1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con tại trang trại sinh thái thanh xuân, xã nghĩa trụ, huyện văn giang, tỉnh hưng yên

53 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chăn nuôi lợn, bệnh phân trắng ở lợn con sau giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi thường xuyên xảy ra gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi, làm giảm đáng kể tới tỷ lệ nuôi số

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Mạnh Cường

Thái Nguyên - năm 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và thời gian thực tập ở trang trại sinh thái Thanh Xuân, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của nhiều tổ chức cá nhân

Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy

cô, gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu nhà trường, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Em xin đặc biệt cảm ơn đến thầy giáo Th.S Nguyễn Mạnh Cường đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo động viên, giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình tiến hành khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn: Ông Tô Ngọc Kiên (chủ trại) nơi cơ sở thực tập đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng em xin được cám ơn sự động viên, khích lệ, giúp đỡ của các thầy cô, gia đình và bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành tốt việc học tập, nghiên cứu của mình trong suốt thời gian vừa qua

Em xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Vàng A Dơ

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Nhiệt độ thích hợp cho lợn con theo mẹ 13

Bảng 2.2 Lịch phòng bệnh áp dụng tại trại trong 6 tháng thực tập 22

Bảng 3.1 Lịch sát trùng chuồng trại tại cơ sở thực tập 29

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại qua 3 năm 2016 - 2018 31

Bảng 4.2 Số lượng lợn trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng tại trại 33

Bảng 4.3 Kết quả thực hiện một số thủ thuật trên đàn lợn con tại cơ sở thực tập 34

Bảng 4.4 Kết quả tiêm phòng cho lợn tại cơ sở 36

Bảng 4.5 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nuôi tại trại 40

Bảng 4.6 Kết quả thực hiện công tác khác trên đàn lợn nuôi tại trại 41

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Điều kiện của trang trại 3

2.1.3 Quy trình chăm sóc và phòng trị bệnh lợn con theo mẹ của trại 5

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 9

2.2.1 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 9

2.2.2 Khái niệm của bệnh phân trắng ở lợn con 14

2.2.3 Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh phân trắng lợn con 15

2.2.4 Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con 15

2.2.5 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích bệnh phân trắng lợn con 18

2.2.6 Biện pháp phòng và trị bệnh phân trắng lợn con 20

2.2.7 Một số loại thuốc được dùng để điều trị bệnh phân trắng lợn con tại trại 23

2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 24

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 27

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

Trang 6

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28

3.3 Nội dung và các chỉ tiêu theo dõi 28

3.4 Phương pháp thực hiện 28

3.4.1 Phương pháp điều tra 28

3.4.2 Phương pháp thực hiện quy trình phòng bệnh 28

3.4.3 Phương pháp chẩn đoán lâm sàng 30

3.4.4 Xác định bệnh tích thông qua kết quả mổ khám tại chỗ 30

3.4.5 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 30

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 30

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại sinh thái Thanh Xuân, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên qua 3 năm 31

4.2 Kết quả công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn trong 6 tháng thực tập tại trại 32

4.2.1 Công tác chăn nuôi 32

4.2.2 Công tác thú y 35

4.2.3 Công tác khác 41

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42

5.1 Kết luận 42

5.2 Đề nghị 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

Trang 7

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây chăn nuôi lợn giữ một vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp của Việt Nam Con lợn được xếp hàng đầu trong số các vật nuôi, cung cấp phần lớn thực phẩm cho người tiêu dùng và phân bón cho sản xuất nông nghiệp Ngày nay chăn nuôi lợn có tầm quan trọng đặc biệt, làm tăng kim ngạch xuất khẩu, đây cũng là nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc dân Để cung cấp lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của trang trại và nông hộ thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản là nhu cầu cần thiết

Theo thống kê của tổ chức nông lương thế giới (FAO), Việt Nam là nước nuôi nhiều lợn, đứng hàng thứ 7 thế giới, hàng thứ 2 Châu Á và ở vị trí hàng đầu khu vực đông nam Châu Á Hiện nay nước ta đang có gần 39,7 triệu đầu lợn cung cấp sản phẩm thịt cho thị trường nội địa và một phần cho xuất khẩu Theo dự báo của Công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu Ipsos Business Consulting, tổng nguồn cung lợn thịt tại Việt Nam ước tính chỉ đạt khoảng 41 triệu con trong năm 2018

Tuy nhiên, để chăn nuôi lợn có hiệu quả, cần phải giải quyết nhiều vấn

đề, trong đó vệ sinh phòng bệnh cần được đặc biệt quan tâm Bởi dịch bệnh xảy ra là nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng đàn lợn, nó làm tăng chi phí chăn nuôi và giá thành sản phẩm Trong chăn nuôi lợn, bệnh phân trắng ở lợn con sau giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi thường xuyên xảy ra gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi, làm giảm đáng kể tới tỷ lệ nuôi sống và sức sinh trưởng của lợn con giai đoạn này

Ở Việt Nam, bệnh tiêu chảy phân trắng ở lợn con có từ rất lâu Theo Nguyễn Bá Hiên (2001) [9], cho rằng nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy ở gia

súc là do vi khuẩn E.coli, Salmonella và Clostridium Nguyên nhân gây bệnh

tiêu chảy ở lợn con ngoài nguyên nhân do nhiễm khuẩn, kí sinh trùng, nội

Trang 8

khoa còn phụ thuộc vào thức ăn chăn nuôi, chế độ dinh dưỡng, khai thác và

sử dụng, thời tiết khí hậu và vệ sinh chuồng trại kém là tác nhân quan trọng tác động lên lợn con ỉa phân trắng (Hồ Văn Nam, 1997) [13] Đã có nhiều công trình nghiên cứu nguyên nhân, triệu chứng, bệnh tích và cách phòng trị về bệnh này được công bố và có rất nhiều loại thuốc, hóa dược được

sử dụng để phòng và trị bệnh này nhưng các kết quả thu được lại không được như mong muốn, lợn khỏi bệnh thường còi cọc, chậm lớn và thời gian nuôi kéo dài Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất và trên cơ sở thừa kế những kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, tôi tiến hành

thực hiện đề tài: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con tại trang trại sinh thái Thanh Xuân, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

- Đánh giá tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con và lựa chọn phác

đồ điều trị phù hợp, đưa ra biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả tại trang trại

1.2.2 Yêu cầu

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại

- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn con và áp dụng được quy trình vệ sinh phòng bệnh

- Tìm hiểu được nguyên nhân gây bệnh và phác đồ điều trị có hiệu quả đối với bệnh phân trắng ở lợn con giai đoạn theo mẹ

Trang 9

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

- Trang trại sinh thái Thanh Xuân, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Vị trí địa lý của huyện được xác định như sau:

+ Phía Nam giáp huyện Khoái Châu

+ Phía Đông Nam giáp huyện Yên Mỹ

+ Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Thường Tín và huyện Thanh Trì, đều của Hà Nội

+ Phía Đông Bắc giáp huyện Gia Lâm, Hà Nội và huyện Văn Lâm, Hưng Yên

- Huyện có 11 đơn vị hành chính Dân số huyện Văn Giang hơn 12 vạn người, tổng diện tích tự nhiên là 71,79 km²

