Luận văn trình bày các nội dung chính sau: Cơ sở khoa học về thực thi chính sách đối với người có công; Thực trạng thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội; Quan điểm, phương hướng và giải pháp đẩy mạnh thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN MAI PHƯƠNG
THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI – 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN MAI PHƯƠNG
THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ NHƯ THANH
HÀ NỘI – 2021
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
BGDĐT Bộ giáo dục đào tạo
BTC Bộ tài chính
HĐBT Hội đồng nhân dân
LĐ TB XH Lao động thương binh xã hội NXB Nhà xuất bản
THPT Trung học phổ thông
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng cá nhân tôi Các
số liệu, kết quả được sử dụng minh họa trong luận văn này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Mai Phương
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Học viên xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các quý Thầy, Cô của Học viện Hành chính Quốc gia đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm cho học viên
Xin cảm ơn Khoa Sau đại học và toàn thể cán bộ, nhân viên của Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi cho học viên trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành chương trình cao học
Học viên xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành, sâu sắc TS Lê Như Thanh
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ học viên trong quá trình thực hiện luận văn Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, cán bộ, chuyên viên Văn phòng Quận
ủy, UBND quận, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Cầu Giấy đã cung cấp số liệu, tài liệu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho học viên trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tuy đã có nhiều cố gắng, song kinh nghiệm và khả năng của học viên còn hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Học viên rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các quý Thầy, Cô cùng độc giả
để học viên hoàn thiện luận văn của mình
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Mai Phương
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC VIẾT TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG 10
1.1 Những khái niệm có liên quan đến đề tài 10
1.1.1 Chính sách, chính sách công và thực thi chính sách công 10
1.1.2 Người có công 15
1.1.3 Chính sách và thực thi chính sách đối với người có công 15
1.2 Đặc điểm, ý nghĩa của thực thi của chính sách đối với người có công 18
1.2.1 Đặc điểm cơ bản của thực thi chính sách đối với người có công 18
1.2.2 Ý nghĩa của thực thi chính sách đối với người có công 21
1.3 Nội dung, quy trình thực thi chính sách đối với người có công 22
1.3.1 Nội dung thực thi chính sách đối với người có công 22
1.3.2 Quy trình thực thi chính sách đối với người có công 27
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách đối với người có công 31
1.4.1 Những yếu tố khách quan 31
1.4.2 Những yếu tố chủ quan 33
1.5 Kinh nghiệm thực thi chính sách đối với người có công ở một số địa phương và những giá trị tham khảo cho quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội 35 1.5.1 Kinh nghiệm thực thi chính sách đối với người có công ở một số địa phương 35
Trang 71.5.2 Những giá trị tham khảo cho quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội 39
Tiểu kết Chương 1 42
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 43
2.1 Tổng quan về quận Cầu Giấy và người có công trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội 43
2.1.1 Khái quát quá trình xây dựng và phát triển của quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội 43
2.1.2 Tình hình chung về người có công trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội 46
2.2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đối với người có công 48
2.2.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đối với người có công 48
2.2.2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội đối với người có công 50
2.3 Phân tích thực trạng thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội 52
2.3.1 Thực hiện nội dung, quy trình thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội 52
2.3.2 Kết quả thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội 58
2.3.3 Ý kiến của người có công và cán bộ, công chức về thực thi chính sách người có công trên địa bàn quận Cầu Giấy 63
2.4 Đánh giá chung việc thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội 66
2.3.1 Những kết quả đạt được 66
2.3.2 Những hạn chế 68
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 70
Trang 8Tiểu kết Chương 2 72
Chương 3 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 74
3.1 Quan điểm, phương hướng tăng cường thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội 74
3.1.1 Quan điểm của Đảng 74
3.1.2 Phương hướng của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội và quận Cầu Giấy 76
3.2 Những giải pháp cơ bản tăng cường thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội 80
3.2.1 Giải pháp chung 80
3.2.2 Giải pháp cụ thể 86
Tiểu kết Chương 3 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Số lượng người có công với cách mạng của quận Cầu Giấy tính đến 31/12/2019 47 Bảng 2.2 Số lượng người có công quận Cầu Giấy đang được hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng, thời điểm tháng 12 năm 2019 59 Biểu 2.1: Cách thức người có công biết chính sách của Nhà nước 64 Biểu 2.2: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ CBCC Phòng LĐ-TB&
XH quận 65
Trang 10ơn và có nghĩa vụ bù đắp với những hy sinh, mất mát đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân
Đạo lý tốt đẹp ngàn đời của dân tộc ta là: “Uống nước nhớ nguồn”; “Ăn quả nhớ người trồng cây” nên ngay từ những ngày đầu thành lập nước trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, Đảng, Chính phủ đã đặc biệt quan tâm đến công tác thương binh, liệt sỹ Sau khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành quy định về chính sách ưu đãi đối với những người có công với đất nước Ngày 16/02/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 20/SL về “Ưu đãi người có công” và đã lấy ngày 27/7/1947 là ngày thương binh, liệt sỹ Suốt mấy chục năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách đối với thương binh, bệnh binh, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, người và gia đình có công đối với cách mạng Chính sách đối với người có công với cách mạng thường xuyên được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ cách mạng và đến nay đã hình thành một hệ thống chính sách đối với người có công với cách mạng Chính sách này luôn gắn liền với thực hiện chính sách kinh tế - xã hội và liên quan đến đời sống hàng ngày của hàng triệu người có công với cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Thương binh, bệnh binh, gia đình bộ đội, gia đình liệt sỹ là những người có công với Tổ quốc Bởi vậy, bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, thương yêu và giúp đỡ họ” [8, tr47] Việc thực hiện
Trang 11chính sách thương binh, liệt sỹ, chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt
sỹ, gia đình có công với cách mạng là trách nhiệm của toàn xã hội với tinh thần đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với cách mạng Mục đích của chính sách là đảm bảo cho người có công luôn được đáp ứng các yêu cầu về vật chất, vui vẻ về tinh thần, có cuộc sống không thấp hơn mức sống trung bình của người dân địa phương và tạo điều kiện cho người có công sử dụng được khả năng lao động của mình vào những hoạt động có ích cho xã hội, tiếp tục duy trì
