Luận văn trình bày cơ sở lý luận về chất lượng công tác thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; Thực trạng công tác thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật tại Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình; Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh Hòa Bình.
Khái quát về văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh
Theo Điều 4 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước được quy định rõ ràng.
Bảng 1.1.2 Các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL
Cơ quan nhà nước Văn bản quy phạm pháp luật
Quốc hội Hiến pháp, luật, nghị quyết
UBTVQH Pháp lệnh, nghị quyết; Nghị quyết liên tịch
Chủ tịch nước Lệnh, quyết định
Chính phủ Nghị định; Nghị quyết liên tịch
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ Thông tư; Thông tư liên tịch
Thẩm phán TANDTC Nghị quyết
Chánh án TANDTC Thông tư; Thông tư liên tịch
Viện trưởng VKSNDTC Thông tư; Thông tư liên tịch
Tổng Kiểm toán Nhà nước Quyết định
Hội đồng nhân dân Nghị Quyết Ủy ban nhân dân Quyết định
Quy định tại : Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015
Cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL tại cấp tỉnh bao gồm Hội đồng nhân dân tỉnh và Uỷ ban nhân dân tỉnh Văn bản QPPL có những đặc điểm quan trọng giúp người có trách nhiệm nhận diện chính xác đối tượng thẩm định Văn bản QPPL cấp tỉnh không chỉ mang những đặc điểm chung của hệ thống văn bản QPPL mà còn có những đặc điểm riêng biệt cụ thể.
Văn bản QPPL của cấp tỉnh chứa các quy tắc pháp lý áp dụng trong nội tỉnh, theo định nghĩa, QPPL là những quy tắc bắt buộc đối với tất cả tổ chức và cá nhân có liên quan, được ban hành bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Theo Luật ban hành văn bản năm 2015, QPPL trong văn bản cấp tỉnh phải bao gồm quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc và áp dụng nhiều lần cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi hành chính cấp tỉnh Điểm khác biệt cơ bản so với dự thảo văn bản áp dụng pháp luật là các dự thảo này chỉ quy định cho đối tượng cụ thể như công dân, tổ chức xã hội hay doanh nghiệp và chỉ được áp dụng một lần.
Thứ hai, văn bản QPPL của cấp tỉnh được thể hiện theo hình thức và nội dung được quy định trong Luật ban hành văn bản QPPL
Văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) của cấp tỉnh cần được xây dựng và trình lên Hội đồng Nhân dân (HĐND) và Ủy ban Nhân dân (UBND) cấp tỉnh để ban hành theo thẩm quyền quy định trong Luật ban hành văn bản QPPL Để đảm bảo tính hợp pháp, văn bản QPPL phải đáp ứng yêu cầu về cả nội dung và hình thức.
- Về hình thức: cấp tỉnh được ban hành văn bản QPPL theo hai hình thức Nghị quyết của HĐND và Quyết định của UBND
Nghị quyết bao gồm các văn bản QPPL từ cơ quan nhà nước cấp trên, quy định chính sách và biện pháp đảm bảo thi hành Hiến pháp, luật và các văn bản QPPL Nó cũng đề cập đến các biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng và an ninh tại địa phương, cùng với những biện pháp đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương Quyết định bao gồm các QPPL điều chỉnh quan hệ xã hội thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 quy định chung về nội dung các văn bản QPPL do UBND cấp tỉnh ban hành.
+ Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên;
Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, cùng với nghị quyết của HĐND cùng cấp, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng và an ninh tại địa phương Những biện pháp này giúp đảm bảo sự tuân thủ và thực hiện hiệu quả các chính sách, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển bền vững cho địa phương.
Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương đã được cải thiện nhờ quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015, với nội dung ngắn gọn và rõ ràng hơn so với các quy định trước đây.
Văn bản QPPL của cấp tỉnh phải được xây dựng theo trình tự và thủ tục luật định, điều này tạo nên sự khác biệt giữa việc ban hành Nghị quyết và Quyết định của HĐND, UBND cấp tỉnh so với các văn bản cá biệt Quy trình ban hành văn bản QPPL đã được quy định cụ thể, yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền tuân thủ nghiêm ngặt Trước đây, để ban hành văn bản QPPL cấp tỉnh, các bước cần thực hiện bao gồm lập chương trình dự kiến, tổ chức soạn thảo, thẩm định, lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo, thông qua, ký và công bố công khai.
Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật
Khái niệm, vai trò của thẩm định dự thảo văn bản pháp luật
Thẩm định là một bước quan trọng trong quy trình xây dựng và ban hành văn bản QPPL, với nhiều cách hiểu khác nhau Theo Từ điển tiếng Việt, "thẩm định" được định nghĩa là xem xét để xác định chất lượng Trong khi đó, Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp mô tả thẩm định là quá trình xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận pháp lý bằng văn bản về một vấn đề cụ thể, do cá nhân hoặc tổ chức có chuyên môn thực hiện Thẩm định có thể áp dụng cho nhiều đối tượng như dự án, báo cáo, hồ sơ và dự thảo văn bản QPPL.
Thẩm định là công tác pháp lý của cơ quan có thẩm quyền, nhằm đánh giá dự thảo văn bản để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất trong hệ thống pháp luật Việc xem xét dự thảo có thể từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng từ khía cạnh thẩm định, nó đóng vai trò kiểm tra trước để phát hiện vi phạm và hạn chế, nhằm phòng ngừa sai sót trước khi văn bản được ban hành Mặc dù Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 không đề cập đến tính khả thi, nhưng việc thẩm định khả thi của dự thảo vẫn rất quan trọng Nó không chỉ xác định khả năng thực hiện của văn bản trong thực tế mà còn liên quan trực tiếp đến tính hợp pháp và đáp ứng nhu cầu cơ bản của xã hội, đảm bảo rằng các văn bản có thể thi hành phù hợp với điều kiện sống thực tế.