2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu

- Theo phân vùng của nhà khí tượng thuỷ văn thành phố, trại nằm trong vùng có khí hậu đặc trưng của khu vực đó là nóng ẩm vào mùa Hè, có mùa Đông lạnh, mưa nhiều điển hình của kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa Hướng vòng cung của các dãy núi tạo thành hành lang hút gió rất mạnh, đón nhận trực tiếp khối không khí lạnh từ phía Bắc tràn xuống làm cho mùa Đông đến sớm, kết thúc muộn, nền nhiệt bị hạ thấp Khí hậu vùng này thích hợp cho thực vật nhiệt đới như chè, thuốc lá, hồi Tuy nhiên, thời tiết khu vực này thay đổi đột ngột trong năm gây ra những khó khăn đáng kể, nhất là vào các thời

Trang 10

nước và được tách biệt với khu điều hành, khu dân cư xung quanh Xung quanh trại có hàng rào bảo vệ, cổng vào và nơi sản xuất có hố sát trùng để ngăn ngừa dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông Nam đảm bảo thoáng mát về mùa Hè, ấm áp về mùa Đông

và xây dựng theo kiểu mái chuồng xuôi tránh hiện tượng ứ đọng nước, có 4 chuồng đẻ, trong đó: 3 chuồng đẻ mỗi chuồng có 66 ô chuồng và 1 chuồng đẻ

có 120 ô chuồng, 2 chuồng bầu có 1020 ô chuồng, 6 chuồng lợn thịt với 700 con/chuồng, 1 chuồng tân đáo với 100 con/chuồng, 1 chuồng cai sữa với 750 con/chuồng và 1 chuồng đực với 70 ô chuồng, mỗi chuồng đều có lối đi ở giữa Các ô chuồng thường được thiết kế theo kiểu sàn bằng bê tông Các chuồng nuôi đều được lắp đặt điện chiếu sáng, hệ thống dẫn nước tự động, mùa Hè có hệ thống làm mát bằng quạt điện và hệ thống dàn mát Mùa Đông

có hệ thống bóng đèn hồng ngoại Tổng diện tích của trang trại là 4 ha, trong

đó 2,5 ha dùng để chăn nuôi, 1 ha là ao cá, còn lại là diện tích xây dựng công trình xung quanh trang trại gồm nhà điều hành và các công trình phụ trợ khác

2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức

- Trại chăn nuôi được xây dựng từ năm 2009 trại đi vào sản xuất được 9 năm, xong hàng năm sản xuất của trại đều gia tăng, đời sống của cán bộ công nhân viên được cải thiện Trại chăn nuôi có ban lãnh đạo là những người đam

mê, giàu nghị lực và tâm huyết đối với nghề chăn nuôi Đặc biệt trại chăn nuôi đã tuyển dụng và đào tạo được một đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên môn, kinh nghiệm, thực tiễn và yêu nghề Trại có 40 cán bộ nhân viên, trong đó:

- Lao động gián tiếp có 7 người:

+ Tổng giám đốc công ty: 1

+ Kế toán: 2

+ Làm vườn, nấu ăn: 1

+ Bảo dưỡng: 2

+ Bảo vệ: 1

Trang 11

- Lao động trực tiếp có 33 người:

+ 5 kỹ sư chăn nuôi

+ Đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động, nhiệt tình, có trách nhiệm trong công việc và có lòng yêu nghề Do đó đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại

+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

+ Nước dùng trong quá trình vệ sinh chuồng trại không được đảm bảo nên lợn trong trại thường bị mắc các bệnh về tiêu chảy đặc biệt là lợn con Vì vậy đòi hỏi phải đẩy mạnh công tác xử lý nước sạch, phòng chống dịch bệnh

và nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn tại trại

2.1.3 Quy trình chăm sóc và phòng trị bệnh lợn con theo mẹ của trại

2.1.3.1 Quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng

Trong chăn nuôi việc chăm sóc lợn con sơ sinh, lợn con theo mẹ là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế chết trên lợn sơ sinh, gia tăng hiệu quả chăn nuôi Trong thời gian tập tại cơ sở tôi đã học được một số

Trang 12

quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn con giai đoạn theo mẹ của trại như sau:

- Trước tiên là khâu trực đẻ phải đảm bảo để tỷ lệ số con sơ sinh còn sống cao nhất, đây là công việc rất cần thiết, lợn con đẻ ra được lau khô bằng vải xô mềm sạch theo trình tự miệng, mũi, đầu, mình, bốn chân Chuồng nuôi luôn sạch sẽ, khô ráo có đèn sưởi ấm để đảm bảo chống lạnh cho lợn con Sau

đó cắt rốn, sát trùng bằng cồn iod và cho vào lồng úm Tiếp theo là tiến hành mài nanh, mài nanh tránh không bị dập vỡ, không mài sát lợi chân răng, sau khi làm thủ thuật xong cho uống amoxicillin

- Cắt đuôi, bấm tai:

+ Đuôi: cắt 2/3 đuôi, cắt sát vị trí kẹp panh, vết cắt phẳng gọn

+ Tai: cắt đúng vị trí, đúng số quy định, vết cắt gịn, không cắt sâu và nông quá + Sát trùng bằng cồn iod trước và sau cắt

+ Cho lợn con uống kháng sinh phòng viêm

- Thiến: sau đẻ 4 - 5 ngày tuổi tiến hành thiến, trước khi thiến ta dốc ngược lợn, cố định chắc chắn, đúng cách Xác định đúng vị trí cần rạch đảm bảo không sót cà, viết thiến gọn Sát trùng bằng cồn iod trước và sau thiến

- Sau sinh cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt, vì sữa đầu có hàm lượng chất dinh dưỡng rất cao Thời gian tiết sữa đầu của lợn nái là 1 tuần đầu kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với lợn con là trong 24 giờ đầu Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với sữa thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 2,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng γ - globulin mà sữa thường không có Ngoài ra, Mg++ trong sữa đầu có tác dụng tẩy các chất cặn bã trong quá trình tiêu hóa ở thời kỳ phát triển thai, để hấp thu chất dinh dưỡng mới, nếu không nhận được Mg thì lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây ỉa chảy với tỷ lệ chết cao

- Cố định bầu vú cho lợn con:

Trên lợn nái, 2 cặp vú đầu tiên (ở phía ngực) thường tiết nhiều sữa hơn các vú khác Nếu lợn con sơ sinh trong đàn có trọng lượng không đồng đều

Trang 13

thì nên giữ cho những con nhỏ bú cặp vú trước, giữ liên tục trong những ngày đầu cho đến khi lợn con giữ được vú đó

Trong 3 ngày đầu tiên cho lợn con bú 12 - 15 lần/ ngày đêm (cách 1,5 -

2 giờ cho bú 1 lần) Sau đó có thể giảm dần số lần bú trong ngày

- Bổ sung sắt cho lợn con:

Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ cho nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm sắt Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con ở 30 ngày đầu sau đẻ là 210 mg/ngày Trong đó lượng sắt lợn mẹ cung cấp từ sữa chỉ đạt