và phát huy phẩm chất, truyền thống tốt đẹp của mình phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi sự phân hóa giàu nghèo đang ngày càng nhiều, các định hướng giá trị của xã hội đang có những thay đổi thì việc thực hiện chính sách đối với người có công, đảm bảo người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của người dân địa phương
là việc làm cần thiết, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam
Được sự quan tâm, chỉ đạo, lãnh đạo của cấp ủy, các cấp chính quyền, công tác thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội trong những năm vừa qua đã đạt được những kết quả quan trọng Công tác thực thi chính sách đối với người có công đã được thực hiện nghiêm túc, thu hút được nhiều người tham gia, tạo niềm tin trong các tầng lớp nhân dân trong quận
Tuy đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng việc thực thi chính sách
ưu đãi đối với người có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội vẫn còn một số hạn chế Việc ban hành các văn bản về chính sách còn chồng chéo, chưa thống nhất, thủ tục hành chính rườm rà; trình độ của cán bộ, công chức thực thi chính sách còn hạn chế Một số cán bộ trẻ, thiếu kinh nghiệm không phải là người địa phương nên không hiểu rõ được hết các đối tượng thụ hưởng chính sách dẫn đến việc giải quyết chế độ cho các đối tượng có công với
Trang 12cách mạng gặp nhiều khó khăn Công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách còn hạn chế, nhiều người có công chưa tiếp cận được những quy định của chính sách Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội
Vì những lý do tên, học viên đã lựa chọn đề tài “Thực thi chính sách đối
với người có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn cao học chuyên ngành Chính sách của
mình Luận văn phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn thực thi chính sách
ưu đãi người có công với cách mạng, phân tích, đánh giá thực trạng thực thi chính sách trên địa bàn quận, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng, giải pháp đẩy mạnh thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa bàn quận trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về các chính sách của Nhà nước trong các lĩnh vực và đối với các đối tượng trong xá hội nói chung và chính sách đối với người có công với cách mạng được nhiều nhà khoa học quan tâm Nghiên cứu về chính sách công, quy trình hoạch định, thực thi, đánh giá chính sách công có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
- Nguyễn Hữu Hải (chủ biên): “Chính sách công”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2014 Cuốn sách trình bày những vấn đề chung về chính sách công, gồm 4 chương: những vấn đề chung về chính sách công; hoạch định chính sách công; thực thi chính sách công và đánh giá chính sách công [22]
- Lê Như Thanh, Lê Văn Hoà: “Hoạch định và thực thi chính sách công”, NXB Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, 2017 Cuốn sách đã trình bày tổng quan về chính sách công (quan niệm, vai trò, phân loại, chu trình chính sách công); về hoạch định chính sách công (khái niệm, vai trò, chủ thể, yêu cầu, căn
cứ, quy trình hoạch định chính sách công) và thực thi chính sách công (khái niệm, vai trò, chủ thể tham gia, yêu cầu, quy trình triển khai, điều kiện, những
Trang 13yếu tố ảnh hưởng và phương pháp thực thi chính sách công, công cụ thực thi chính sách công, xây dựng và thực hiện chương trình, dự án thực thi chính sách công) [29]
Nghiên cứu về chính sách, thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
- Nguyễn Đình Liêu: “Một số suy nghĩ về hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2000 Cuốn sách đã trình bày tổng quan các vấn đề lý luận và thực tiễn về chế độ chính sách đối với người có công ở nước ta; phân tích mối quan hệ biện chứng giữa chính sách ưu đãi người có công với các bộ phận chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước
Từ đó đề xuất các quan điểm nhằm đổi mới hệ thống pháp luật ưu đãi người có công trong công cuộc đổi mới của đất nước [27]
- Cuốn sách: “Hỏi và đáp về chính sách đối với người có công với cách mạng”, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, NXB Lao động, năm 2002 Cuốn sách đã trình bày các chính sách đối với người có công với cách mạng dưới dạng hỏi - đáp: chính sách đối với liệt sỹ và gia đình liệt sỹ; bà mẹ Việt Nam anh hùng; anh hùng lự lượng vũ trang nhân dân; anh hùng lao động; thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh; người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày; người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc; người có công giúp đỡ cách mạng Cuốn sách cũng cung cấp một số chính sách ưu đãi về giáo dục - đào tạo, ruộng đất, nhà
ở, miễn giảm thuế và lệ phí cho người có công với cách mạng
- Lê Thiên Hương: “Một số giải pháp bảo đảm thực hiện ưu đãi xã hội đối
với người có công ở nước ta”, tạp chí Quản lý nhà nước, Học viện Hành chính
Quốc gia, số 170, năm 2010 Bài viết đã trình bày sơ lược việc thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công và đề xuất một số giải pháp đảm bảo thực hiện ưu đãi xã hội đối với người có công ở nước ta hiện nay: hoàn thiện hệ thống thể chế quy định chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công; phân
Trang 14công, phân nhiệm rõ ràng trong thực thi chính sách; phổ biến, tuyên truyền việc thực hiện chính sách; nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ thực hiện chính sách chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công [25]
- Đỗ Thị Dung: “Chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và hướng hoàn
thiện”, tạp chí Luật học, Đại học Luật Hà Nội, số 1(28), năm 2011 Bài viết đã
phân tích, đánh giá chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và đề xuất phương hướng hoàn thiện chính sách ở các nội dung: chính sách ưu đãi về ruộng đất, nhà
ở, miễn giảm thuế và lệ phí cho người có công với cách mạng [19]
- Đào Ngọc Lợi: “Thực hiện hiệu quả chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng”, Báo Điện tử, Đảng Cộng sản Việt Nam ngảy 22/7/2020 Bài viết nhấn mạnh, nhiều năm qua, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng từng bước được hoàn thiện Hằng năm, Nhà nước đều ưu tiên nguồn lực để điều chỉnh mức trợ cấp, phụ cấp đối với người có công với cách mạng, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ cùng với sự tham gia tích cực, trách nhiệm của các Bộ, ngành, đoàn thể, địa phương và các tầng lớp nhân dân, việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công và thân nhân người có công ngày càng đi vào chiều sâu, giải quyết các vấn đề khó, cốt lõi, nhất là những vấn đề còn tồn đọng qua nhiều năm, nhiều giai đoạn, nhiều thời
kỳ
Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công vẫn còn những tồn tại, khó khăn và bất cập như: việc nghiên cứu xây dựng, ban hành và hướng dẫn thực hiện chính sách chưa theo kịp với các yêu cầu của thực tiễn quản lý nhà nước; sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương có lúc, có nơi còn chưa chặt chẽ; công tác kiểm tra, thanh tra chưa bao phủ kịp thời, vẫn còn tình trạng giả mạo hồ sơ, trục lợi chính sách