Hình 1.2.1.1 Sơ đồ các bước trong quy trình Xây dựng và ban hành văn bản QPPL của tỉnh
Phân công cơ quan, tổ chức trình
Thẩm định Sở Tư pháp Thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định Đăng tải, lấy ý kiến, tiếp thu ý kiến ( cơ quan chủ trì soạn thảo)
Thảo luận, quyết định trình
Thảo luận, quyết định thông qua
Ký chứng thực hoặc ký ban hành Đăng công báo
Phân công cơ quan soạn thảo
( cơ quan trình soạn thảo)
Soạn thảo (Cơ quan chủ trì soạn thảo)
1.2.1.2 Vai trò của thẩm định dự thảo văn bản QPPL
Vai trò của thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau, thể hiện ở những phương diện sau đây:
Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là giai đoạn quan trọng trong quá trình ban hành văn bản QPPL, diễn ra trước khi cơ quan có thẩm quyền chính thức xem xét và ban hành các văn bản như Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, hay Thông tư của Bộ trưởng Giai đoạn này cũng là bước cuối cùng trước khi Chính phủ trình Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét các dự án Luật, Nghị quyết và Pháp lệnh.
Thẩm định là cơ sở quan trọng để đánh giá dự thảo văn bản QPPL, đảm bảo tính khả thi và hỗ trợ cơ quan hữu quan tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng và sâu sắc Các cơ quan có thẩm quyền cần thực hiện công tác thẩm định một cách trung thực để trả lời chính xác các vấn đề trong dự thảo, từ đó giúp văn bản QPPL được thông qua thuận lợi Bên cạnh đó, thẩm định cung cấp thông tin toàn diện và chuyên môn, hỗ trợ giải thích và thuyết phục về ý đồ lập pháp, đồng thời là nền tảng cho việc giải thích luật sau này Nếu không thẩm định tốt, các dự thảo không khả thi có thể được thông qua, gây ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của tổ chức và công dân vào pháp luật.
Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan soạn thảo, giúp kiểm định kết quả làm việc và nâng cao trách nhiệm của họ Những tham vấn trong báo cáo thẩm định được tiếp thu và sửa đổi kịp thời, góp phần nâng cao chất lượng dự thảo và hiệu quả làm việc Qua đó, cơ quan soạn thảo ngày càng hoàn thiện hơn về kỹ năng và trách nhiệm trong quá trình soạn thảo văn bản.
Thẩm định là cơ chế quan trọng đảm bảo sự phối hợp và giám sát giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước Quy trình thẩm định dự thảo văn bản pháp luật cần sự hợp tác chặt chẽ từ nhiều chủ thể, với mỗi bước từ chuẩn bị đến trình dự thảo đều ảnh hưởng lẫn nhau Một quy trình thẩm định khoa học và hợp lý giúp các cơ quan ban hành văn bản nhanh chóng và thuận lợi, trong khi việc thẩm định không chính xác có thể dẫn đến mâu thuẫn và giảm chất lượng văn bản Hơn nữa, sự tham gia của thẩm định còn nâng cao ý thức trách nhiệm của các chủ thể trong soạn thảo, từ đó cải thiện chất lượng công việc.
Thực hiện thẩm định dự thảo văn bản QPPL của Sở Tư pháp
1.2.2.1 Trách nhiệm thẩm định dự thảo văn bản QPPL:
Phòng Xây dựng và Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thuộc Sở Tư pháp có trách nhiệm thẩm định các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do HĐND và UBND tỉnh đề xuất.
Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của HĐND và UBND tỉnh, theo Điều 111 và Điều 127 của Luật Ban hành VBQPPL năm 2015, cơ quan có thẩm quyền sẽ trực tiếp soạn thảo hoặc phân công cơ quan khác thực hiện Điều này mở rộng trách nhiệm soạn thảo VBQPPL, giúp nâng cao tính khách quan và phù hợp với thực tế Tuy nhiên, cơ quan có trách nhiệm thẩm định các dự thảo VBQPPL là cơ quan tư pháp và các ban của HĐND Việc xác định rõ trách nhiệm thẩm định nhằm đảm bảo rằng mọi văn bản được ban hành đều hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và có tính khả thi cao.
Cơ quan tư pháp là các tổ chức chuyên môn hỗ trợ Chính phủ và UBND các cấp trong việc quản lý công tác tư pháp, bao gồm Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp - Hộ tịch tại xã.
Theo Nghị định số 24/2014/NĐ-CP và Thông tư Liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV, tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được quy định rõ Cụ thể, Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định, đồng thời đảm bảo công tác tư pháp - hộ tịch tại UBND cấp xã.
Thẩm định dự thảo văn bản QPPL cấp tỉnh là nhiệm vụ quan trọng trong quy trình xây dựng và ban hành văn bản pháp luật, do Sở Tư pháp thực hiện Công tác này nhằm đánh giá hình thức và nội dung của dự thảo, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và khả thi cho hệ thống pháp luật.
Thẩm định dự thảo văn bản QPPL của cấp tỉnh là bước thiết yếu trong quy trình soạn thảo và ban hành văn bản QPPL Công việc này do cơ quan chuyên môn về tư pháp có thẩm quyền thực hiện, nhằm đánh giá toàn diện và chính xác dự thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Trong quá trình xây dựng văn bản QPPL, thẩm định và góp ý dự thảo là hai bước bắt buộc, nhưng chúng khác nhau về thời điểm, chủ thể thực hiện, nội dung, phương thức và giá trị pháp lý của kết quả.
