVS Sông

Gianh + vôi bột + Lân, Đạm, Kali trước khi gieo

Quy trình kỹ thuật chăm sóc: Theo quy trình kỹ thuật canh tác đậu xanhtổng hợp cho các tỉnh phía Bắc (Ban hành kèm theo Quyết định số 252/QĐ -

KHCN ngày 14/3/2014 của Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam)

3.4.1.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón qua lá A2 và Bolas

đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu xanh ĐX14 trong vụ

+ CT 3 phun phân bón Bolas: 1 gói 13gr pha với 32 l nước/1 sào bắc bộ,

tương đương khoảng 10 ml/ m2

- Thời điểm phun: phun vào 2 giai đoạn

Trang 40

+ Giai đoạn 1 : phun trước khi ra hoa 10 ngày

+ Giai đoạn 2 : phun vào giai đoạn quả mẩy

Thời gian phun: Phun vào ngày râm mát hoặc buổi chiều mát, không mưa

- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3

lần nhắc lại Diện tích ô tích nghiệm là 6 m2 (5 m × 1,2 m); khoảng cách gieo hạt: hàng cách

hàng 40 - 45 cm, hốc cách hốc 18 - 20 cm; gieo 2 - 3 hạt/hốc (sau khi cây lên tỉa để 2 cây/hốc);

mật độ 20 cây/m2

Cách gieo: Làm đất, lên luống theo ô thí nghiệm Ngày gieo 21/9/2018, tại Thanh Trì - Hà Nội

- Phân bón cho 1 ha: 1 tấn phân hữu cơ vi sinh (HCVS) + 400 kg vôi bột +

N : P2O5 : K2O tỷ lệ 40 : 60 : 40 Cách bón: Bón lót toàn bộ phân HCVS Sông

Gianh + vôi bột + Lân, Đạm, Kali trước khi gieo

- Quy trình kỹ thuật chăm sóc: Theo quy trình kỹ thuật canh tác đậu xanh tổng

hợp cho các tỉnh phía Bắc (Ban hành kèm theo Quyết định số 252/QĐ - KHCN ngày 14/3/2014

của Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam)

3.4.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

Phương pháp đánh giá thực hiện qua quan sát toàn ô thí nghiệm, trên từngcây hay các bộ phận của cây và cho điểm Các chỉ tiêu định lượng được đo đếm

trên cây mẫu hoặc toàn ô thí nghiệm Các mẫu lấy ngẫu nhiên, trừ cây ở rìa ô Các

chỉ tiêu được theo dõi theo đúng giai đoạn sinh trưởng

- Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng

+ Thời gian từ gieo đến mọc: tính từ khi gieo đến 50% cây mọc khỏi mặt đất và

xuất hiện 2 lá mầm

+ Thời gian từ gieo đến ra hoa: là số ngày từ khi gieo đến khi có 50% số cây có

ít nhất một hoa

Ngày đăng: 10/07/2021, 08:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2011). QCVN 01 - 62: 2011/BNNPTNT. Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống đậu xanh Khác
2. Đoàn Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự và Bùi Xuân Sửu (1996). Giáo trình Cây Công nghiệp. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
3. Đường Hồng Dật (2006). Cây đậu xanh - Kỹ thuật thâm canh và biện pháp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. NXB Lao Động - Xã Hội, Hà Nội Khác
4. Hà Thị Thanh Bình và cs (1998). Bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của các nguyên tố vi lượng đến năng suất đậu tương, tạp chí sinh học. XI. (8) Khác
5. Hoàng Ngọc Thuận (2005). Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm phân bón lá phức hữu cơ Pomior trong kỹ thuật nâng cao năng suất và chất lượng một số cây trồng nôngnghiệp. Báo cáo khoa học Khác
6. Lê Khả Tường (2000). Nghiên cứu chọn tạo giống đậu xanh có khả năng thích ứng trong vụ Thu Đông ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam, Luận án tiến sĩ nông nghiệp Khác
7. Nguyễn Ngọc Quất (2008). Nghiên cứu phát triển một số dòng giống đậu xanh triển vọng cho vùng đồng bằng sông Hồng, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Hà Nội Khác
8. Nguyễn Ngọc Quất, Nguyễn Văn Thắng và Nguyễn Thị Chinh (2013).Nghiên cứu phát triển một số giống đậu xanh triển vọng cho tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, Hội thảo quốc gia về Khoa học cây trồng lần thứ nhất 63 - 630/NN - 2013, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Khác
9. Nguyễn Ngọc Quất, Nguyễn Văn Thắng, Hoàng Minh Tâm, Trần Thị Trường, Nguyễn Thị Thúy Lương và Nguyễn Thị Thủy (2014). Kết quả tuyển chọn và khảo nghiệm giống đậu xanh ĐX14 ở các tỉnh phía Bắc, Báo cáo công nhận giống đậu xanh của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ Khác
10. Nguyễn Tấn Lê (1992). Ảnh hưởng của Na2SO3 đến hoạt động quang hợp, sinh trưởng phát triển và năng suất của cây lạc Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w