1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận án tiến sĩ trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

189 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 450,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận ánMục tiêu nghiên cứu của luận án là nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận vàthực tiễn về trách nhiệm pháp lý của người đại diện vốn nhà nước tại d

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực,

có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

Tác giả

Phạm Tuấn Anh

Trang 2

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 8

1 Tính cấp thiết của đề tài 8

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 10

3.1 Đối tượng nghiên cứu 10

3.2 Phạm vi nghiên cứu 10

4 Phương pháp nghiên cứu 11

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 13

7 Kết cấu của luận án 14

B PHẦN TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 16

1 Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 16

2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước có liên quan đến trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 21

3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 31

4 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu 32

5 Cơ sở lý thuyết, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 33

KẾT LUẬN PHẦN TỔNG QUAN 36

C PHẦN NỘI DUNG, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

Chương 1 37

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP LÝ LUẬN VỀ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP VÀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP 37

1.1.1 Vốn nhà nước tại doanh nghiệp 37

1.1.2 Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 48

1.2 LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP 63

Trang 3

1.2.1 Khái niệm trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà

nước tại doanh nghiệp 631.2.2 Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn

nhà nước tại doanh nghiệp 651.2.3 Các hình thức trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn

nhà nước tại doanh nghiệp 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 82Chương 2 83

THỰC TRẠNG VÀ THỰC TIẾN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA

NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP 832.1 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI

ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP 832.1.1 Thực trạng nguồn luật về Trách nhiệm pháp lý của người đại diện

phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam 832.1.2 Thực trạng quy định về nghĩa vụ của người đại diện phần vốn nhà

nước tại doanh nghiệp 882.1.3 Thực trạng quy định về các loại trách nhiệm pháp lý của người

đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 952.1.4 Đánh giá thực trạng các quy định về trách nhiệm pháp lý của

người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 1162.2 THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA

NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP 1202.2.1 Thực trạng vi phạm pháp luật của người đại diện phần vốn nhà

nước tại doanh nghiệp 1202.2.2 Thực trạng áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện

phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 1262.2.3 Đánh giá thực trạng áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người

đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 133KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 146Chương 3 147

PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP 147

Trang 4

3.1 Nhu cầu, phương hướng và mục tiêu hoàn thiện quy định về trách

nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 147

3.1.1 Nhu cầu hoàn thiện 1473.1.2 Phương hướng hoàn thiện quy định về trách nhiệm pháp lý của

người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 1533.1.3 Mục tiêu hoàn thiện quy định về trách nhiệm pháp lý của người

đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 1563.2 Giải pháp hoàn thiện quy định về trách nhiệm pháp lý của người đại

diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 157

3.2.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định về tính chất, phạm vi hoạt động

của người đại diện trong Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư

tại

doanh nghiệp 157

3.2.2 Hoàn thiện một số quy định của pháp luật về nghĩa vụ của người

đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 158

3.2.3 Hoàn thiện các quy định pháp luật quy định về trách nhiệm pháp lý

của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, bao gồm trách

nhiệm bồi thường thiệt hại, trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành

chính và trách nhiệm hình sự 161

3.2.4 Quy định cụ thể thẩm quyền, trình tự, thủ tục trong thanh tra,

kiểm tra, kiểm toán, giám sát, xử lý trách nhiệm của người đại diện

phần vốn nhà nước một cách thống nhất . 169

3.2.5 Quy định rõ mối quan hệ giữa trách nhiệm pháp lý của người

đại diện với trách nhiệm chính trị của đảng viên tránh những mâu

thuẫn,

chồng chéo 170

3.2.6 Cần xây dựng quy định cơ sở pháp lý cho việc thống kê, công

khai trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại

doanh nghiệp . 171

3.2.7 Hoàn thiện quy định về mối quan hệ trách nhiệm pháp lý giữa

người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp với các chủ thể

khác 171

Trang 5

trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại

doanh

nghiệp 172

Trang 6

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện quy định về trách nhiệm

pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 172

3.3.1 Tăng cường việc quản lý người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 172

3.3.2 Kiện toàn các cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, cơ quan quản lý đối với người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 173 3.3.3 Nâng cao ý thức pháp luật của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 173

3.3.4 Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 174

3.3.5 Xử lý nhanh chóng, kịp thời, đúng tính chất, mức độ các hành vi vi phạm pháp luật trong đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp .175

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 176

D KẾT LUẬN 178

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 180

Trang 7

: Doanh nghiệp nhà nước

: Doanh nghiệp có vốn nhà nước

: Hội đồng quản trị: Hội đồng thành viên: Ban Chấp hành Trung ương: Cổ phần hóa

: Chủ sở hữu: Luật Doanh nghiệp

: Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản LQLSDVNN xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp

: Organization for Economic Cooperation and

Development (Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế): State Capital Investment Corporation (Tổng công ty

đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước): Tập đoàn kinh tế

: Tổng công ty: Trách nhiệm hữu hạn: Ủy ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, HỘP

Bảng: Số lỗ lũy kế của một số Tập đoàn, tổng công ty nhà nước… Trang 123Hộp 1 Vụ việc tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam ………… Trang 127Hộp 2 Hành vi vi phạm của người đại diện phần vốn nhà nước… Trang 128Hộp 3 Vụ việc vi phạm của người đại diện tại PVC ……….Trang 129Hộp 4 Vụ việc vi phạm của người đại diện tại Công ty bóng đèn Điện Quang

….……Trang 131

Trang 9

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhà nước là một chủ thể đặc biệt có chức năng quản lý xã hội nhưng Nhà nướccũng là một chủ sở hữu trong xã hội Ngoài việc là chủ sở hữu các tài sản lớn, Nhànước còn nắm quyền sở hữu vốn tại các doanh nghiệp có vốn Nhà nước Như vậy,Nhà nước cũng là một cổ đông hay thành viên góp vốn tại doanh nghiệp có vốn Nhànước Tuy nhiên, Nhà nước là một chủ thể trừu tượng, phải hiện diện thông quanhiều cơ quan nhà nước khác nhau, thực tế đó làm cho việc thực hiện các quyền của

cổ đông, của thành viên góp vốn trở nên phức tạp Nhà nước phải quy định cơ chếđại diện chủ sở hữu vốn nhà nước để quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và giaocho một cơ quan của Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước Tuy nhiên, đểthực hiện quyền trực tiếp của cổ đông, thành viên góp vốn tại doanh nghiệp thì đòihỏi phải thông qua một con người cụ thể Do vậy, Nhà nước phải cử người đại diệnphần vốn nhà nước tại doanh nghiệp để thực hiện các quyền của mình, và ở nhữngdoanh nghiệp vốn nhà nước chiếm tỷ lệ lớn thì người đại diện phần vốn nhà nướcthường nắm giữ các chức vụ quản lý doanh nghiệp như: Chủ tịch hội đồng thànhviên, Chủ tịch hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc…

Thực tiễn và lý luận đang đặt ra những vấn đề về trách nhiệm pháp lý của ngườiđại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp Nếu không xác định rõ trách nhiệmpháp lý của họ thì người được giao đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệpđang nắm quyền chi phối doanh nghiệp có thể không thực hiện công việc vì lợi íchnhà nước (bảo toàn, phát triển vốn nhà nước, mang lại lợi tức cho nhà nước), lợi íchcủa doanh nghiệp, của cổ đông, người góp vốn khác mà sẽ vì lợi ích của cá nhânngười đại diện

Qua việc thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với DNCVNN, có thể phát hiện những

vi phạm trong quản lý doanh nghiệp dẫn đến doanh nghiệp thua lỗ, yếu kém, vay nợtràn lan, nhưng để chứng minh và xác định trách nhiệm pháp lý cụ thể của người đạidiện phần vốn tại doanh nghiệp đang giữ các vị trí chủ chốt chi phối hoạt động củadoanh nghiệp đang chưa được rõ ràng

Trên thực tế, với tư cách đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, người đại diện thường được cử vào những chức vụ lãnh đạo công ty như chủ tịch hội đồng quản

Trang 10

trị, tổng giám đốc Những vị trí này cho họ những quyền và trách nhiệm đối vớicông ty, vượt quá giới hạn quyền và trách nhiệm cổ đông nhà nước Trong trườnghợp này, người đại diện đồng thời đóng hai vai trò: đại diện vốn nhà nước (do nhànước chỉ định) và người quản lý công ty (do đại hội đồng cổ đông bầu ra), trở thànhgiao điểm giữa cơ chế Nhà nước quản lý công ty với tư cách chủ sở hữu với cơ chếquản lý công ty cổ phần theo quy định của pháp luật.

Với tư cách đại diện vốn nhà nước, họ là người của Nhà nước và có quan hệbáo cáo, xin ý kiến với Nhà nước (cụ thể là với Ủy ban quản lý vốn nhà nước, SCIChoặc cơ quan chủ quản) Nhưng với tư cách người quản lý công ty, họ là người củacông ty, có quyền và trách nhiệm quản lý hoạt động kinh tế của công ty, thay mặtcông ty trong các quan hệ kinh tế với các chủ thể kinh tế bên ngoài và với Nhà nước.Chừng nào chưa xác định rõ ràng, minh bạch trách nhiệm pháp lý của người đại diệnphần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thì tình trạng lộng quyền của đại diện phần vốnnhà nước, tệ tham nhũng nảy nở và lây lan

Trong thời gian vừa qua đã xảy ra nhiều vụ việc vi phạm của người đại diệnphần vốn nhà nước tại doanh nghiệp diễn ra trong một thời gian dài dẫn tới nhữnghậu quả nghiêm trọng Điển hình như vụ việc tại Tập đoàn Công nghiệp tàu thủyViệt Nam (Vinashin); Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines); Tập đoàn Dầukhí Việt Nam; Tổng công ty cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) … Qua xử lýnhững vụ việc trên đặt ra nhiều vấn đề về trách nhiệm pháp lý của người đại diệnphần vốn nhà nước như các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với người đại diệnphần vốn nhà nước hiện nay ? Vì sao các vi phạm không được phát hiện và áp dụngtrách nhiệm pháp lý kịp thời ? Vấn đề trách nhiệm pháp lý của người đại diện phầnvốn nhà nước tại doanh nghiệp trong trường hợp một người đại diện và nhiều ngườiđại diện ? việc phân định trách nhiệm pháp lý giữa người đại diện phần vốn nhànước tại doanh nghiệp và cơ quan đại diện chủ sở hữu …

Từ những vấn đề thực tiễn đã trình bày trên, có thể khẳng định, việc tìm hiểu,nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanhnghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay là việc làm rất cấp bách và có ý nghĩa lý luận

cũng như thực tiễn to lớn Đây là lý do cơ bản để tác giả lựa chọn đề tài: “Trách

nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam” làm luận án tiến sĩ tại Trường Đại học Luật Hà Nội.