1.2.2.2 Thời điểm, chủ thể, nội dung thực hiện
Theo quy trình, cơ quan thẩm định chỉ thực hiện thẩm định dự thảo văn bản QPPL cấp tỉnh sau khi đã tiếp nhận và hoàn thiện dự thảo dựa trên ý kiến góp ý Hồ sơ gửi thẩm định phải bao gồm bản tổng hợp ý kiến đóng góp của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan Điều này cho thấy công tác góp ý diễn ra trước, trong khi thẩm định dự thảo văn bản được thực hiện sau, là điểm quan trọng cần lưu ý trong quá trình thẩm định.
Về chủ thể thực hiện:
- Công tác thẩm định dự thảo văn bản QPPL của cấp tỉnh được thực hiện bởi Sở Tư pháp
Công tác góp ý vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) của cấp tỉnh được thực hiện bởi nhiều chủ thể, bao gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan và toàn xã hội.
Công tác thẩm định do Sở Tư pháp thực hiện sau khi nhận công văn và hồ sơ hợp lệ Nội dung thẩm định được quy định rõ ràng, bao gồm ý kiến về đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản QPPL, tính hợp hiến và hợp pháp của dự thảo, cũng như sự thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật hiện hành Văn bản thẩm định có giá trị pháp lý bắt buộc trong hồ sơ dự thảo Nghị quyết trình HĐND và Quyết định trình UBND cấp tỉnh, trong khi các văn bản góp ý chỉ cần được gửi qua Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Nội dung trong Báo cáo thẩm định VBQPPL
1.2.3.1 Thẩm định Sự cần thiết ban hành văn bản
Cơ quan tư pháp thực hiện nhiệm vụ thẩm định dựa trên các căn cứ từ yêu cầu của cơ quan cấp trên theo văn bản quy phạm pháp luật (như Luật, Nghị định, Thông tư), cùng với nguyện vọng của đối tượng bị quản lý và cơ quan quản lý.
Lý do của việc ban hành văn bản, cơ quan thẩm định cần làm rõ một số nội dung sau:
Khi văn bản được ban hành nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước, người thẩm định cần xác định liệu văn bản đó có đáp ứng yêu cầu thể chế hóa các nội dung này hay không.
Trong trường hợp văn bản quy định chi tiết có hiệu lực pháp lý cao hơn, người thẩm định cần xác định xem việc ban hành văn bản có nhằm thực hiện nhiệm vụ được giao từ cơ quan nhà nước cấp trên hay không Nếu có, cần chỉ rõ các điều, khoản, điểm được giao để quy định chi tiết Đồng thời, nếu văn bản hướng dẫn cụ thể các biện pháp thi hành, cần làm rõ sự phù hợp về thẩm quyền ban hành với nội dung hướng dẫn trong dự thảo.
Người thẩm định cần xác định việc ban hành văn bản để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và giải quyết các vấn đề xã hội Việc này phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong nước hoặc yêu cầu hội nhập quốc tế Nếu pháp luật hiện hành chưa có quy định, cần xem xét việc ban hành văn bản mới như một giải pháp tối ưu Trong trường hợp đã có văn bản quy định nhưng chưa đủ mạnh hoặc không còn phù hợp, cần quyết định liệu có nên ban hành văn bản mới thay thế hay chỉ cần sửa đổi, bổ sung văn bản hiện tại.
Người thẩm định cần xem xét tính dự báo của văn bản, bao gồm khả năng giải quyết vướng mắc thực tiễn, điều chỉnh vấn đề mới và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, và vị thế đối ngoại của đất nước Nếu dự thảo đáp ứng lý do ban hành nhưng không phải là giải pháp phù hợp hoặc có thể gây khó khăn, cản trở sự phát triển, cần cân nhắc lại sự cần thiết ban hành văn bản.
Nếu một văn bản chỉ dựa trên mong muốn của nhà quản lý mà không xem xét nguyện vọng của đối tượng bị quản lý, văn bản đó sẽ thiếu căn cứ thực tiễn và có thể không hiệu quả khi thực hiện Do đó, trong công tác thẩm định, cần đánh giá xem văn bản dự thảo có thể thể chế hóa các chủ trương, chính sách cấp trên hay không, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và giải quyết các vấn đề xã hội mà pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể hoặc chưa đủ mạnh Ngoài ra, cơ quan tư pháp cần xem xét liệu nội dung văn bản dự thảo có truyền tải được các chính sách và yêu cầu của nhà nước để quản lý hiệu quả các vấn đề xã hội tại địa phương hay không.
1.2.3.2 Thẩm định đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản QPPL
Thẩm định đối tượng và phạm vi điều chỉnh của văn bản nhằm đánh giá các vấn đề liên quan đến nội dung này, bao gồm việc xác định rõ ràng đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh của văn bản.
- Sự phù hợp giữa đối tượng với phạm vi điều chỉnh của dự thảo;
- Sự phù hợp giữa đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo với chính sách cơ bản của dự thảo;
- Sự phù hợp giữa đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo với các quy định cụ thể của dự thảo
Khi thẩm định đối tượng và phạm vi điều chỉnh của văn bản, chủ thể thẩm định cần xem xét sự phù hợp giữa đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh của dự thảo Cần đánh giá xem đối tượng và phạm vi điều chỉnh có tương thích với chính sách của dự thảo hay không Đồng thời, các quy định trong dự thảo cũng cần phải phù hợp với phạm vi và đối tượng điều chỉnh Cuối cùng, tên gọi của dự thảo phải phản ánh đúng bản chất của phạm vi và đối tượng mà văn bản cần điều chỉnh.