Bài viết cũng đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh thực hiện chính sách đối với người có công trong thời gian tới [26]
Trang 15Một số nghiên cứu sinh, học viên cao học cũng đã lựa chọn đề tài chính sách và thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng làm đề tài nghiên cứu của mình Có thể kể đến một số luận án, luận văn sau:
- Luận án phó Tiến sĩ Luật học “Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn” (1996) của tác giả Nguyễn Đình Liêu Luận án đã khái quát chung pháp luật ưu đãi người có công; lịch sử hình thành
và phát triển của pháp luật về ưu đãi người có công; thực trạng của pháp luật
ưu đãi người có công ở Việt Nam ở góc độ hoàn thiện pháp luật ưu đãi người
có công
- Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính công “Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng tại tỉnh Tuyên Quang” (2011) của tác giả Nguyễn Anh Công Luận văn nghiên cứu thực tiễn thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng tại tỉnh Tuyên Quang, đề xuất một
số giải pháp nhằm góp phần đổi mới, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa bàn cả nước nói chung, tỉnh Tuyên Quang nói riêng Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn là địa bàn tỉnh Tuyên Quang
- Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính công “Nâng cao năng lực của cơ quan hành chính nhà nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng ở nước ta hiện nay” (2007) của tác giả Phạm Hải Hưng Luận văn tập trung tiếp cận nghiên cứu về năng lực của cơ quan hành chính nhà nước đối với việc thực hiện pháp luật ưu đãi người có công Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực của cơ quan hành chính nhà nước trong thực hiện pháp luật đối với người có công ở nước ta
Các công trình nghiên cứu về chính sách công nói chung, thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng nói riêng được các tác giả nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau, song chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu thực trạng thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng trên
Trang 16địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, đề xuất phương hướng và giải pháp đẩy mạnh thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa bàn quận trong thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích, đánh giá thực trạng thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng nhằm đề xuất phương hướng và các giải pháp tăng cường thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội
- Đề xuất phương hướng và giải pháp tăng cường thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội trong những năm tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực thi chính sách đối với người
có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu hoạt động thực thi chính sách đối với người
có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội
- Về thời gian: Nghiên cứu hoạt động thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội từ năm
2011 đến nay
Trang 175 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp đồng thời nhiều phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, trong đó tập trung vào một số phương pháp
chính sau đây:
- Phương nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan để có luận cứ khoa học cho việc thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng nói chung, thực thi chính sách thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội nói riêng, làm
cơ sở để phân tích, đánh giá thực trạng thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa bàn quận ở chương 2 của luận văn
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này được tác giả sử dụng để phân tích thực trạng thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, từ đó tổng hợp thành các nhận xét, đánh giá
về những kết quả đã đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp ở chương 3
- Phương pháp thống kê: Được tác giả sử dụng để xử lý các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu đề tài
- Phương pháp điều tra xã hội học: Học viên sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để điều tra ý kiến đánh giá của đối tượng người có công, cán bộ, công chức đang công tác tại UBND quận Cầu Giấy và các phòng, ban thuộc UBND quận về thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa bàn quận trong những năm vừa qua
Trang 18Đối tượng điều tra là những người có công và cán bộ, công chức thực hiện chính sách đối với người có công trên địa bàn quận
Số phiếu phát ra là 150: 100 phiếu cho đối tượng người có công và 50 phiếu cho cán bộ, công chức thuộc UBND quận thực thi chính sách đối với người có công Số phiếu thu về tương ứng là 85 và 42
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn phân tích làm rõ cơ sở lý luận về thực thi chính sách đối với người có công; đánh giá ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế, đề xuất các giải pháp tăng cường thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về thực thi chính sách đối với người có công Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội
Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp đẩy mạnh thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG
1.1 Những khái niệm có liên quan đến đề tài
1.1.1 Chính sách, chính sách công và thực thi chính sách công
1.1.1.1 Khái niệm chính sách
Thuật ngữ “chính sách” được sử dụng rộng rãi trên sách báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội Hiểu một cách giản đơn, chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản
lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình
Theo từ điển Tiếng Anh (Oxford English Dictionary), “chính sách” là
“một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách”
Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà
họ quan tâm” [24]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa”
Theo Từ điển Tiếng Việt “Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một số mục đích nhất định dựa vào đường lối chính trị chung và thực
tế mà nhà nước đề ra” [32, tr163]
Theo giáo trình “Hoạch định và phân tích chính sách công” của Học viện Hành chính Quốc gia do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật xuất bản năm
Trang 202008, khái niệm về chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định [33, tr14]
Qua nghiên cứu các khái niệm chính sách, học viên đưa ra cách hiểu về chính sách như sau: Chính sách là các vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường, đối ngoại đang đặt ra cần có sự can thiệp của nhà nước để giải quyết Chính sách bao gồm mục tiêu của chính sách, các điều kiện và nguồn lực cần
có và cách thức để thực hiện các mục tiêu chính sách
Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau: chính sách của Liên hiệp quốc, chính sách của một đảng, chính sách của chính phủ, chính sách của chính quyền địa phương, chính sách của một bộ, chính sách của một tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, chính sách của một doanh nghiệp
Các tổ chức, các doanh nghiệp, các hiệp hội, đoàn thể cũng có thể đề ra những chính sách riêng biệt để áp dụng trong phạm vị một tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội hay đoàn thể đó Các chính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức, chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó,
vì vậy chúng mang tính chất riêng biệt và được coi là những “chính sách tư”, tuy trên thực tế khái niệm “chính sách tư” hầu như không được sử dụng
1.1.1.2 Khái niệm chính sách công
Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi
là chính sách công Khoa học chính sách nghiên cứu các chính sách nói chung, nhưng tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu các chính sách công nhằm mục tiêu nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước
Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi Dưới đây, chúng ta có thể dẫn chứng một số định nghĩa chính sách công khá tiêu biểu của các học giả trước khi đi đến một định nghĩa thích hợp
Trang 21William Jenkin cho rằng: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định
có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó” [24] Định nghĩa này nhấn mạnh: i) chính sách công không phải là một quyết định đơn lẻ nào đó, mà là một tập hợp các quyết định khác nhau có liên quan với nhau trong một khoảng thời gian dài; ii) chính sách công do các nhà chính trị trong bộ máy nhà nước ban hành; iii) chính sách công nhằm vào những mục tiêu nhất định theo mong muốn của Nhà nước và bao gồm các giải pháp
để đạt được mục tiêu đă lựa chọn
Thomas Dye lại đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về chính sách công, nhưng cũng bao hàm được nội dung của khái niệm và được nhiều học giả tán thành Theo ông, “chính sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm” Định nghĩa này có 3 nội dung quan trọng: i) các chính sách là các chương trình hành động riêng biệt; ii) các chính sách phản ánh sự lựa chọn làm hay không làm; iii) các chính sách không chỉ là những đề xuất của Chính phủ về một vấn đề nào đó, mà còn là cái được thực hiện trên thực tế
Guy Peter đưa ra định nghĩa: “chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân” Định nghĩa này khẳng định chủ thể ban hành và thực thi chính sách công
là Nhà nước, đồng thời nhấn mạnh tác động của chính sách công đến đời sống của người dân với tư cách là một cộng đồng
Các tác giả đều cho rằng, chính sách công không chỉ là các văn bản quản
lý nhà nước mà còn là các hành vi của nhà nước Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, những văn bản quản lý nhà nước là công cụ chủ yếu để nhà nước xây dựng mục tiêu và biện pháp của chính sách công
Chính sách công không chỉ thể hiện trong các quy đinh pháp luật, chúng còn nằm trong các chương trình, kế hoạch và quá trình thực hiện trong thực tiễn Mặc dù chính sách công được thể chế hoá chủ yếu trong các văn bản pháp luật,
Trang 22song không thể đồng nhất chính sách công với một văn bản đơn lẻ nào Có những chính sách công lớn là tập hợp của những chính sách bộ phận
Tuy có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về chính sách công, song điều
đó không có nghĩa là chính sách công mang những bản chất khác nhau Tùy theo quan niệm của mỗi tác giả mà các định nghĩa đưa ra nhấn mạnh vào đặc trưng này hay đặc trưng khác của chính sách công Những đặc trưng này phản ánh chính sách công từ các góc độ khác nhau, song chúng đều hàm chứa những nét đặc thù thể hiện bản chất của chính sách công
Trên cơ sở tham khảo các cách tiếp cận khác nhau về chính sách công, chúng ta có thể đi đến định nghĩa chính sách công như sau: Chính sách công là định hướng hành động do nhà nước lựa chọn để giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội phù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kỳ nhằm giữ cho xã hội phát triển theo định hướng của nhà nước
1.1.1.3 Khái niệm thực thi chính sách công
Thực thi chính sách công có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau Theo Mazmanian và Sabatier: Thực thi là thực hiện một chính sách ở cơ sở, thường được thể hiện trong một đạo luật, nhưng cũng có thể được thể hiện dưới hình thức các quyết định quan trọng của cơ quan hành pháp hoặc các quyết định của tòa án Theo lý tưởng, quyết định đó xác định vấn đề cần được giải quyết, quy định các mục tiêu cần theo đuổi và rất nhiều cách thức, định hình quá trình thực thi Thông thường, quá trình này trải qua nhiều giai đoạn, bắt đầu với việc thông qua đạo luật cơ bản, tiếp theo là các quyết định của các cơ quan thực thi chính sách, sự tuân thủ của các nhóm lợi ích với các quyết định đó, các tác động thực tế - cả chủ định và không chủ định - của các đầu ra đó, những tác động nhận thức được của các quyết định và cuối cùng là những sửa đổi quan trọng trong đạo luật cơ bản [24]
Theo Amy DeGroff, Margaret Cargo, “thực thi chính sách công phản ánh một quá trình thay đổi phức tạp mà các quyết định của nhà nước được chuyển
Trang 23thành các chương trình, thủ tục, các quy định hoặc các hoạt động nhằm đạt được những cải thiện xã hội” [22]
Ottoson và Green cho rằng, “thực thi chính sách công là một quá trình lặp
đi lặp lại trong đó các ý tưởng, được thể hiện trong chính sách công, được biến đổi thành hành vi, được thể hiện thành hành động xã hội Thông thường, hành động xã hội được biến đổi từ chính sách nhằm đạt được sự cải thiện xã hội và thường được thể hiện phổ biến nhất dưới dạng các chương trình, thủ tục, quy định và hành động” [24]
Theo Thomas Dye, “thực thi chính sách công bao gồm tất cả các hoạt động được thiết kế để thực hiện các chính sách công đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp Vì các chính sách công có những tác động mong muốn hoặc có chủ định nên chúng phải được chuyển thành các chương trình và các dự án mà sau
đó được thực hiện để đạt được một tập hợp các mục tiêu hoặc mục đích” [22] Như vậy, thực thi chính sách công không đơn giản chỉ là sự tổ chức thực hiện các giải pháp chính sách cụ thể mà bao gồm: i) ban hành các văn bản quy định chi tiết, quy định các biện pháp, các thủ tục thực thi chính sách công và thi hành các văn bản đó; ii) thiết lập các chương trình, dự án để thực thi chính sách công; và iii) tổ chức thực hiện các chương trình, dự án đó
Từ những lập luận nêu trên, có thể hiểu: Thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công
Thực thi chính sách công là hoạt động nhằm biến ý tưởng chính sách, mục tiêu chính sách thành những kết quả cụ thể
Tổ chức thực thi chính sách công là hoạt động có tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước, huy động mọi nguồn lực (con người, tài chính, cơ sở vật chất) nhằm đạt được mục tiêu chính sách theo nguyên tắc tối ưu cả về con người, vốn
và kết quả
Trang 24Tổ chức thực hiện chính sách công là một quá trình ra quyết định giải quyết các công việc cụ thể nhằm tạo ra hàng hoá và dịch vụ cho xã hội
1.1.2 Người có công
Theo nghĩa rộng, người có công là những người đã tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước Họ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc phục vụ lợi ích của đất nước, dân tộc Người có công gồm những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam, nữ, tuổi tác miễn là họ có những hành động xuất sắc có lợi cho dân tộc
Theo nghĩa hẹp, khái niệm người có công để chỉ những cá nhân không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền công nhận
Theo quan niệm của học viên, người có công là đối tượng được hưởng chế
độ ưu đãi của Nhà nước, được điều chỉnh bởi Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng Người có công được hiểu là những người không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, tuổi tác đã cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật Người có công với cách mạng là những những gia đình liệt sỹ, thương bệnh binh, bà mẹ Việt Nam anh hùng, người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học Người có công còn là các cán bộ lão thành cách mạng, cán