Trang 11

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận vàthực tiễn về trách nhiệm pháp lý của người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệptheo pháp luật Việt Nam hiện nay; trên cơ sở đó đưa ra các đề xuất về việc xâydựng, hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhànước tại doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Thứ nhất, nghiên cứu lý luận về người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh

nghiệp Xuất phát từ lý luận về vốn nhà nước tại doanh nghiệp và doanh nghiệp cóvốn nhà nước, cơ chế đại diện quyền chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trên

cơ sở đó xác định các vấn đề lý luận về người đại diện phần vốn nhà nước tại doanhnghiệp, nghĩa vụ của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Thứ hai, nghiên cứu lý luận về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần

vốn nhà nước tại doanh nghiệp: khái niệm, đặc điểm, các loại trách nhiệm pháp lýcủa người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng, những ưu điểm và hạn chế trong các quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần

vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Thứ tư, phân tích, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về trách nhiệm pháp

lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam

Thứ năm, nghiên cứu đề xuất phương hướng, các giải pháp để xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về trách

nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quan điểm lý luận và thực tiễn vềtrách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; cácquy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tạidoanh nghiệp của Việt Nam và của một số nước trên thế giới

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn

Trang 12

chủ yếu sau đây:

- Về phạm vi nội dung nghiên cứu:

Tên đề tài là “Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tạidoanh nghiệp” Do vậy, Đề tài nghiên cứu gắn với các vấn đề vốn nhà nước tại doanhnghiệp; người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; trách nhiệm pháp lý củangười đại diện… Tuy nhiên, đây là những vấn đề rất rộng Vì vậy, trong khuôn khổ

luận án tiến sĩ luật học, luận án tập trung nghiên cứu: một số vấn đề về quản lý vốnnhà nước tại doanh nghiệp; địa vị pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tạidoanh nghiệp; các loại trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nướctại doanh nghiệp và việc áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện

Tác giả tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý của ngườiđại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Thực trạng pháp luật Việt Nam vềtrách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; đánhgiá thực tiễn áp dụng áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diệnphần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện phápluật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

ở Việt Nam hiện nay

- Về phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu: Tác giả xác định phạm vinghiên cứu chủ yếu là pháp luật của về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốnnhà nước tại doanh nghiệp của Việt Nam trong khoảng thời gian kể từ khi có sự chuyểnđổi, cổ phần hóa DNNN làm xuất hiện cơ chế người đại diện phần vốn nhà nước tại doanhnghiệp Đồng thời tác giả có sự đối chiếu, tham khảo pháp luật về trách nhiệm pháp lý củangười đại diện phần vốn nhà nước ở một số quốc gia trên thế giới

4 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duyvật lịch sử Trên cơ sở nền tảng đó tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụthể của khoa học xã hội, bao gồm:

- Phương pháp phân tích được sử dụng khi đánh giá, bình luận các quy định

pháp luật, thực tiễn và hiệu quả áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đạidiện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp để làm cơ sở cho những kết luận khoa học.Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Phương pháp phân tích logic quy phạm được sử dụng khi đánh giá thực trạng pháp

Trang 13

luật, xem xét về tính thống nhất, tính đồng bộ phát hiện mâu thuẫn trong nội dungquy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tạidoanh nghiệp, làm cơ sở cho các đề xuất kiến nghị giải pháp.

- Phương pháp tổng hợp được sử dụng khi đánh giá nhằm rút ra những kết luận tổng quan, những quan điểm, các đề xuất, kiến nghị cụ thể liên quan đến lĩnh vực

nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp so sánh luật học được sử dụng khi phân tích, đánh giá các quy

định của pháp luật về vấn đề nghiên cứu trong mối tương quan với quy định pháp luậttrong lĩnh vực khác, pháp luật của nước ngoài nhằm làm sáng tỏ những điểm chung, sựkhác biệt trong các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam

- Phương pháp lịch sử được sử dụng để so sánh, đối chiếu giữa các quy định

của pháp luật trong từng thời kỳ nhằm làm rõ thực trạng cũng như sự thay đổi trongquy định của pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nướctại doanh nghiệp

Ngoài các phương pháp nghiên cứu có tính phổ quát nêu trên, luận án còn ápdụng phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê dựa trên các số liệu, báo cáo tổng kếthàng năm của Chính phủ, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Tài chính, Tổng Cục Thống kê,các bản cáo trạng, bản án về các vụ việc được đăng tải công khai để giải quyết đượccác nội dung thuộc yêu cầu của đề tài

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa kết quả nghiên cứu ở các công trình khoa họccủa các tác giả đi trước, luận án “Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốnnhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam” có những điểm mới như sau:

Thứ nhất, Luận án đã hệ thống, bổ sung và làm sâu sắc những vấn đề lý luận về

trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp Cụ thể:Luận án góp phần làm rõ thêm cơ sở của vốn nhà nước tại doanh nghiệp, DNCVNN,khái niệm về người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trách nhiệm pháp lýcủa người đại diện phần vốn nhà nước Đặc biệt, Luật án đã làm rõ các nhóm nghĩa vụcủa người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp: nghĩa vụ trung thành; nghĩa vụcần trọng, thiện chí, trung thực; nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, điều lệ của doanh nghiệp.Luận án đã xây dựng được khái niệm, các đặc điểm, các hình thức trách nhiệm pháp lýcủa người đại diện phần vốn nhà nước: trách nhiệm bồi thường thiệt

Trang 14

hại, trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự.

Thứ hai, Luận án đã làm rõ thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn áp

dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện vốn nhà nước ở Việt Namhiện nay

Luận án đã đánh giá được thực trạng về quy định của pháp luật Việt Nam vềtrách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước; khẳng định những ưuđiểm, những kết quả đạt được để phát huy; chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắcphục và nguyên nhân của những hạn chế

Luận án đã đánh giá được thực trạng áp dụng trách nhiệm pháp lý đối vớingười đại diện phần vốn nhà nước ở Việt Nam trong thời gian qua; chỉ ra những tồntại, hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân của những hạn chế

Thứ ba, Luận án đã chỉ ra những yêu cầu hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm

pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước Trên cơ sở đó, Luận án đã đưa ra đượcnhững phương hướng và các giải pháp mang tính khoa học nhằm hoàn thiện quy địnhcủa pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện vốn nhà nước Đồng thời, Luật

án cũng đưa ra được các giải pháp nâng cao hiệu qua áp dụng trách nhiệm pháp lý đốivới người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có hành vi vi phạm

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về lý luận, Luận án góp phần làm giàu thêm nhận thức về vốn nhà nước tạidoanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước và trách nhiệm pháp lý của ngườiđại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp Những phân tích, luận giải về kháiniệm, đặc điểm, các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện phần vốnnhà nước tại doanh nghiệp góp phần tạo lập luận cứ khoa học để hoàn thiện lý luận

về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước Những vấn đề luận án

đề cập, giải quyết góp phần thiết thực vào việc luận giải và đề xuất một số giải phápchủ yếu nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm pháp lý của ngườiđại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Những luận giải, đánh giá về thực trạng áp dụng trách nhiệm pháp lý đối vớingười đại diện phần vốn nhà nước cũng như các giải pháp mà luận án đưa ra nhằmnâng cao hiệu quả áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện phần vốn nhànước nếu được áp dụng trên thực tế sẽ góp phần ngăn chặn, phát hiện kịp thời, xử lýnghiêm minh các hành vi vi phạm của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh

Trang 15

nghiệp, góp phần tăng cường quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tạo sự pháttriển lành mạnh của DNCVNN.

Luận án sau khi hoàn thiện có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ chocông tác nghiên cứu, hoạch định chính sách và giảng dạy về các vấn đề liên quan đếnđại diện vốn nhà nước, trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước

7 Kết cấu của luận án

Luận án bao gồm các phần có thứ tự sau đây: A Mở đầu; B Phần Tổng quantình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài luận án; C Phần Các nội dung nghiêncứu chủ yếu của luận án; D Phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo

Cụ thể, Luận án được chia thành các phần và chương như sau:

Phần Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Phần này làm rõ tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đềtài, theo hướng khát quát nội dung cơ bản của các công trình nghiên cứu trong nước

và quốc tế đã được công bố, bước đầu chỉ ra những vấn đề đã được nghiên cứu, giảiquyết và những vấn đề còn đang bỏ ngỏ liên quan đến đề tài của các công trình này.Trên cơ sở đó khẳng định tính thời sự, tính mới và tính cần thiết của việc nghiên cứu

đề tài này trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam

Phần Nội dung, kết quả nghiên cứu của luận án

+ Chương thứ nhất: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Chương này làm rõ những khía cạnh lý luận về người đại diện phần vốn nhànước tại doanh nghiệp; và lý luận về trách nhiệm pháp lý đối với người đại diệnphần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

+ Chương thứ hai: Thực trạng và thực tiễn thi hành quy định về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam

Chương này đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lýcủa người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và nghiên cứu, đánh giá thựctiễn thi hành pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tạidoanh nghiệp ở Việt Nam; chỉ ra những bất cập trong quy định của pháp luật hiện hành

để có cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lýcủa người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Trang 16

+ Chương thứ ba: Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện quy định về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam

Chương này sẽ đề xuất định hướng và kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiệnquy định của pháp luật và tổ chức thực thi quy định của pháp luật về trách nhiệmpháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam, trên cơ

sở kết quả nghiên cứu về lý luận và về thực trạng quy định của pháp luật đã đượcgiải quyết ở các chương trước của luận án

Trang 17

B PHẦN TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

1 Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Ở Việt Nam, vấn đề trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tạidoanh nghiệp là một vấn đề thực tiễn đang đặt ra, song chưa nhận được sự quan tâm vànghiên cứu đầy đủ, đúng mức Những năm gần đây đã xảy ra nhiều sai phạm trong quản

lý vốn nhà nước đầu tư tại nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước do người

đại diện gây ra, ví dụ: Vụ PVC, vụ Tập đoàn dầu khí, vụ Vinaline, vụ Công ty bóngđèn Điện quang Vấn đề trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nướctại doanh nghiệp, vì vậy đang là vấn đề nóng đặt ra

Mặc dù trong thời gian vừa qua, có một vài nghiên cứu về người đại diện phầnvốn nhà nước tại doanh nghiệp dưới những giác độ khác nhau, nhưng chưa có côngtrình nghiên cứu tổng thể về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhànước tại doanh nghiệp

Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:

1 Trần Tiến Cường (Chủ biên, 2005), Doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước

- pháp luật điều chỉnh và mô hình CSH theo kinh nghiệm quốc tế, Nxb Thống kê, HàNội