10 - 20 mg/ngày, lượng sắt thiếu hụt cho 1 lợn con khoảng 150 - 180 mg, vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt Trong thực tế thường cung cấp thêm 200 mg Nên tiêm sắt cho lợn con 1 ngày sau đẻ Việc tiêm sắt thường làm cùng với thao tác khác để tiết kiệm công lao động Nếu cai sữa lợn con ở lúc 3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 100 mg sắt là đủ

- Tập cho lợn con ăn sớm:

Tập ăn cho lợn từ 5 - 10 ngày tuổi, bổ sung thêm men laczyme trộn 1 thìa

đỏ 10g/ 1 kg cám và Bcomplex trộn 1 thìa đỏ 10g/ 2kg cám, cho ăn thức ăn mềm

Tra cám làm nhiều lần trong ngày tối thiểu 3 lần/ buổi, rắc cám tạo tiếng động kích thích lợn dậy ăn, nên tra ít một đảm bảo cám luôn mới và thơm Bổ sung sữa cho lợn con từ 5 ngày tuổi hòa với sữa và bóp cám vào sữa cho lợn con tập ăn, 6 ngày tuổi cho sữa và cám tương đương nhau bóp lẫn cho ăn, 7 ngày tuổi cho ăn sữa ít hơn cám, 8 ngày tuổi trở lên cho ăn cám hoàn toàn, đối với những đàn còi cọc tách riêng cho uống trực tiếp Vì vậy, để nhằm đảm bảo cho lợn con sinh trưởng phát triển bình thường, không hoặc ít bị stress, không bị thiếu hụt dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển nhanh của lợn con sau 3 tuần tuổi và khi cai sữa, giảm tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ Thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện hơn Khi bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì kích thích

tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dị

Trang 14

- Nước uống: đảm bào đủ nước sạch cho lợn con, núm uống, dụng cụ cho uống phải được vệ sinh sạch sẽ

- Cai sữa cho lợn con:

Tại trại cai sữa lợn con thực hiện vào lúc 21 ngày tuổi Khi cai sữa, lợn con cần giảm bớt khẩu phần thức ăn từ 10 - 20% để chống strees, giữ chuồng trại thoáng mát Có thể pha thêm kháng sinh vào thức ăn hoặc nước uống để phòng một số bệnh về đường ruột và hô hấp trong vòng 3 - 5 ngày Cai sữa sớm nhằm tăng tần số sinh sản cho lợn mẹ, nếu được nuôi dưỡng và chăm sóc tốt, lợn mẹ sau khi cai sữa 1 tuần có thể phối giống cho lứa tiếp theo, chỉ cai sữa khi lợn con

đã quen thức ăn tập ăn

2.1.3.2 Quy trình phòng trị bệnh

* Phòng bệnh bằng vệ sinh sát trùng

Vệ sinh phòng bệnh nhằm nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn luôn là vấn đề được đặc biệt quan tâm Cùng với việc vệ sinh thức ăn, nước uống, vật nuôi, dụng cụ chăn nuôi, sinh sản… thì việc vệ sinh chuồng trại, cải tạo tiểu khí hậu chuồng nuôi luôn được cán bộ thú y và đội ngũ công nhân kỹ thuật thực hiện chặt chẽ

Khi ra vào trại, tất cả mọi người đều phải đi qua phòng sát trùng, trước khi xuống chuồng phải thay bảo hộ lao động (quần, áo, ủng, mũ, khẩu trang) chỉ sử dụng trong khu vực chăn nuôi nhằm hạn chế mang mầm bệnh từ bên ngoài vào

Hiện nay, trại áp dụng quy trình chăn nuôi “cùng vào - cùng ra”, trong

đó một chuồng hoặc cả một dãy chuồng được đưa vào để nhốt đồng loạt cùng một loại lợn (có thể tương đồng về khối lượng, tuổi) Sau một thời gian nhất định số lợn này được đưa ra khỏi chuồng, lúc đó chuồng trại được rửa sạch, phun thuốc sát trùng và để trống ít nhất 5 - 7 ngày trước khi đưa đàn lợn mớinhập chuồng Như vậy quy trình này có tác dụng phòng bệnh do vệ sinh chuồng trại thường xuyên, định kỳ mỗi khi xuất hết lợn, do đó hạn chế được khả năng lan truyền các mầm bệnh từ lô này sang lô khác

Trang 15

Lịch phun sát trùng tại trại được công nhân và sinh viên được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc, để phòng những mầm bệnh có thể phát sinh Đối với chuồng đẻ công việc sát trùng được thực hiện 1 lần/ngày vào buổi chiều

Công việc vệ sinh sát trùng được thực hiện nhanh chóng với tỷ lệ phun hợp lý, khi phun thuốc sát trùng, thuốc ghẻ, các máng ăn của lợn được để ý để không bị dính thuốc vào

- Lúc 4 và 6 ngày tuổi điều phòng bệnh viêm vết thương bằng vắc xin Clamoxom với liều lượng: 0,5ml/con, tiêm bắp

- Phòng bệnh Suyễn cho lợn con từ 12 - 15 ngày tuổi, vắc xin phòng bệnh (Hylogen), liều lượng: 2ml/con, tiêm bắp

- Từ 26 - 30 ngày tuổi phòng bệnh Cerco, thuốc phòng bệnh (Cercovac), liều lượng: 0,5ml/con, tiêm bắp

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

Sinh lý của lợn con theo mẹ là khả năng thích ứng của cơ thể từ môi trường trong bụng mẹ có nhiệt độ từ 38 - 400C, ra môi trường bên ngoài có nhiệt độ thấp hơn, làm ảnh hưởng đến sự thành thục và hoàn thiện về chức năng của các cơ quan bên trong cơ thể lợn sơ sinh

2.2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng của lợn con

* Lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh

Sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất thông qua trao đổi các chất, sự tăng lên về khối lượng, về kích thước các chiều của các bộ phận cũng

Trang 16

như toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17]: So với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 2 lần lúc sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày gấp 7- 8 lần, lúc 50 ngày tuổi gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 12- 14 lần

* Lợn con phát triển nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn

Lợn con có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng tích luỹ chất dinh dưỡng rất mạnh, lợn con ở 21 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích luỹ được 9 - 14g protein/kg khối lượng cơ thể Trong khi đó, lợn lớn chỉ tích luỹ được 0,3 - 0,4g protein/kg khối lượng cơ thể Qua đó, ta thấy cường độ trao đổi chất ở lợn con và lợn trưởng thành chênh lệch khá lớn Như ta đã biết lợn con trong thời kỳ này chỉ tích luỹ nạc là chính, vì vậy tiêu tốn thức ăn ít hơn

Theo Nguyễn Khánh Quắc và cs (1993) [19] cho biết: Các thành phần trong cơ thể lợn thay đổi rất nhiều, hàm lượng nước trong cơ thể giảm dần theo tuổi, đặc biệt lợn càng lớn thì giảm càng nhiều Hàm lượng lipit tăng nhanh theo tuổi từ khi mới đẻ đến 3 tuần tuổi Hàm lượng protein cũng tăng nhanh theo tuổi nhưng với hàm lượng không nhất định Hàm lượng khoáng có biến đổi liên quan đến quá trình tạo xương Từ lúc mới đẻ đến 3 tuần tuổi có hàm lượng khoáng giảm đáng kể và ở giai đoạn từ 21 đến 56 ngày tuổi giảm không đáng kể