1.2.3.3 Thẩm định tính hợp hiến, hợp pháp của dự thảo và tính thống nhất của dự thảo đối với hệ thống pháp luật
Về tính hợp hiến: Một trong những nội dung thẩm định là sự phù hợp của dự thảo với quy định và tinh thần của Hiến pháp
Quy định của Hiến pháp thường mang tính định hướng và chủ trương chính Do đó, để đánh giá tính phù hợp của nội dung dự thảo với Hiến pháp, người thẩm định thường xem xét liệu nội dung đó có phù hợp với tinh thần của Hiến pháp hay không.
Để đánh giá tính hợp hiến của dự thảo văn bản, người thẩm định cần xem xét sự phù hợp với các quy định cụ thể của Hiến pháp, cũng như tinh thần và nguyên tắc của Hiến pháp liên quan đến bản chất nhà nước, chế độ kinh tế, nghĩa vụ cơ bản của công dân, và vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước.
Các quy định liên quan đến tổ chức và công tác của bộ máy Nhà nước cần được đánh giá xem có phù hợp với các nguyên tắc và quy định của Hiến pháp về tổ chức công tác của từng cơ quan và cá nhân có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước hay không.
Khi nghiên cứu dự thảo liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, người thẩm định cần đánh giá xem có hạn chế quyền cơ bản nào không, cũng như xác định các phạm trù quyền tự do được bảo vệ và những phạm trù bị can thiệp Cần làm rõ chủ thể có thẩm quyền can thiệp và xem xét liệu có xâm phạm quyền bình đẳng, bao gồm bình đẳng giới và bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo khác nhau hay không Đồng thời, cần đảm bảo rằng dự thảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân Nếu phát hiện quy định nào chưa phù hợp với Hiến pháp, cần phân tích cụ thể các điều khoản vi phạm hoặc vượt ra ngoài phạm vi quy định của Hiến pháp.
Nếu nội dung dự thảo không phù hợp với quy định cụ thể, nguyên tắc hoặc tinh thần của Hiến pháp nhưng lại phù hợp với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước, báo cáo thẩm định cần chỉ rõ vấn đề này và đề xuất xin ý kiến từ cơ quan có thẩm quyền.
Nội dung thẩm định tính hợp hiến của dự thảo văn bản cần làm rõ sự phù hợp của các quy định trong dự thảo với tinh thần Hiến pháp, bao gồm bản chất Nhà nước, chế độ kinh tế, vị trí và chức năng của các cơ quan Nhà nước, cùng với quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
- Tính hợp pháp của dự thảo văn bản QPPL của cấp tỉnh được hiểu là
“đúng pháp luật, không trái với pháp luật” về thẩm quyền, hình thức và nội dung văn bản
Tính hợp pháp về thẩm quyền đề cập đến việc các tỉnh phải tuân thủ quy định của Hiến pháp, Luật ban hành văn bản QPPL, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, cùng với các luật chuyên ngành và các văn bản QPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn như Nghị định, thông tư, và Nghị quyết của HĐND cùng cấp khi ban hành văn bản.
Trình tự thực hiện thẩm định dự thảo văn bản QPPL tại Sở Tư pháp
Pháp luật yêu cầu thẩm định là bước thiết yếu trong quy trình xây dựng văn bản QPPL, đặc biệt là ở cấp tỉnh Mặc dù không có quy định cụ thể về quy trình thủ tục thẩm định, các cơ quan thẩm định vẫn tổ chức thực hiện theo quy trình riêng của mình để đảm bảo tiến độ thẩm định được thực hiện đúng hạn.
Nhìn chung, quy trình thẩm định dự thảo văn bản QPPL của cấp tỉnh được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Nhận hồ sơ thẩm định
Sau khi Văn thư Sở Tư pháp tiếp nhận hồ sơ thẩm định, Giám đốc Sở sẽ chuyển hồ sơ đến phòng chuyên môn để tiến hành kiểm tra Nếu phát hiện hồ sơ thiếu sót, phòng chuyên môn sẽ yêu cầu cơ quan soạn thảo bổ sung đầy đủ tài liệu cần thiết Việc tổ chức thẩm định chỉ được thực hiện khi Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Bước 2: Phân công công chức thẩm định
Trưởng phòng chuyên môn có trách nhiệm phân công công chức thực hiện thẩm định Để đạt kết quả tốt trong quá trình thẩm định, trưởng phòng có thể chỉ định một công chức chủ trì và phối hợp với các công chức khác để cùng nghiên cứu và thẩm định.
Bước 3: Xây dựng dự thảo Báo cáo thẩm định
Cán bộ phòng chuyên môn sẽ nghiên cứu dự thảo văn bản QPPL cấp tỉnh và tập hợp ý kiến từ các cán bộ phối hợp thẩm định Sau khi thảo luận thống nhất, người chủ trì sẽ soạn thảo Báo cáo thẩm định Đối với những dự thảo phức tạp, có thể đề xuất mời cơ quan soạn thảo và các đơn vị liên quan tham gia góp ý Trong cuộc họp, đại diện cơ quan soạn thảo trình bày nội dung cơ bản của dự thảo, và Sở Tư pháp có thể yêu cầu thông tin bổ sung nếu cần thiết Cuối cùng, người chủ trì sẽ hoàn thiện dự thảo Báo cáo thẩm định dựa trên kết luận cuộc họp.