2 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2009 của Bộ tài Chính do PGS.TS.Nguyễn Đăng Nam làm chủ nhiệm đề tài "Chính sách và cơ chế quản lý vốn nhà nướctại các doanh nghiệp giai đoạn đến 2020"

3 Luận án tiến sĩ Luật học “Pháp luật quản lý phần vốn Nhà nước tại doanhnghiệp ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung bảo vệ thành côngtháng 1 năm 2016 tại Học viện Khoa học xã hội

4 Vũ Thị Nhung (2017), Pháp luật về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nước, Luận án tiến sỹ Luật học, Hà Nội

5 Hồ Thị Hải (2020), Giám sát sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanhnghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học

xã hội

6 Trần Thị Mai Hương (2006), Cơ chế quản lý phần vốn nhà nước tại DNNN Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân

Trang 18

7 Phạm Thị Thanh Hòa (2012), Cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại

doanh nghiệp ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội

8 Nguyễn Thị Luyến (2012), Đổi mới quản lý của chủ sở hữu nhà nước đốivới “công ty mẹ - công ty con” trong khu vực DNNN ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh

tế, Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương, Hà Nội

9 Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Nội chính

Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2015), Thực trạng xu hướng

và giải pháp phòng, chống ‚"lợi ích nhóm" ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia,

Nhìn chung các công trình đã công bố ở Việt Nam liên quan đến đề tài luận ánchủ yếu thiên về nghiên cứu quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp trong đó

có đề cập đến một số vấn đề khía cạnh của đề tài Liên quan đến khía cạnh pháp lýcủa đề tài, các công trình nghiên cứu đã công bố chiếm số lượng khiêm tốn Trên cơ

sở nghiên cứu, tiếp cận các tài liệu, sách, báo, bài viết của các học giả trong nước đãcông bố liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài Tác giả tổng quan tình hìnhnghiên cứu liên quan đến đề tài luận án theo các nhóm vấn đề sau:

Thứ nhất, các tài liệu công bố đã luận giải: lịch sử hình thành vốn nhà nước tạidoanh nghiệp ở Việt Nam, vấn đề quản lý vốn nhà nước, hình thức pháp lý củaDNCVNN, sự cần thiết của việc đầu tư vốn nhà nước vào kinh doanh tại các doanhnghiệp; Những ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn kinh doanh trong nền kinh tế Việt Namcần nhà nước đầu tư vốn Theo đó, các công trình nghiên cứu đã luận bàn và chỉ ra cáclĩnh vực, ngành nghề mà nhà nước cần đầu tư 100% vốn, hoặc nắm giữ một tỷ lệ vốnnhất định trong các doanh nghiệp Điển hình có những công trình đi sâu nghiên cứu vềtừng mô hình doanh nghiệp cụ thể như Luận án tiễn sĩ “Đổi mới quản lý của chủ sở hữunhà nước đối với công ty mẹ - công ty con trong khu vực DNNN ở Việt Nam của tácgiả Nguyễn Thị Luyến, năm 2012 Trong luận án này tác giả đi sâu vào phân tích môhình “Công ty mẹ - công ty con” của các nước trên thế giới nói chung và khuyến nghị

áp dụng cho Việt Nam nói riêng; hoặc tác giả Nguyễn Xuân Phúc trong Luận án tiến sĩ

“Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp kinh tế quốc phòng”, luận án xây dựngmới khung lý thuyết nghiên cứu quản lý nhà nước và đánh giá thực

Trang 19

trạng, đề xuất các giải pháp về đổi mới cơ chế quản lý và sử dụng phần vốn nhà

nước tại các doanh nghiệp kinh tế quốc phòng; Trong luận án tiến sĩ: Cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp ở Việt Nam của Phạm Thị Thanh Hòa, đã tập trung nghiên cứu thực trạng cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp ở

Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010 trên góc độ CSH nhà nước với các khía cạnh:

Cơ chế đầu tư vốn, cơ chế quản lý sử dụng vốn, cơ chế phân phối lợi nhuận sau thuế,

cơ chế giám sát việc đầu tư, sử dụng vốn và hình thức thực hiện quyền CSH nhànước tại doanh nghiệp… Những nghiên cứu trên đây là cơ sở mà luận án kế thừa,nghiên cứu sinh không bàn mà thừa nhận kết quả nghiên cứu của các công trình nàylàm cơ sở lý luận để luận án sử dụng trong việc nghiên cứu

Thứ hai, các tài liệu, công trình nghiên cứu đã luận giải vấn đề quản lý vốn nhànước đầu tư vào doanh nghiệp; Chủ thể quản lý phần vốn nhà nước đầu tư vào kinhdoanh tại doanh nghiệp; Chủ thể thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước; Việcphân chia lợi ích, trách nhiệm giữa nhà nước và doanh nghiệp trong quá trình sửdụng vốn Các nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.Song nhìn chung đều đi đến thống nhất về một nội dung việc xác định và xây dựng

mô hình về chủ thể đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp là vấn đềnan giải do sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm trong quản lý DNCVNN là khókhăn Các tác giả đều có chung một nhận định: Vẫn có sự chồng chéo giữa chứcnăng quản lý nhà nước với việc quản lý sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, từ

đó dẫn tới việc nhập nhằng trách nhiệm của các chủ thể trong quản lý vốn nhà nước.Luận án tiến sĩ: "Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp sau cổ phần hóaDNNN", tác giả Nguyễn Thị Thu Hương, năm 2009 Với nội dung làm rõ lý luận vàthực tiễn về quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp sau cổ phần hoá DNNN;Đánh giá thực trạng việc quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp sau cổ phần hoáhiện nay; Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm quản lý có hiệu quả vốn nhà nướctại các doanh nghiệp sau cổ phần hoá DNNN Trong đó có đề cập đến vấn đề ngườiđại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp sau cổ phần hóa nhưng chưa đề cậpđến trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước

Một số công trình nghiên cứu đã làm rõ về thẩm quyền đại diện chủ sở hữu nhànước của từng cơ qua nhà nước, tổ chức được phân công và có sự phối hợp giữa các cơquan trong bộ máy hành chính nhà nước Tuy nhiên, do số lượng DNCVNN ở ViệtNam còn tương đối lớn, do nhiều cấp quản lý và hình thức liên kết khác nhau, nên môhình tổ chức thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong thời

kỳ này được tổ chức khá phức tạp, được quy định trực tiếp thuộc thẩm quyền của

Trang 20

Chính phủ, theo đó Chính phủ phân cấp cụ thể cho các cơ quan trực thuộc của mình;Thủ tướng Chính phủ, các bộ/ngành, UBND cấp tỉnh phối hợp thực hiện Đây cũngchính là các chủ thể trực tiếp thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước đốivới doanh nghiệp nói chung Do vậy, trong yêu cầu quản lý cần tách bạch giữa chứcnăng quản lý nhà nước và chức năng quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với phầnvốn nhà nước tại doanh nghiệp Đây cũng là xu hướng chung của đa số các quốc giatrên thế giới, kể cả các quốc gia còn rất ít các DNNN trong nền kinh tế Trên cơ sởkết quả các công trình nghiên cứu này NCS phát triển thêm một bước trong việcnghiên cứu đề xuất giải pháp xây dựng, tổ chức thực thi; Chủ thể thực hiện chứcnăng chủ sở hữu nhà nước, mà các công trình nghiên cứu trên chưa nghiên cứu và đềcập đến một cách trọn vẹn.

Thứ ba, với tư cách chủ sở hữu vốn trong các doanh nghiệp, nhà nước có nhữngquyền, nghĩa vụ, trách nhiệm Vấn đề cử người đại diện phần vốn tại doanh nghiệp nhưthế nào; Mối quan hệ giữa Cơ quan đại diện chủ sở hữu, người đại diện được giao đạidiện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp đang giữ các chức vụ quản lý trong doanhnghiệp Về vấn đề này các công trình đã công bố phần nào đã bàn đến Nổi bật, phải kểđến công trình “Đổi mới mô hình thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước đối vớiDNNN: lý luận, kinh nghiệm quốc tế và ứng dụng vào Việt Nam” của tác giả NguyễnĐình Cung và Bùi Văn Dũng (2013) Trong đó nhóm tác giả đã phân tích và chỉ rõ cácquyền lợi được hưởng và nghĩa vụ mà nhà nước phải tiến hành khi đóng vai trò là nhàđầu tư sở hữu vốn tại doanh nghiệp Ở một khía cạnh khác tác giả Phạm Thị Thanh Hòatrong luận án tiến sĩ “Cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

ở Việt Nam" đã phân tích và đưa ra lập luận rằng: nhà nước chỉ trực tiếp thực thiquyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu ở những doanh nghiệp mà mình trực tiếp đầu tư vốn(doanh nghiệp cấp 1) và thông qua cơ chế phân chia lợi ích kinh tế nhà nước sẽ giántiếp chi phối các doanh nghiệp “con”, “cháu” của doanh nghiệp cấp 1, nhằm tôn trọng

tư cách độc lập cũng như quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp Trong luận ántiến sĩ “Chuyển biến quan hệ sở hữu trong cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam" tác giảNguyễn Lê Quí Hiển đã phân tích thực trạng chuyển biến quan hệ sở hữu trong quátrình cổ phần hóa DNNN từ 1992 đến nay, đồng thời khuyến cáo các tác động củachuyển biến quan hệ sở hữu đến hiệu quả sử dụng phần vốn nhà nước sau cổ phầnhóa…

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2009 của Bộ tài Chính do PGS.TS.Nguyễn Đăng Nam làm chủ nhiệm đề tài "Chính sách và cơ chế quản lý vốn nhà nướctại các doanh nghiệp giai đoạn đến 2020", đề tài nghiên cứu đã giải quyết vấn đề chính

Trang 21

sách quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp trên góc độ quản lý nhà nước, có đề cậpđến người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhưng chưa làm rõ về tráchnhiệm pháp lý.