bộ tiền khởi nghĩa, người hoạt động cánh mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày, người có công giúp đỡ cách mạng được tặng kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc “Bằng có công với nước”
1.1.3 Chính sách và thực thi chính sách đối với người có công
1.1.3.1 Khái niệm chính sách đối với người có công
Trang 25Chính sách đối với người có công là sự “đền ơn đáp nghĩa” của cộng đồng, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, là sự đãi ngộ, ưu tiên đặc biệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần đối với những người có nhiều hy sinh, cống hiến với đất nước nhằm tạo mọi điều kiện, khả năng góp phần ổn định và nâng cao đời sống của họ
Theo Thuật ngữ Lao động - Xã hội, “chính sách đối với người có công là những quy định chung của Nhà nước, bao gồm mục tiêu, phương hướng, giải pháp về việc ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh cao cả của người có công, tạo mọi điều kiện khả năng góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần đối với người có công” [1, tr31]
Về khái niệm chính sách đối với người có công, có quan điểm cho rằng:
“Chính sách đối với người có công là đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước căn cứ vào nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ, dựa vào sự phát triển nền kinh tế - xã hội nhằm mục tiêu ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh cao cả của những người có công, tạo mọi điều kiện, khả năng, đền đáp, bù đắp phần nào về đời sống vật chất, văn hóa tinh thần đối với người có công [18, tr13]
Từ thực tiễn thực hiện chính sách đối với người có công, có thể quan niệm: Chính sách đối với người có công là một bộ phận đặc thù của chính sách
xã hội của Đảng và Nhà nước ta; là tổng thể các chủ trương, cơ chế, chính sách, pháp luật và kết quả hoạt động thực tiễn ưu tiên chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công và gia đình họ nhằm không ngừng nâng cao đời sống người có công, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tạo động lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Mục đích của chính sách đối với người có công nhằm tôn vinh, ghi nhận
sự cống hiến, hy sinh, góp phần chăm sóc, ổn định đời sống vật chất, tinh thần của người có công và gia đình người có công, tạo sự ổn định chính trị, phát triển xã hội; đồng thời, là sự thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, truyền thống, đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam
Trang 26Đối tượng hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, bao gồm: người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật; thân nhân người có công với cách mạng; các đối tượng khác: người thừa kế của liệt sĩ; người được giao thờ cúng liệt sĩ; người phục vụ theo quy định; người tổ chức mai táng khi người có công với cách mạng chết
Nội dung chính sách đối với người có công được quy định bằng chủ trương, quan điểm, thông qua các nghị quyết, chỉ thị và bằng các quy định của pháp luật mang tính toàn diện, thông qua các chế độ trợ cấp, phụ cấp; y tế, giáo dục - đào tạo, việc làm, tín dụng, đất đai, nhà ở; ưu đãi về tinh thần và một số chế độ ưu đãi khác
1.1.3.2 Khái niệm thực thi chính sách đối với người có công
Với chính sách công, để đạt được mục tiêu phát triển trước hết chính sách phải được triển khai thực hiện trong thực tế, nghĩa là Nhà nước phải xaay dựng các kế hoạch, chương trình, dự án để biến các mục tiêu chính sách thành những kết quả cụ thể Như vậy, sau khi ban hành, chính sách phải được triển khai thực hiện trong đời sống xã hội Do vậy, tổ chức thực thi chính sách là tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của nhà nước và cũng là để đạt được mục tiêu đã đề ra của chính sách
Theo giáo trình “Hoạch định và phân tích chính sách công” của Học viện hành chính do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật xuất bản năm 2013, tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng [24, tr 77]
Theo học viên, thực thi chính sách đối với người có công là toàn bộ các hoạt động của chủ thể quản lý nhà nước chuyển mục tiêu chính sách đối với người có công thành những kết quả cụ thể, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, giúp người có công vượt qua được những khó khăn trong cuộc sống,
có cuộc sống vật chất và tinh thần đầy đủ
Trang 27Thực thi chính sách đối với người có công là quá trình hoạt động của các chủ thể, lực lượng nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách một cách hiệu quả Theo đó, theo phạm vi và chức năng, các tổ chức, cá nhân nhận thức đầy đủ mục đích, ý nghĩa, nội dung của chính sách; làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến đến các đối tượng và nhân dân; chuẩn bị đẩy đủ các nguồn lực và tổ chức thực hiện khoa học, hợp lý, dân chủ, công khai, công bằng; phân công trách nhiệm cụ thể; tổ chức thanh tra, kiểm tra phát hiện, phòng ngừa và xử lý vi phạm trong thực hiện chính sách đối với người có công
1.2 Đặc điểm, ý nghĩa của thực thi của chính sách đối với người có công
1.2.1 Đặc điểm cơ bản của thực thi chính sách đối với người có công
Thực thi chính sách đối với người có công là tổng thể các các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để biến các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước nhằm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công và gia đình họ nhằm không ngừng nâng cao đời sống người
có công, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tạo động lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thực thi chính sách đối với người có công có những đặc điểm cơ bản sau:
Một là, thực thi chính sách đối với người có công không chỉ mang tính
chính trị, kinh tế, xã hội, mà còn mang tính nhân văn sâu sắc Ưu đãi và chăm sóc người có công luôn là một chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước kể
từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy ngày 27/7 là ngày Thương binh - Liệt sĩ Trong hơn 70 năm qua, chính sách đối với người có công được triển khai toàn diện, không chỉ thể hiện sự đãi ngộ đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với người có công mà còn góp phần quan trọng trong đảm bảo an sinh xã hội, phát triển bền
vững đất nước
Thực thi chính sách đối với người có công thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về ưu đãi người
Trang 28có công luôn được chú trọng, bổ sung và hoàn thiện dưới các dạng Nghị định, Quyết định, Thông tư Việc thực thi chính sách đối với người có công được thực hiện nghiêm chỉnh và đầy đủ, thể hiện tính nhân văn sâu sắc
Hai là, mục đích của thực thi chính sách đối với người có công nhằm tôn
vinh, ghi nhận sự cống hiến, hy sinh của người có công, góp phần chăm sóc, ổn định đời sống vật chất, tinh thần của người có công và gia đình họ, tạo sự ổn định chính trị, phát triển xã hội; đồng thời, là sự thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, truyền thống, đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam
Ba là, chủ thể thực thi chính sách đối với người có công là Đảng và Nhà
nước Theo đó, Đảng đề ra quan điểm, chủ trương lãnh đạo; Nhà nước quy định
về chế độ, chính sách; các bộ, ban, ngành theo phạm vi, chức năng hướng dẫn triên khi thực hiện chính sách; cấp ủy, chính quyền các địa phương vừa là chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng chương trình, kế hoạch, vừa tổ chức thực hiện chính sách đối với người có công ở địa phương