Bước 4: Trình dự thảo Báo cáo thẩm định
Lãnh đạo phòng chuyên môn thẩm định có trách nhiệm chỉnh sửa, hoàn thiện dự thảo Báo cáo thẩm định, trình lãnh đạo Sở ký Báo cáo thẩm định
Lãnh đạo Sở Tư pháp chịu trách nhiệm về việc duyệt nội dung và ký Báo cáo thẩm định Trong trường hợp cần chỉnh sửa nội dung báo cáo, lãnh đạo có thể tự chỉnh sửa hoặc giao cho đơn vị đã xây dựng dự thảo để hoàn thiện.
Bước 6: Gửi Báo cáo thẩm định
Sau khi lãnh đạo Sở Tư pháp ký báo cáo thẩm định, Văn phòng Sở có trách nhiệm sao chép và gửi báo cáo đến cơ quan soạn thảo, các lãnh đạo Sở Tư pháp, đơn vị được phân công thẩm định và lưu trữ tại Văn thư.
Tổ chức bộ máy của cơ quan thẩm định dự thảo VBQPPL
Cách tổ chức bộ máy công tác của Sở Tư pháp và kiểm tra văn bản QPPL cấp tỉnh là yếu tố quyết định chất lượng thẩm định và kiểm tra văn bản Hiện nay, tổ chức bộ máy của Sở Tư pháp được quy định trong các văn bản QPPL Công tác thẩm định dự thảo văn bản QPPL cấp tỉnh yêu cầu một đơn vị độc lập, chuyên sâu với đội ngũ nhân sự đảm bảo về số lượng và chất lượng Nếu đơn vị thẩm định được tổ chức độc lập và sắp xếp cán bộ hợp lý, công tác thẩm định sẽ đạt hiệu quả cao Ngược lại, nếu đơn vị thẩm định phải thực hiện thêm các nhiệm vụ khác hoặc được sắp xếp cùng các bộ phận khác, hiệu quả công việc thẩm định sẽ bị ảnh hưởng.
1.2.5.1 Năng lực, ý thức trách nhiệm của công chức thẩm định dự thảo VBQPPL Đối với công tác thẩm định dự thảo văn bản QPPL của cấp tỉnh con người là yếu tố quan trọng nhất quyết định trực tiếp đến hiệu quả công tác thẩm định :
Công chức phụ trách thẩm định và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh cần không chỉ có kiến thức pháp lý vững vàng, mà còn phải có kinh nghiệm thực tiễn và khả năng tư duy phân tích, tổng hợp các vấn đề pháp lý để đánh giá một cách khái quát.
Công chức đảm nhận nhiệm vụ thẩm định dự thảo văn bản QPPL cần có tinh thần trách nhiệm cao và sự chăm chỉ trong việc tra cứu hệ thống văn bản QPPL để đảm bảo chất lượng và tính chính xác của văn bản.
- Phải có sự phân công hợp lý, ổn định, chuyên sâu theo từng lĩnh vực
1.2.5.2 Nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và ứng dụng khoa học công nghệ
Nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và khoa học công nghệ đóng vai trò then chốt trong việc thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) cấp tỉnh.
Nguồn lực tài chính cho công tác thẩm định dự thảo văn bản QPPL bao gồm ngân sách nhà nước và hỗ trợ từ các tổ chức, cá nhân Tuy nhiên, việc đảm bảo tài chính cho thẩm định chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước Chế độ chi từ ngân sách có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thẩm định; nếu chế độ chi đáp ứng nhu cầu tối thiểu, cán bộ, công chức sẽ có động lực để cống hiến và đầu tư trí tuệ cho công việc thẩm định.
Khái niệm chất lượng và chất lượng công tác thẩm định dự thảo văn bản
Khái niệm chất lượng
Chất lượng có nhiều cách hiểu khác nhau tùy thuộc vào đối tượng sử dụng Đối với người sản xuất, chất lượng là yếu tố cần thiết để đáp ứng các quy định và yêu cầu của khách hàng, nhằm được chấp nhận trên thị trường Nó cũng thường được so sánh với chất lượng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh và liên quan đến chi phí, giá cả.
Chất lượng được hiểu là sự vượt trội và đạt tiêu chuẩn đã đặt ra, đồng thời cũng là sự phù hợp với mục tiêu Mối liên hệ giữa chất lượng và mục tiêu là trực tiếp, với biểu hiện của chất lượng được thể hiện qua các chỉ số vận động theo những mục tiêu đã định trước.
Chất lượng được định nghĩa là tổng thể những tính chất và thuộc tính cơ bản của sự vật, giúp phân biệt nó với các sự vật khác Đây là đặc tính khách quan, thể hiện qua các thuộc tính và liên kết chúng thành một tổng thể không thể tách rời Sự vật không thể mất đi chất lượng của nó khi vẫn giữ nguyên bản thân, và sự thay đổi về chất lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi cơ bản của sự vật Chất lượng luôn gắn liền với tính quy định về số lượng, tạo nên sự thống nhất giữa chất lượng và số lượng trong mỗi sự vật.
Theo tiêu chuẩn ISO 8402-86 và TCVN 5814-94, chất lượng được định nghĩa là tập hợp các đặc tính của một thực thể hoặc đối tượng, giúp chúng đáp ứng các nhu cầu đã được xác định hoặc tiềm ẩn.
Theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000, chất lượng được định nghĩa là mức độ mà một sản phẩm, hệ thống hoặc quá trình đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên liên quan Yêu cầu này có thể là công khai, ngầm hiểu hoặc tiềm ẩn Chất lượng phản ánh khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng; do đó, sản phẩm hoặc dịch vụ không đáp ứng nhu cầu sẽ bị coi là kém chất lượng, bất kể công nghệ sản xuất có hiện đại đến đâu Đánh giá chất lượng cần dựa trên quan điểm của người tiêu dùng, và trong cùng một mục đích sử dụng, sản phẩm nào thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cao hơn sẽ được coi là có chất lượng tốt hơn Những yêu cầu phổ biến của khách hàng đối với sản phẩm và dịch vụ bao gồm: tốt, đẹp, bền, sử dụng lâu dài, thuận lợi và giá cả hợp lý.
Các khái niệm về chất lượng trên đây cho dù được tiếp cận dưới góc độ nào đều phải đảm bảo được hai đặc trưng chủ yếu:
Chất lượng luôn gắn liền với một thực thể vật chất cụ thể và không thể tách rời khỏi nó Thực thể ở đây không chỉ đề cập đến sản phẩm mà còn bao gồm cả các công tác và quá trình liên quan.
Chất lượng được xác định bởi sự thoả mãn nhu cầu, bao gồm cả những nhu cầu đã được nêu rõ và những nhu cầu tiềm ẩn mà người dùng phát hiện trong quá trình sử dụng Nhu cầu luôn thay đổi theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng, do đó chất lượng cũng biến động tương ứng Một số nhu cầu có thể được công bố dưới dạng quy định hoặc tiêu chuẩn, trong khi những nhu cầu khác lại khó miêu tả và chỉ có thể được cảm nhận hoặc phát hiện trong quá trình trải nghiệm sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm được hiểu là tổng hợp các chỉ tiêu và đặc trưng phản ánh mức độ thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện nhất định.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT TẠI SỞ TƯ PHÁP TỈNH HÒA BÌNH
Chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình
Thông tư Liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tư pháp cấp tỉnh, Phòng Tư pháp cấp huyện, cùng với công tác tư pháp của UBND cấp xã.
Ngày 12/5/2017, UBND tỉnh Hòa Bình đã ban hành Quyết định số 14/2015/QĐ-UBND, quy định chức năng và nhiệm vụ của Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình Sở Tư pháp có nhiệm vụ tham mưu cho UBND tỉnh trong quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra và xử lý văn bản pháp luật, cũng như thực hiện các hoạt động như phổ biến pháp luật, công chứng, chứng thực, và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Ngoài ra, Sở còn có trách nhiệm thẩm định các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do HĐND và UBND cấp tỉnh ban hành, với Phòng Xây dựng và Kiểm tra VBQPPL là đơn vị hỗ trợ trong quá trình thẩm định này.
Theo Quyết định 14/2015/QĐ-UBND ngày 12/5/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình, tổ chức bộ máy của Sở Tư pháp bao gồm 1 Giám đốc và tối đa 2 Phó Giám đốc Hiện nay, Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình chỉ có 1 Giám đốc và 1 Phó Giám đốc.
Các phòng chuyên môn giúp việc cho Giám đốc gồm:
- Phòng Xây dựng và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật;
- Phòng Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật;
- Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật;
- Phòng Hành chính tư pháp (hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp);
- Phòng Bổ trợ tư pháp (quản lý luật sư, tư vấn pháp luật, giám định tư pháp, công chứng, bán đấu giá tài sản, Trọng tài Thương mại)
Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm quy định chức năng và nhiệm vụ cho Văn phòng, Thanh tra, cùng các phòng chuyên môn thuộc Sở theo quy định pháp luật Theo Quyết định 14/2015/QĐ-UBND ngày 12/5/2015, có thêm phòng Kiểm soát thủ tục hành chính Tuy nhiên, vào năm 2017, theo quy định của Trung ương và UBND tỉnh, phòng này đã được sát nhập vào Văn phòng UBND tỉnh.
Theo quy định, Văn phòng Sở Tư pháp có Chánh Văn phòng và không quá
02 Phó Chánh Văn phòng; Thanh tra Sở Tư pháp có Chánh Thanh tra và không quá
Phó Chánh Thanh tra và các phòng nghiệp vụ có Trưởng phòng cùng không quá 02 Phó Trưởng phòng, tất cả các chức danh này do Giám đốc Sở Tư pháp bổ nhiệm, bổ nhiệm lại và miễn nhiệm theo phân cấp của UBND tỉnh Đặc biệt, chức danh Chánh Thanh tra Sở Tư pháp cần có sự thoả thuận với Chánh Thanh tra tỉnh trước khi thực hiện bổ nhiệm, bổ nhiệm lại hoặc miễn nhiệm.
Vùng núi phía Tây Bắc, với đặc điểm địa lý và kinh tế - xã hội chủ yếu là người dân tộc thiểu số, đang đối mặt với nhiều khó khăn trong đời sống Chính quyền tỉnh Hòa Bình đã ban hành 246 văn bản quy phạm pháp luật từ năm 2016 đến nay để áp dụng các chính sách và ưu đãi mới của Nhà nước Ngoài việc thực hiện các chính sách của Trung ương, HĐND và UBND tỉnh còn phát triển các văn bản pháp luật đặc thù nhằm khai thác tiềm năng địa phương, ổn định trật tự xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân.
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA TỈNH HÒA BÌNH
Nâng cao chất lượng thẩm định dự thảo văn bản QPPL của tỉnh Hòa Bình gắn liền với việc thực hiện Luật Tổ chức chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương là một phần thiết yếu của hệ thống chính quyền nhà nước, đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước và phục vụ nhân dân Trong hơn 60 năm qua, chính quyền địa phương đã không ngừng củng cố và phát triển cùng với sự lớn mạnh của nhà nước cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đáp ứng kịp thời yêu cầu cách mạng của từng thời kỳ Trong giai đoạn đổi mới, chính quyền địa phương đã có sự phát triển mới về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và cơ chế công tác.