Nhìn chung các nghiên cứu nói trên chủ yếu giải quyết những khía cạnh kinh

tế, quản lý DNCVNN mà hầu như chưa đụng chạm đến trách nhiệm pháp lý củangười đại diện phần vốn nhà nước

Thứ tư, vấn đề trách nhiệm của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanhnghiệp đối với việc bảo toàn, phát triển vốn nhà nước; các nghiên cứu liên quan đếnviệc kiểm tra, giám sát đánh giá hiệu quả sử dụng, bảo toàn phát triển vốn trong quátrình đầu tư sử dụng vốn nhà nước Về vấn đề này trong các nghiên cứu đã công bố chủyếu đề cập đến vai trò quyền lực công của nhà nước, nhấn mạnh đến tính cưỡng chếtuân thủ Cụ thể như, trong công trình “Chính sách và cơ chế quản lý vốn nhà nước tạicác doanh nghiệp giai đoạn đến 2020” đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Tài chínhnăm 2009 do PGS.TS Nguyễn Đăng Nam làm chủ nhiệm, nội dung đề cập đến chínhsách quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp trên góc độ quản lý nhà nước mà khôngnghiên cứu trên góc độ quản lý của chủ sở hữu Bên cạnh đó đề tài cũng chưa làm rõđược cơ chế kiểm tra, giám sát vốn nhà nước Tại tài liệu của Bộ Tài chính (2015), Cẩmnang hướng dẫn giám sát tài chính trong khuôn khổ triển khai nghị định số61/2013/NĐ-CP, nhóm nghiên cứu đưa ra hướng dẫn cho từng nghiệp vụ giám sát màchủ sở hữu nhà nước cần tiến hành đối với doanh nghiệp mà mình làm chủ sở hữu, cáccông việc này mang tính hướng dẫn nghiệp vụ giám sát nội bộ trong doanh nghiệp Tuynhiên, việc xử lý những vấn đề phát hiện được qua giám sát, kiểm tra, trách nhiệm pháp

lý của người đại diện phần vốn nhà nước chưa được định xác định cụ thể… Đây là mộtvấn đề mà nghiên cứu sinh tiếp tục cần đi sâu nghiên cứu

Thứ năm, các nghiên cứu liên quan đến việc luận bàn về các loại trách nhiệmpháp lý, cơ chế khen thưởng, kỷ luật và xử lý vi phạm của chủ sở hữu (cơ quan chủquản) đối với người ủy quyền đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp gần như còn

bỏ ngỏ

Luận án tiến sĩ "Đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản đối với Tổng công ty

91 phát triển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam" của tác giả NguyễnXuân Nam, năm 2005 Nội dung chủ yếu của công trình là đánh giá thực trạng và đềxuất giải pháp đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản của các tổng công ty 91 pháttriển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam

Cuốn sách Thực trạng xu hướng và giải pháp phòng, chống ‚"lợi ích nhóm" ở nước

ta hiện nay, đã nêu lên tình trạng một số quan chức thông đồng với doanh nghiệp

Trang 22

để vụ lợi ngày càng nhiều, có dấu hiệu trầm trọng hơn trong tất cả các lĩnh vực, gồmcác hình thức như: nhóm thân hữu, nhóm chung lợi ích, nhóm lợi ích cục bộ, vụ lợi

cá nhân

Luận án tiến sĩ Luật học “Pháp luật quản lý phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp

ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung bảo vệ thành công tháng

1 năm 2016 tại Học viện khoa học xã hội Tác giả đã hệ thống hóa và làm rõ nhữngvấn đề lý luận cơ bản về điều chỉnh pháp luật đối với quản lý phần vốn nhà nước tạidoanh nghiệp; Nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về pháp luật quản lý phần vốnnhà nước tại doanh nghiệp; Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành phápluật quản lý phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, xác định các định hướng và đề racác giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật quản lý phần vốn Nhà nước tại doanhnghiệp ở Việt Nam hiện nay Luận án có đề cấp đến vấn đề người đại diện phần vốnnhà nước tại doanh nghiệp dưới khía cạnh nghĩa vụ thực hiện quản lý phần vốn nhànước mà chưa làm rõ trách nhiệm pháp lý của họ hoặc mới chỉ đề cập đến góc độkhen thưởng vật chất cho người đại diện khi họ hoàn thành chức trách được giao, màchưa bàn luận đến khía cạnh trách nhiệm của họ khi vi phạm, đây được xem như làmột lỗ hổng pháp lý cần được giải quyết trong luận án này

Như vậy, cho đến nay ở nước ta mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu liênquan đến pháp luật về quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp Tuy nhiên, vấn

đề trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp mới chỉđược đề cập đến ở các khía cạnh rất nhỏ, còn bỏ ngỏ rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu.Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, thực tiễn đang xảy ra nhiều vụ việc liên quan đếntrách nhiệm của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhưng chưa đượcxác định rõ ràng, chưa có một công trình chuyên khảo nghiên cứu một cách có hệ thống

và toàn diện vấn đề lý luận và điều chỉnh pháp luật cũng như thực tiễn pháp lý về tráchnhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp

ở nước ta Vì vậy, tác giả cho rằng cần có công trình nghiên cứu về “Trách nhiệmpháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay”

hy vọng sẽ khắc phục tình trạng vừa nêu trên

2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước có liên quan đến trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Trong khuôn khổ nghiên cứu của Tác giả, các chuyên gia nước ngoài cũng đã cónhững nghiên cứu về nhà nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp, quản lý đối vớiDNCVNN, trách nhiệm của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp dưới

Trang 23

nhiều góc độ khác nhau Nhưng chủ yếu và tập trung nhất là các nghiên cứu trênphương diện kinh tế về vấn đề quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Trong phần nghiên cứu này, tác giả tập trung tiến hành đối với một số nướcđược đề cập trong các báo cáo nghiên cứu về DNCVNN của OECD và WB, baogồm các nước có nền kinh tế thị trường lâu đời (Thụy Điển, Phần Lan, Niu-di-lân);các nước có nền kinh tế mới ở Châu Á (Hàn Quốc, Sin-ga-por), nước chuyển đổi ởĐông Âu (Hung-ga-ri) và các nước có điều kiện kinh tế xã hội tương đồng với ViệtNam Đặc biệt là các nước trong khối Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD)

Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu mà tác giả tham khảo baogồm:

1 World Bank (2014) Corporate Governance of State-Owned Enterprises in Latin America Current Trends and Country Cases July 2014

(Ngân hàng Thế giới (2014) Quản trị doanh nghiệp của các DNNN ở Mỹ Latinh Xu hướng hiện tại và các trường hợp quốc gia Tháng 7 năm 2014)

2 IMF Working Paper (2017) European Department State-Owned Enterprises

in Emerging Europe: The Good, the Bad, and the Ugly October 2017

(Tài liệu của IMF (2017) Các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước châu Âu ở châu Âu mới nổi: Tốt, xấu và kinh khủng Tháng 10 năm 2017)

3 Dr Sanzhu Zhu, Dr Carol G S Tan, Prof Peter Muchlinski (2013).Corporate Governance: A Legal Study on the Reform of State-Owned Enterprises inChina Song Xiaolei, 2013

(Tiến sĩ Sanzhu Zhu, Tiến sĩ Carol G S Tan, Giáo sư Peter Muchlinski (2013).Quản trị doanh nghiệp: Nghiên cứu pháp lý về cải cách DNNN ở Trung Quốc NXBXiaolei, 2013)

4 Dag Detter (2006), Valuable Companies Create valuable jobs: The SwedishReforms of State owned enterprises – A case study in corporate governance, June2006

(Dag Detter (2006), Các công ty có giá trị tạo ra việc làm có giá trị: Cải cáchDNNN của Thụy Điển - Một nghiên cứu vụ việc trong quản trị doanh nghiệp, tháng

6 năm 2006)

5 Fang Hu and Sidney C M Leung (2011), Appointment of PoliticallyConnected Top Executives and Subsequent firm performance and corporategovernance: Evidence from China’s Listed SOEs

Trang 24

(Fang Hu và Sidney C M Leung (2011), Bổ nhiệm các giám đốc điều hànhgắn với chính trị và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng như quản trị doanhnghiệp: Bằng chứng từ các DNNN được niêm yết của Trung Quốc.)

6 Fang Hu and Sid OECD (2005a), Corporate governance of state owned enterprises: A survey of OECD countries, ISBN 92-64-00942-6

(Fang Hu và Sid OECD (2005a), Quản trị doanh nghiệp của các DNNN: Khảo sát của các nước OECD, ISBN 92-64-00942-6.)

7 Government Office of Swenden (2011), Annual Report State owned

(Maria Vagliasindi (2008), Sắp xếp quản lý các DNNN, Tài liệu nghiên cứuchính sách số 4542, Ngân hàng Thế giới, Mạng phát triển bền vững, tháng 3 năm2008.)

9 Simon C Y Wong (2004), Improving Corporate Governance in SOEs: AnIntegrated Approach, Corporate Governance International, Volume 7, Issue 2, June2004

(Simon C Y Wong (2004), Hoàn thiện quản trị DNNN: Phương pháp tiếp cận tích hợp, Quản trị doanh nghiệp quốc tế, Tập 7, Số 2, tháng 6 năm 2004.)

10 William P Mako and Chunlin Zhang (2004), State Equity Ownership andManagement in China: Issues and Lessons from International Experience, PolicyDialogue on Corporate Governance in China, Hosted by The Shanghai Stock Exchangeand OECD, Shanghai, China, 25-26/2/2004

(William P Mako và Chunlin Zhang (2004), Quyền sở hữu và quản lý cổphần của nhà nước ở Trung Quốc: Các vấn đề và kinh nghiệm từ quốc tế, Đối thoạichính sách về quản trị doanh nghiệp tại Trung Quốc, chủ trì bởi Sở giao dịch chứngkhoán Thượng Hải và OECD, Thượng Hải, Trung Quốc, 25 -26/2/2004.)

11 A World bank country study China's Management of Enterprise Assets: The State as Shareholder Washington DC, 1997

(Nghiên cứu quốc gia của Ngân hàng Thế giới Quản lý tài sản doanh nghiệp của Trung Quốc: Nhà nước là cổ đông Washington DC, 1997)

Trang 25

Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp cận các tài liệu, sách, báo, bài viết của các học giảnước ngoài liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài cho thấy đã có nhiều côngtrình, tài liệu nghiên cứu liên quan đến một số khía cạnh của đề tài, đặc biết đó là cáccông trình nghiên cứu về DNNN, quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp; pháp luậtđiều chỉnh hoạt động quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp; trách nhiệm của ngườiđại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp… Trong các công trình nghiên cứutrên, các vấn đề về trách nhiệm pháp lý của người đại diện chưa được giải quyết cụthể Tuy nhiên các vấn đề xoay quanh cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước,trách nhiệm quản lý DNCVNN đã được đã được giải quyết có thể được tác giả tiếpthu làm cơ sở nghiên cứu về đề tài Tác giả tổng quan tình hình nghiên cứu có liênquan đến đề tài luận án theo các nhóm vấn đề thông qua các công trình tiêu biểu mànghiên cứu sinh biết đến đó là:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu trên đề cập nhiều đến vấn đề liên quan đến

sự hình thành vốn đầu tư của nhà nước vào doanh nghiệp và việc quản lý vốn nhànước tại doanh nghiệp:

Các công trình nghiên cứu bàn luận về sự hình thành vốn đầu tư của nhà nướctại doanh nghiệp:

- Các công trình nghiên cứu nêu trên đã luận giải sự hình thành vốn nhà nước đầu

tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của kinh tế nhànước Các công trình cũng nhấn mạnh sự khác nhau trong vai trò của DNNN ở từng nềnkinh tế Tuy nhiên, các công trình đều thống nhất rằng lý do nhà nước đầu tư vốn vàodoanh nghiệp không chỉ đơn thuần vì lợi ích kinh tế, mà lớn hơn cả là do:

(ii) Cung cấp các sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội mà tư nhân không đầu tư dolợi nhuận thấp hoặc các sản phẩm liên quan đến an ninh, quốc phòng, chẳng hạn nhưhoạt động sản xuất sản phẩm công cộng dành cho quốc phòng, xây dựng luật hoặc cáchàng hóa thiết yếu, có tính chất độc quyền (ví dụ: cấp nước sạch, cung cấp điện),nghiên cứu khoa học cơ bản, và phát triển công nghệ xanh là một số các hoạt động màlợi nhuận đầu tư tư nhân có thể thấp hơn so với lợi ích xã hội, đó là cơ sở thuyết phụccho sự tham gia của Chính phủ (ii) Những lĩnh vực cần nguồn vốn đầu tư lớn phải có

sự tham gia của Chính phủ, chẳng hạn như các đập thủy điện lớn hoặc các tuyến đườngsắt, đầu tư dự án cơ sở hạ tầng lớn (iii) Lĩnh vực mang tính chất độc quyền hoặc manglợi ích tự nhiên lớn như điện, nước, dầu khí… cần có sự tham gia của Chính phủ đểđảm bảo an toàn và mang lợi ích chung cho xã hội (iv) Các giai đoạn khủng hoảngkinh tế hoặc tài chính, Chính phủ buộc phải mua lại những công ty, ngân hàng phá sảnhoặc không thể thanh khoản vì lợi ích quốc gia

Trang 26

- Các công trình nghiên cứu đã đưa ra khái niệm, đặc trưng của vốn nhà nước,

và vấn đề quản trị đối với DNCVNN Các nghiên cứu tiếp cận dưới các khía cạnh khácnhau nhưng có chung một quan niệm về vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

đó là “Tổng giá trị bằng tiền của toàn bộ nguồn lực, tài sản có nguồn gốc từ sở hữucông (hoặc được chi ra từ khoản thu của NSNN) được nhà nước huy động để đầu tưvào doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của nhà nước”; các công trình cũngluận giải về khái niệm DNNN, theo đó: DNNN là một kết cấu đa dạng, từ các doanhnghiệp vừa và nhỏ đến các công ty cạnh tranh quốc tế Các doanh nghiệp thườngđược gọi bằng một loạt thuật ngữ xuất hiện trong thống kê quốc gia của Chính phủnhư các công ty liên kết, công ty đại chúng, doanh nghiệp nửa công nửa tư, hoặcdoanh nghiệp quốc doanh Vì các nước đặt tên và định nghĩa DNNN khác nhau, việcđưa ra một so sánh là cần thiết để có định nghĩa toàn diện về sở hữu nhà nước trongcác doanh nghiệp Vì vậy, nhiều định chế quốc tế, các hiệp định đa phương và songphương thường nỗ lực đưa ra cách hiểu thống nhất về DNNN cho các bên có liênquan trong từng trường hợp Ví dụ, OECD (2005) trong Hướng dẫn quản trị công tytrong quản trị DNNN đã xác định “Thuật ngữ DNNN dùng để chỉ các doanh nghiệp

mà nhà nước có quyền kiểm soát thông qua sở hữu toàn bộ, đa số hoặc thiểu số quantrọng” [92, tr25]

Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề quản lý vốn nhà nước trên cácphương diện về: chủ thể, đối tượng, mục tiêu, công cụ và phương pháp, cách thức quản

lý Trọng tâm của các nghiên cứu này, tập trung vào vấn đề quản lý của chủ sở hữu nhànước đối với vốn nhà nước đầu tư trong khu vực DNNN Tiếp cận của các nước trongquản lý theo hướng chủ sở hữu nhà nước chỉ quản lý đối với những doanh nghiệp màchủ sở hữu nhà nước đầu tư vốn trực tiếp William P.Mako và Chunlin Zhang (William

P Mako and Chunlin Zhang (2004), State Equity Ownership and Management inChina: Issues and Lessons from International Experience, Policy Dialogue on CorporateGovernance in China, Hosted by The Shanghai Stock Exchange and OECD, Shanghai,China, 25-26/2/2004) đã đi sâu nghiên cứu về những đổi mới trong việc thực hiệnquyền của chủ sở hữu nhà nước ở Trung Quốc Nhóm tác giả cho rằng khung thể chế vềthực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước hầu như không có thay đổi Quan hệ giữa nhànước với tư cách là chủ sở hữu với DNNN vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nềnkinh tế thị trường Nguyên nhân được nhóm tác giả đưa ra đó là qua hơn 2 thập kỷ,công cuộc đổi mới chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa nhà nước với DNNN, chưaquan tâm đến mối quan hệ giữa chủ sở hữu cuối cùng, nhân dân và nhà nước Về mặtpháp lý, toàn thể người dân Trung Quốc là chủ

Trang 27

sở hữu cuối cùng của DNNN và nhà nước thay mặt cho toàn thể người dân TrungQuốc để quản lý DNNN Vấn đề nảy sinh là do hạn chế ngân sách mềm (Soft budgetconstraint) Hạn chế ngân sách mềm cho phép nhà nước bỏ qua chi phí vốn nhà nước

và mưu cầu các mục tiêu khác hơn là mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trên vốn nhànước Do đó, nhà nước được tư do sử dụng chức năng chủ sở hữu để đạt được cácmục tiêu khác ngoài mục tiêu tài chính Hệ quả là nhà nước dễ dàng định hướngDNNN để mưu cầu nhiều mục tiêu khác nhau và điều này cũng dẫn đến quyền củachủ sở hữu nhà nước được chia sẻ giữa các cơ quan của Chính phủ và các cơ quancủa Đảng mà mỗi cơ quan này lại thực hiện những chức năng khác của nhà nước Do

đó, thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước hoàn toàn có thể được sử dụng để thựchiện mục tiêu của các chức năng khác

Hàm ý của nghiên cứu trên cũng cho thấy, nếu chức năng chủ sở hữu của nhànước vẫn chưa tách bạch với các chức năng khác và được thương mại hóa, ví dụ nhưtối đa hóa lợi nhuận trên vốn nhà nước được coi là mục tiêu cơ bản của chủ sở hữunhà nước, các DNNN vẫn chưa trở thành thực thể kinh doanh mang tính thương mạiđáp ứng được các yêu cầu của nền kinh tế thị trường hiện đại Do đó, cải cáchDNNN là phải làm thế nào tách bạch được các chức năng đó và xác định rõ mục tiêukinh tế của DNNN Đây là những vấn đề lý luận để xác định các vấn đề pháp lýtrong xác định trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong quản lý DNCVNN nhànước mà luận án kế thừa

Các tư liệu, công trình nghiên cứu trên đề cập đến việc xây dựng được mô hình

cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước, người đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tạidoanh nghiệp cho phù hợp Đặc biệt nhấn mạnh việc cần thiết phải tách bạch giữachức năng quản lý của chủ sở hữu nhà nước với chức năng quản lý hành chính-kinhdoanh của nhà nước đối với doanh nghiệp

OECD (trong tài liệu Corporate governance of state owned enterprises: A survey

of OECD countries) đã chỉ ra rằng việc tách bạch giữa chức năng chủ sở hữu với cácchức năng khác đã được thực hiện, những ở nhiều nước châu Á, các chức năng nàychưa được tách bạch rõ ràng Trong nhiều trường hợp, đổi mới quan trọng được đặt ra

là làm thế nào để tách bạch chức năng chủ sở hữu với chức năng ban hành chính sáchmột cách hiệu quả và đã khuyến nghị rằng Chính phủ các nước Châu á cần phải nỗ lựcxác định rõ ràng ngành, lĩnh vực nào cần tiếp tục duy trì sở hữu nhà nước, nguyên nhântại sao phải duy trì sở hữu nhà nước và hình thức sở hữu nào là thích hợp nhất Theo đó,giảm dần quy mô cũng như lĩnh vực của khu vực nhà nước, cho phép chủ sở hữu nhànước tập trung hơn vào nỗ lực đổi mới quản lý và giám sát Nghiên

Trang 28

cứu chỉ ra rằng, Chính phủ của một số nước Châu á đã xây dựng chính sách sở hữunhưng ít công bố chính sách đó Chính sách sở hữu thường đưa ra ở mức chungchung, đề cập đến các mục tiêu tổng thể của DNNN như tìm kiếm lợi nhuận, cungcấp các dịch vụ chung cho cộng đồng và hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tếquốc dân Về chủ thể thực hiện quản lý của chủ sở hữu, nghiên cứu cũng cho thấy,việc thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước rất khác nhau giữa các nước châu Á.Một số nước áp dụng mô hình tập trung, theo đó chức năng chủ sở hữu nhà nước do

Bộ Tài chính hoặc một công ty nắm vốn (ví dụ như Temasek ở Singapore) thực hiện.Một số nước áp dụng mô hình song trùng hoặc mô hình phức tạp với hai hay một số

bộ chia nhau thực hiện các quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN hoặc môhình phân cấp (Bộ quản lý hành chính nhà nước thực hiện các quyền của chủ sở hữunhà nước đối với DNNN trực thuộc)

OECD cũng cho thấy, sở hữu nhà nước trong hoạt động sản xuất-kinh doanh(trong doanh nghiệp) vẫn rất đáng kể ở hầu hết các nước OECD Trong nhiên cứu này,chủ thể thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước cũng được nghiên cứu, đánh giá.Thực tế, chủ thể thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước khác nhau giữa các nước,phụ thuộc vào hệ thống tổ chức hành chính truyền thống của nước đó, tầm quan trọngcủa khu vực nhà nước trong nền kinh tế cũng như xu hướng đổi mới trong thực hiện cácquy định cũng như quản lý tài sản nhà nước Đây là vấn đề trọng tâm mà luận án kếthừa và tiếp tục nghiên cứu, luận giải về mô hình chủ thể đại diện vốn nhà nước tạidoanh nghiệp nhằm mục tiêu tách biệt giữa chức năng quản lý của chủ sở hữu nhà nướcvới chức năng quản lý hành chính-kinh doanh của nhà nước đối với doanh nghiệp

ở Việt Nam hiện nay

Thứ hai, nhóm các nghiên cứu về cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp:

- Về mô hình thực hiện quyền chủ sở hữu, qua nghiên cứu pháp luật các quốcgia, không thấy một quốc gia nào áp dụng mô hình chỉ có một tổ chức hoặc cá nhânthực hiện tất cả các quyền của chủ sở hữu nhà nước (kể cả ở các quốc gia mà nhà nước

ít tham gia đầu tư vốn vào hoạt động kinh doanh trong một nền kinh tế thị trường pháttriển) Mô hình thường thấy ở đây là sự phân công, phân cấp thực hiện các quyền củachủ sở hữu nhà nước, trong đó có cả cơ quan lập pháp tham gia với tư cách giám sát(Quốc hội) và cơ quan hành pháp các cấp (Chính phủ, Bộ, chính quyền địa phương)đều tham gia thực hiện với sự phân công, phân cấp và phối hợp

- Về cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước, không có một mô hình thốngnhất về cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước, kể cả ở các nước có điều kiện

Trang 29

kinh tế chính trị, kinh tế, địa lý gần giống nhau Xu hướng chung của các nước hiệnnay là chuyển các DNNN sang hoạt động theo chế độ công ty, bất kể DNNN hoạtđộng theo luật công ty chung hay có khung pháp lý riêng Xu thế này thể hiện ở việctách bạch giữa chủ sở hữu nhà nước với người quản lý, sử dụng vốn nhà nước tronghoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, để tránh trường hợp các nhàquản lý đi ngược lại mục tiêu của chủ sở hữu nhà nước, các nước đều có gắng ápdụng chế độ quản trị doanh nghiệp hiện đại.