2.2.1.2 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con

Thời kỳ này đặc điểm nổi bật của cơ quan tiêu hóa lợn con đó chính là

sự phát triển rất nhanh song chưa hoàn thiện Sự phát triển nhanh thể hiện ở

sự tăng về dung tích và khối lượng của bộ máy tiêu hóa Còn chưa hoàn thiện thể hiện ở số lượng cũng như hoạt lực của một số men trong đường tiêu hóa của lợn con bị hạn chế (Nguyễn Thiện và cs 1998) [29]

- Men pepsin: Nếu không cho lợn con ăn sớm thì trong khoảng 25 ngày đầu khi đẻ ra, men pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hóa

Trang 17

protein của thức ăn, vì lúc này dịch vị dạ dày của lợn con chưa có HCl tự do Khi có HCl tự do sẽ kích hoạt men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa Do thiếu HCl tự do nên lợn con rất dễ bị vi khuẩn có hại xâm nhập vào đường tiêu hóa gây bệnh Chúng ta có thể kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con

- Men amylaza và maltaza: Hai men này có trong nước bọt và trong dịch tụy lợn con từ lúc mới đẻ, nhưng dưới 3 tuần tuổi hoạt tính còn thấp, do

đó có khả năng tiêu hóa của tinh bột của lợn con còn kém, chỉ tiêu hóa được 50% lượng tinh bột ăn vào Sau 3 tuần tuổi, hai men này mới có hoạt tính mạnh, nên khả năng tiêu hóa tinh bột của lợn con tốt hơn

- Men saccaraza: Lợn con dưới 2 tuần tuổi men saccaraza hoạt tính còn thấp, nếu cho lợn con ăn đường saccarose thì rất dễ bị ỉa chảy Lợn con dưới

3 tuần tuổi chỉ có một số men tiêu hóa có hoạt tính mạnh như men tryspin, catepsin, lactase, lipase và chymosin

- Men tryspin: Là men tiêu hóa protein của thức ăn

- Men catepsin: Là men tiêu hóa protein trong sữa

- Men lactaza: Có tác dụng tiêu hóa đường lactose trong sữa Men này

có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con mới đẻ ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ 2, sau đó hoạt tính của men này giảm dần

- Men lipaza và chymosin: Hai men này có hoạt tính mạnh trong 3 tuần đầu và sau đó hoạt tính giảm dần

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], chức năng tiêu hóa của lợn con mới sinh chưa có họat lực cao, trong giai đoạn theo mẹ, chức năng tiêu hóa của một số men tiêu hóa được hoàn thiện dần

Tiêu hóa ở miệng: Lợn con mới sinh những ngày đầu hoạt tính amylaza nước bọt tăng nhanh và đạt đỉnh cao vào ngày thứ 14 và giảm dần theo tuổi của lợn đối với lợn con tách mẹ sớm, nhưng đối với lợn con tách mẹ trễ hoạt tính này duy trì đến ngày tuổi thứ 21 Nước bọt ở tuyến mang tai chứa 0,6% - 2,6% vật

Trang 18

chất khô Tùy lượng thức ăn lượng tiết khác nhau, thức ăn có phản ứng acid yếu

và khô thì nước bọt tiết ra mạnh, thức ăn lỏng thì giảm hoặc ngừng tiết dịch Vì vậy, cần lưu ý không cho lợn con ăn thức ăn lỏng (Trương Lăng, 1999) [13]

Tiêu hóa ở dạ dày: Theo Trương Lăng (1999) [13], khi lợn con mới sinh, dịch vị tiết ra ít và sau đó tăng theo sự tăng dung tích của dạ dày Lượng dịch vị tăng nhanh nhất vào 3% - 4% tuần tuổi và sau đó giảm dần Trước khi cai sữa, ban đêm lợn con tiết nhiều dịch vị hơn do lợn mẹ ban đêm nhiều sữa kích thích sự tiết dịch vị của lợn con Khi cai sữa lượng dịch vị tiết ra ngày và đêm gần bằng nhau Lượng dịch vị biến đổi tùy theo tuổi và ngày đêm

Tiêu hóa ở ruột: Tiêu hóa ở ruột của lợn con nhờ vào dịch ruột và dịch tụy, enzyme trypsin trong dịch tụy thủy phân protein thành axit amin (Trương Lăng, 1999) [13] Trypsin được sản xuất rất sớm, ngay trong giai đoạn thai, ở thai 2 tháng tuổi và thai càng lớn thì hoạt tính trypsin càng cao Khi mới sinh hoạt tính trypsin tăng dần đến 20 ngày và sau đó giảm theo tuổi

2.2.1.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt

Theo Nguyễn Thiện và cs (1998) [29], lợn con mới đẻ có sự thay đổi rất lớn về điều kiện sống so với ở bên trong cơ thể lợn mẹ có nhiệt độ ổn định 39°C, ra bên ngoài điều kiện nhiệt độ thay đổi tùy theo từng mùa khác nhau

Do vậy lợn con rất dễ bị nhiễm lạnh, giảm đường huyết và có thể dẫn đến chết

Khả năng điều tiết thân nhiệt ở lợn con chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt của lợn con chưa ổn định

Trung khu điều tiết thân nhiệt của lợn con nằm ở vỏ não, mà não là cơ quan phát triển muộn nhất ở cả 2 giai đoạn trong thai và ngoài thai

Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên khi bị lạnh lợn con mất nhiệt nhanh

Lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glycozen dự trữ trong cơ thể lợn con còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa nên khả năng cung cấp nhiệt và khả năng giữ nhiệt kém

Trang 19

Bảng 2.1 Nhiệt độ thích hợp cho lợn con theo mẹ

Ngày

8 - cai sữa

Nhiệt

độ ( o C) 35 34 33 31 - 32 30 - 31 28 - 29 27 - 26 23 - 25

(Nguồn: Kỹ thuật trại)

Theo Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Quế Côi, (2005) [20]: Để đảm bảo được nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt vào những tháng mùa đông, ngoài ô úm lợn con ra thì phải có bóng đèn sưởi ấm nên dùng bóng đèn hồng ngoại hoặc bón điện có công suất 100W (Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Quế Côi, 2005) [20]

Từ những lý do nêu trên ta thấy khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con dưới 3 tuần tuổi là rất kém, nhất là tuần đầu mới đẻ Vì vậy phải tạo điều kiện thuận lợi nhất về nguồn nhiệt để lợn con sơ sinh sinh trưởng và phát triển tốt nhất, tránh sự xâm nhập mầm bệnh vào cơ thể

2.2.1.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con

Ở cơ thể lợn con, hệ thống miễn dịch chưa hoàn thiện, chúng chưa có khả năng tạo kháng thể chủ động mà chỉ có được kháng thể từ mẹ truyền sang qua nhau thai hay sữa đầu Bộ máy tiêu hóa và các dịch tiêu hóa ở gia súc non hoạt động rất yếu Lượng enzym tiêu hóa và HCl tiết ra chưa đủ nên dễ gây

rối loạn tiêu hóa, vì vậy mầm bệnh (Salmonella, E.coli, Cl perfringens…) dễ

dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa

Theo Trần Thị Dân (2008) [4]: Lợn con mới đẻ trong máu không có γ globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Lượng γ - globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ

-5 - 6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 6-5mg/100ml máu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu…được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém Vì vậy, cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh nhất là bệnh phân trắng lợn con

Trang 20

+ Hệ vi sinh vật đường ruột

Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [27], hệ vi sinh vật đường ruột gồm hai nhóm:

- Nhóm vi khuẩn đường ruột (vi khuẩn bắt buộc) gồm: E.coli, Salmonella,

Shigella, Klesiella, Proteus… Trong nhóm vi khuẩn này, người ta quan tâm

nhiều nhất đến trực khuẩn E.coli Đây là vi khuẩn phổ biến nhất hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng E.coli trở nên cường độc và gây bệnh Cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất phức tạp

Người ta đã phát hiện có ít nhất 170 kháng nguyên O, 80 kháng nguyên K, 86 kháng nguyên H và kháng nguyên F

- Nhóm vi khuẩn vãng lai: chúng là bạn đồng hành của thức ăn, nước

uống vào hệ tiêu hoá gồm: Staphylococcus spp, Streptococcus spp, Bacillus

subtilis… Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của lợn con có các trực khuẩn yếm

khí gây thối rữa: Clostridium perfringens, Bacillus sporogenes, Bacillus

fasobacterium, Bacillus puticfus…

2.2.2 Khái niệm của bệnh phân trắng ở lợn con

Bệnh lợn con ỉa phân trắng là hội chứng hoặc là một trạng thái lâm sàng rất

đa dạng, đặc điểm là viêm dạ dày - ruột, đi ỉa, gầy sút rất nhanh Tác nhân gây

bệnh chủ yếu là E.coli, nhiều loại Salmonella (S choleraesuis, S typhisuis ) và đóng vai trò phụ là: Proteus, trực trùng sinh mủ, song liên cầu khuẩn Bệnh xuất hiện những ngày đầu sau khi sinh do E.coli hoặc khi cai sữa (Salmonella)

Bệnh lợn con ỉa phân trắng có tên khoa học là: "Neonatal di ar hoea",

theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [14], bệnh này là bệnh đặc trưng đối với lợn con ở giai đoạn từ 1 - 3 tuần tuổi, thì bệnh phát triển mạnh mẽ và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất khi lợn con ở độ tuổi 10 - 20 ngày tuổi Bệnh này xảy ra ở hầu hết các nước trên thế giới và cả ở Việt Nam Do nước ta có kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa (nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ chênh lệch giữa các thời gian trong năm cao…) Đây là điều kiện lý

Trang 21

tưởng cho các nguyên nhân gây bệnh phát triển làm bùng phát bệnh dịch và

sự kiểm soát bệnh này theo đó cũng khó khăn hơn

Đặc điểm dễ nhận thấy khi lợn con mắc bệnh là lợn phân có mà trắng đục, xám, vàng lẫn bọt khí lượng phân nhiều rơi vãi khắp chuồng, phân dính

ở hậu môn và chân sau Lợn bệnh thường giảm bú, gầy sút, lông xù, thể nặng dẫn đến tử vong Nếu qua khỏi thì cũng để lại hậu quả và thiệt hại về kinh tế,

ảnh hưởng đến năng xuất chất lượng đàn lợn sau này

2.2.3 Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh phân trắng lợn con

Bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng lâm sàng đa dạng, đặc điểm

là viêm dạ dày, ruột, đi ỉa dẫn tới vật nuôi gầy sút nhanh Tác nhân gây bệnh

chủ yếu là do E.coli và nhiều loại Salmonella, đóng vai trò quan trọng là

Proteus, Streptococus Bệnh xuất hiện vào những ngày đầu sau khi sinh (do E.coli) và trong suốt thời kỳ bú mẹ

- Bệnh có quanh năm, nhiều nhất vào thời điểm cuối đông sang xuân, cuối xuân sang hè

- Thời gian nào độ ẩm cao, thì bệnh phát triển nhiều

- Chuồng nái ẩm ướt tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển

- Tỷ lệ mắc bệnh các cơ sở chăn nuôi miền trung du, miền núi ít hơn, thời gian mắc bệnh ngắn hơn so với đồng bằng

2.2.4 Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con

2.2.4.1 Vi sinh vật

- Do vi khuẩn

Vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy cho lợn thường gặp như E.Coli,

Salmonella, Shigella, Clostridium perfringens… Lợn con sơ sinh có thể bị

nhiễm bệnh do vi khuẩn từ chuồng nuôi, da, phân lợn mẹ Do đó, trong điều

kiện vệ sinh kém hoặc trong hệ thống nuôi liên tục, mầm bệnh E.coli tồn tại

trong môi trường có thể dẫn đến dịch tiêu chảy trên lợn con sơ sinh Lợn con được sinh ra từ những lợn mẹ chưa được tiêm phòng hoặc không có kháng thể

Trang 22

chống lại E.coli trong sữa đầu sẽ rất nhạy cảm với bệnh Ở lợn cai sữa, hệ tiêu

hóa chưa hoàn chỉnh, nếu cho ăn quá nhiều, thức ăn không tiêu hóa kịp sẽ tích

tụ trong đường ruột tạo chất nền cho E.coli phát triển Do đó, ở giai đoạn này

lợn rất dễ nhiễm bệnh Stress và việc thay đổi khẩu phần thức ăn đột ngột cũng

là yếu tố quan trọng làm cho bệnh tiêu chảy gia tăng

- Do virus

Đã có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định Rotavirus, Enteravirus,

Andenovirus, Coronavirus, Pestivirus là nguyên nhân chủ yếu gây viêm ruột

với triệu chứng tiêu chảy đặc trưng ở lợn Các virus này tác động gây viêm loét niêm mạc ruột ở nhiều mức độ khác nhau, chính từ đó quá trình tiêu hóa hấp thụ ở lợn bị rối loạn, cuối cùng là triệu chứng ỉa chảy

2.2.4.2 Ký sinh trùng

Ký sinh trùng ký sinh trong đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy Khi ký sinh trong đường tiêu hóa ngoài việc chúng cướp đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, tiết độc tố đầu độc cơ thể vật chủ, chúng còn gây tác động cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa

và là cơ hội khởi đầu cho một quá trình nhiễm trùng Có rất nhiều loại ký sinh trùng đường ruột tác động gây ra hội chứng tiêu chảy như: Sán lá ruột lợn

(Fasciolopsis busky), giun đũa lợn (Ascaris suum)

Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại giun đũa, giun lươn, giun tóc và sán lá ruột, nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ cao hơn và nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2009) [12]

Khi nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại Thái Nguyên, Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [11] đã có kết luận cầu trùng

và một số loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn con

Trang 23

2.2.4.3 Nấm mốc

Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không đúng kỹ thuật dễ bị nấm mốc