Luật Tổ chức chính quyền địa phương, được thông qua vào năm 2015 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2016, thể hiện rõ ràng tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền "của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân".
Toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, vì vậy việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương cần gắn kết chặt chẽ với Luật Tổ chức chính quyền địa phương Điều này nhằm phát huy hiệu quả công tác thực tiễn và phù hợp với đặc điểm, điều kiện quản lý cụ thể ở từng địa phương Do đó, nâng cao chất lượng thẩm định dự thảo văn bản QPPL là điều không thể tách rời khỏi Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Nâng cao chất lượng thẩm định dự thảo văn bản QPPL của tỉnh Hòa Bình phải được đặt trong tổng thể yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng văn bản QPPL nói chung
Một trong những nguyên tắc quan trọng trong việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo Điều 5 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật là đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất trong hệ thống pháp luật Mọi văn bản quy phạm pháp luật cần phải được đặt trong mối liên hệ tổng thể của hệ thống pháp luật, đảm bảo tính đồng bộ với các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn Việc này không chỉ nâng cao tính khả thi của các văn bản mà còn đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý nhà nước, tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội Do đó, nâng cao chất lượng thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật tại tỉnh Hòa Bình là một giải pháp thiết yếu trong việc cải thiện chất lượng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nói chung.
Nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự thảo văn bản QPPL cần đổi mới tổ chức bộ máy, lề lối làm việc, nâng cao chất lượng thực thi công vụ và xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, hiện đại
Đội ngũ cán bộ, công chức đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng và hoàn thiện chính quyền cơ sở, thực thi quyền lực nhà nước, và đảm bảo sự ổn định, phát triển của đất nước Nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất của mọi cơ quan, tổ chức Việc nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự thảo văn bản QPPL cần gắn liền với phát triển, đổi mới bộ máy con người để tránh thiếu sót lớn Đầu tư vào chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thẩm định văn bản QPPL là hướng đi hiệu quả, cấp bách và bền vững Đồng thời, cần chú trọng nâng cao chất lượng thực thi công vụ, xây dựng đội ngũ công chức đủ tâm, trí và sức để đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự thảo VBQPPL
Mục tiêu của việc xây dựng khuôn khổ pháp lý là tạo ra một hệ thống pháp luật thống nhất, minh bạch và hiệu quả, phục vụ cho sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế Để đạt được điều này, cần tiếp tục thể chế hóa Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đồng thời đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hướng dân chủ và hiện đại, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và các dự án luật liên quan.
Vào ngày 22/9/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, dựa trên các quy định của Luật năm 1996 và các quy định trước đó Để chi tiết hóa một số điều và biện pháp thi hành Luật 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 34/2016/NĐ-CP vào ngày 14/5/2016 nhằm hướng dẫn thực hiện luật này.
Sau khi Luật 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được ban hành, việc phổ biến và tổ chức thực hiện đã được triển khai nghiêm túc, tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, cũng như người đứng đầu các cơ quan, đơn vị đối với công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Quá trình thực hiện Luật 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đã góp phần quan trọng vào việc cải cách pháp luật.
Tại tỉnh Hòa Bình, căn cứ vào khoản 3 Điều 28 Luật 2015, Quyết định số 31/2011/QĐ-UBND ngày 29/10/2017 đã được ban hành nhằm quy định một số nội dung liên quan đến công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật Mặc dù có nhiều thuận lợi, nhưng vẫn tồn tại một số khó khăn và vướng mắc cần được giải quyết Do đó, cần đề xuất một số giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn này về mặt thể chế.
Thứ nhất: pháp luật cần nêu rõ phạm vi ban hành, chương trình ban hành VBQPPL của HĐND và UBND Luật Ban hành VBQPPL cần quy định: HĐND và
UBND cần tập trung vào việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) nhằm giải quyết các vấn đề cấp bách của địa phương và những vấn đề được pháp luật giao cho địa phương quy định chi tiết Điều này giúp tránh tình trạng VBQPPL của địa phương chỉ lặp lại các quy định từ cơ quan Trung ương Hiện nay, nhiều cơ quan nhà nước ở cấp huyện và xã vẫn thường xuyên ban hành các văn bản chỉ nhắc lại quy định từ Trung ương, dẫn đến tình trạng quá tải và thiếu sự thống nhất trong hệ thống văn bản pháp luật.
Theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL, cơ quan Tư pháp phối hợp với Văn phòng HĐND và UBND trong việc dự kiến chương trình xây dựng VBQPPL Tuy nhiên, ở giai đoạn sau khi các ngành gửi dự kiến ban hành văn bản QPPL, vai trò của cơ quan Tư pháp thường không được thể hiện đầy đủ và có thể trở nên thụ động Do đó, cần sửa đổi quy định về cơ quan chủ trì xây dựng chương trình ban hành VBQPPL ở địa phương nhằm tăng cường vai trò của cơ quan Tư pháp trong việc lập dự kiến chương trình trước khi gửi đến văn phòng HĐND và UBND Việc này sẽ góp phần nâng cao chất lượng chương trình xây dựng VBQPPL, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và phát huy tối đa vai trò của cơ quan Tư pháp địa phương trong công tác xây dựng và ban hành VBQPPL.