Cuốn sách Đổi mới mô hình đại diện đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước: Lý luận, kinh nghiệm quốc tế và ứng dụng vào Việt Nam của do Nguyễn Đình Cung, Bùi Văn Dũng đã cung cấp những thông tin về cơ sở

khoa học và thực tiễn của việc đổi mới mô hình tổ chức thực hiện chức năng CSHNhà nước đối với DNNN theo hướng tách chức năng CSH Nhà nước với chức năngquản lý Nhà nước của một số quốc gia và Việt Nam

- Về tăng cường giám sát thực hiện quyền chủ sở hữu, như trên đã đề cập, Quốchội, Chính phủ, các Bộ… đều là chủ thể thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước ở cácmức độ khác nhau Nhưng đều đáng quan tâm là sự giám sát của Quốc hội đối với Chínhphủ, giám sát của Chính phủ đối với các Bộ, giám sát của đầu mối chủ sở hữu

đối với người quản lý điều hành doanh nghiệp (HĐQT, HĐTV, Chủ tịch công ty…).Một cơ chế giám sát thông qua việc minh bạch hóa thông tin và chế độ báo cáo là những kinh nghiệm đáng được học hỏi

Cuốn sách Doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước- pháp luật điều chỉnh và

mô hình chủ sở hữu theo kinh nghiệm quốc tế của Trần Tiến Cường đã giới thiệu kết quả nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và pháp luật điều chỉnh đối với các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nhà nước và việc thực hiện quyền CSH nhà nước ở một sốnước gồm các nước kinh tế thị trường lâu đời (Thụy Điển, Phần Lan, Niu-di-lân),các nền kinh tế mới ở Châu Á (Hàn Quốc, Sing-ga-po), nước chuyển đổi ở Đông Âu(Hung-ga-ri), nước có điều kiện kinh tế xã hội có nhiều điểm tương đồng với ViệtNam (Trung Quốc) Nhằm tập trung trả lời những câu hỏi: Mục tiêu và phương thứcđầu tư của Nhà nước là gì? CSH nhà nước có các quyền gì? Ai là người được giaothực hiện các quyền của CSH nhà nước? Các quyền của CSH nhà nước được thựchiện như thế nào? Việc giám sát thực hiện các quyền của CSH ra sao? Những luậtnào điều chỉnh đối với các loại doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước và quy địnhviệc phân công, phân cấp thực hiện quyền của CSH như thế nào? Từ đó rút ra nhữngbài học cần thiết có thể áp dụng vào bối cảnh của Việt Nam

Trang 30

Thứ ba, các nghiên cứu đề cập đến luật pháp điều chỉnh trách nhiệm của ngườiđại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Về nguồn luật điều chỉnh đối với các DNCVNN ở mỗi quốc gia đều được quyđịnh trong các Luật khác nhau, có thể: Luật riêng về DNNN, có thể là luật chung vềcông ty; có thể kết hợp điều chỉnh bằng nhiều Luật khác nhau: Luật Công ty, Luật riêng

về DNNN và các luật Tổ chức Chính phủ, luật về Tài chính công… Việc điều chỉnh nàyphụ thuộc vào hình thức pháp lý doanh nghiệp mà nhà nước đầu tư vốn Có hai phươngthức nhà nước đầu tư vốn vào kinh doanh tại các doanh nghiệp là thành lập các doanhnghiệp 100% vốn nhà nước để trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp và đầu tư dưới dạnggóp vốn, mua cổ phần để trở thành thành viên, cổ đông của công ty

Các doanh nghiệp do nhà nước đầu tư 100% vốn, có thể được tổ chức và đăng kýhoạt động theo luật DNNN hoặc luật công ty Những doanh nghiệp loại này thường cómối quan hệ chặt chẽ giữa chủ sở hữu nhà nước và doanh nghiệp do được chuyển đổi từcác tổ chức sự nghiệp sang cơ chế doanh nghiệp hay doanh nghiệp do nhà nước đầu tư100% vốn, do vậy thường hoạt động theo luật riêng về DNNN Ví dụ: Tại Phần Lan,các đơn vị kinh tế như trên được tổ chức dưới hình thức doanh nghiệp thuộc sở hữu nhànước hoạt động theo một đạo luật được ban hành riêng về DNNN Ở Niu-di-lân lại tổchức các đơn vị kinh tế này thành các dạng hình thức khác, theo mô hình doanh nghiệphoặc theo mô hình của các đơn vị hành chính có chức năng kinh doanh Họ chia DNNNthành 4 loại: doanh nghiệp sở hữu nhà nước vừa là đối tượng của Luật công ty 1993 vìđược tổ chức dưới hình thức công ty TNHH, vừa chịu sự điều chỉnh Luật DNNN 1986

về quan hệ với chủ sở hữu nhà nước; Công ty thuộc sở hữu Hoàng Gia chỉ hoạt độngtheo Luật công ty 1993 và có mục tiêu thuần túy thương mại, thu lợi nhuận; Các việnnghiên cứu Hoàng Gia vừa có chức năng nghiên cứu khoa học vừa có chức năng kinhdoanh thu lợi nhuận dưới hình thức công ty TNHH theo luật công ty; Các đơn vị HoàngGia hoạt động theo Luật Tài chính công 1989, là các đơn vị hoạt động kinh tế nhưngkhông tổ chức dưới hình thức công ty (Ví dụ: Hội đồng xổ số Niu-di-lân, văn phòng ủythác công Niu-di-lan…)

Trong trường hợp nhà nước đầu tư góp vốn cùng đối tác khác để thành lập doanhnghiệp, mua cổ phần để trở thành thành viên, cổ đông của công ty, thì doanh nghiệp cóvốn đầu tư nhà nước hoạt động theo luật công ty Chủ sở hữu nhà nước thường đặt ramục tiêu kinh doanh thu lợi nhuận là chủ yếu, hiệu quả đầu tư vốn được quan tâm coitrọng hơn các tiêu chí khác Vì vậy doanh nghiệp phải được công ty hóa, tách bạch vớichủ sở hữu, trong trường hợp này hình thức pháp lý phù hợp là công ty TNHH hoặccông ty cổ phần, khung pháp luật điều chỉnh là Luật công ty Ví dụ như ở Thụy

Trang 31

Điển, nhà nước chỉ đơn thuần là người nắm vốn (Stakecholder), bất kể doanh nghiệp

đó hoạt động với mục tiêu gì và luật điều chỉnh là Luật công ty

Tuy nhiên, trong trường hợp nhà nước đầu tư góp vốn vào các công ty TNHH,công ty cổ phần so với một dạng hình DNNN hoạt động với một cơ chế riêng chỉđược duy trì ở các nước còn rất ít số lượng DNNN, là những nước phát triển hoặc đã

tư nhân hóa hoặc chuyển đổi xong DNNN Ở quốc gia còn số lượng lớn DNNN,đang chuyển đổi như Trung Quốc, thì mặc dù đã đi theo hướng giảm dần cácDNCVNN hoạt động theo luật riêng hoặc cơ chế riêng bằng cách chuyển dần cácDNCVNN sang hoạt động theo luật công ty, nhưng số doanh nghiệp này vẫn chiếm

tỷ lệ nhỏ với DNNN hoạt động theo luật DNNN

Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp đượcquy định trong các văn bản pháp luật theo các cách nhất định, như sau: (i) quy định trựctiếp trong luật về DNNN và trong từng đạo luật cho từng DNNN; (ii) quy định trực tiếptrong luật về DNNN và trong các quy định pháp luật có liên quan đến quản lý, giám sátDNNN; (iii) quy định trong luật công ty chung và trong luật DNNN;

(iv) quy định trong luật công ty chung (các quyền chủ sở hữu nhà nước giống nhưquyền chủ sở hữu tất cả các loại hình công ty) và trong các quy định pháp luật có liênquan đến quản lý, giám sát DNNN; (v) quy định trong luật công ty chung và được thể hiệntrong quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước do pháp luật quy định

Về nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật trách nhiệm pháp lý của người đại diệnphần vốn nhà nước tại doanh nghiệp của các nước đều nhấn mạnh các yêu cầu vềquyền của chủ sở hữu nhà nước, như sau: (i) Bảo đảm quyền, lợi ích của chủ sở hữu

và bảo đảm mối quan hệ cân đối giữa quyền tự chủ với trách nhiệm thực hiện củaDNNN; (ii) Quản lý tài chính đối với doanh nghiệp theo cơ chế thị trường, áp dụngchính sách “ngân sách cứng” nới lỏng việc khống chế lãi suất, giảm các khoản vaytrực tiếp từ Chính phủ, giảm và xóa bỏ bao cấp trực tiếp và bao cấp gián tiếp; (iii)Nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát và đánh giá hoạt động của doanh nghiệpbằng cách kiểm soát quá trình ra quyết định sang kiểm tra, giám sát hướng vào việcđánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp

Như vậy, các nghiên cứu về khung pháp luật quản lý phần vốn nhà nước tại doanhnghiệp của các nước, các tác giả đều có nhận định chung: quy định rất đa dạng, các quyđịnh này có thể được ban hành trong luật riêng về DNNN hoặc quy định chung trongluật chung về doanh nghiệp, hay luật công ty, có thể kết hợp điều chỉnh bằng nhiều Luậtkhác nhau: Luật công ty, Luật riêng về DNNN và các luật Tổ chức Chính phủ, luật vềTài chính công… Việc điều chỉnh này phụ thuộc vào hình thức pháp lý