Lực lượng thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là các cấp, các ngành; cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và nhân dân các địa phương
Bốn là, đối tượng hưởng chính sách đối với người có công bao gồm: người
có công với cách mạng theo quy định của pháp luật; thân nhân người có công với cách mạng (cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con người có công với cách mạng; người nuôi dưỡng liệt sĩ khi còn nhỏ); các đối tượng khác: người thừa
kế của liệt sĩ; người được giao thờ cúng liệt sĩ; người phục vụ theo quy định; người tổ chức mai táng khi người có công với cách mạng chết
Năm là, tổ chức thực thi chính sách đối với người có công là quá trình hoạt
động của các chủ thể, lực lượng nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách đối với người có công một cách hiệu quả Theo đó, theo phạm vi và chức năng, các
tổ chức, cá nhân nhận thức đầy đủ mục đích, ý nghĩa, nội dung của chính sách; làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến đến các đối tượng và nhân dân; chuẩn
bị đẩy đủ các nguồn lực và tổ chức thực hiện chính sách khoa học, hợp lý, dân
Trang 29chủ, công khai, công bằng; phân công trách nhiệm cụ thể; tổ chức thanh tra, kiểm tra phát hiện, phòng ngừa và xử lý vi phạm trong thực thi chính sách đối với người có công
Sáu là, quản lý nhà nước về chính sách đối với người có công là quá trình
tổ chức, điều hành hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về chính sách đối với người có công nhằm thực hiện tốt trách nhiệm của Nhà nước trong việc đãi ngộ, ưu tiên đặc biệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần đối với người có công
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thực thi chính sách đối với người
có công; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ về thực thi chính sách; các bộ, ban, ngành có liên quan trong phạm vi nhiệm
vụ, thẩm quyền của mình thực hiện quản lý nhà nước về chính sách đối với người
có công; UBND các cấp thực hiện quản lý nhà nước về chính sách đối với người
có công trong phạm vi địa phương mình; cơ quan Lao động - Thương binh và
Xã hội địa phương giúp UBND cùng cấp trong việc thực hiện quản lý nhà nước
về chính sách đối với người có công tại địa phương
Bảy là, nguồn lực thực hiện chính sách đối với người có công được thực
hiện bằng hai nguồn lực chính: nguồn ngân sách nhà nước và nguồn xã hội hóa Trong đó, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo; đồng thời, đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia Theo đó, ngân sách Trung ương bảo đảm kinh phí để thực hiện các chế độ, chính sách đối với người có công chủ yếu bằng hình thức trợ cấp, phụ cấp, bảo hiểm y tế và các chế độ ưu đãi khác (chu cấp trang thiết bị, điều dưỡng, nhà ở, ưu đãi giáo dục, công tác mộ, nghĩa trang, việc làm, vay vốn…) Ngoài ngân sách Trung ương, các địa phương bố trí thêm kinh phí từ nguồn ngân sách địa phương để thực thi chính sách đối với người có công
Cùng với nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước, nguồn lực xã hội hóa thông qua các hoạt động vận động các doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức, cá nhân
Trang 30ở trong nước và nước ngoài xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, tặng sổ tiết kiệm, xây tặng nhà tình nghĩa, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng… góp phần quan trọng trong thực thi chính sách đối với người có công
1.2.2 Ý nghĩa của thực thi chính sách đối với người có công
Thực thi chính sách đối với người có công có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay Tầm quan trọng này được thể hiện ở các nội dung sau:
- Thực thi chính sách đối với người có công là thực thi một loại chính sách đặc biệt, thể hiện tình cảm, trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội đối với một bộ phận dân cư đặc biệt - những người có công Chính vì vậy, chính sách đối với người có công có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội
- Thực thi chính sách đối với người có công thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm và tình cảm của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong việc đền ơn đáp nghĩa với người có công với cách mạng; thông qua sự chăm sóc, đùm bọc, giúp
đỡ của Đảng, Nhà nước và nhân dân, những thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, gia đình thương binh và bản thân họ cảm thấy vinh dự, tự hào với những
gì mình đã đóng góp cho Tổ quốc, cho nhân dân; làm cho họ tăng thêm ý chí
để vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống
- Thực hiện chính sách đối với người có công giáo dục ý thức, trách nhiệm, lòng biết ơn của các tầng lớp nhân dân, nhất là giới trẻ đối với các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh xương máu vì nền độc lập và sự tồn vong của dân tộc
- Tạo lập môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội, giúp cho các tổ chức xã hội tham gia hoạt động đền ơn đáp nghĩa
- Tăng cường sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các bộ phận, từ trung ương đến địa phương tạo nên tính hệ thống chặt chẽ trong quá trình thực thi chính sách đối với người có công
- Thực thi chính sách đối với người có công phản ánh sự quan tâm, ý thức
xã hội của Nhà nước, cộng đồng, của thế hệ đi sau đối với thế hệ cha, anh Vì
Trang 31vậy, nó có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc Thực hiện tốt chính sách đối với người có công góp phần gắn kết cộng đồng, sự ổn định xã hội Ngược lại, nếu thực hiện không tốt chính sách đối với người có công sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
- Thực thi chính sách đối với người có công thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ chính trị của nhà nước Nhà nước vừa là tổ chức quyền lực chính trị công đặc biệt, đại diện cho các tầng lớp nhân dân, cho dân tộc Vì vậy, thực thi chính sách đối với người có công là sự kết hợp giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc, đảm bảo cho đất nước phát triển lâu dài và bền vững
- Thực thi chính sách đối với người có công góp phần vào thực hiện chính sách con người của quốc gia, nhằm làm cho thế hệ trẻ ý thức về trách nhiệm của mình đối với xã hội, đối với Tổ quốc, sẵn sàng cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp của dân tộc, của đất nước
Như vậy, thực thi chính sách đối với người có công có ý nghĩa rất quan trọng Đây là quá trình đưa chính sách ưu đãi đối với người có công vào thực tế, giải quyết chế độ đối với người có công, tăng thêm tinh thần trách nhiệm xã hội Những luận giải trên đây cho chúng ta nhận thức đầy đủ về vai trò quan trọng của thực thi chính sách đối với người có công, từ đó nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm trong tổ chức thực thi chính sách đối với người có công
1.3 Nội dung, quy trình thực thi chính sách đối với người có công
1.3.1 Nội dung thực thi chính sách đối với người có công
1.3.1.1 Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về chính sách đối với người có công
Pháp luật quy định chính sách đối với người có công là công cụ quan trọng trong thực thi chính sách này Pháp luật về chính sách đối với người có công nhằm thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công; tạo môi trường pháp lý thuận lợi để các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân nâng cao nhận thức, tham gia tích cực vào thực thi chính sách,
Trang 32tạo sự đồng thuận xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để người có công xây dựng cuộc sống, tiếp tục khẳng định vai trò trong cộng đồng xã hội