Việc thẩm định tính khả thi của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là bắt buộc, tuy nhiên hiện tại Luật Ban hành VBQPPL chưa quy định rõ điều này Thẩm định tính khả thi rất quan trọng để tránh các văn bản không phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, ảnh hưởng đến niềm tin của tổ chức và nhân dân vào pháp luật Mặc dù công việc này không đơn giản, nhưng pháp luật đã quy định rằng cơ quan soạn thảo phải khảo sát và đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan ngay từ giai đoạn đầu Ngoài ra, cách thức tổ chức thẩm định cũng đã được cải tiến để huy động trí tuệ của các chuyên gia Do đó, cần khẳng định rằng thẩm định và thẩm tra tính khả thi của dự thảo VBQPPL là bắt buộc, và cơ quan thẩm định phải chịu trách nhiệm cùng với cơ quan soạn thảo về tính khả thi của dự thảo.
Thứ tư, Luật sửa đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ.
Ngày 18 tháng 6 năm 2020, một quy định mới đã được thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2012 Tuy nhiên, thời gian 15 ngày cho việc thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) phức tạp, đặc biệt khi cần thành lập Hội đồng thẩm định, cần được xem xét lại Ngoài ra, cần quy định mức thời gian tối thiểu cho công tác thẩm định trong trường hợp ban hành văn bản QPPL đột xuất, không nằm trong chương trình, kế hoạch.
Vào ngày thứ năm, cần bổ sung quy định về trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quá trình thẩm định và thẩm tra Hiện tại, việc cơ quan thẩm định không thực hiện thẩm định một cách nghiêm túc và chỉ mang tính hình thức mà không có chế tài xử lý cụ thể đã dẫn đến tình trạng buông lỏng trách nhiệm Điều này có thể gây ra tâm lý chủ quan, cẩu thả và thậm chí bỏ qua khâu thẩm định và thẩm tra trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật Do đó, việc xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong công tác thẩm định và thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là rất cần thiết.
3.2.2 Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ thẩm định dự thảo văn bản QPPL
Xây dựng và ban hành văn bản QPPL là nhiệm vụ thiết yếu trong quản lý nhà nước Để đảm bảo chất lượng văn bản QPPL, chính quyền tỉnh cần có sự lãnh đạo và chỉ đạo chặt chẽ trong công tác này, đặc biệt là trong việc thẩm định dự thảo văn bản QPPL của UBND cấp tỉnh Người đứng đầu cấp ủy, HĐND, UBND tỉnh cần nhận thức rõ tầm quan trọng của việc ban hành văn bản QPPL trong quản lý điều hành và phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Lãnh đạo tỉnh cần chỉ đạo các cấp, ngành, đặc biệt là người đứng đầu cơ quan chuyên môn, để nâng cao nhận thức về việc ban hành văn bản QPPL UBND tỉnh cần ban hành quy trình xây dựng văn bản QPPL, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan Người đứng đầu cơ quan tham mưu phải trực tiếp chỉ đạo và ký Tờ trình gửi UBND tỉnh Các cuộc họp thảo luận và quyết định ban hành văn bản QPPL phải có sự tham gia của người đứng đầu cơ quan tham mưu và các đơn vị liên quan Nếu ủy quyền cho cấp phó tham dự, phải có sự đồng ý của lãnh đạo UBND tỉnh Giám đốc Sở Tư pháp phải trực tiếp phụ trách thẩm định dự thảo văn bản QPPL và ký Báo cáo thẩm định Sự tham gia và chỉ đạo trực tiếp của người đứng đầu là yếu tố quyết định chất lượng công tác ban hành VBQPPL của UBND tỉnh.
3.2.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thẩm định dự thảo văn bản QPPL
Để nâng cao hiệu quả công tác thẩm định và thẩm tra, cần bổ sung số lượng cán bộ chuyên trách, hiện tại đang thiếu hụt Đồng thời, áp dụng các mô hình bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ hiện có, như đào tạo chuyên ngành bổ sung cho những người đã tốt nghiệp luật, và cung cấp kiến thức pháp lý cho những cán bộ từ chuyên ngành khác Việc này sẽ giúp cán bộ có cái nhìn đa dạng hơn về các lĩnh vực xã hội, từ đó nâng cao tính khách quan và khoa học trong quá trình thẩm định.
Để nâng cao chất lượng cán bộ thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), cần tiêu chuẩn hóa chức danh cho đội ngũ công chức thực hiện công tác này Việc mở các lớp tập huấn, tọa đàm và hội nghị về xây dựng văn bản và kỹ thuật soạn thảo là rất quan trọng Đặc biệt, cần tập trung vào đào tạo kỹ năng thẩm định cho cán bộ Đồng thời, cần có quy định hỗ trợ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và mở rộng kiến thức cho cán bộ, công chức làm công tác văn bản Bên cạnh đó, xây dựng các cuốn cẩm nang hỗ trợ về kỹ thuật soạn thảo, kỹ năng thẩm định và kiểm tra văn bản cũng là cần thiết để hệ thống hóa và pháp điển hóa quy trình này.
Sở Tư pháp tỉnh Hoà Bình hiện có 04 cán bộ chuyên trách thẩm định văn bản quy phạm pháp luật, tất cả đều có trình độ Đại học Luật, tạo ra thế mạnh trong việc nghiên cứu và đánh giá tính hợp pháp của các dự thảo Để nâng cao năng lực cho cán bộ công chức, Sở thường xuyên tổ chức các hội thảo trao đổi kinh nghiệm và lấy ý kiến để giải quyết các vướng mắc trong công tác thẩm định Bên cạnh đó, Sở cũng tạo điều kiện cho cán bộ tham gia các lớp tập huấn và khóa học nâng cao trình độ chuyên môn.