Trang 32

doanh nghiệp mà nhà nước đầu tư vốn Đây là vấn đề trọng tâm mà luận án kế thừa

và tiếp tục nghiên cứu, luận giải về mặt pháp lý, đánh giá thực trạng cũng như việckhuyến nghị các giải pháp xây dựng hoàn thiện khung pháp luật này, cũng như việc

tổ chức thực thi pháp luật cho phù hợp với điều kiện hiện tại của Việt Nam

3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu các công trình về cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư vào kinhdoanh tại các doanh nghiệp và trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhànước tại doanh nghiệp ở phạm vi trong và ngoài nước như đã đề cập ở trên, tác giả

có những nhận xét đánh giá về các kết quả nghiên cứu như sau:

Các công trình nghiên cứu đã đề cập và phân tích cơ sở lý luận về vốn nhànước đầu tư tại doanh nghiệp, sự cần thiết của việc đầu tư vốn nhà nước vào kinhdoanh trong nền kinh tế thị trường cơ chế quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra một cách tương đối đầy đủ những lĩnh vực, ngànhnghề, địa bàn mà nhà nước cần ưu tiên đầu tư vốn Mục đích của việc nhà nước đầu

tư vốn vào doanh nghiệp Đây là cơ sở quan trọng để xác định các yêu cầu cần thiếtđối với trách nhiệm của người đại diện phần vốn tại doanh nghiệp trong việc thực thivai trò của mình

Các nghiên cứu cũng đã đi sâu phân tích mối quan hệ giữa nhà nước với tư cáchchủ sở hữu các nguồn vốn đầu tư vào doanh nghiệp được nhà nước đầu tư vốn, với tưcách hai vai: (i) Nhà nước quản lý các doanh nghiệp theo khuôn khổ pháp luật chung và(ii) Nhà nước quản lý với tư cách là chủ sở hữu phần vốn tại doanh nghiệp Do vậy, một

cơ chế quản lý đúng phải đáp ứng đồng hời cả hai vai trò đó Các nghiên cứu cũng đãphần nào đề cập đến việc cần thiết phải xây dựng mô hình chủ thể thực hiện chức năngchủ sở hữu nhà nước và kiến nghị lộ trình thực thi gắn với điều kiện thực tiễn của ViệtNam Đây là những vấn đề luận án có thể kế thừa làm cơ sở lý luận cho việc xác địnhtrách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Việc nghiên cứu các công trình trong nước và một số nước trên thế giới giúpngười nghiên cứu khái quát quy định của pháp luật trong nước và một số nước trênthế giới về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tạidoanh nghiệp Trên cơ sở này tác giả luận giải các vấn đề lý luận, thực tiễn ở ViệtNam với những đặc trưng phổ biến và đặc thù của pháp luật về trách nhiệm củangười đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, từ đó đề xuất các giải pháp hoànthiện và tổ chức thực thi hiệu quả các quy định pháp luật trong lĩnh vực này

Nghiên cứu các công trình của các học giả nước ngoài giúp cho tác giả có thểbao quát về pháp luật quản lý phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trách nhiệm pháp

Trang 33

lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp từ đó tiếp cận vấn đề dướigóc độ luật học so sánh Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và pháp luậtViệt Nam quy định có những điểm tương đồng, có những quy định khác nhau về vấn

đề nghiên cứu, từ đó giúp cho tác giải nghiên cứu và nhìn nhận, giải quyết các vấn

đề liên quan đến luận án một cách khách quan, đặt trong tính phổ biến chung của thếgiới và tính đặc thù của Việt Nam

Tóm lại, là một vấn đề pháp lý thực tiễn đã và đang đặt ra, hệ thống các côngtrình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã được công bố trên thế giới cũng như

ở Việt Nam đã ít nhiều đề cập đến các khía cạnh khác nhau và cung cấp cho tác giảnhững nhận diện, cơ sở lý luận, nhận thức khoa học trong nghiên cứu pháp luật quản lýphần vốn nhà nước tại doanh nghiệp Trên cơ sở đó tác giả tiếp tục phân tích sâu, đưa

ra những bình luận, nhận định khoa học của mình về vấn đề nghiên cứu

Nhìn chung các nghiên cứu đã phần nào giải quyết các khía cạnh khác nhau của

đề tài như đã đề cập ở trên Song dưới góc độ pháp lý việc phân tích và xây dựngmột khung pháp luật điều chỉnh trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốnnhà nước tại doanh nghiệp, còn bỏ ngỏ chưa được giải quyết thấu đáo

4 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở tình hình nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, Luận án sẽtiếp tục nghiên cứu và làm rõ một cách có hệ thống các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, Nghiên cứu và hệ thống hóa các vấn đề lý luận về vốn nhà nước tạidoanh nghiệp, DNCVNN, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp vàtrách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước

Thứ hai, Nghiên cứu các loại trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốnnhà nước tại doanh nghiệp và việc áp dụng các trách nhiệm pháp lý đối với ngườiđại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Thứ ba, Nghiên cứu và đánh giá thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam vềtrách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và thựctiễn áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện phần vốn nhà nước tạidoanh nghiệp

Thứ tư, Đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật ViệtNam về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Thứ năm, Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trách nhiệm pháp lýđối với người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Trang 34

Như vậy, vấn đề “Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nướctại doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay” mà luận án tập trung nghiên cứu là một vấn

đề chuyên sâu và cấp bách cần thiết trong giai đoạn hiện nay, mảng đề tài này chưa

có một công trình nghiên cứu khoa học ở bậc nghiên cứu sinh Kết quả nghiên cứucủa đề tài sẽ là cơ sở lý luận và thực tiễn để sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật vềtrách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, cơ sởcho các cơ quan nghiên cứu và ứng dụng trong quản lý, kiểm soát, giám sát thực thipháp luật trong quản lý vốn nhà nước, áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người đạidiện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp khi phát hiện vi phạm Đồng thời đây còn

là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, cơ quan chức năng vàquản lý liên quan trong việc xây dựng hoạch định chính sách, hoàn thiện pháp luậtliên quan tới lĩnh vực này

5 Cơ sở lý thuyết, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý thuyết

Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp làmột đề tài liên quan đến nhiều vấn đề lý thuyết từ vấn đề vốn nhà nước, đến vấn đềđại diện, vấn đề nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý Để đảm bảo tính khoa học của kếtquả nghiên cứu, luận án sử dụng một số lý thuyết nghiên cứu sau:

- Lý thuyết về sở hữu, đặc biệt là sở hữu nhà nước được sử dụng trong luận án đểluận giải về vốn nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước, từ đó xác định những

đặc trưng của đại diện vốn nhà nước

- Lý thuyết về đại diện Luận án có sử dụng học thuyết đại diện (agency theory)

được phát triển bởi các nhà kinh tế học trong giai đoạn từ những năm 1960 đến nhữngnăm 1980 của thế kỷ 20 Cho đến nay, học thuyết này vẫn tiếp tục được ủng hộ và pháttriển bởi nhiều nhà kinh tế học Học thuyết đại diện giải quyết mối quan hệ giữa người

ủy quyền và người đại diện Tiêu biểu là hai nhà khoa học Michael C Jensen

& William H Meckling Vận dụng học thuyết đại diện giúp luận giải một số vấn đềtrong mối quan hệ đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp Vấn đề thứ nhất làmục tiêu của người ủy quyền và người đại diện xung đột Vấn đề thứ hai, người ủyquyền khó có thể xác định được hành vi của người đại diện trên thực tế hoặc nếu có thểxác định được thì rất tốn kém Xác định các nghĩa vụ là cơ sở cho trách nhiệm pháp lýcủa người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp: nghĩa vụ trung thực, cẩntrọng, mẫn cán …

- Lý thuyết về kinh tế thị trường được sử dụng xuyên suốt luận án làm nền tảng

lý luận về sự công bằng, bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp

Trang 35

thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong nền kinh tế Theo đó, các doanh nghiệp

có vốn nhà nước phải vận hành theo cơ chế thị trường và CSH vốn nhà nước cũng phải

áp dụng các công cụ theo quy định của pháp luật trong quản lý vốn nhà nước

- Lý thuyết về trách nhiệm pháp lý Lý thuyết về trách nhiệm pháp lý được sửdụng xuyên suốt luận án làm nền tảng cho việc xây dựng lý luận về trách nhiệm pháp

lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, xác định từng loại tráchnhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Bên cạnh đó, nhiều kết quả nghiên cứu trong luận án được xây dựng trên cơ sởnguyên tắc công bằng Cụ thể, những kết quả nghiên cứu liên quan đến trách nhiệmpháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp luôn được phát triểntheo nguyên lý bảo đảm lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp và người thứ ba đượcbảo vệ trước những hành vi sai trái của người đại diện nhưng cũng đồng thời bảođảm công bằng về trách nhiệm pháp lý cho người đại diện Sự công bằng cũng đòihỏi cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho người đại diện trong những trường hợp nhấtđịnh Ngoài ra, phân định rõ trách nhiệm pháp lý giữa cơ quan đại diện chủ sở hữuvới người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

- Với tư cách là đảng cầm quyền, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềvai trò của sở hữu nhà nước và thành phần kinh tế quốc doanh, trong đó, nhấn mạnh

“kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nướcđịnh hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và thúc đẩy các thành phần kinh

tế khác cùng phát triển”; quan điểm của Đảng về vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp nhànước, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp cũng là nềntảng lý luận quan trọng để luận án đánh giá thực trạng quy định pháp luật cũng nhưxây dựng các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giám sát sử dụng vốn nhànước đầu tư vào doanh nghiệp

5.2 Câu hỏi nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn và các tài liệu có liên quan đến đề tài trong và ngoài nước, cùng với sự tham vấn, thu thập thông tin từ các cơ quan quản lý nhà nước

… Luận án được triển khai với các câu hỏi nghiên cứu như sau:

1) Thế nào là vốn nhà nước tại doanh nghiệp? Vì sao phải đại diện vốn nhà nướctại doanh nghiệp?

2) Thế nào là người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp? Người đại diệnphần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có nghĩa vụ như thế nào ? Trách nhiệm pháp lý

Trang 36

của người đại diện phần vốn nhà nước như thế nào? Bao gồm các trách nhiệm pháp

lý gì?

3) Pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tạidaonh nghiệp có cấu trúc như thế nào? Thực trạng các quy định của pháp luật ViệtNam về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệphiện nay như thế nào?

4) Thực trạng áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thời gian vừa qua như thế nào?

5) Cần có những phương hướng và giải pháp gì để hoàn thiện pháp luật và nângcao hiệu quả áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện phần vốn nhà nước tạidoanh nghiệp?