Một số loài nấm mốc như: Aspergillus, Penicillium, Fusarium… có khả

năng sản sinh nhiều loại độc tố, nhưng quan trọng nhất là nhóm độc tố Aflatoxin (Aflatoxin B1, B2, G1, G2, M1)

Độc tố Aflatoxin gây độc cho người và gia súc, gây bệnh nguy hiểm nhất cho con người là ung thư gan, huỷ hoại gan, độc cho thận, sinh dục và thần kinh

2.2.4.4 Nguyên nhân khác

- Do thời tiết

Theo Sử An Ninh và cs (1981) [15]: Lạnh ẩm là nguyên nhân hàng đầu của hội chứng tiêu chảy của lợn con theo mẹ Như vậy, nguyên nhân thường xuyên tác động đến hội chứng tiêu chảy ở lợn con là các yếu tố thời tiết

Nguyễn Thiện và cs (1996) [28], cho biết tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng trong chăn nuôi hộ gia đình là rất cao 30 - 40%, nguyên nhân do môi trường mở, điều kiện thời tiết ảnh hưởng rất nhiều đến môi trường trong chuồng nuôi Trong khi đó, chăn nuôi trang trại môi trường trong chuồng nuôi

là môi trường nhân tạo có thể điều chỉnh để phù hợp với từng điều kiện cụ thể như nóng ẩm thì dùng quạt thông gió, hệ thống dàn mát và nhiệt độ thấp dùng bóng sưởi Lợn con không phải nằm trực tiếp xuống nền chuồng xi măng mà nằm trên đan nhựa cách nền chuồng một khoảng theo từng chuồng nuôi nên lợn con cũng không bị mất nhiều nhiệt năng cho sưởi ấm cơ thể và tỏa ra môi trường xung quanh như chăn nuôi hộ gia đình

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [6], những tháng mưa nhiều kèm theo khí hậu lạnh, tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy tăng rõ rệt, có khi 80

- 100% cá thể trong đàn bị tiêu chảy

- Do stress

Sự thay đổi yếu tố khí hậu thời tiết, mật độ chuồng nuôi, vận chuyển đi

xa đều là các tác nhân gây stress quan trọng trong chăn nuôi dẫn đến hậu quả

Trang 24

giảm sút sức khỏe vật nuôi và bệnh trong đó có tiêu chảy (Đoàn Thị Băng Tâm,1987) [22]

- Do chăm sóc nuôi dưỡng lợn con không đúng kỹ thuật

Quá trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn con không đảm bảo kỹ thuật như: Nghèo dinh dưỡng, thức ăn bị ôi thiu, nấm mốc, chứa nhiều aflatoxin, thuốc trừ sâu, thiếu hoặc không cân đối các loại axit amin, vitamin và các nguyên tố

vi lượng, nhất là Fe, Co, Ca, vitamin B12 Do đó lợn mới sinh dễ bị mắc hội chứng tiêu chảy lợn con

Trong điều kiện ẩm thấp, thiếu ánh sáng tự nhiên thiếu vận động sẽ sinh ra những con dễ mắc bệnh hơn những con được nuôi trong điều kiện chuồng trại tốt mặc dù chúng được ăn cùng loại thức ăn như nhau

Phải tiêm phòng cho lợn mẹ các bệnh mà lợn con dễ mắc phải như:

Dịch tả, thương hàn, E.coli nhằm tạo miễn dịch chủ động cho lợn con và từ

đó chất miễn dịch mới được có trong cơ thể Không úm cho lợn con hoặc úm không đúng quy cách làm lợn con bị lạnh, hệ tiêu hóa sẽ hoạt động yếu, thể hiện qua sự giảm nhu động ruột, giảm phân tiết dịch tiêu hóa, dẫn đến tình trạng không tiêu, viêm ruột, tiêu chảy

2.2.5 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích bệnh phân trắng lợn con

2.2.5.1 Triệu chứng lâm sàng

Theo Phạm Ngọc Thạch, Đỗ Thị Nga (2006) [26], triệu chứng của bệnh như sau: Thân nhiệt ít khi cao, cá biệt có con lên 40,5 - 41oC nhưng chỉ sau một ngày là xuống Đặc trưng chủ yếu là phân lỏng, màu trắng như vôi, trắng xám màu xi măng hoặc hơi vàng như mủ, đôi khi trong phân có bột hoặc lổn nhổn hạt như vôi, có khi lầy nhầy, cá biệt có lẫn máu Phân từ màu vàng trắng lỏng, chuyển thành mầu xi măng và có khuôn là biểu hiện chuyển biến tốt

Phân có mùi tanh đặc biệt khó ngửi, kiểm tra dưới kính hiển vi thấy những hạt mỡ chưa tiêu hoặc tế bào niêm mạc ruột bị tróc ra

Trang 25

Khi bắt đầu bị bệnh lợn con vẫn như thường, sau bú ít dần đi Bắt đầu bụng hơi sưng, bệnh kéo dài thì tóp bụng lại, lông xù, đuôi rủ, đít dính phân

be bét, hai chân sau dúm lại và run lẩy bẩy Lợn bị bệnh hay khát nước, thường tìm nước bẩn trong chuồng để uống nếu không đảm bảo có nước uống đầy đủ, đôi khi có lợn bệnh nôn oẹ ra sữa chưa tiêu có mùi chua

2.2.5.2 Bệnh tích

Niêm mạc nhợt nhạt, xung huyết hoặc xuất huyết Niêm mạc ruột xung huyết hay xuất huyết từng đám hoặc viêm cata nhẹ Gan hơi sưng hoặc không sưng, màu nâu vàng nhạt Túi mật thường căng, phổi thường ứ huyết, đôi khi có hiện tượng sưng phổi nhẹ

Theo Phạm Ngọc Thạch (2006) [25], nhu động ruột của lợn ở thời kì đầu của bệnh giảm yếu, thời kỳ sau lại tăng Nhiệt độ 39,5 - 40,5oC, buổi chiều thường cao hơn buổi sáng 1 - 2oC Đi ỉa chảy một ngày 15 - 20 lần, con vật rặn nhiều lưng uốn cong, bụng thót lại, thể trạng đờ đẫn, bú chút ít hoặc không bú hoàn toàn, nằm nhiều hơn đi lại Các niêm mạc mắt, mũi, miệng nhợt nhạt vì thiếu máu và mất nước quá nhiều, chân lạnh Con vật chết trong tình trạng co giật bởi nhiễm độc Dù bệnh khỏi, sau khi cai sữa nuôi rất chậm lớn, khi bệnh nặng con vật mệt lử bỏ bú hoàn toàn, chân và toàn thân run rẩy,

đi lại không được, nằm một chỗ, đặc biệt là hai chân sau liệt, mắt sâu lõm, khô, khát nước nhiều, thở dốc, mạch nhanh, phản xạ các bắp thịt và gân yếu, không điều trị kịp thời con vật chết trong 3 - 6 ngày, trước khi chết nhiệt độ

hạ xuống chỉ còn 35 - 36,5oC Sau giai đoạn bệnh dữ dội nếu được điều trị kịp thời bệnh sẽ chuyển sang giai đoạn lành bệnh Lúc này phân chuyển từ màu trắng hoặc trắng xám đen, phân đặc dần thành khuôn như phân của lợn khoẻ