Từ năm 1986 đến nay, hệ thống pháp luật đối với người có công ở nước
ta đã có những thay đổi quan trọng để phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của thời kỳ đổi mới Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật quy định các ưu đãi xã hội đối với người có công, trong đó nổi bật nhất là việc ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng năm 1994 và Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm 1994 Đây là hai văn bản pháp luật nhằm thể chế hóa Hiến pháp năm 1992, đánh dấu sự tiến bộ trong hệ thống chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công Sau đó Chính phủ, các bộ, ngành liên quan đã ban hành nhiều nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành hai Pháp lệnh này tạo thành hệ thống pháp luật về chính sách đối với người có công
1.3.1.2 Các đối tượng người có công theo quy định hiện hành
Theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng được Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung ngày ngày 16/7/2012, người có công với cách mạng bao gồm các đối tượng sau:
- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;
- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945;
- Liệt sĩ;
- Bà mẹ Việt Nam anh hùng;
- Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân;
- Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến;
- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
- Bệnh binh;
- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;
Trang 33- Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;
- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;
- Người có công giúp đỡ cách mạng
1.3.1.3 Quy định về các loại trợ cấp ưu đãi người có công
- Trợ cấp hàng tháng: là khoản tiền theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng, được cấp hàng tháng đối với đối tượng hưởng
ưu đãi người có công như: trợ cấp hàng tháng đối với thương binh, bệnh binh, người hoạt động cách mạng trước cách mạng Tháng Tám năm 1945, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học
- Trợ cấp tuất hàng tháng: là khoản tiền theo quy định của pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng, được cấp hàng tháng cho thân nhân của liệt
sỹ, thân nhân của thương binh, bệnh binh mất sức lao động từ 61% trở lên đã hết tuổi lao động, chưa đến tuổi lao động hoặc trên 18 tuổi nhưng bị tật nguyền bẩm sinh, không còn khả năng lao động
- Trợ cấp tuất nuôi dưỡng hàng tháng: là khoản trợ cấp thường xuyên theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng, được cấp cho một số đối tượng là thân nhân người có công thuộc diện già yếu, cô đơn, không nơi nương tựa
- Trợ cấp một lần: là khoản tiền theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng, được áp dụng cho từng loại đối tượng hưởng chế
độ ưu đãi khác nhau như: người hoạt động kháng chiến - giải phóng dân tộc, người có công giúp đỡ cách mạng được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến
- Trợ cấp hàng năm: là khoản tiền theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng, được cấp mỗi năm một lần, áp dụng đối với người đảm nhiệm thờ cúng liệt sỹ
Trang 34- Chế độ điều dưỡng: là khoản tiền theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng, được cấp mỗi năm một lần (áp dụng đối với thương binh, bệnh binh mất sức lao động từ 81% trở lên, bà mẹ Việt Nam Anh hùng) hoặc hai năm một lần (áp dụng đối với thương binh, bệnh binh mất sức lao động dưới 81%, người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đầy, thân nhân liệt sỹ đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng)
- Phụ cấp người phục vụ: là khoản tiền theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng, được cấp hàng tháng đối với người trực tiếp đảm nhiệm việc phục vụ, chăm sóc một số diện đối tượng như: thương bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học mất sức lao động
từ 81% trở lên, bà mẹ Việt Nam Anh hùng
- Phụ cấp ưu đãi hàng tháng: là khoản tiền được nhà nước cấp thêm ngoài khoản trợ cấp chính đối với một số đối tượng thụ hưởng ưu đãi xã hội có hoàn cảnh đặc biệt đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng hoặc là khoản tiền phụ cấp thêm đối với một số đối tượng khác theo quy định của pháp luật về ưu đãi người
có công với cách mạng như: phụ cấp người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945, phụ cấp đối với thương bệnh binh có vết thương đặc biệt nặng
1.3.1.4 Các cơ quan thực thi chính sách đối với người có công tại địa phương
Giải quyết chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng tại địa phương là nhiệm vụ của UBND các cấp và nhiều ngành Trong đó được phân công cụ thể như sau:
- UBND các cấp: UBND các cấp ở địa phương bao gồm: UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện, UBND cấp xã UBND các cấp có trách nhiệm chỉ đạo và kiểm tra các cơ quan hành chính nhà nước thuộc cấp mình tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, giúp đỡ thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, những người và gia đình có công với cách mạng theo quy định của pháp luật
Trang 35- Cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội các cấp: Là cơ quan tham mưu giúp UBND các cấp ở địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước
và trực tiếp hướng dẫn công dân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn lập hồ sơ công nhận là người có công với cách mạng theo quy định của từng diện cụ thể Đồng thời, chủ trì trong việc thực hiện các chính sách, chế độ trợ cấp ưu đãi đối với người có công và thân nhân người có công theo quy định của Nhà nước đã ban hành
Cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội các cấp có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan liên quan cùng cấp thực hiện việc xác nhận đối tượng người có công, thân nhân người có công để thực hiện các chính sách ưu đãi khác theo quy định về pháp luật ưu đãi về người có công
- Các cơ quan nhà nước có liên quan: Các cơ quan nhà nước có liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật để thực hiện hoặc phối hợp với cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện chính sách ưu đãi có liên quan đến người có công và thân nhân người có công
cụ thể như sau:
+ Cơ quan Nội vụ: Căn cứ xác nhận đối tượng là người có công hoặc thân nhân người có công của Cơ quan Lao động Thương binh và Xã hội để thực hiện việc ưu tiên trong tuyển dụng công chức, viên chức
+ Cơ quan Y tế: Căn cứ thẻ Bảo hiểm y tế do cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội mua cấp cho đối tượng để thực hiện miễn 100% chi phí khám, chữa bệnh cho người có công và thân nhân người có công
+ Cơ quan Xây dựng: Căn cứ xác nhận đối tượng là người có công hoặc thân nhân người có công của cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội để thực hiện hỗ trợ xây dựng hoặc sửa chữa nhà ở theo mức do Chính phủ quy định
Trang 36+ Cơ quan Thuế: thực hiện miễn, giảm các loại thuế theo quy định của pháp luật đối với người có công và thân nhân người có công khi có các giao dịch hành chính phát sinh …
- Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội: Tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân, các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, vận động toàn dân tham gia chăm sóc người có công, xây dựng quỹ Đền ơn đáp nghĩa, thực hiện các chương trình tình nghĩa đối với người có công với cách mạng
1.3.1.5 Các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công