5.3 Giả thuyết nghiên cứu

Luận án dựa trên các giả thuyết nghiên cứu sau:

1) Nhà nước có hoạt động đầu tư vốn vào doanh nghiệp hình thành nên cácDNCVNN Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu vốn tại doanh nghiệp qua cơ chế

4) Thực tiễn áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay còn nhiều vướng mắc

5) Việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý củangười đại diện là một trong những yêu cầu của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyềncũng như nâng cao hiệu quả quản lý vốn nhà nước, phát triển DNCVNN

Trang 37

KẾT LUẬN PHẦN TỔNG QUAN

Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp làmột vấn đề “nóng” ở Việt Nam hiện nay Nhưng đây cũng là một đề tài hóc búa và bịảnh hưởng bởi các yếu tố như chính trị, thể chế nhà nước hay định chế sở hữu, tâm lý

xã hội… Qua kết quả khảo cứu của NCS, có nhiều công trình nghiên cứu về doanhnghiệp nhà nước cũng như quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, tuy nhiênkhông có nhiều công trình nghiên cứu về khía cạnh pháp lý của trách nhiệm pháp lý củangười đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp được công bố trên phạm vi quốc tếcũng như ở Việt Nam nói riêng Thực tế này cũng đặt ra cho NCS một nhiệm vụ nặng

nề khi thực hiện luận án tiến sĩ Luật học, thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế

Qua kết quả khảo cứu, NCS đã phân tích, đánh giá theo các nhóm vấn đềnghiên cứu như: vấn đề liên quan đến vốn đầu tư của nhà nước vào doanh nghiệp vàviệc quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp; quy định của pháp luật về cơ chế thựchiện quyền chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp; về mô hình thực hiện quyền chủ

sở hữu nhà nước; về đại diện thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước; luật pháp điềuchỉnh trách nhiệm pháp lý của người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp; vềgiám sát thực hiện quyền chủ sở hữu;… Cho đến thời điểm hiện nay chưa có côngtrình nghiên cứu được công bố nào ở cấp luận án tiến sĩ, sách chuyên khảo, đề tàikhoa học nghiên cứu khoa học toàn diện về trách nhiệm pháp lý của người đại diệnphần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam Đề tài luận án khôngtrùng lặp với với các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố

Từ phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu theo các nhóm vấn đề, NCS đã xácđịnh cơ sở lý thuyết, xây dựng câu hỏi nghiên cứu trên cơ sở các giả thuyết nghiêncứu khoa học về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tạidoanh nghiệp

Trang 38

C PHẦN NỘI DUNG, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI

ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP

1.1 LÝ LUẬN VỀ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP VÀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP

1.1.1 Vốn nhà nước tại doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng

ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh Để tiến hànhcác hoạt động kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều phải có một số vốn nhất định Sốvốn ban đầu của doanh nghiệp khi mới thành lập do các thành viên góp vốn, cam kếtgóp vốn gọi là vốn điều lệ DNCVNN cũng là tổ chức kinh tế trong đó nhà nước sởhữu tỷ lệ vốn nhất định, có tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch cụ thể,được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đíchkinh doanh Hiện nay, ở hầu hết các quốc gia theo các mức độ khác nhau đều có cácDNCVNN Kể cả ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều có sự can thiệpnhất định của Nhà nước vào nền kinh tế thông qua đầu tư vốn vào doanh nghiệp

Sự thành công của nền kinh tế thị trường ở nhiều nước từ Tây Âu đến Bắc Mỹ và

cả Châu Á đã chứng minh cho tính tất yếu của nền kinh tế thị trường trong sự phát triểncủa các quốc gia Tuy nhiên, mô hình kinh tế thị trường vẫn chứa đựng nhiều yếu tố bất

ổn đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước Các yếu tố đó bao gồm: (i) Luôn luôn có nguy cơmất cân đối cung - cầu tạo ra các cuộc khủng hoảng thừa hoặc khủng hoảng thiếu; (ii)

Vì mục tiêu lợi nhuận và cạnh tranh, doanh nghiệp ít quan tâm đến lợi ích toàn cục, lợiích cộng đồng (gây ô nhiễm, phá hoại môi trường, trốn tránh luật pháp gian lận thươngmại…); (iii) Kinh tế thị trường về bản chất là mô hình làm giàu cho thiểu số; tự nó

không thể làm giàu cho mọi người Trong bối cảnh đó, sự can thiệp của nhà nước xuất

hiện như một lẽ tất yếu tạo ra sự hoạt động có hiệu quả, có định hướng của nền kinh tếthị trường Lịch sử đã chứng minh rằng, các nền kinh tế thị trường thành công nhất đềukhông thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của nhà nước [68,

tr 21] Thật vậy, một nền kinh tế không thể "cất cánh" được trừ phi nó có được mộtthượng tầng vững chắc Vì thế, ở nhiều quốc gia,

Trang 39

nhà nước bỏ vốn đầu tư vào các doanh nghiệp tại các lĩnh vực nhà nước cần độcquyền, hoặc các lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không muốn làm hoặckhông thể làm nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế, đồng thời góp phần ổnđịnh kinh tế vĩ mô Việc nhà nước đầu tư vốn vào các doanh nghiệp đã hình thànhnên khái niệm vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Vốn nhà nước là một loại tài sản của CSH nhà nước, vì vậy, CSH vốn nhà nước

có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản này Tuy nhiên,khác với chủ thể sở hữu tư nhân, nhà nước là chủ thể nhiều cấp độ với lượng vốn sởhữu vô cùng to lớn Theo sự phát triển của kinh tế thị trường, quy mô, sự phân bốcủa vốn nhà nước và yêu cầu phải quản lý và sử dụng nguồn vốn nhà nước một cách

có hiệu quả nhất đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, phục vụ lợiích của cả cộng đồng các dân tộc đã và đang đòi hỏi phân quyền trong quan hệ sởhữu nhà nước, thực hiện quyền sở hữu vốn của nhà nước gián tiếp thông qua việcnhà nước không những giao quyền chiếm hữu sử dụng vốn nhà nước cho các chủ thểkinh tế khác, mà cả việc thực hiện quyền CSH vốn nhà nước cũng được giao cho cácchủ thể đại diện CSH vốn nhà nước Khi trao quyền quản lý và quyền sử dụng chocác chủ thể khác, Nhà nước phải có những quy định rõ ràng để vừa ràng buộc tráchnhiệm, vừa tạo động lực sử dụng các yếu tố thuộc sở hữu nhà nước một cách có hiệuquả nhất [69, tr 62]

Ở Việt Nam, vốn nhà nước tại doanh nghiệp được xác định bao gồm nhiều loạinhư: vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tíndụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn khác

được nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp Vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam có

các đặc điểm sau:

Thứ nhất, về chủ sở hữu của vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Sở hữu là hình thức xã hội của chiếm hữu của cải, được hình thành và phát triểnkhông ngừng trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại trên cơ sở phát triển của sảnxuất vật chất Sở hữu phản ánh quan hệ giữa các chủ thể trong xã hội về các đốitượng sở hữu với tư cách là những của cải quan trọng, cần thiết đối với sự tồn tại vàphát triển của con người, đặc biệt là tư liệu sản xuất Chủ sở hữu nhà nước là mộtchủ thể đặc biệt Nhà nước là chủ sở hữu đối với nhiều của cải trong đó có vốn nhànước Tính chất đặc biệt của chủ sở hữu nhà nước được thể hiện ở những điểm sau:

(i) Tư cách chủ sở hữu nhà nước phức tạp, khó xác định: nhà nước là một hệ

thống phức tạp bao gồm nhiều cơ quan và bộ máy quản lý ở nhiều cấp khác nhau Do

Trang 40

đó, khi bàn tới nhà nước như một chủ thể sở hữu thì chủ thể này rất khó xác định cụthể như trường hợp của các chủ sở hữu là cá nhân và pháp nhân khác Nhiều quốcgia trên thế giới quan niệm cơ quan hành pháp (Chính phủ) là chủ thể thực hiện cácchức năng chủ sở hữu đối với vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp Tuy nhiên, vềbản chất, Chính phủ cũng chỉ là chủ sở hữu được ủy quyền, không có đầy đủ các đặcđiểm và quyền như những chủ sở hữu đích thực.

(ii) Quyền của chủ sở hữu nhà nước phải thực hiện thông qua các chủ thể được

ủy quyền: Về bản chất, nhà nước là chủ sở hữu Tuy nhiên, chủ thể sở hữu nhà nước

lại có nhiều cấp quản lý từ trung ương đến địa phương nên việc thực hiện quyềnquản lý, giám sát sử dụng vốn, tài sản nhà nước, thu nhập từ tài sản nhà nước thườngđược thực hiện thông qua bộ máy hành chính, làm việc theo chế độ công chức Cơchế trách nhiệm cá nhân, động cơ để đạt được mục tiêu và áp lực kiểm tra giám sátthường không rõ ràng như các chủ thể sở hữu khác thộc sở hữu tư nhân

Thứ hai, về mục tiêu nhà nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp

Nếu như đối với các nhà đầu tư (chủ sở hữu vốn) thông thường, vốn dùng vàođầu tư, kinh doanh nhằm mục đích sinh lời thì vốn nhà nước tại doanh nghiệp khôngchỉ có mục tiêu kinh tế mà còn có mục tiêu an ninh, chính trị, xã hội Ở các nướckhác nhau trên thế giới mục tiêu đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanhnghiệp có thể khác nhau trong từng thời kỳ Nhà nước có thể đầu tư vốn vào doanhnghiệp để duy trì ngành sản xuất cốt lõi hoặc mang tính chất dịch vụ công phi lợinhuận hoặc lợi nhuận thấp; nhà nước có thể đầu tư vốn vào doanh nghiệp mang tínhchất độc quyền hay khai thác tài nguyên thiên nhiên của đất nước; nhà nước đầu tưvốn để giải cứu doanh nghiệp trên bờ vực phá sản có thể tác động tiêu cực đến nềnkinh tế đất nước…

Ở Việt Nam hiện nay, mục tiêu đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanhnghiệp mà Nhà nước hướng tới bao gồm: (i) Thực hiện định hướng, điều tiết, ổn định kinh

tế vĩ mô mang tính chiến lược trong từng thời kỳ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội củađất nước; (ii) Đổi mới, nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanhnghiệp; (iii) Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Nhưvậy, chủ sở hữu nhà nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp hướng tới nhiều mục tiêu khácnhau, chính vì vậy, tính mục tiêu trong việc đầu tư, sử dụng vốn, tài sản nhà nước của chủ

sở hữu nhà nước thường khó phân định rõ ràng

Thứ ba, quy mô vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp lớn, mang tính ổn định cao, có khả năng chi phối mạnh đến sự phát triển kinh tế - xã hội

Ngày đăng: 10/07/2021, 07:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng: Số lỗ lũy kế của một số Tập đoàn, tổng công ty nhà nước - Luận án tiến sĩ trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp
ng Số lỗ lũy kế của một số Tập đoàn, tổng công ty nhà nước (Trang 124)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w