Theo Phạm Ngọc Thạch, Đỗ Thị Nga (2006) [26], bệnh tích khi mổ khám cho thấy: Xác gầy niêm mạc nhợt nhạt máu loãng hơi đen, dạ dày chứa đầy hơi, còn sữa hoặc thức ăn chưa tiêu, màng treo ruột sưng mềm, đỏ tấy sung huyết, niêm mạc ruột, dạ dày sưng, ở ruột già cũng có một số đám máu,

Trang 26

ở ruột non có chất màu vàng, lỏng, tanh Nhìn bề ngoài xác lợn gầy khô thót bụng, bẩn

2.2.6 Biện pháp phòng và trị bệnh phân trắng lợn con

2.2.6.1 Biện pháp phòng bệnh

Có rất nhiều biện pháp phòng bệnh như (vệ sinh chuồng trại, chống lạnh, ẩm, nuôi dưỡng tốt mẹ và con, bổ sung các thành phần dinh dưỡng con thiếu vào khẩu phần), Sử dụng nhiều loại thuốc kháng sinh, thảo mộc để phòng bệnh

- Dùng chế phẩm sinh học: Là dùng các vi khuẩn có lợi để phòng trị

bệnh Các nhóm vi khuẩn thường dùng là Bacillus suptilis, Colibacterium,

Lactobacillus… các vi khuẩn này khi đưa vào đường tiêu hoá của lợn sẽ có

vai trò cải thiện tiêu hoá thức ăn, lập lại cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột,

ức chế và khống chế vi sinh vật có hại

- Phòng bệnh bằng nguyên tố vi lượng: Lợn con bú sữa mẹ thường thiếu sắt vì sữa mẹ không cung cấp đủ cho lợn con Dẫn đến, lợn con thường rối loạn tiêu hoá và ỉa phân trắng Vì vậy, lợn con cần được tiêm bổ sung dextran Fe để phòng bệnh thiếu máu và nâng cao sức đề kháng cho lợn con

- Cải thiện các điều kiện nuôi dưỡng lợn nái và lợn con: Nuôi dưỡng lợn nái đúng khẩu phần quy định bao gồm đủ lượng đạm, vitamin, khoáng đa lượng và vi lượng… sẽ đảm bảo cho thai phát triển tốt và lợn con sau khi sinh

có sức đề kháng với bệnh Dùng đèn hồng ngoại để sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông có thể giảm thiểu được bệnh

- Vệ sinh chuồng trại, máng ăn, uống, dụng cụ chăn nuôi: Là một khâu hết sức quan trọng để phòng bệnh phân trắng lợn con, hạn chế mầm bệnh trong môi trường, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh Việc vệ sinh được tiến hành hằng ngày đảm bảo chuồng trại luôn sạch sẽ, chuồng nuôi được thiết kế sao cho luôn thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông Đồng thời, tuân thủ nghiêm ngặt lịch khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi theo định kì Xử lý phân, rác thải, xác chết…đúng quy định

Ngày đăng: 10/07/2021, 06:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Ba, Đào Hoài Thu, Võ Thành Thìn, Đặng Văn Tuấn, Đỗ Văn Tấn, Vũ Khắc Hùng (2012), “Xác định một số gen kháng kháng sinh của vi khuẩn Escherichia coli O157:H7 phân lập từ trâu bò khỏe mạnh tại một số tỉnh Nam trung bộ”, Tạp chí Khoa học Kĩ thuật Thú y, tập XIX (6), tr. 47 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định một số gen kháng kháng sinh của vi khuẩn "Escherichia coli "O157:H7 phân lập từ trâu bò khỏe mạnh tại một số tỉnh Nam trung bộ”, "Tạp chí Khoa học Kĩ thuật Thú y
Tác giả: Bùi Thị Ba, Đào Hoài Thu, Võ Thành Thìn, Đặng Văn Tuấn, Đỗ Văn Tấn, Vũ Khắc Hùng
Năm: 2012
2. Đặng Xuân Bình, Trần Thị Hạnh (2002), “Phân lập, định typ, lựa chọn chủng vi khuẩn E.coli, Cl.perfingens để chế tạo sinh phẩm phòng bệnh cho lợn con giai đoạn theo mẹ”, Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y, 2002.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân lập, định typ, lựa chọn chủng vi khuẩn "E.coli, Cl.perfingens" để chế tạo sinh phẩm phòng bệnh cho lợn con giai đoạn theo mẹ”, "Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y
Tác giả: Đặng Xuân Bình, Trần Thị Hạnh
Năm: 2002
3. Nguyễn Nguyệt Cầm (2008), Xác định yếu tố gây bệnh của vi khuẩn E.coli phân lập từ lợn con theo mẹ bị tiêu chảy tại trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương và thử nghiệm vắc xin phòng bệnh, Luận văn Thạc sĩ Nông nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định yếu tố gây bệnh của vi khuẩn E.coli phân lập từ lợn con theo mẹ bị tiêu chảy tại trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương và thử nghiệm vắc xin phòng bệnh
Tác giả: Nguyễn Nguyệt Cầm
Năm: 2008
4. Trần Thị Dân (2008), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nông Nghiệp, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2008
5. Nguyễn Chí Dũng (2013), Nghiên cứu vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại tỉnh Vĩnh Phúc và biện pháp phòng trị, Luận văn Thạc sĩ Thú y, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại tỉnh Vĩnh Phúc và biện pháp phòng trị", Luận văn Thạc sĩ "Thú y
Tác giả: Nguyễn Chí Dũng
Năm: 2013
6. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (1996), Bệnh ở lợn nái và lợn con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 44 - 81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
7. Trần Đức Hạnh (2013), Nghiên cứu vai trò của E.coli, Salmonella và Clostridium perfringens gây tiêu chảy ở lợn tại 3 tỉnh miền núi phía Bắc và biện pháp phòng trị, Luận án Tiến sĩ Thú y, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu vai trò của E.coli, Salmonella và "Clostridium perfringens gây tiêu chảy ở lợn tại 3 tỉnh miền núi phía Bắc và biện pháp phòng trị
Tác giả: Trần Đức Hạnh
Năm: 2013
9. Nguyễn Bá Hiên (2001), “Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khỏe mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội, điều trị thử nghiệm”, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khỏe mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội, điều trị thử nghiệm
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên
Năm: 2001
10. Hoàng Phú Hiệp (2014), Nghiên cứu phát triển kỹ thuật phát hiện chủng vi khuẩn Escherichia coli O157:H7 và tạo kháng thể tái tổ hợp đặc hiệu, Luận án Tiến sĩ sinh học, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển kỹ thuật phát hiện chủng vi khuẩn Escherichia coli O157:H7 và tạo kháng thể tái tổ hợp đặc hiệu
Tác giả: Hoàng Phú Hiệp
Năm: 2014
11. Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Minh, Nguyễn Thị Ngân (2006), “Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học Kĩ thuật Thú y, tập XIII (4), 92 - 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên”, "Tạp chí Khoa học Kĩ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Minh, Nguyễn Thị Ngân
Năm: 2006
12. Nguyễn Thị Kim Lan, La Văn Công, Nguyễn Thị Ngân, Lê Minh (2009), “Tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và tỷ lệ nhiễm giun sán ở lợn tiêu chảy tại Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học Kĩ thuật Thú y, tập XVI (1), tr. 36 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và tỷ lệ nhiễm giun sán ở lợn tiêu chảy tại Thái Nguyên”, "Tạp chí Khoa học Kĩ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, La Văn Công, Nguyễn Thị Ngân, Lê Minh
Năm: 2009
13. Trương Lăng (1999), “Nuôi lợn gia đình”, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội 14. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn,Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi lợn gia đình"”, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội 14. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), "Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Trương Lăng (1999), “Nuôi lợn gia đình”, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội 14. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2004
15. Sử An Ninh, Dương Quang Hưng, Nguyễn Đức Tâm (1981), “Tìm hiểu hội chứng stress trong bệnh phân trắng lợn con”, Tạp chí Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm, tr. 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu hội chứng stress trong bệnh phân trắng lợn con”, "Tạp chí Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm
Tác giả: Sử An Ninh, Dương Quang Hưng, Nguyễn Đức Tâm
Năm: 1981
16. Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Ngọc Nhiên, Cù Hữu Phú (1998), “Kết quả điều tra tình hình nhiễm vi khuẩn đường ruột tại một số cơ sở chăn nuôi lợn”, Kết quả nghiên cứu Khoa học và Kĩ thuật Thú y, phần 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra tình hình nhiễm vi khuẩn đường ruột tại một số cơ sở chăn nuôi lợn”
Tác giả: Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Ngọc Nhiên, Cù Hữu Phú
Năm: 1998
17. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), “Giáo trình Chăn nuôi lợn”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chăn nuôi lợn”
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
18. Đặng Minh Phước, Dương Thanh Liêm (2006), “Nghiên cứu sử dụng axit hữu cơ bổ sung vào thức ăn để kích thích tăng trưởng và phòng bệnh lợn con tiêu chảy trên lợn con sau cai sữa”, Tạp chí khoa học chăn nuôi số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng axit hữu cơ bổ sung vào thức ăn để kích thích tăng trưởng và phòng bệnh lợn con tiêu chảy trên lợn con sau cai sữa”
Tác giả: Đặng Minh Phước, Dương Thanh Liêm
Năm: 2006
19. Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Quang Tuyên (1993), “Giáo trình chăn nuôi lợn”, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn”
Tác giả: Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Quang Tuyên
Năm: 1993
20. Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Quế Côi (2005), “Chăn nuôi lợn trang trại”, Nxb Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn trang trại
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Quế Côi
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2005
21. Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Thị Băng Tâm (1993), “Nghiên cứu chế tạo vắc xin E.coli uống phòng bệnh cho lợn con phân trắng”, Tạp chí Khoa học Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm, số 9, tr 324 - 325.Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế tạo vắc xin "E.coli" uống phòng bệnh cho lợn con phân trắng”, "Tạp chí Khoa học Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm
Tác giả: Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Thị Băng Tâm
Năm: 1993
33. Boonyasiri A., Tangkoskul T., Seenama C., Saiyarin J., Tiengrim S., Thamlikitkul V. (2014), “Prevalence of antibiotic resistant bacteria in healthy adults, foods, food animals, and the environment in selected areas in Thailand”, Pathog Glob Health, 108(5), pp. 235 - 245 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of antibiotic resistant bacteria in healthy adults, foods, food animals, and the environment in selected areas in Thailand"”, Pathog Glob Health
Tác giả: Boonyasiri A., Tangkoskul T., Seenama C., Saiyarin J., Tiengrim S., Thamlikitkul V
Năm: 2014