Người có công và thân nhân được Nhà nước, xã hội quan tâm chăm sóc, giúp đỡ và tuỳ từng đối tượng được hưởng các chế độ ưu đãi sau đây:
- Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần;
- Bảo hiểm y tế;
- Điều dưỡng phục hồi sức khỏe;
- Nhà nước có chính sách hỗ trợ người có công, thân nhân liệt sĩ có khó khăn về nhà ở và huy động sự tham gia của xã hội, gia đình người có công;
- Được ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; được hỗ trợ để theo học tại
cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học
1.3.2 Quy trình thực thi chính sách đối với người có công
Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực thi chính sách
Đây là bước cần thiết và rất quan trọng vì tổ chức thực thi chính sách đối với người có công là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch, chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách một cách khoa học và chủ động
Kế hoạch triển khai thực thi chính sách đối với người có công phải được xây dựng trước khi đưa chính sách đối với người có công vào cuộc sống Các
cơ quan triển khai thực thi chính sách từ Trung ương đến địa phương đều phải xây
Trang 37dựng kế hoạch, chương trình thực thi chính sách Kế hoạch triển khai thực thi chính sách đối với người có công bao gồm những kế hoạch sau:
- Kế hoạch tổ chức, điều hành;
- Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực;
- Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện;
- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách
- Dự kiến những nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức thực thi chính sách đối với người có công
Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách
Sau khi bản kế hoạch triển khai thực thi chính sách được thông qua, các
cơ quan nhà nước tiến hành triển khai tổ chức thực thi chính sách theo kế hoạch Việc trước tiên cần làm trong quá trình này là phổ biến, tuyên truyền chính sách đến cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân tham gia thực thi chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi chính sách hiểu rõ mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu của quản lý nhà nước Đồng thời còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động, tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả các kế hoạch tổ chức thực thi chính sách
Phổ biến, tuyên truyền thực thi chính sách đối với người có công cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, bằng nhiều hình thức khác nhau để mọi đối tượng thực thi chính sách hiểu, ủng hộ và tích cực tham gia thực thi chính sách
Trang 38Bước 3: Phân công, phối hợp thực thi chính sách
Thực thi chính sách đối với người có công thường được thực thi trên phạm
vi rộng lớn, vì vậy số lượng các cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách
là rất lớn Muốn tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả cần phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các chủ thể tham gia vào quá trình thực thi chính sách
Phân công công việc phải cụ thể, khoa học và phù hợp Phối hợp thực thi chính sách đối với người có công theo chiều dọc, chiều ngang và phối hợp theo mạng lưới: giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp, hiệp hội
Bước 4: Chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực thi chính sách
Đây là những hoạt động nhằm bảo đảm cho chính sách tồn tại được và phát huy tác dụng Muốn vậy phải có sự đồng tâm, hiệp lực của cả người tổ chức thực hiện và người thực thi chính sách Người tổ chức thực hiện phải thường xuyên vận động người thực thi chính sách tích cực tham gia thực hiện chính sách Nếu việc thực thi chính sách gặp khó khăn thì người tổ chức thực hiện chính sách sử dụng hệ thống các công cụ quản lý tác động để tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách
Chỉ đạo, điều hành việc thực thi chính sách đối với người có công phải cụ thể, sát sao, không chung chung, qua loa, đại khái
Để triển khai thực thi chính sách công đối với người có công hiệu quả cần kết hợp nhiều phương pháp quản lý khác nhau, như tuyên truyền, giáo dục, phương pháp tổ chức, hành chính và phương pháp kinh tế
Bước 5: Kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách
Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách đối với người có công là hoạt động của các cơ quan, cán bộ, công chức có thẩm quyền nhằm làm cho các chủ thể thực thi chính sách nêu cao tinh thần, ý thức trách nhiệm trong thực hiện
Trang 39các nhiệm vụ được giao, tránh để sảy ra các sai phạm trong quá trình thực thi chính sách đối với người có công
Thông qua việc kiểm tra, đôn đốc, chủ thể quản lý biết được những khó khăn, vướng mắc trong thực thi chính sách đối với người có công để đề ra các giải pháp khắc phục
Bước 6: Điều chỉnh chính sách
Điều chỉnh chính sách đối với người có công được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cho chính sách này ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách đối với người có công thì được quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách Đièu chỉnh chính sách đối với người có công có thể xem xét, điều chỉnh mục tiêu, biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu chính sách
Điều chỉnh chính sách đối với người có công theo các hình thức sau: bổ sung, thay đổi, tạm dừng, hủy bỏ mục tiêu và các giải pháp thực thi chính sách
để đạt được mục tiêu chính sách
Bước 7: Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm
Tổ chức thực thi chính sách đối với người có công được tiến hành liên tục trong thời gian dài Trong quá trình đó, người ta có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực thi chính sách Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm trong thực thi chính sách được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về công tác chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách
Đối tượng được đánh giá, tổng kết trong chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách đối với người có công là các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở Ngoài ra còn xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị
- xã hội và xã hội trong việc tham gia thực thi chính sách đối với người có công Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước, còn xem xét, đánh giá việc thực hiện của các đối tượng tham
Trang 40gia thực thi chính sách đối với người có công, bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách đối với người
Khi có chủ trương, đường lối và hệ thống pháp luật đúng đắn, đầy đủ và đồng bộ thì đó là cơ sở cho việc thực thi chính sách đối với người có công hiệu quả, giải quyết được mục tiêu chính sách
1.4.1.2 Vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với việc thực hiện chính sách
Thực thi chính sách đối với người có công là giai đoạn cụ thể hóa chính sách vào thực tế, do vậy vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước là rất quan trọng Vai trò lãnh đạo của Đảng được thể hiện trong suốt quá trình xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện chính sách vào trong thực tế
Thông qua đường lối, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về các quyết sách, kế hoạch là căn cứ chỉ đạo và định hướng hoạt động từ Trung ương đến
cơ sở và các nội dung cơ bản trong quá triển khai thực thi chính sách
Vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc phổ biến, tuyên truyền chính sách Thông qua các phương thức phổ biến, tuyên truyền chính sách, cán bộ, công