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Lịch phòng bệnh áp dụng tại trại trong 6 tháng thực tập Tuổi  Vắc xin Phòng bệnh Liều lượng Lần  Vị trí  - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con tại trang trại sinh thái thanh xuân, xã nghĩa trụ, huyện văn giang, tỉnh hưng yên
Bảng 2.2. Lịch phòng bệnh áp dụng tại trại trong 6 tháng thực tập Tuổi Vắc xin Phòng bệnh Liều lượng Lần Vị trí (Trang 28)
Bảng 3.1. Lịch sát trùng chuồng trại tại cơ sở thực tập - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con tại trang trại sinh thái thanh xuân, xã nghĩa trụ, huyện văn giang, tỉnh hưng yên
Bảng 3.1. Lịch sát trùng chuồng trại tại cơ sở thực tập (Trang 35)
Quá trình thưc tập tốt nghiệp tại trại, tôi đã tiến hành theo dõi tình hình chăn  nuôi  của  trại  trong  3  năm  (2016  -  2018)  qua  số  liệu  trực  tiếp  tại  thời  điểm thực tập và trên hệ thống sổ sách của trại - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con tại trang trại sinh thái thanh xuân, xã nghĩa trụ, huyện văn giang, tỉnh hưng yên
u á trình thưc tập tốt nghiệp tại trại, tôi đã tiến hành theo dõi tình hình chăn nuôi của trại trong 3 năm (2016 - 2018) qua số liệu trực tiếp tại thời điểm thực tập và trên hệ thống sổ sách của trại (Trang 37)
Bảng 4.2. Số lượng lợn trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng tại trại Tháng Lợn nái chửa  - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con tại trang trại sinh thái thanh xuân, xã nghĩa trụ, huyện văn giang, tỉnh hưng yên
Bảng 4.2. Số lượng lợn trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng tại trại Tháng Lợn nái chửa (Trang 39)
Bảng 4.3. Kết quả thực hiện một số thủ thuật trên đàn lợn con tại cơ sở thực tập  - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con tại trang trại sinh thái thanh xuân, xã nghĩa trụ, huyện văn giang, tỉnh hưng yên
Bảng 4.3. Kết quả thực hiện một số thủ thuật trên đàn lợn con tại cơ sở thực tập (Trang 40)
Bảng 4.4. Kết quả tiêm phòng cho lợn tại cơ sở - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con tại trang trại sinh thái thanh xuân, xã nghĩa trụ, huyện văn giang, tỉnh hưng yên
Bảng 4.4. Kết quả tiêm phòng cho lợn tại cơ sở (Trang 42)
Bảng 4.5. Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nuôi tại trại - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con tại trang trại sinh thái thanh xuân, xã nghĩa trụ, huyện văn giang, tỉnh hưng yên
Bảng 4.5. Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nuôi tại trại (Trang 46)
Kết quả cụ thể được thể hiện qua bảng 4.6 - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con tại trang trại sinh thái thanh xuân, xã nghĩa trụ, huyện văn giang, tỉnh hưng yên
t quả cụ thể được thể hiện qua bảng 4.6 (Trang 47)
Hình 1: Đỡ đẻ Hình 2: Thiến - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con tại trang trại sinh thái thanh xuân, xã nghĩa trụ, huyện văn giang, tỉnh hưng yên
i ̀nh 1: Đỡ đẻ Hình 2: Thiến (Trang 52)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con tại trang trại sinh thái thanh xuân, xã nghĩa trụ, huyện văn giang, tỉnh hưng yên
MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI (Trang 52)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w